vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #170 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:38:20 pm » |
|
Tự hào về truyền thống anh hùng, bất khuất trong kháng chiến chống ngoại xâm nói chung, chống Mỹ, cứu nước nói riêng, Đảng bộ, quân và dân càng vui mừng trước những thành tựu đạt được gần 40 năm xây dựng quê hương kể từ ngày giải phóng đến nay.
Khó có thể quên những tháng ngày vừa bước ra khỏi chiến tranh, Quảng Trị phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, phức tạp. Làng quê tiêu điều xơ xác, ruộng đồng trù phú đã biến thành bãi đất hoang, bom mìn dày đặc khắp nơi, núi rừng bị bom đạn và chất độc hóa học Mỹ tàn phá. Hàng vạn người dân khắp nơi hội tụ về quê cũ, mà tài sản chỉ là đôi quang gánh trên vai. Những di hại của chủ nghĩa thực dân cùng những vấn đề xã hội bức xúc không thể giải quyết một sớm một chiều. Trước tình hình đó, Đảng bộ vừa tập trung xây dựng, củng cố bảo vệ chính quyền cách mạng, vừa chăm lo nơi ăn, chôn ở ổn định đời sống nhân dân; phát động các phong trào cách mạng để rà phá bom mìn, khôi phục sản xuất, nhanh chóng giải quyết vấn đề lương thực. Mồ hôi và máu của nhiều cán bộ, đảng viên, nhân dân thêm một lần quyện chặt trong đất để có những cánh đồng lúa xanh tươi, những nương khoai, sắn bạt ngàn. Theo lời kêu gọi của Đảng, hàng nghìn đồng bào đã tự nguyện rời nơi chôn nhau cắt rốn đến các vùng kinh tế mới ở trung du và miền núi xây dựng quê hương mới. Trong bộn bề lo toan, quân và dân Quảng Trị đã một lòng đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau khắc phục khó khăn, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, xây dựng nếp sống mới, từng bước giải quyết những hậu quả chiến tranh.
Những năm tháng hợp nhất trong tỉnh Bình - Trị - Thiên, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị đã phát huy truyền thống đoàn kết, ra sức lao động sản xuất, từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, giải quyết những vấn đề bức thiết về đời sống; không ngừng chăm lo phát triển các mặt văn hóa, xã hội làm "thay da đổi thịt" bộ mặt quê hương.
Tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập. Trải qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Quảng Trị có những bước tiến toàn diện trên các lĩnh vực. Về kinh tế: đã chuyển sang sản xuất hàng hóa nhiều thành phần; văn hóa - xã hội phát triển toàn diện, đời sống của nhân dân được cải thiện, niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền được củng cố; quốc phòng - an ninh được tăng cường và giữ vững.
Trong những năm gần đây, bằng sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Trị đã nắm bắt thời cơ và vị thế của đất nước, phát huy tinh thần cách mạng tiến công, chủ động, sáng tạo vượt qua những khó khăn, thách thức do dịch bệnh, thiên tai; tạo ra những chuyển biến rõ rệt trên tất cả các mặt. Riêng về kinh tế: tốc độ tăng trưởng GDP năm 2010 đạt 10,6%. Giá trị GDP của ngành sản xuất và doanh thu dịch vụ đạt và vượt kế hoạch, trong đó: công nghiệp - xây dựng tăng 17,4%; nông - lâm - ngư nghiệp tăng 3,3%; dịch vụ tăng 9,3%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ: tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GDP tăng dần, tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp giảm dần. Cùng với cây lúa, Quảng Trị còn chú trọng phát triển mạnh cây công nghiệp xuất khẩu như cao su, hồ tiêu, cà phê... tập trung ở huyện Hướng Hóa, Đa Krông, Gio Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ và miền Tây Triệu Phong. Kinh tế biển cũng được quan tâm đầu tư đúng hướng nên đã có nhiều khởi sắc. Nghề biển của ngư dân bây giờ không còn dừng lại ở những ngành nghề truyền thống như xăm bãi, lưới rê, mà đã có tàu thuyền với đầy đủ phương tiện đánh bắt hiện đại, có thiết bị định vị tầm ngư và có khả năng ra khơi dài ngày. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 16 triệu đồng, tăng 17% so với năm 2009. Tổng thu ngân sách vượt dự toán 30,1% và tăng 270 tỷ đồng so với năm 2009. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội vượt 10,2% kế hoạch và tăng 25,7% so với năm 2009. Các công trình trọng điểm được tập trung đầu tư, một số đã hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư được triển khai và bước đầu đạt kết quả tốt. Chính trị - xã hội ổn định, diện mạo tỉnh nhà ngày càng đổi thay, sự nghiệp xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả khả quan, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện trên nhiều mặt. 100% số xã được sử dụng điện lưới quốc gia và có đường ô tô đến trung tâm; tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 12%. Công tác đền ơn đáp nghĩa thường xuyên được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm và trở thành ý thức tự giác của các tầng lớp nhân dân. Các đối tượng chính sách, nạn nhân chất độc da cam và các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm, giúp đỡ có hiệu quả. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được khuyến khích làm giàu chính đáng. Sau những cản trở và mò mẫm, tìm tòi khám phá, nhiều người dân đã mạnh dạn vay vốn, góp vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh và rất nhiều nông dân đã trở thành triệu phú, tỷ phú ngay trên quê hương mình.
Thông qua Đường 9, sự giao lưu, buôn bán hàng hóa giữa các bộ tộc Lào và Việt Nam đã góp phần làm cho chợ Phiên (Cam Lộ) hưng thịnh một thời và Đông Hà trở thành trung tâm thương mại du lịch của tỉnh; trong thời kỳ mới Đường 9 xuyên Á đã trở thành trục hành lang kinh tế Đông - Tây sôi động không chỉ của Quảng Trị mà của cả khu vực miền Trung, trong đó, khu vực Lao Bảo - Khe Sanh trở thành khu kinh tế thương mại đặc biệt đang phát triển mạnh mẽ, sẽ là đòn bẩy cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh.
Nhìn lại hành trình 40 năm qua, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị vô cùng tự hào với những thành quả đã đạt được. Con đường cách mạng ở phía trước có vận hội và thời cơ mới nhưng cũng có nhiều khó khăn, thử thách; Đảng bộ, quân và dân Quảng Trị sẽ không ngừng phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng vẻ vang của mình, đoàn kết một lòng quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, nỗ lực phấn đấu viết tiếp những trang sử mới trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #171 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:39:56 pm » |
|
TỪ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO VÀ SỰ PHỐI HỢP Ở CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM BỘ MÙA XUÂN 1971 NGHĨ VỀ CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC Thiếu tướng TRẦN ĐƠN Ủy viên Trung ương Đảng Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 7 Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" - thực chất là cuộc tiến công chiến lược của 42.000 quân, chủ yếu thuộc lực lượng tổng trù bị chiến lược của quân đội Sài Gòn, được sự yểm trợ tối đa của không quân, hải quân, pháo binh Mỹ. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng về tiếp tục phát triển chiến lược tiến công toàn diện, liên tục, mạnh mẽ cả về chính trị, quân sự, ngoại giao để đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ trong bôi cảnh "Đông Dương là một chiến trường", Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các chiến trường gấp rút lập kế hoạch tác chiến, phản công tiêu diệt địch trong mùa khô 1970-1971, trọng điểm là các địa bàn Trung - Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia. Trong đó, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch trung tâm, có ý nghĩa chiến lược và tác động lớn đến thế và lực của cách mạng. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (30.1 - 23.3.1971), lần đầu tiên ta sử dụng tập trung một lực lượng binh chủng hợp thành với quy mô lớn, gồm: 5 sư đoàn bộ binh, 4 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn pháo cao xạ và tên lửa phòng không, 3 trung đoàn công binh (quân chủ lực Bộ Quốc phòng); kết hợp với các sư đoàn chủ lực của Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên và lực lượng chiến đấu tại chỗ của các địa phương và Đoàn 559, do Bộ Tổng Tham mưu trực tiếp chỉ huy. Sau gần hai tháng chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên, bắt hơn 1.000 tù binh, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công chiến lược của địch theo công thức "Quân chủ lực Việt Nam Cộng hòa + hỏa lực, hậu cần của Mỹ" nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là bịt kín tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Trường Sơn, "huyết mạch" chính bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho cách mạng miền Nam. Nằm trong ý đồ chiến lược lớn của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cùng với thời điểm ở Quảng Trị, địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào, thì ở miền Đông Nam Bộ, sáng ngày 4 tháng 2 năm 1971, Quân đoàn 3 được sự yểm trợ của 15 phi đoàn máy bay Mỹ (262 chiếc) mở cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" đánh vào vùng Đông Bắc Campuchia. Lực lượng địch gồm: 3 sư đoàn bộ binh, lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp, liên đoàn 3 biệt động quân, lực lượng đặc nhiệm của hải quân, 12 tiểu đoàn pháo, 3 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép. Tổng quân số khoảng 23.000 tên, biên chế thành 9 chiến đoàn hỗn hơp cộng với hai tiểu đoàn quân Lon Non. Mục tiêu cuộc hành quân nhằm bất ngờ bao vây tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực của ta, phá hủy căn cứ, kho tàng, giải tỏa đường 7, lập tuyến ngăn chặn ở Đông và Đông Bắc Campuchia. Địch coi đây là một mũi tiến công lớn phối hợp với cuộc tiến công chiến lược ở Đường 9 - Nam Lào nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và hậu phương trực tiếp của B2. Bộ chỉ huy Miền chủ trương nắm thời cơ này thực hiện trận quyết chiến nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, làm tan rã một bộ phận quân Lon Non, mở rộng vùng giải phóng, phát triển lực lượng cách mạng Campuchia, bảo vệ căn cứ đầu não của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và các căn cứ hậu cần của Miền. Do nắm được ý định chiến lược của địch và một phần kế hoạch cuộc hành quân, Bộ Tư lệnh Miền tổ chức chiến dịch phản công với quy mô lớn nhất từ trước tới nay ở chiến trường phía Nam để đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của địch. Lực lượng tham gia chiến dịch của ta tương đương cấp quân đoàn (3 sư đoàn: 9, 7, 5, một sư đoàn pháo binh và các đơn vị binh chủng phối hợp với các lực lượng thuộc các khu căn cứ Campuchia). Trên hướng phản công chủ yếu, ta sử dụng hai sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7) và phần lớn sư đoàn pháo binh, tập trung bẻ gãy và tiêu diệt cánh quân chủ yếu của địch tiến công lên Suông, Chúp, Đầmbe - Salông. Trên hướng thứ yếu (đường 13), ta sử dụng Sư đoàn bộ binh 5 sẵn sàng đánh bại cánh quân thứ yếu của địch, tạo điều kiện cho hướng phản công chủ yếu tiêu diệt địch. Ở hướng phối hợp (đường 1), sử dụng 1 trung đoàn của Khu 8, kết hợp đánh vừa với đánh nhỏ, tạo điều kiện đánh tập trung tiêu diệt lớn quân địch ở các khu vực quyết chiến Suông, Chúp, Đầmbe, đánh tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn bộ binh, chi đoàn thiết giáp, tiến tới tiêu diệt chiến đoàn địch, kết hợp đánh địch tiến công ra phía trước với đánh vào sau lưng chúng bằng lực lượng 3 thứ quân, lấy tiêu diệt địch ngoài công sự làm chủ yếu. Chiến dịch phản công Đông Bắc Campuchia kết thúc thắng lợi (31-5-1971). Cùng với chiến thắng có ý nghĩa chiến lược ở Đường 9 Nam Lào, thắng lợi của chiến dịch phản công Đông Bắc Campuchia, đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" của Quân đoàn 3 địch, tạo nên sự suy sụp mới cho quân đội Sài Gòn, giáng một đòn nặng vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, định dùng quân Sài Gòn thay quân Mỹ làm lực lượng xung kích và nòng cốt trên chiến trường Nam Việt Nam và cả chiến trường Lào và Campuchia. Khác với các loại hình tác chiến tiến công và phòng ngự thường được vận dụng trong các quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật thì phản công là một dạng đặc biệt của tác chiến tiến công, được vận dụng ở quy mô cấp chiến lược và chiến dịch. Thắng lợi của các chiến dịch phản công đánh dấu thêm một bước phát triển mới về nghệ thuật phản công của Quân giải phóng miền Nam, lấy số lượng ít nhưng có chất lượng cao đánh bại một lực lượng địch đông hơn, trong điều kiện quân địch đã hình thành thế chiếm đóng tương đối ổn định và vững chắc. Đó là nghệ thuật tạo thế chia cắt, bao vây địch, tập trung lực lượng tiến công, tiêu diệt, làm tan rã từng cụm lớn quân địch và truy kích chúng; nghệ thuật chủ động chọn đúng mục tiêu, chuyển hướng tiến công chiến dịch khi quân địch chuẩn bị kết thúc cuộc hành quân, để tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận khi chúng rút chạy. Trên cơ sở đó, giành thế chủ động chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tạo điều kiện để quân và dân miền Nam chuyển sang tiến công chiến lược, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #172 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:40:40 pm » |
|
Miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ là địa bàn chiến lược quan trọng. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quán triệt sâu sắc quan điểm "quốc phòng toàn dân" của Đảng, thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhân dân và lực lượng vũ trang Quân khu 7 đang tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu: vững trên toàn cục và mạnh ở từng trọng điểm, trên từng hướng, từng địa bàn, từng khu vực, nhất là ở những địa bàn trọng yếu như: biên giới, biển đảo; đặc biệt coi trọng xây dựng "thế trận lòng dân" - một sức mạnh cơ bản của nền quốc phòng toàn dân; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, theo tinh thần Nghị quyết 28/NQ-BCT của Bộ Chính trị khoá X. Khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) là một thành phần quan trọng của thế trận quốc phòng toàn dân, tạo nên lực lượng và thế trận tại chô có khả năng ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, chiến đấu bảo vệ địa phương trong mọi tình huống với tư tưởng "tỉnh giữ tỉnh, huyện giữ huyện, xã giữ xã". Đây là nền tảng cho việc tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương, là chỗ dựa cho các đơn vị bộ đội chủ lực tác chiến, thực hiện tốt việc kết hợp tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Trong tác chiến phòng thủ, quân khu sử dụng tổng hợp các lực lượng của khu vực phòng thủ, lực lượng của quân khu, có thể có bộ phận lực lượng của Bộ tham gia; đồng thời kết hợp, vận dụng nhiều hình thức tác chiến, tác chiến phòng thủ, phòng ngự, phản công, tiến công và các hoạt động khác. Trong đó, tác chiến phản công là một trong những hình thức thường được vận dụng trong tác chiến phòng thủ của quân khu.
Những kinh nghiệm được rút ra từ hai chiến dịch phản công Xuân 1971: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia là những bài học vô cùng quý giá để chúng ta kế thừa, vận dụng, phát triển trong điều kiện mới. Khác với cuộc kháng chiến chống Mỹ khi địch đã chiếm đóng trên lãnh thổ đất nước chúng ta, ngày nay, trong điều kiện đất nước có hoà bình, độc lập tự do và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, nếu chiến tranh xảy ra, chúng ta phải chống lại quân xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao, tiến công từ bên ngoài vào bằng nhiều hướng. Vì vậy, việc bảo vệ các mục tiêu, địa bàn trọng yếu, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc có ý nghĩa chiến lược vô cùng to lớn.
Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chiến dịch phản công thường được kế tiếp tác chiến phòng thủ, phòng ngự là chủ yếu (bao gồm tác chiến của khu vực phòng thủ địa phương, tác chiến phòng thủ của quân khu, tác chiến phòng thủ chiến lược) có thể diễn ra ngay thời kỳ đầu chiến tranh, bởi chúng ta có thế trận các khu vực phòng thủ địa phương và thế trận phòng thủ của các quân khu cũng như cả nước được xây dựng từ thời bình. Khi có chiến tranh xảy ra, thế trận đó sẽ chuyển hoá thành thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc do lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Vì vậy, kẻ thù tiến công xâm lược nước ta bằng hình thức và lực lượng như thế nào (đường bộ, đường biển hay đổ bộ đường không) cũng đều bị lực lượng các khu vực phòng thủ địa phương chặn đánh ngay từ ngày đầu, giờ đầu khi quân xâm lược đặt chân lên đất nước chúng ta, ở bất cứ khu vực, địa phương nào. Ở những hướng chiến trường trọng yếu, ta có thể tổ chức tác chiến phòng thủ cấp quân khu, chiến dịch phòng ngự; quá trình tác chiến phòng thủ, phòng ngự sẽ ngăn chận, thực hiện tiêu hao lớn, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, làm chậm bước tiến công của chúng, bảo vệ và giữ các địa bàn trọng yếu buộc địch rơi vào thế bị động, sa lầy, ta nắm thời cơ thực hành tiến công trong phòng thủ, phòng ngự hoặc mở chiến dịch phản công hay chuyển sang phản công chiến lược.
Như vậy, cần phân biệt các hoạt động tiến công trong phòng thủ, phòng ngự là những hoạt động của các lực lượng cơ động tiến công (một thành phần lực lượng của tác chiến phòng thủ, phòng ngự) nhằm đánh địch giữ vững các khu vực phòng thủ, phòng thủ then chốt hoặc các khu vực phòng ngự chủ yếu, bảo vệ giữ địa bàn, làm thất bại cuộc tiến công của quân địch. Còn khi ta chủ động mở chiến dịch phản công hoặc chuyển sang phản công chiến lược, phải được tính toán cân nhắc kỹ về điều kiện, thời cơ khách quan, chủ quan cả phía ta và phía địch. Chính vì vậy, tác chiến phòng thủ, phòng ngự có vai trò rất quan trọng trong lập thế chặn, thế cắt, thế đánh rộng khắp, thế bao vây, kìm giữ, nghi binh lừa địch tạo ra những điều kiện, thời cơ thuận lợi nhất để chuyển sang tác chiến phản công bằng các binh đoàn chủ lực cơ động, đánh đòn quyết định vào những lực lượng chủ yếu của địch giành thắng lợi hoàn toàn cho tác chiến phản công.
Trong chiến dịch phản công, ta và địch đều ở trạng thái đang cơ động. Tuy vậy, ta có lợi thế hơn địch là có cả "thế động" và "thế tĩnh". Hai thế trận đó được kết hợp chặt chẽ, hỗ trợ bổ sung cho nhau. Đó cũng chính là sự kết hợp tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực cơ động, được kết hợp chặt chẽ với các hình thức đấu tranh chính trị, ngoại giao tạo thành sức mạnh tổng hợp để thắng địch. Đây cũng là điểm phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch phản công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Về tổ chức phản công, nếu ở quy mô chiến dịch phản công, thường là những chiến dịch phản công trong tác chiến phòng thủ quân khu hoặc trong quá trình tác chiến phòng thủ chiến lược, do Bộ Tư lệnh Quân khu hoặc Tư lệnh các chiến trường trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy các chiến dịch phản công đó theo ý định và kế hoạch tác chiến của Tư lệnh Quân khu hoặc Tư lệnh chiến trường; trong chiến dịch phản công có các trận then chốt, then chốt quyết định theo nội dung của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Nếu ở quy mô phản công chiến lược, thường do Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức hoặc Bộ ủy quyền cho Tư lệnh chiến trường tổ chức, lựa chọn ở chiến trường trọng điểm, đánh bại những lực lượng tiến công chủ yếu của địch; trong phản công chiến lược sẽ có các chiến dịch, chiến dịch chiến lược và chiến dịch quyết chiến chiến lược, do các binh đoàn chủ lực của Bộ kết hợp với các khu vực phòng thủ địa phương và tác chiến phòng thủ quân khu tiến hành, cùng với sự tham gia tác chiến phối hợp hỗ trợ ở các chiến trường khác hoặc được sự phối hợp hỗ trợ của chiến trường cả nước, tạo điều kiện, thời cơ thuận lợi cho chiến trường diễn ra phản công chiến lược giành thắng lợi. Chính vì vậy, công tác hiệp đồng phối hợp giữa các khu vực tác chiến, các chiến trường, các mặt đấu tranh phải được tổ chức chặt chẽ, theo kế hoạch tác chiến phản công thống nhất, cùng với các mặt bảo đảm về thông tin liên lạc thông suốt phục vụ cho lãnh đạo, chỉ huy kịp thời các lực lượng tác chiến, tạo ra sức mạnh tổng hợp vào những thời điểm quyết định của tác chiến phản công.
Diễn biến phức tạp của tình hình chính trị - kinh tế quốc tế và những phát triển mới của đối tượng tác chiến (cả về vũ khí trang bị và cách đánh) cũng như những yêu cầu mới trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra rất nhiều vấn đề mới cho nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự của ta nói chung và những nội dung mới của nghệ thuật chiến dịch phản công nói riêng, phải được tiếp tục nghiên cứu giải quyết cả về lý luận và thực tiễn, bảo đảm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược trong mọi tình huống.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #173 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:43:03 pm » |
|
CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 BIỂU TƯỢNG CỦA TÌNH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM - LÀO TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC TS NGHIÊM THỊ HẢI YẾN Khoa Lịch sử - Đại học sư phạm Thái Nguyên Thượng úy LÊ VĂN PHONG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), chiến thắng Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những minh chứng sinh động của tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Năm 1969, sau khi bước vào Nhà Trắng làm Tổng thống Mỹ, Níchxơn tiếp tục tăng cường và mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đến năm 1971, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc phiêu lưu quân sự mới. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, Níchxơn thông qua kế hoạch mở ba cuộc hành quân: cuộc hành quân "Lam Sơn 719", đánh vào Đường 9 - Nam Lào; cuộc hành quân với quy mô trên 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên Kôngpông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân quy mô khoảng 1 sư đoàn, từ Tây Nguyên đánh ra hướng ba biên giới (vùng A Tô Pơ của Lào). Trong ba cuộc hành quân nói trên, "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân lớn nhất. Lực lượng địch sử dụng trong cuộc hành quân này gồm: Về quân đội Sài Gòn có 3 SƯ đoàn và 3 lữ đoàn, trung đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp, 13 tiểu đoàn (thiếu 3 đại đội) pháo binh. Về quân Mỹ, có 12 tiểu đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới, 8 tiểu đoàn pháo binh (cỡ 155mm, 175mm và 203mm), 1.000 máy bay các loại, trong đó có 50 máy bay chiến lược B-52. Về quân đội chính phủ phái hữu Lào, có 26 tiểu đoàn bộ binh điều từ Bắc Xa Ra Van lên Xa Van Na Khẹt (nhưng thực tế chỉ có 9 tiểu đoàn). Mục đích cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch là cắt tuyến vận tải chiến lược của ta, đánh phá kho tàng nhằm làm cho lực lượng vũ trang của ta ở miền Nam suy yếu, không thể đánh tập trung lớn trong mùa khô năm 1971 và cả trong năm 1972 để chúng dễ dàng thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Không những vậy, cuộc hành quân này còn nhằm thử thách quyết tâm và khả năng quân sự của miền Bắc...; hy vọng rèn luyện cho quân đội Sài Gòn trở thành lực lượng nòng cốt cho chính sách "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương", trở thành lực lượng mạnh có khả năng thay thế quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia 1 (Bộ Quốc phòng: Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Viện Khoa học Quân sự, Hà Nội, 1976, tr. 15-16)... Quyết tâm đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch, ngày 8 tháng 2 năm 1971 2 (Theo sách: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 265, 266 có ghi: "... ngày 4 tháng 2, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 51/QĐ-QP, thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư Lệnh 702)..."), theo đề nghị của Tổng Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ký quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 1 (Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào diễn ra trên một địa bàn rộng, với chiều dài khoảng 140km theo hưỏng Đông - Tây, từ Cửa Việt, Đông Hà (Việt Nam) tới Mường Phìn, Pha Lan (Lào); chiều rộng (theo hướng Bắc - nam) từ Mường Trương đến Mường Noòng, khoảng 60km) với mật danh Bộ Tư lệnh 702, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận 2 (Lực lượng tham gia Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2); 4 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp (177, 297, 397, 198); 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84); 4 trung đoàn phòng không (230, 237, 241, 491); 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219) và một số tiểu đoàn đặc công của Bộ. Ngoài ra còn một số lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Mặt trận B4, B5)... Có thể nói, đến thời điểm này, quân và dân Việt Nam đã sẵn sàng cho trận quyết chiến trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Khẳng định tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt với nhân dân Việt Nam anh em, đầu tháng 1 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp hội nghị và một lần nữa xác định: "Nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình'' 3 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 155). Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng Nhân dân Lào, ngay từ khi quân và dân Việt Nam quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, nhân dân các bộ tộc Lào ở khắp mọi miền đất nước đã hăng hái thi đua, quyết tâm làm hết sức mình đoàn kết cùng quân dân Việt Nam đập tan cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch. Khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai" trở thành phương châm hành động của quân và dân Lào trong những ngày lịch sử sôi động này. Theo đó, Bộ Chỉ huy Quân khu Trung Lào và Tỉnh đội Xa Van Na Khẹt đã lệnh cho các đơn vị phòng không, các Tiểu đoàn 14, 18 Quân giải phóng nhân dân Lào và các đại đội bộ đội địa phương ở Sê Pôn, Mường Phìn, Tà Ôi tiến hành công tác chuẩn bị, sẵn sàng nổ súng đánh địch khi có hiệu lệnh. Nhân dân nhiều nơi tích cực tham gia chuẩn bị tiếp tế hậu cần cho bộ đội Lào - Việt. Đặc biệt, nhiều gia đình đã đem cả những vật dụng quý giá đổi lấy lương thực phục vụ cho chiến dịch. Chính sự tham gia tích cực của nhân dân các bộ tộc Lào đã cổ vũ bộ đội Lào và Việt Nam vượt qua mọi gian khó của địa hình, thời tiết, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Bộ chỉ huy chiến dịch giao phó. Về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn, sau một thời gian chuẩn bị, ngày 8 tháng 2 năm 1971, chúng bắt đầu tiến công khu vực Đường 9 - Nam Lào. Hàng chục trận địa pháo và hàng chục tốp máy bay phản lực các loại đồng loạt đánh phá dữ dội các mục tiêu dọc hai bên Đường 9, mở màn cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Khi cuộc hành quân bắt đầu, Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược... Thắng lợi của trận phản công này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương" 1 (Bộ Quốc phòng: Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Viện Khoa học Quân sự, Hà Nội, 1976, tr. 25). Trên tinh thần đó, ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ uà tay sai, giành toàn thắng cho Chiến dịch X (Đường 9 - Nam Lào)". Quân ủy Trung ương kêu gọi: "Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên hãy ra sức thực hiện "Di chúc" thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng... Tập trung cao nhất tinh thần và sức lực dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công tiêu diệt thật nhiều lực lượng tinh nhuệ của địch, quyết bảo vệ con đương Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này" 2 (Chỉ thị 009/QUTW do Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp ký ngày 9 tháng 2 năm 1971, hồ sơ 594 - Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng). Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, toàn quân, toàn dân trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào khẩn trương bước vào chiến dịch phản công với khí thế quyết tâm cao nhất. Do được chuẩn bị sẵn từ trước, từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, lực lượng chủ lực Việt Nam tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân ở phía Bắc Đường 9, diệt gọn các cụm cứ điểm then chốt trên các điểm cao 500 và 543, đập tan cuộc phản kích lớn của Lữ đoàn dù số 3 và Trung đoàn 17 thiết giáp của quân đội Sài Gòn. Góp phần làm nên chiến công này, phía Lào có đồng chí Am Kum, du kích bản A Ho, xã Xa Ky Phim, huyện Sê Pôn 3 (Tháng 4 năm 1979, đồng chí Am Kum được nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tuyên dương Anh hùng), đã tham gia chiến đấu và dẫn đường cho các đơn vị đặc công Việt Nam đánh vào sở chỉ huy địch. Ở phía Tây Đường 9, khi Binh đoàn cơ động 33 của địch từ Huội Mun, Tùm Lan tiến lên hỗ trợ cho cánh quân đánh vào Mường Noòng, ngay lập tức, các đại đội 91, 93 Quân giải phóng nhân dân Lào cùng du kích Mường Noòng đã chặn đứng sự tiếp viện của Binh đoàn cơ động 33, làm cho chúng không hợp quân được với nhau. Tiếp đó, Tiểu đoàn 14 Quân khu Trung Lào tổ chức phục kích Binh đoàn cơ động 31 từ Mường Pha Lan tiến về Đồng Một - Huội Xa Lan. Tiểu đoàn đi đầu trong đội hình và sở chỉ huy của địch bị tập kích bất ngờ nên tổn thất nặng, do vậy, toàn bộ Binh đoàn cơ động 31 phải rút về Sê Săng Xoi. Cùng lúc đó, Binh đoàn cơ động 32 ở Pu Tin Tốc bị các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào tập kích phải bỏ dở cuộc hành quân. Những nỗ lực chiến đấu của quân và dân Lào đã góp phần to lớn trong việc làm đảo lộn kế hoạch hành quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện cho các đơn vị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến lên tiêu diệt địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #174 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2026, 08:44:50 pm » |
|
Trên đà thắng lợi, Quân ủy Trung ương trong bức điện gửi Thượng tướng Văn Tiến Dũng và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Điện số 012QU/TU/A, ngày 4-3-1971) đã chỉ rõ: "Tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông. Tăng cường chỉ đạo đối với cánh Nam. Tổ chức trận địa tập kích đối với Khe Sanh (pháo binh và bộ đội đặc công). Tăng cường hoạt động ở hướng Đông Đường 9 - Bắc Quảng Trị, cắt giao thông, đánh hậu cứ..."1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 tr. 273).
Phối hợp tiến công vởi quân và dân Việt Nam, quân và dân các bộ tộc Lào cũng tích cực chiến đấu ngăn chặn quân địch trên Đường 9. Trên hướng Đông, khi các đơn vị chủ lực Việt Nam chặn đánh địch tại điểm cao 723 và 600, các đơn vị vũ trang Lào đã nhanh chóng cùng bộ đội Việt Nam vây ép Bản Đông. Để giải vây cho Bản Đông, địch liền tung lực lượng dự bị chiến dịch là Sư đoàn 1 bộ binh ra đánh điểm cao 723. Nắm bắt được ý đồ của địch, Quân giải phóng nhân dân Lào liền tung phần lớn lực lượng phòng ngự ở Sê Pôn, phối hợp với các đơn vị chủ lực của Quân giải phóng miền Nam mở đòn tiến công đánh vào Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn trên điểm cao 723. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, hai bên giành nhau từng mét đất trên một điểm cao chật hẹp. Kết quả, ta đã tiêu diệt Trung đoàn 1, chiếm lĩnh hoàn toàn trận địa của địch trên điểm cao 723.
Thừa thắng, các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào tiếp tục triển khai tiến công điểm cao 560, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 bộ binh, phá vỡ vòng yểm trợ sườn phía Nam của cụm Bản Đông, tiếp đó phát triển tiến công Lữ đoàn 147 trên điểm cao 550 và đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 258 trên dãy núi Cô Bốc, uy hiếp trực tiếp Đường 9 đoạn từ Hướng Hoá đến Lao Bảo (Quảng Trị). Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, quân địch tháo chạy khỏi Bản Đông (18-3-1971). Một cảnh tượng bi thảm của quân đội Sài Gòn đã diễn ra trên Đường 9 - đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, hơn 100 xe tăng, xe thiết giáp địch bị chặn đánh, hàng trăm binh sĩ, sĩ quan quân đội Sài Gòn phải trút bỏ vũ khí, chạy cắt rừng hòng thoát thân, nhưng đã bị quân ta truy kích tiêu diệt và bắt sống. Ngày 20 tháng 3 năm 1971, Bản Đông được hoàn toàn giải phóng. Trong trận then chốt chiến dịch này, được sự phối hợp tác chiến Quân giải phóng nhân dân Lào, chúng ta đã loại khỏi vổng chiến đấu hơn 1.800 tên địch, thu và phá hủy 113 xe tăng, xe bọc thép, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay.
Cũng cần phải thấy rằng, để làm nên thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, không thể không nhắc tới những đóng góp của nhân dân các tỉnh Nam Lào.
Ngay từ khi địch chuẩn bị tổ chức cuộc hành quân "Lam Sơn 719", Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉ huy Quân giải phóng nhân dân Lào đă chỉ thị cho các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và các đơn vị vũ trang của Quân khu Nam Lào thành lập Mặt trận Y (Mặt trận Xa Ra Van) do đồng chí Hoàng Kiện - Phó Tư lệnh Đoàn 559, trực tiếp chỉ huy tác chiến. Tham gia Mặt trận Y, về phía Lào có đồng chí Khăm Chăn, đồng chí Ka Lăng và các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng các tỉnh Nam Lào.
Ngày 21 tháng 2 năm 1971 (13 ngày sau khi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" mở màn), Bộ Tư lệnh Mặt trận Y giao nhiệm vụ cho các đơn bị ở Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam tổ chức tiến công các vị trí của địch ở cứ điểm 38 (In Thi), cứ điểm 165 (Nậm Tiêng) và cứ điểm 22 (Nậm Lực). Lực lượng tham gia đánh các cứ điểm này, ở Nam Lào có 2 tiểu đoàn chủ lực của Quân khu Nam Lào, các đại đội địa phương tỉnh Xa Ra Van, Miền Đông, A Tô Pơ và Bô Lô Ven; Quân tình nguyện Việt Nam có Trung đoàn 29 (ở ven Đường 9), ở Nam Lào có Trung đoàn 9, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 20, Tiểu đoàn 46 và một số đại đội binh chủng trực thuộc.
Trận đánh đầu tiên diễn ra tại cứ điểm 165 (Nậm Tiêng). Cứ điểm này có độ cao 1.090m so với mặt nước biển, nằm ở hướng Đông Nam thị xã Pạc Xoòng. Sáng 7 tháng 3 năm 1.971, quân và dân Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam nổ súng tấn công cứ điểm 165; đến 17 giờ cùng ngày, làm chủ cứ điểm. Phát huy thế tiến công, quân dân Nam Lào tổ chức bao vây cứ điểm 38 (In Thi). Đến đêm 9 tháng 3, quân địch tại In Thi tháo chạy.
Cùng thời gian trên, Liên quân Lào - Việt nhanh chóng triển khai đánh chiếm cứ điểm 22 (Nậm Lực). Lực lượng tham gia đánh cứ điểm 22 về phía Lào có Tiểu đoàn 11 Quân giải phóng nhân dân Lào, bộ đội địa phương tỉnh A Tô Pơ và dân quân du kích trong khu vực; Quân tình nguyện Việt Nam có Trung đoàn 9 do Trung đoàn trưởng Le Viết Á và Chính ủy Nguyễn Tiến Thưởng chỉ huy. Để đảm bảo cho trận đánh đạt kết qua tốt, nhân dân nhiều bản mường trong khu vực đã hăng hái đi tiếp thương, tải đạn, tải thương cho các đơn vị chiến đấu. Sáng ngày 8 tháng 3, quân ta bắt đầu nổ súng tấn công. Sau hai ngày chiến đấu, Liên quân Lào - Việt đã làm chủ căn cứ 22 (9-3-1971). Tính đến cuối tháng 3 năm 1971, phối hợp chiến đấu với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, quân dân các tỉnh Nam Lào đã đánh tổng cộng 116 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 836 tên địch, thu 172 súng các loại, bắn rơi 4 máy bay1 (Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Hạ Lào (1945-1975), Viêng Chăn, 2005, tr.321 (bản dịch tiếng Việt)).
Đến ngày 23 tháng 3 năm 1971, trải qua hơn 50 ngày chiến đấu gian khổ, ác liệt, được sử ủng hộ, phối hợp chiến đấu hiệu quả của quân và dân các bộ tộc Lào, chúng ta đã kết thúc thắng lợi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào1 (Ta tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp; đánh thiệt hại nặng hai trung đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác. Số địch chốt và bị thương 19.960 tên, bị bắt 1.142 tên. Ta bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe các loại, 57 khẩu pháo, 21 súng cối, 2.268 súng bộ binh, 274 máy thông tin vô tuyến điện. Số liệu trong sách: Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 277). Chiến thắng này có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng cả về quân sự và chính trị, tác động mạnh mẽ đến cục diện chung chiến trường ba nước Đông Dương, đánh dấu một bước thất bại quan trọng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ ở Việt Nam và "mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng"2 (Thư của Ban Chấp hành Trung ương gửi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên trên Mặt trận Đường 9, ngày 31 tháng 3 năm 1971, hồ sơ 594, Cục Lưu trữ Bộ Quốc phòng).
Có thể nói, chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là một trong những biểu tượng sinh động của tình đoàn kết đặc biệt và liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đã tròn 4 thập kỷ trôi qua, những dấu tích chiến sự của thắng lợi Đường 9 - Nam Lào năm xưa có thể bị bào mòn bởi thời gian, nhưng tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào vẫn không ngừng được nâng nên những tầm cao mới; những bài học kinh nghiệm đúc kết từ chiến dịch này đến nay vẫn nguyên giá trị vận dụng vào việc phát triển quan hệ đặc biệt giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội hai nước hôm nay và mai sau.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #175 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:25:55 pm » |
|
HÀNH QUÂN "LAM SƠN 719" QUA ĐÁNH GIÁ CỦA PHƯƠNG TÂY Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" do quân đội Sài Gòn thực hiện với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ diễn ra từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971. Mục tiêu của cuộc hành quân là đánh phá hành lang chiến lược, phá hủy hệ thống kho tàng hậu cần của đối phương tại Lào và cắt đứt đường Hồ Chí Minh tại thị trấn Sê Pôn (cách biên giới Việt - Lào 42km về phía Tây); đây là một phần của chủ trương "chiến tranh bóp nghẹt", làm cho lực lượng cách mạng ở miền Nam Việt Nam suy yếu một cách cơ bản không còn khả năng tập trung đánh lớn. Đồng thời, thông qua chiến dịch này để thử nghiệm khả năng quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể tự chiến đấu trong tình huống Mỹ tiếp tục rút quân ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam được hay không? Thử nghiệm về chiến lược và phô trương kết quả sau gần 3 năm tiến hành "Việt Nam hoá chiến tranh". Điều đáng lưu ý là khác với trước, lần này để bảo tồn lực lượng và né, đánh lừa sự phản đối của dư luận trong nước và thế giới, quân Mỹ đáp ứng tất cả mọi yêu cầu yểm trợ về hoả lực, hậu cần, vận tải cơ động của lực lượng quân Sài Gòn ở tuyến trước; nhưng bộ binh cơ giới của Mỹ chỉ hoạt động ở phía sau (trên đất Việt Nam) mà không vượt qua biên giới Việt - Lào. Lực lượng quân Mỹ mang "tên Mỹ": "Dewey Canyon II" (tháng 1-1969 đã từng có cuộc hành quân mang tên "Dewey Canyon I" đánh qua biên giới Việt - Lào ở khu vực A Sầu); lực lượng quân đội Sài Gòn mang tên: "Lam Sơn 719" (ghép số 71 với Đường 9 - trục chính của cuộc tiến công). Theo những tư liệu của Trung tâm lưu trữ văn khố quốc gia Mỹ công bố năm 2002 thì cuộc hành quân "Lam Sơn 719" huy động một lực lượng tương đương 3 sư đoàn và được triển khai qua 4 giai đoạn. Giai đoạn 1: (Chủ yếu do quân Mỹ phụ trách), mục tiêu là giải toả quốc lộ 9, đoạn từ Đông Hà đến Lao Bảo (biên giới Việt - Lào); tái chiếm căn cứ Khe Sanh để thiết lập Bộ chỉ huy tiền phương của cuộc hành quân; sửa chữa sân bay Khe Sanh làm đầu cầu không vận chính. Giai đoạn 2: Quân đội Việt Nam cộng hoà tiến theo trục quốc lộ 9 lên đánh chiếm Bản Đông. Giai đoạn 3: Sau khi củng cố, xốc lại lực lượng, trực thăng vận sẽ bốc quân dù từ Bản Đông đổ xuống chiếm Sê Pôn. Song song với đó, lực lượng kỵ binh thiết giáp tiến theo trục quốc lộ 9 lên hợp điểm với lực lượng ỏ Sê Pôn. Giai đoạn 4: Sau khi chiếm Sê Pôn và phá hủy toàn bộ các căn cứ hậu cần của đối phương ở đây, các đơn vị của quân đội Sài Gòn sẽ quay về phá hủy các căn cứ của đối phương ở A Sầu, A Lưới... Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" dự định kéo dài trong 3 tháng, mở màn sau Tết Tân Hợi, kéo dài cho tới tháng 5, khi vùng Hạ Lào bắt đầu đón mùa mưa. Cuối năm 1970, tin tình báo Mỹ cho biết có 90% lượng quân nhu của đối phương đang được đưa vào 3 tỉnh cực bắc của Việt Nam Cộng hòa. Điều này cảnh báo cho cả Oasinhtơn và Bộ Tư lệnh MACV ở Sài Gòn hối thúc về sự cần thiết phải mở một cuộc hành quân đánh qua Hạ Lào. Cho đến nay, trong số các nhân vật chóp bu của bộ máy chiến tranh Mỹ lúc bây giờ chưa thấy ai nhận là tác giả của bản kế hoạch này. Trong hồi ký của những nhân vật chóp bu của Nhà Trắng có liên quan như H.Kítxinhgơ, R. Haldeman, Thômát Mo, A. Haig... cũng chỉ tiết lộ một cách mập mờ rằng bản kế hoạch do Ban tham mưu Liên quân chuẩn bị qua sự thúc giục của Níchxơn và Kítxinhgơ. Chính A. Haig (phụ tá quân sự cho H. Kítxinhgơ lúc bấy giờ) là người trực tiếp đem huấn lệnh của Tổng thống Níchxơn qua Sài Gòn để thông báo Kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" cho Bộ Tư lệnh MACV. Kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" được chuẩn bị, tính toán kỹ càng đến từng chi tiết; các mục tiêu cũng được cất nhắc, đặt ra rất cụ thể. Còn nhớ, khi vạch kế hoạch "Lam Sơn 719", Kítxinhgơ ngạo mạn tuyên bố: "Cán cân ở Đông Dương đã lệch về phía có lợi cho Nam Việt Nam" 1 (H. Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Bản dịch lưu tại Thư viện Quân đội, 1979, tr. 1004). Còn sáng 8 tháng 2 năm 1971, khi phát lệnh mở cuộc tiến công nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh của đối phương, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lớn tiếng huênh hoang rằng "sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn". Ấy vậy mà mới chỉ đi được nửa đường, cuộc hành quân chiến lược này đã bị phá sản. Đây quả là một thảm họa đối với quân lực Việt Nam Cộng hòa; làm tiêu tan những đơn vị thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng hòa gây khủng hoảng lòng tin vốn sau gần 3 năm "Việt Nam hóa chiến tranh". "Việt Nam hóa chiến tranh" - chiến lược mà nhiều quan chức dân sự và quân sự Mỹ coi là phương cách tốt nhất để cứu Việt Nam Cộng hòa và để Mỹ hoàn thành việc rút quân đã thể hiện sự thất bại. Dẫu còn có sự khác nhau trong đánh giá mức độ, nguyên nhân thất bại; nhất là về con số thiệt hại của các bên tham chiến; song điều dễ nhận thấy là phần đông các ý kiến nhận xét, đánh giá của đối phương đều giống nhau ở một điểm khi cho rằng: Thất bại của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa ở Đường 9 - Nam Lào là một thất bại chiến lược; đánh dấu bước thất bại cơ bản về quân sự của "Việt Nam hoá chiến tranh". Những mục tiêu chiến lược của cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đều không đạt: Không "bóp nghẹt" được hành lang vận chuyển chiến lược của đối phương; không triệt phá được các căn cứ hậu cần ở Sê Pôn (tin tức tình báo Mỹ phát hiện ngay trong tháng 5 đã có nhiều kho hàng ở Sê Pôn); không làm suy yếu được khả năng tập trung lực lượng đánh lớn của đối phướng... Ngược lại, nó tạo ra thời cơ thuận lợi mới cho phong trào kháng chiến của 3 nước Đông Dương (sự rút lui của quân Việt Nam Cộng hòa khỏi Sê Pôn, sự cắt giảm yểm trợ không quân của Mỹ đã phá vỡ sự cân bằng của hai bên tại Lào. Nhiều nhà quan sát thạo tin đã kết luận là các lực lượng chống Cộng tại Lào sắp hết thời" 1 (R. Cole, The Vietnam war, Nxb Salamander, London, 1979). Và đáng buồn hơn đó lại là hiện thân của kết quả sau gần 3 năm "phát triển và tối tân hoá" quân đội Việt Nam Cộng hoà trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ. Hành quân "Lam Sơn 719" là một trong những sự kiện được nhắc tới khá nhiều trong quân sử, cũng như trong hồi ký của các tướng lĩnh Mỹ và Việt Nam Cộng hòa; trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam của các học giả nước ngoài. Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là một thất bại về chiến lược hết sức quan trọng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì vẫn có những ý kiến cố tình bào chữa cho thất bại của cuộc hành quân; thậm chí đổ lỗi cho nhau trong phần gánh trách nhiệm. H. Kítxinhgơ - một trong những kiến trúc sư của Kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" đã than phiền rằng: "Sự thành công thì có nhiều người cha. Nhưng thất bại là đứa con không người nhận" 1 (H.Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Sđd, tr. 1004). Còn Tướng Cao Văn Viên - cựu Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, hơn 30 năm sau, trong hồi ký của mình vẫn khẳng định: "Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đã chặn đứng được kế hoạch phản công của Cộng sản Bắc Việt ở Vùng 1. Mặc dù không thành công mỹ mãn như cuộc hành quân qua Cambốt, nhưng cuộc hành quân đánh qua Hạ Lào đã phá hủy một số lớn kho quân nhu ở Sê Pôn và làm gián đoạn sự xâm nhập của Cộng sản Bắc Việt vào Nam". Chưa hết, Cao Văn Viên còn biện minh "Có nhiều nhận định cho rằng cuộc hành quân "Lam Sơn 719" thất bại. Những nhận định này có thể đến từ suy luận cuộc hành quân là một cố gắng tối khẩn để kết thúc cuộc chiến. Lối suy diễn đó không đúng" 1 (Những ngày cuối của Việt Nam Cộng hòa. Bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, 2003, tr. 289). Tướng Sơthơlan - Tư lệnh Quân đoàn 24 của Hoa Kỳ, lực lượng chủ chốt tham gia "Dewey Canyon II" cũng cho rằng "Lam Sơn 719" đã làm chậm lại cuộc tiến công định sẵn của quân Bắc Việt" 2 (R. Cole, The Vietnam war, Nxb Salamander, London, 1979). Thực ra, ngay sau khi cuộc hành quân vừa kết thúc, kết cục bi thảm của nó đã được phơi bày trên nhiều mặt báo ở Mỹ và phương Tây. Tờ New York time ra ngày 5 tháng 4 năm 1971 nhận xét "Thật là khủng khiếp. Phía Mỹ và Nam Việt Nam ước tính bị thương vong gần 50% lực lượng tham gia cuộc hành quân". Tờ Người quan sát mới ra ngày 5 tháng 4 công bố: "Các nhà quan sát trung lập ước tính trong 5 tuần, số quân Nam Việt Nam bị tổn thất lên tới chừng 10.000 người. Và kết quả là mạng lưới đường mòn kéo dài trên 1.000km vẫn còn đó, núi rừng và quân đội của Tướng Giáp vẫn còn đó". Hãng AFP ngày 25 tháng 3 năm 1971 thì bình luận "Ra quân là những đơn vị thiện chiến như biệt động quân, thủy quân lục chiến, quân dù... Cái tên "Ngọn lao thép" được gán cho giờ đây chỉ còn là cái bóng"...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #176 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:27:56 pm » |
|
Với độ lùi thời gian 40 năm; đặc biệt là với những nguồn tư liệu đã được giải mật càng giúp cho các nhà nghiên cứu có được sự nhìn nhận, đánh giá về cuộc hành quân "Lam Sơn 719" một cách khách quan và phản ánh đúng sự thật lịch sử hơn. Các tác giả Nguyễn Tiến Hưng và L.Schêctr trong cuốn Hồ sơ cung đình (The palace file) cho rằng "Lam Sơn 719" là thử thách đầu tiên đối với quân đội Thiệu sau 2 năm "Việt Nam hoá". Người Mỹ thì thúc giục quân đội Sài Gòn làm cái điều mà đặt ra trước đó từ lâu nhưng chưa làm được, đó là mở cuộc tiến công vào các căn cứ hậu cần của đối phương nằm trên đất Lào nhằm cắt đứt tuyến chi viện chiến lược xuyên Trường Sơn. Ngược lại, Nguyễn Văn Thiệu lại muốn chứng tỏ cho người Mỹ thấy rằng Quân đội Việt Nam Cộng hoà đã trưởng thành, có đủ khả năng làm được việc đó.
Phần lớn các công trình nghiên cứu xuất bản những năm gần đây đều tập trung mổ xẻ, phân tích nguyên nhân dẫn đến sự ra đời cũng như nguyên nhân thất bại của "Lam Sơn 719". Các nhà nghiên cứu cho rằng có hai lý do chính thúc đẩy sự ra đời của "Lam Sơn 719". Thứ nhất, về chính trị: Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ, Níchxơn phải cho cử tri Mỹ thấy được cuộc chiến Việt Nam đang phát triển khả quan; đồng minh Việt Nam Cộng hòa đang thắng thế. Kítxinhgơ thì hy vọng "một cuộc tiến công qua Lào sẽ gây thiệt hại nặng nề cho đối phương. Và nêu đối phương có khôi phục lại được, đủ sức de doạ đồng minh Việt Nam Cộng hòa thì chí ít cũng phải mất hơn 1 năm - nghĩa là lúc đó kết quả bầu cử ở Mỹ đã an bài. Vả lại, từ tháng 8 năm 1969, Hoa Kỳ bắt đầu rút quân, nếu cuộc tiến công qua Lào thành công thì chương trình rút quân và chiến lược "Việt Nam hoá" sẽ thành công theo ý muốn"1 (R. Cole, The Vietnam war, Sđd). Thứ hai, về quân sự: Kết quả các cuộc tiến công ở Đông Bắc Campuchia cùng với những khó khăn nhất định của đối phương trên chiến trường trong hai năm 1969-1970; đặc biệt là số quân Mỹ ở Nam Việt Nam đến thời điểm cuối năm 1970 vẫn đang còn 334 nghìn... đã thúc đẩy các chiến lược gia Hoa Kỳ cho ra đời kế hoạch "Dewey Canyon II". Họ cho rằng nếu đánh sang Lào là phải đánh ngay, nếu chần chừ, hoả lực yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ sẽ giảm dần theo đà rút quân.
Lý giải về nguyên nhân thất bại, các nhà nghiên cứu cho rằng, đối phương đã dự đoán sẵn một nỗ lực quân sự tiếp theo tất yếu của "Việt Nam hóa chiến tranh" và bày sẵn thế trận tiêu hao đối thủ. Tuy thời gian đầu đối phương cố giấu lực lượng để nhử quân Sài Gòn về phía Tây; chỉ đến khi yếu tố bí mật không còn mới tiến hành trận đánh "Đại phá Bản Đông". Rõ ràng là quân lực Việt Nam Cộng hòa đã thất bại từ trong trứng. Trong khi đó, cũng có ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng hòa đã biết chắc thất bại nhưng vẫn tiến hành chiến dịch đẫm máu vì những lý do chính trị mà như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ thị "chỉ cần đến Sê Pôn rồi rút".
Về nguyên nhân thất bại trực tiếp thì có nhiều nhưng tựu trung lại có mấy nguyên nhân chính như sau: Thứ nhất là sự thiếu đồng thuận trong quá trình soạn thảo và thông qua kế hoạch; thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Các tư liệu từ phía bên kia cho thấy quá trình thai nghén kế hoạch hành quân này cũng không phải thuận chiều. Tổng trưởng Ngoại giao W.Rôgiơ phản đối kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719" (phải qua nhiều lần Níchxơn thuyết phục mối chịu đồng ý một cách lưỡng lự); còn Đại tướng Oétmolen thì hoài nghi và đòi "cuộc hành quân phải có ít nhất 4 sư đoàn để tấn công vào Sê Pôn. Và phải tấn công chớp nhoáng bằng trực thăng vận chứ không thể đánh theo đường bộ"1 (H. Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Sđd). Thứ hai, quân lực Việt Nam Cộng hòa không đủ quân để đè bẹp áp lực của đối phương trong khu vực hành quân; tinh thần binh lính bạc nhược, khả năng chiến đấu kém, không đương đầu nổi trước sức mạnh của quân đối phương; hệ thống chỉ huy và điều hành cuộc hành quân "có vấn đề"; hoả lực và không vận của Quân đoàn 24 không hoàn thành nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng hành quân...
Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" kết thúc sau 44 ngày. Quân đội Sài Gòn không đặt chân đến được Sê Pôn cho dù trước đó, Thiệu đã chỉ thị cho Trung tướng Hoàng Xuân Lãm - Chỉ huy cuộc hành quân là bằng mọi giá hãy chiếm lấy Sê Pôn "rồi cố nán lại ở đó đủ để đái một bãi rồi rút ngay, chứ đừng cố gắng giữ nó"2 (Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4, năm 1991). Các chính trị gia, các tướng lĩnh Sài Gòn lên án người Mỹ đã phạm sai lầm lại thiếu tinh thần yểm trợ. Những tài liệu được giải mật từ kho lưu trữ của MACV cho thấy Quân đoàn 24 có gần 600 trực thăng được tập trung cho "Lam Sơn 719". Tuy nhiên khả năng hoạt động của số trực thăng này không được phát huy hết do hoả lực không chế của lực lượng phòng không đối phương quá mạnh. Đây là một điều hoàn toàn bất ngờ mà phải qua gần hai tuần đụng độ, kể cả Bộ Tư lệnh MACV lẫn Bộ chỉ huy cuộc hành quân mới nhận ra. Theo Đại tướng Abram thì khả năng không vận và không lực của quân Mỹ lúc bấy giờ đã được huy động tới mức tối đa. Chính Abram, mới hai ngày sau khi cứ điểm 31 của Lữ đoàn dù 3 bị thất thủ đã phải thốt lên rằng "Chúng ta đang ngập đầu với gánh nặng ở Cam bốt cũng như ở Lào"1 (The Abram Tapas, tr. 545).
Trong khi đó thì Mỹ đánh giá quân đội Sài Gòn non kém về đủ thứ, không đủ sức để vượt qua thử thách đầu tiên này. R.H.Côle cho rằng tổn thất nặng nề mà 3 sư đoàn thiện chiến nhất của quân đội Việt Nam Cộng hòa đã hứng chịu trong cuộc hành quân đã làm cho các nhà quân sự Sài Gòn thất vọng rất lớn. Lực lượng tổng dự bị của Nguyễn Văn Thiệu và sư đoàn "con cưng" giỏi nhất của Tướng Hoàng Xuân Lãm, được yểm trợ tối đa của không lực Hoa Kỳ tại Đông Dương, các đoàn quân tinh nhuệ của Sài Gòn rời vùng cán xoong ở Lào dưới áp lực mạnh với những tổn thất lớn. "Không có yểm trợ không quân lớn lao của Hoa Kỳ, chẳng rõ binh lính Nam Việt Nam có thể rút khỏi Lào với tổn thất 50% hay không?"2 (R.Cole, The Vietnam war, Sđd). Bình luận về "Lam Sơn 719", Oétmolen chua chát thừa nhận: "Thế là bắt đầu phải làm cái việc khó khăn nhất trong tất cả các hoạt động quân sự, rút lui trước cuộc tiến công của đối phương. Đến lúc này, mọi yếu kém của quân lực Việt Nam Cộng hòa trong công tác chuẩn bị cho cuộc hành quân này trở thành hiện nhiên. Việc bố trí chỉ huy không tốt, kế hoạch vạch ra vội vàng, phối hợp thiếu chặt chẽ"3 (Tường trình của người lính. Bản dịch. T.3. tr. 79). R.H.Côle thì cho rằng: "Lam Sơn 719" đã bộc lộ tất cả các điểm yếu trong chỉ huy và huấn luyện của quân đội Sài Gòn" và mô tả "Bắt đầu hành quân, không gặp nhiều kháng cự, quân đội Sài Gòn tỏ ra quá tự tin. Nhưng khi cuộc hành quân bị sa lầy, điều tự tin biến mất, nhanh chóng nhường chỗ cho việc ỷ lại tất cả vào yểm trợ không qiiân, máy bay lên thẳng và pháo binh Hoa Kỳ. Quân Bắc Việt đã chứng tỏ một kỹ năng chiến thuật thông thường nhưng có hiệu quả cao chống lại một lực lượng đặc nhiệm mạnh của Sài Gòn"1 (R.Cole, The Vietnam war, Sdd).
Nhiều tướng lĩnh Mỹ cho rằng: Chiến dịch "Lam Sơn 719" đã sụp đổ khi đối mặt với sự phản kháng kiên quyết và khéo léo của đối phương. Các nhà nghiên cứu thì cho răng: Chiến dịch này đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chiến sự bùng nổ ở Hạ Lào không giống như bất cứ trận chiến nào trước đó trong chiến tranh Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam bỏ chiến thuật cũ và tiến hành phản công theo kiểu chiến tranh chính quy truyền thống, lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam mở các đợt tấn công lớn bằng bộ binh với yểm trợ của thiết giáp và pháo binh hạng nặng để đè bẹp các vị trí của quân lực Việt Nam Cộng hòa tại các cánh sườn của đội hình chính. Sự hiệp đồng tác chiến của hỏa lực phòng không đối phương đã làm cho yểm trợ không quân chiến thuật và tăng viện bằng không quân của Mỹ trở nôn khó khăn và chịu nhiều thiệt hại.
Tóm lại, tuy còn có sự nhận thức chưa đồng thuận xung quanh một số vấn đề liên quan đến nhìn nhận, đánh giá về "Lam Sơn 719", song phần lớn đều gặp nhau ở một điểm mà như nhà nghiên cứu W.Nôlan đã nhận xét: "Lam Sơn 719" - cuộc tấn công vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh là cuộc hành quân thiệt hại nặng nề nhất đối với quân lực Viêt Nam Cộng hòa. Nếu xét phương diện đây là một cuộc thử nghiệm lớn của Việt Nam hóa chiến tranh thì "Lam Sơn 719" là một thất bại nặng nề. Một lực lượng lớn đã bị thương vong1 (Wiliam Nolan, Into Laos, Novato CA. Presidio press. 1986, tr.359).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #177 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:30:37 pm » |
|
TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC TÂY TRƯỜNG SƠN TRONG MÙA KHÔ 1970-1971, SAU 40 NĂM NHÌN LẠI Thiếu tá XỶPIIAY KẸOBUNMY Cục Khoa học - Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng Lào Năm 2004-2005, chúng tôi có dịp di thực tế khảo sát, khai thác tư liệu vồ quá trình hình thành huyện Ka Lưm, huyện Đác Trưng của tỉnh Xê Kông và huyện Xản Xay tỉnh A Tô Pơ. Mỗi một lần đi đều được kinh qua con đường chiến lược lịch sử - đường Hồ Chí Minh. Sau này, đến năm 2010, chúng tôi lại được giao nhiệm vụ đi khai thác tư liệu về con đường ấy. Đoàn chúng tôi đến cửa khẩu Cha Lo, phía Đông của tỉnh Khăm Muộn, nơi đó chính là xuất phát điểm của con đường, đi qua Bua La Pha, đến huyện Mương Phin, Sê Pôn, và Mường Noòng. Qua các cuộc tiếp xúc với các đồng chí nguyên là chiến sĩ, dân quân du kích năm xưa, ở tỉnh Khăm Muộn, tỉnh Xa Van Na Khẹt, chúng tôi mới biết rằng, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, có thể nói hai bên con đường mòn, không có gang tấc nào không có hố bom mà không quân Mỹ ném xuống làm cho không có thứ gì có thể sống sót được; các thành vách núi đá cao vót cũng bị sụp đổ. Mặc dù vậy, cuộc chiến đấu một mất, một còn giữa ta và địch diễn ra liên tục cả ngày lẫn đêm, với tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược của can bộ, chiến sĩ quân đội hai nước Lào - Việt Nam trong thời gian diễn ra Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lao năm 1971 đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719 của Mỹ và tay sai. Thời gian thấm thoát trôi đi 40 năm, nhưng những hình ảnh của cuộc chiến ác liệt, đầy hy sinh gian khố, còn in sâu vào ký ức của nhân dân các bộ tộc trên dãy núi Phu Luổng phía Tây mãi không bao giờ phai nhạt. Đó là những hình anh chiến đấu kiên cường, dũng cảm của các chiến sĩ Pathét Lào và Quân tình nguyện Việt Nam. Biết bao đồng chí đồng đội đã ngã xuống trên dãy Trường Sơn do các cuộc tập kích, tấn công của kẻ thù để giành lại sự yên bình của chúng ta ngày hôm nay. Hiện nay, những mảnh xác bom đạn, máy bay, những kỷ vật, hố bom đạn của cuộc chiến vẫn còn đó. Đoàn của chúng tôi đã đi vào từng mường, bản làng nơi xảy ra những cuộc chiến đấu ác liệt nhất, nhân dân ai cũng kể và ca ngợi rằng các chiến sĩ giải phóng quân Việt Nam - Lào, lúc bấy giờ đã chiến đấu rất dũng cảm, đứng vững trên từng ngọn đồi, vừa cầm súng sẵn sàng bắn máy bay bay thấp, vừa dùng súng bộ binh bắn vào đội hình tấn công của quân Mỹ, quân ngụy dọc theo Đường 9. Đường Tây Trường Sơn còn được gọi là đường Hồ Chí Minh được bắt đầu xây dựng từ đầu những năm 1960, sau khi có sự thống nhất của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào. Trước tình hình diễn biến của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam, để chi viện cho các chiến trường Đông Dương, trong đó có chiến trường Lào, đặc biệt là các khu căn cứ kháng chiến, giúp cho mọi hoạt động tác chiến của Quân đội nhân dân Lào, lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam, ở Trung Lào, Hạ Lào và phía Tây Bắc Campuchia, Trung ương Đảng nhân dân Lào và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định xây dựng tuyến đường chiến lược Phu Luổng phía Tây. Con đường nay đi qua các tỉnh Khăm Muộn; tỉnh Xa Van Na Khẹt; tỉnh Xa Ra Van; tỉnh Ta Vên Oc (nay tỉnh Xê Koong), qua hai huyện Phu Vông Bắc và Phu Vông Nam, tỉnh A Tô Pơ. Dãy Phu Luổng phía Đông nằm ở phân đất của Việt Nam, con đường mòn đã được xây dựng từ giữa năm 1959, chủ yếu là đường tiếp tế vận chuyển mang vác trên bộ (có thể có ô tô), rất hiểm trở, đường mòn phía Tây ở đất Lào, cũng là phục vụ cho vận chuyển tiếp tế bằng đường bộ. Từ năm 1965, hai chính phủ Lào - Việt Nam, đã thống nhất xây dựng các tuyến vận chuyển vào Lào như: từ Tây Trang Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu vào Xô Phum, tỉnh Phong Xa Lì, phục vụ các tỉnh Thượng Lào; theo đường 217, có điểm chuyển giao số 10 Na Mọ (Việt Nam); theo đường 7, có hai điểm bàn giao số 11, 13, ở Mường Xén, Bản Ban (Xiêng Khoảng); theo đường 8 Hà Tĩnh, cầu Treo đi vào Khăm Kợt - Lạc Sao, Khăm Muộn; theo đường 12 Quảng Binh đi Cha Lo, đèo Mụ Dạ đi vào Khăm Muộn; theo Đường 9, Quảng Trị - A Lưới, Lao Bảo đi vào Xa Van Na Khẹt và các tỉnh Hạ Lào, đi đôi với xây dựng mạng các tuyến đường, Bộ Quốc phòng Việt Nam lại thành lập Đoàn vận tải chiến lược 559, đảm nhiệm các tuyến đường 8, 12 đi xuống khu vực Hạ Lào, trở thành lực lượng chiến lược vận chuyển tiếp tế đường mòn Phu Luổng phía Tây Lào. Tuyến đường đó "là huyết mạch chiến lược quan trọng sống còn của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân các nước Đông Dương". Cùng với chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chiến trường Hạ Lào cũng là chiến trường chính, vì vậy, đường Tây Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của tình đoàn kết liên minh chiến đấu giữa hai quân đội Lào - Việt Nam anh em. Những chiến công, những tình cảm của con người trên tuyến đường Tây Trường Sơn đã được ghi chép, ca ngợi nhiều bài thơ, bài ca tình lãng mạng, mà nổi bật nhất những bài hát về núi Phu Luổng "Trên đỉnh Trường Sơn ta hát, Gửi anh bộ đội Pathét Lào "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây",... Tất cả nói lên tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, son sắt về sự liên minh chiến đấu đặc biệt giữa hai dân tộc Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào anh em. Thời gian đã lùi xa, cuộc chiến tranh hủy diệt trên tuyến đường Hồ Chí Minh do Mỹ tiến hành rất tàn khốc, không ai có thể tưởng tượng được sự mất mát hy sinh, tổn thất trên con đường đó, nó "như là cuộc chiến tranh ở đâu đó", cuộc chiến tranh hủy diệt toàn bộ sự sống trên mặt đất, cuộc chiến tranh bí mật giết hại con người. Đó là, cảm nhận của những ai đi qua con đường đó hôm nay. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, sự ác liệt của chiến tranh vẫn là sự thật lịch sử. Ngày nay, sự sống lại hồi sinh sau khói lửa, đạn bom. Cây cỏ lại mọc lên, những cánh rừng cà phê, cao su, nương lúa lại đem đến sự sống cho con người. Con Đường 9 vẫn nối liền từ Đông Hà, Lao Bảo Bản Đông, Sê Pôn đến Xa Van Na Khẹt và tỏa đi dọc dãy Trường Sơn. Tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh vẫn là sợi dây tình cảm thắt chặt mối tình Lào - Việt, Việt - Lào mãi mãi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #178 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:38:14 pm » |
|
SÁCH BÁO MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY VIẾT VỀ "LAM SƠN 719" Thiếu tá LÊ QUANG LẠNG Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cử nhân NGÔ QUANG CHÍNH Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Có thể nói, ở vào thời điểm trước, trong và ngay sau cuộc hành quân đầy tham vọng "Lam Sơn 719" của quân đội Sài Gòn, dư luận được cung cấp một lượng thông tin rất lớn xung quanh sự kiện này. Vậy thì vì sao cuộc hành quân "Lam Sơn 719" (Operation Lam Son 719) lại thu hút sự quan tâm của giới truyền thống và các nhà nghiên cứu, phân tích chính trị, nhất là của Mỹ và phương Tây? Hẳn rằng, lý do gây chú ý trong cuộc hành quân này không chỉ bởi nó nhằm những mục tiêu cụ thể như: Cắt đứt tuyến vận tải chiến lược Hồ Chí Minh - Trường Sơn, phá hủy hệ thống kho tàng của Việt cộng trên đất Lào..., mà đặc biệt, nó được coi như là một "phép thử" để đánh giá khả năng chiến đấu, đảm đương nhiệm vụ của quân đội Sài Gòn khi quân Mỹ không còn ở bên cạnh - điểm mấu chốt của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Quả thực, nhìn nhận, đánh giá về cuộc hành quân "Lam Sơn 719", các học giả và chính trị gia phương Tây đều cho rằng: sự kiện đáng chú ý nhất trong năm 1971 là cuộc xâm nhập ngắn, không thành công của quân đội Sài Gòn phá hủy đường Hồ Chí Minh - Trường Sơn trên đất Lào (Tây Đường 9). Nhận định trên đây là điều các viên tư lệnh Mỹ ồ Sài Gòn không muốn nghe và có thể chẳng bao giờ nghĩ tới. Trong tính toán của giới quân sự Mỹ và Sài Gòn thì cuộc hành quân "Lam Sơn 719" buộc "người Bắc Việt Nam sẽ phải hoặc lùi trở lại và rời bỏ những trung tâm giao thông và các kho của họ, như ở Campuchia, hoặc chiến đấu đến chiến hào cuối cùng để giữ quyền kiểm soát con đường mòn; và trận này sẽ là trận Oatéclô "Waterloo" của họ" 1 (F. Fitzgerald, Fire in the lake (Lửa trong hồ), Me Milan, New York 1972, p.22). Nếu có chút hoài nghi cũng chỉ là: cuộc mạo hiểm của quân lực Việt Nam Cộng hòa vào căn cứ được thiết lập từ lâu của Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh rất có thể phát triển thành một trong những trận giao tranh nóng bỏng nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh 2 (Armed Forces Journal (Tạp chí Lục quân) số ra ngày 15 tháng 2 năm 1971); và, "Địa hình hiểm trở và quyết tâm rất lớn của Hà Nội không chịu để mất con đường vào Nam Việt Nam và Campuchia có thể biến thành mọi mưu toan, bóp nghẹt con đường mòn ở Lào, và biến thành một chiến trường mới cho một cuộc chiến tranh vô hạn định" 3 (Orr Kelly, Cuộc tiến công trên bộ vào Lào đang được cân nhắc, Ngôi sao Oasinhtơn (Washington Star), số ra ngày 11 tháng 8 năm 1970). Với cách đặt vấn đề như trên, chúng tôi muốn nói rằng: những diễn biến, những tình huống của "Lam Sơn 719" đã được giới truyền thống, các nhà nghiên cứu, phân tích chính trị Mỹ và phương Tây mô tả rõ nét, phân tích cặn kõ, do đó, công việc của chúng tôi ở đây chỉ là tổng hợp, sắp xếp lại theo trình tự của sự kiện, ngõ hầu giúp độc giả có hình dung toàn diện hơn về một trận chiến đấu quyết liệt, có thắng, có thua và nó tác động, ảnh hưởng đến toàn cục của cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ xâm lược. Những nguyên nhân của cuộc hành quân "Lam Sơn 719".Nhận thấy rõ vai trò của đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh, chính giới Mỹ, Việt Nam Cộng hòa luôn cho rằng: chừng nào "cộng sản" Việt Nam còn dùng đường Hồ Chí Minh ở Đông Lào để đưa lực lượng tăng viện và chiến liệu vào Campuchia và Nam Việt Nam thì nỗ lực của Hoa Kỳ tại Campuchia không thể nào thật sự hiệu lực được 1 (New York Times (Thời báo New York), số ra ngày 16 tháng 5 năm 1970). Ngay từ năm 1965, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh ngăn chặn hết sức quyết liệt trên tuyến đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Mùa Hè năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara yêu cầu các nhà khoa học Mỹ nghiên cứu khả năng "xây dựng một hàng rào chống thâm nhập, hệ thống báo động, các bộ phận do thám (đặc biệt về ban đêm), các kỹ thuật làm trụi lá cây và các vũ khí phá hủy cả một khu vực" 2 (Cục Chính trị - Tổng cục Xây dựng kinh tế, Trận đồ bái quái xuyên rừng rậm, 1979, tr. 394). Theo đó, bên cạnh những vũ khí thông thường thì những vũ khí công nghệ cao, ứng dụng kỹ thuật mới được "ưu tiên" sử dụng trên chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Nhưng, những nỗ lực về kỹ thuật quân sự không ngăn chặn và cắt đứt nối tuyến đường, giới quân sự Mỹ quay về giải pháp cổ điển là trực tiếp đưa bộ binh vào ngăn chặn tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. "Chúng tôi thường xuyên đánh giá nỗ lực không quân của chúng tôi để ngăn chặn người và đồ tiếp tế vận chuyển trên đường mòn và cố gắng xác định xem phải chăng nhiệm vụ này có thể thực hiện kết quả hơn trên mặt đất" 1 (Orr Kelly, Cuộc tiến công trên bộ vào Lào đang được cân nhắc, Ngôi sao Oasinhtơn (Washington Star), số ra ngày 11 ngày 8 liiáng 1970). Thực ra, không phải đến lúc này giới cầm quyền Mỹ mới nảy ra ý tưởng dùng bộ binh để cắt đứt đường Hồ Chí Minh. Trong hồi ký của mình - cuốn "A soldier reports: Một quân nhân tường trình", Oétmolen cho biết: "Ngay từ đầu, tôi đã trù tính việc chuyển quân sang Lào để cắt đứt và ngăn chặn các đường thâm nhập của con đường mòn Hồ Chí Minh và trong năm 1966 và 1967, bộ tham mưu của tôi đã chuẩn bị vài kế hoạch chi tiết cho một cuộc hành quân như vậy... Nhưng tôi nhận thấy chặn một con đường mòn đòi hỏi ít nhất một lực lượng cỡ quân đoàn gồm 3 sư đoàn và tôi thấy không thể trong một thời gian dài rút nhiều quân như vậy ra khỏi cuộc chiến đấu quan trọng trong nội địa Việt Nam". Trong âm mưu của đế quốc Mỹ, với việc khóa chặn Sihanúcvin, với việc ném bom các kho tiếp tế và với việc các tàu tuần tiễu của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa hoạt động để bịt kín bờ biển miền Bắc Việt Nam, Quân giải phóng phải dựa chủ yếu vào nguồn tiếp tế qua đường Hồ Chí Minh. Tiến công đường mòn bằng quân trên bộ hiển nhiên là bước tiếp theo 1 (W.C. Westmoreland, A soldier reports (Một quân nhân tường trình), Double Day and Company, New York, 1972, p.389) với mục tiêu là cắt đứt hệ thống nhằng nhịt các con đường từ miền Bắc Việt Nam suốt dọc cán chảo, thường được gọi gộp là đường Hồ Chí Minh. Từ đầu năm 1970, Lầu Năm Góc đã gợi ý Tổng thống Níchxơn nên có một cuộc can thiệp của Việt Nam Cộng hòa, Thái Lan và Mỹ vào Lào. Đôn tháng 5 năm 1970, chán ngấy về cuộc can thiệp vào Campuchia, Bộ chỉ huy quân sự tối cao Mỹ ở Sài Gòn muốn đưa những "lực lượng đặc biệt" vào vùng dễ công kích nhất của con đường Hồ Chí Minh, giữa đèo Mụ Giạ và con Đường 9. Một khi tới nơi, những lực lượng đặc biệt, bao gồm những lính mũ nồi xanh của Mỹ, lính nhảy dù của miền Nam Việt Nam, lính Mẹo ở Lào sẽ đặt những trạm tiền tiêu và dùng hỏa lực liên tục không chế quãng đường dài 75km của con đường Hồ Chí Minh 2 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.317). Ý định này nhận được sự đồng tình của chính quyền Viêng Chăn và Phnôm Pênh. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Lào, Đại tá Thong Phanh Knosky nói trong một buổi họp báo: "Xét theo quan điểm thuần túy quân sự, một hành động can thiệp quân sự của Nam Việt Nam để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh là một sự cần thiết". Trong khi đó, các lãnh tụ cực hữu ở Lào nói rằng đồng thời với việc đánh vào vùng đất thánh Campuchia, Hoa Kỳ phải đánh vào đường mòn Hồ Chí Minh ở Nam Lào 3 (New York Times, số ra ngày 16 tháng 5 năm 1970). Đến khi những cơ quan tình báo quân sự Việt Nam cộng hòa đã được tin chắc chắn là "Hà Nội đang sửa soạn một cuộc tấn công quan trọng nhằm kìm hãm bớt sự rút lui của khoảng 150.000 lính Mỹ dự tính cho năm 1971. Những cuộc giao chiến dữ dội được trù tính vào "mùa khô". Nắm được những tin tức ấy, Lầu Năm Góc đã quyết định, đã đến lúc phải dứt khoát phá hủy "con đường mòn Hồ Chí Minh", con đường huyết mạch thực sự nối liền tiền tuyến với hậu phương lớn 1 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.316, 318). Giới quân sự Mỹ cho rằng: Một cuộc hành quân như thế chắc chắn sẽ là một cuộc tấn công tương đối "vào nhanh, rút nhanh" tương tự như cuộc thọc sâu của quân Nam Việt Nam vào Đông Bắc Campuchia trong những giai đoạn cuối cùng của cuộc hành quân đánh vào vùng đất thánh 2 (Orr Kelly, Cuộc tiến công trên bộ vào Lào đang được cân nhắc, Ngôi sao Oasingtơn (Washington Star), số ra ngày 11 tháng 8 năm 1970). Bên cạnh đó, trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Níchxơn và tướng Abrams, đến tháng 6 năm 1971, quân đội Sài Gòn có thể tự mình đảm nhận tất cả các chiến dịch và để cho lính Mỹ có thể trở về Mỹ trong thời kỳ bầu cử. Muốn như vậy, phải có một cuộc thử thách, đấy là cuộc hành quân sang Lào 3 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.316, 318). Cuộc hành binh tiến công vào đường mòn Hồ Chí Minh là nhằm giáng cho ta một đòn quyết định. "Rất nhiều chuyện, có thể là kết quả của ngay của cuộc chiến tranh nữa đều xoay quanh thắng lợi hay thất bại của chiến địch và chính quyền Níchxơn hình như thực tâm tin tưởng rằng canh bạc rất mạo hiểm này sẽ thắng. Đối với những ai hoài nghi, nêu lên khả năng ghê sợ của sự phản công ác liệt của Bắc Việt Nam, các quan chức Mỹ mạnh bạo trả lời "chúng ta vẫn đối phó được" 1 (Time (Thời báo) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971)... Lam Sơn 719 còn nhằm một mục tiêu tham lam hơn nữa. Trước hết đó là một cuộc thử thách chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Níchxơn, và nếu quân Nam Việt Nam chiến thắng thì ít nhất cũng phần nào đem lại giá trị cho cam kết của Níchxơn, trao chiến tranh cho Nam Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #179 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:40:48 pm » |
|
Tên gọi và tác giả của cuộc hành quân.
Theo các tài liệu của Mỹ và phương Tây thì cuộc hành quân sang Lào của quân đội Sài Gòn được chuẩn bị rất kỹ. Ngay từ năm trước Bộ chỉ huy Mỹ đã xây dựng một loạt vị trí và sân bay cho những máy bay nhẹ và máy bay lên thẳng ở Lào. Cuộc hành quân trước lấy tên là "Dewey Canyon II" sau được thay thế bằng một tên Việt Nam là "Lam Sơn 719", việc thay đổi này nằm trong một cố gắng nhỏ bé nhằm gây ấn tượng: đó là một cố gắng hoàn toàn của Nam Việt Nam, mặc dầu nó được đề ra, vạch kế hoạch ở Nhà Trắng và duyệt bởi tướng Abrams2 (Time (Thời báo) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971). Cùng một luận điệu như vậy, tác giả của cuốn La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh) - Van Geirt cũng cho rằng: "Để nhân nhượng, tránh một số tự ái của Bộ Tư lệnh Nam Việt Nam chiến dịch Dewey Canyon II sẽ đổi tên và được gọi la "Lam Sơn 719". Tạp chí Lục quân Mỹ (Armed Forces Journal) số ra ngày 15 tháng 2 năm 1971 khẳng định: Cuộc hành quân "Dewey Canyon II" là một hành động ngăn chặn. Trong khi quân lực Việt Nam Cộng hòa và lục quân Mỹ khóa chặt biên giới, thì không quân tiếp tục lùng sục các bãi để hàng... Quân lực Việt Nam Cộng hòa sẽ sục sạo tìm các bãi kho... Như vậy, nhiều học giả phương Tây cho rằng, "Lam Sơn 719" là cái tên Việt hóa của chiến dịch "Dewey Canyon II" và tác giả của nó là Abrams. Thực ra, như đã trình bày ở trên, kế hoạch chi tiết cho một cuộc chuyển quân sang Lào là của Oétmolen và bộ tham mưu của ông chuẩn bị từ năm 1966. Abrams là người thừa hưởng và hoàn thiện kế hoạch đó. Trong cuộc hành quân sang Lào năm 1971, phần yểm trợ bằng không quân, pháo binh và vận chuyển quân, tiếp tế hậu cần do Mỹ thực hiện được đặt tên "Dewey Canyon II", lấy tên theo chiến dịch Dewey Canyon do thủy quân lục chiến Mỹ thực hiện tại vùng Tây Bắc Việt Nam Cộng hòa năm 1969, với hy vọng rằng sự trùng tên này sẽ làm Hà Nội nhầm lẫn về mục tiêu chính của cuộc tấn công. Phần hành binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được đặt tên "Lam Son 719", con số 719 được ghép từ năm 1971 và Đường 9 - trục chính của cuộc tấn công. Cũng có thể có sự giúp đỡ của các tư lệnh Mỹ trong việc soạn thảo phần hành quân do Việt Nam Cộng hòa đảm nhiệm. Chúng ta có thể đồng tình với quan điểm của Thời báo (Times) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971 là "Luận điệu của chính quyền nói chiến dịch là hoàn toàn do Nam Việt Nam chủ động vạch ra là không đúng, kiến trúc sư thật sự là Abrams". Nhưng chắc chắn một điều "Lam Sơn 719" không phải là "Dewey Canyon II" đổi tên mà thành.
Sự lừa dối dư luận của chính quyền Mỹ và Sài Gòn.
Trong khoảng tuần lễ đầu tiên của cuộc hành quân ở Lào, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã đe dọa là quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ đột nhập Bắc Việt Nam bằng đường bộ. Rõ ràng là lời tuyên bố có ý lừa bịp. Nhưng ví thử cuộc hành quân ở Lào mà thắng lợi thì người Bắc Việt Nam sẽ luôn luôn thấp thỏm bị quân đội Việt Nam Cộng hòa xâm lăng trong tương lai. Như thế, bây giờ Níchxơn chỉ biết trông cậy vào không lực của ông ta mà thôi1 (F. Fitzgerald, Fire in the lake (Lửa trong hồ), Me Milan, New York, 1972, p.25).
Ngày 12 tháng 2, Tổng thống Thiệu tuyên bố cuộc hành quân thắng lợi vì nó đã làm thất bại kế hoạch của Bắc Việt Nam đánh chiếm các tỉnh miền Trung của Nam Việt Nam nhằm cải thiện vị trí mặc cả của họ ở Hội nghị Pari. Tuy nhiên, tuyên bố này đập lại tuyên bố trước đây của Thiệu rằng mục tiêu của cuộc hành quân là ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh2 (Edgar O’ Ballance, The war in Viet Nam (Cuộc chiến tranh ở Việt Nam), Hippoerence books, New York, 1975).
Ngày 8 tháng 3, tại một cuộc họp báo ở Khe Sanh, người ta tuyên bố hai mục tiêu chủ yếu của cuộc hành quân là phá vỡ hệ thống của Việt cộng và ngăn chặn thâm nhập đã hoàn thành, 6.000 Việt cộng bị giết trong cuộc hành quân. Những lời lẽ tốt đẹp đó khó mà xác minh vì Sê Pôn di chuyển ngày 8 và 9 tháng 3, và tin tức không được tiết lộ cho đến ngày 11 tháng 3.
Ngày 15 tháng 2, chỉ huy sở hành quân của quân Nam Việt Nam đặt tại Khe Sanh nói rằng đường mòn Hồ Chí Minh đã bị cắt và tiếp tế của Việt cộng chấm dứt. Nhưng không phải như vậy. Qua cuộc hành quân này, giao thông của Việt cộng vẫn tiếp tục theo các đường cái và đường mòn hơi xa hơn về phía Tây1 (Edgar O’ Ballance, The war in Viet Nam (Cuộc chiến tranh ờ Việt Nam), Hippocrence books, New York, 1975, p. 161).
Chính quyền Mỹ nói không có quân Mỹ tham gia chiến đấu ở Lào bị hoài nghi. Một sĩ quan phụ trách chòi canh thừa nhận rằng có chừng 100 Pathfinder (quân biệt kích chỉ điểm) Mỹ ở Lào hướng dẫn cho trực thăng hạ cánh và việc các đội trực thăng Mỹ đang hoạt động trên bộ từ biên giới đến Sê Pôn không còn là chuyện bí mật nữa2 (Newsweek (Tin trong tuần) số ra ngày 22 tháng 2 năm 1971).
Bộ chỉ huy Nam Việt Nam báo tin là đã chiếm được Sê Pôn và Tổng thống Thiệu đã gửi lời khen đến những người chiến thắng. Thực tế những đơn vị do máy bay lên thẳng đưa đến đã chiếm được những đỉnh cao chế ngự phía Đông thị trấn, cách đó 3km. Nhưng họ chưa vào được Sê Pôn.
"Lam Sơn 719" chấm dứt sau 43 ngày trong sự hỗn loạn. Sài Gòn vẫn còn công bố là chiến dịch đã thành công vì rằng 12.637 quân Bắc Việt Nam đã bị hạ và 110 chiến xa bị phá hủy... người ta nhắc lại rằng mục tiêu đề ra là phá hủy con đường mòn Hồ Chí Minh, kiểm soát con đường ấy và đặt những quân thường trực ở đó đã thực hiện không được.
Thương vong của quân đội Việt Nam Cộng hòa tăng lên và vị trí của các đơn vị của họ suy yếu đến mức một số chỉ huy tiểu đoàn đã phải xin lệnh cho rút lui. Đề nghị của họ bị từ chối, Bộ Tư lệnh Mỹ và Nhà Trắng đã rêu rao rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ ở lại Lào và chiếm đóng con đường mòn cho đến hết mùa khô, vào tháng 5, và các sĩ quan Việt Nam Cộng hòa không dám trái ý người Mỹ. Mãi cho đến khi một vài viên chỉ huy trên chiến trường đe sẽ tự động rút quân về, và cuộc rút lui đã bắt đầu rồi mới có lệnh chính thức cho rút lui1 (F. Fitzgerald, Fire in the lake (Lửa trong hồ), Me Milan, Now York, 1972, p.22).
Thất bại lớn như thế, cay đắng là vậy, nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn không chịu chấp nhận sự thật đau đớn này. Họ vẫn lừa dối dư luận rằng: Dù sao "Lam Sơn 719" chưa kết thúc. Thầng 4 năm 1971, ở Đông Hà, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố trước những biệt kích sống sót sau cuộc hành quân sang Lào: "Chúng ta đã tấn công Cao Miên, chúng ta đã tấn công Lào và chúng ta đã tấn công Bắc Việt Nam". Ông Thiệu cho người của ông ta biết rằng quân đội Sài Gòn có đu sức mạnh cần thiết để tiến hành một chiến dịch như vậy2 (Van Geirt, La piste Ho Chi Minh (Đường mòn Hồ Chí Minh), Editions Spéciales, Paris, 1971, p.318). Tại sao ông Thiệu lại lừa dối dư luận như vậy. Đơn giản là, tới mùa thu năm 1971 sẽ tiến hành bầu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, "Lam Sơn 719" có thể được chuyển thành thắng lợi, hoặc ít ra cũng là hòa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|