Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:31:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 29262 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #110 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:22:54 pm »

Phần thứ ba
TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

BÀI HỌC VỀ NẮM BẮT THỜI CƠ TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Thượng tướng, PGS, TS TRẦN VIỆT KHOA
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Giám đốc Học viện Quốc phòng


Trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cùng với những thắng lợi tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ đã tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với thế trận có lợi cho ta. Đồng thời, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về nghệ thuật chỉ đạo tiến hành chiến tranh, trong đó bài học về "nắm bắt thời cơ trong chiến dịch" - là một bài học lớn, khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời và kiên quyết của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, thể hiện trên một số nội dung sau:

Thứ nhất, nhận định, đánh giá đúng tình hình, nắm bắt thời cơ, đề ra phương hướng hoạt động phù hợp với thực tế chiến trường

Trong tác chiến, việc đánh giá đúng tình hình, xác định chính xác đối tượng tác chiến có vị trí, vai trò rất quan trọng, là cơ sở để tiến hành công tác chuẩn bị, tạo lập thế trận, tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ hạ quyết tâm tác chiến, giành thắng lợi. Ngược lại, nếu đánh giá tình hình, xác định đối tượng tác chiến không đúng, dẫn tới chuẩn bị và hạ quyết tâm sai, thường khi tác chiến sẽ thất bại. Thực tế khi tiến hành Chiến dịch tiến công Hòa Bình năm 1951, ta đã đánh giá rất khách quan, cụ thể tình hình chung trên chiến trường:


Về địch, sau thất bại ở biên giới Thu - Đông 1950, địch lâm vào thế bị động về chiến lược trên chiến trường chủ yếu Bắc Bộ; để giành lại quyền chủ động, địch có những nỗ lực rất lớn để binh định, đánh chiếm vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Nhất là, tiếp sau 3 chiến dịch tiến công lớn (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quans Trung) và 1 tháng phát động du kích chiến tranh của ta đạt kết quả hạn chế, đến Thu - Đông 1951, địch cho là đã ổn định được tình hình và thời cơ để giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ đã đến. Từ đó, chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định chủ trương tung phần lớn lực lượng cơ động chiến lược mở cuộc tiến công đánh chiếm Hoà Bình, mục đích mở rộng khu Chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, nhằm bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam của ta; bảo vệ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, lập lại "Xứ Mường tự trị", mở rộng phạm vi thực hiện chính sách dùng người Việt đánh người Việt, gây ảnh hưởng chính trị với Mỹ, củng cố tinh thần binh sĩ và buộc ta phải tham chiến để tiêu hao, tiêu diệt lực lượng ta. Đồng thời, sử dụng một phần lực lượng tăng cường càn quét, bình định, đưa chiến tranh tổng lực lên cao, xoá bỏ một số căn cứ du kích của ta ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, tiến hành các hoạt động tạo bàn đạp cho cuộc hành quân đánh ra Hoà Bình.


Về ta, ngay khi nhận được tin địch đánh chiếm Hòa Bình, Tổng Tham mưu trưởng đã trao đổi nhanh với một số cán bộ chủ chốt về tình hình thực tế và dự kiến kế hoạch đối phó để báo cáo lên Tổng Quân ủy. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, nhận định: Cuộc tiến công ra Hòa Bình của địch đã mở rộng được đất đai, giành lại quyền chủ động, chúng đã chiếm được một số vị trí chiến lược quan trọng, một đường giao thông trọng yếu, cắt đứt liên lạc của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và miền Nam. Mặc dù, cuộc tiến công của địch chiếm đóng Hòa Bình gây cho ta nhiều khó khăn nhưng trên chiến trường rừng núi Hòa Bình, chúng ta có điều kiện thuận lợi để tiêu diệt sinh lực địch hơn như trên các chiến trường trung du, đồng bằng. Trong lúc địch tranh thủ tập trung lực lượng cơ động lớn tiến công ra vùng tự do để thực hiện một kế hoạch chiếm đóng mới, ta cần nắm cơ hội, tranh thủ sở hở của địch, tích cực hoạt động cả ở tuyến bên ngoài và trong lòng địch, thì nhất định ta sẽ thuận lợi trong nắm được cơ hội tiêu diệt một bộ phận lực lượng cơ động quan trọng của địch; đẩy mạnh chiến tranh du kích, ngoài và trong cùng phối hợp, đập tan âm mưu củng cố vùng địch hậu và ý định giành lại quyền chủ động ở Bắc Bộ, xoay chuyển tình thế cuộc chiến của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp.


Căn cứ vào phân tích tình hình địch - ta trên toàn chiến trường Bắc Bộ, nhận định đây là một cơ hội tốt cho ta, Trung ương Đảng đã quyết định mở cuộc tiến công lớn trên chiến trường Bắc Bộ, lấy Hòa Bình làm hướng chính, nhằm đánh bại ý đồ chiến lược của địch. Tổng Quân ủy đưa ra chủ trương: "Tranh thủ thời gian, lợi dụng lúc địch chưa được củng cố, tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, tiến tới phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, đồng thời, mạnh dạn đánh sâu vào địch hậu, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phá âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1959, tr. 16).


Thứ hai, tích cực điều chỉnh thế trận, tiến hành các hoạt động tác chiến tạo thế, tạo thời cơ, thúc đẩy thời cơ phát triển

Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định, rất có lợi cho việc phát huy sức mạnh, tạo ra hiệu lực lớn, giành hiệu quả cao trong tác chiến. Thời cơ có thể do điều kiện khách quan đưa đến, cũng có thể do ta chủ động tạo nên hoặc do sai lầm của địch mang lại. Tạo thời cơ là cả một quá trình tiến hành công tác chuẩn bị về mọi mặt, nhất là chuẩn bị về thế trận và lực lượng. Trong Chiến cuộc Đông - Xuân 1951 - 1952, qua theo dõi tình hình, ta phát hiện ý đồ của địch ra sức củng cố tuyến phòng thủ giáp ranh, lập tuyến phòng thủ chiến lược; đồng thời, tập trung lực lượng cơ động chiến lược mở cuộc tiến công lên Hòa Bình...


Khi địch mới tiến công ra Hòa Bình, ta chủ trương tiến hành ngay chiến dịch phản công để đánh bại cuộc tiến công của địch, nhưng sau khi cân nhắc, đánh giá kỹ tình hình mọi mặt về ta, về địch, nhận thấy thời cơ để tổ chức phản công không còn. Do địch có nhiều lợi thế về lực lượng, phương tiện vũ khí và khả năng cơ động nên chúng đã nhanh chóng đánh chiếm được khu vực Hòa Bình và chuyển sang trạng thái phòng ngự, xây dựng hệ thống cứ điểm mạnh, hình thành hai tuyến phòng ngự dọc Đường số 6 và dọc sông Đà. Trong khi chúng ta không dự kiến trước về cuộc hành quân đánh chiếm này của địch nên chưa có sự chuẩn bị tác chiến ở Hòa Bình"khi địch chưa đánh Hòa Bình, ta chỉ chuẩn bị cho hướng tác chiến chủ yếu ở Liên khu 3". Vì vậy, cần phải tích cực chuẩn bị mọi mặt, tiếp tục tạo lực, tạo thế, tạo thời cơ mới. Để tạo được thời cơ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác chiến thắng lợi, ta cần phải khắc phục khó khăn, tranh thủ thời gian, chủ động, linh hoạt, tích cực hoạt động, "có cơ hội là đánh, lại phải tạo ra cơ hội mà đánh"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 18).


Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo cho cơ quan tham mưu chiến lược và các đơn vị gấp rút làm công tác chuẩn bị, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến và giao nhiệm vụ cho các đơn vị, tạo lập thế trận sẵn sàng cho tác chiến. Hoạt động lập thế trận cho cuộc tiến công chiến lược của ta được tiến hành trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp, nhất là hướng chiến lược chủ yếu (Hòa Bình); tuy tiềm lực quân sự còn nhiều hạn chế, nhưng do ta có chủ trương đúng nên quá trình lập thế trận đã tổ chức bố trí triển khai lực lượng hợp lý. Tại Hòa Bình, ta bố trí các đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn công pháo 351; ở đồng bằng Bắc Bộ, ta bố trí các đại đoàn 320, 316 cùng với lực lượng vũ trang tại chỗ đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ tiêu diệt sinh lực, phá vỡ hệ thống phòng ngự địch, mở rộng vùng giải phóng, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các chiến trường từ Bình - Trị - Thiên trở vào Nam Bộ đẩy mạnh tác chiến để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ; tổ chức hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau gây cho địch nhiều thiệt hại, buộc chúng phải kéo bớt lực lượng cơ động về đối phó với ta ở đồng bằng, tạo điều kiện, thúc đẩy thời cơ phát triển thuận lợi cho mở đầu tác chiến tiến công địch trên hướng chủ yếu Hoà Bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #111 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:25:00 pm »

Thứ ba, nắm bắt đúng thời cơ, nhanh chóng chuyển hóa thế trận, liên tục tiến công tiêu diệt địch

Nắm bắt thời cơ là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong hoạt động tác chiến, nắm bắt và làm đúng thời cơ sẽ đạt kết quả cao ngược lại làm không đúng thời cơ thì kết quả thấp, thậm chí bị thất bại. Thời cơ tác chiến là hoàn cảnh có những điều kiện thuận lợi có thể phát huy sức mạnh tổng hợp cho thực hiện nhiệm vụ, nó chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian ngắn, có khi chỉ trong khoảnh khắc. Do đó, việc nắm bắt chính xác thời cơ để hạ quyết tâm, hành động kịp thời có vị trí, vai trò rất quan trọng, "là việc hộ trọng liên quan đến thành bại của tác chiến, đến việc giữ vững và phát triển những thành quả đã đạt được, đến xương máu của bộ đội"1 (Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thào, Nghệ thuật tác chiến mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 122). Để nắm bắt được thời cơ, đòi hỏi người lãnh đạo, chỉ huy phải có ý chí, trách nhiệm rất cao, có tầm nhìn sắc sảo nhạy bén, có phương pháp xem xét khách quan, toàn diện. Thực tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp, việc nhận định chính xác tình hình địch - ta, nắm bắt đúng thời cơ, nhanh chóng hạ quyết tâm mở Chiến dịch tiến công Hòa Bình là một trong những minh chứng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy đã vượt lên trên mọi toan tính của thực dân Pháp.


Từ nhận định, đánh giá tình hình và âm mưu của địch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đánh ra Hoà Bình, địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 9). Xác định rõ đây là một cơ hội hiếm cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, Trung ương Đảng đã đồng ý với đề xuất của Tổng Quân ủy cho mở Chiến dịch Hòa Bình, kịp thời chuyển loại hình chiến dịch từ ý định ban đầu là phản công sang loại hình chiến dịch tiến công, chuyển hóa thế trận, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch ở nơi chúng mới chiếm đóng, mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích và nêu rõ, "đây là cơ hội tốt để ta đánh địch trên mặt trận Hòa Bình, trên các mặt trận khác và sau lưng địch"2 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 384). Đồng thời, chỉ rõ ràng cho toàn Đảng: Phải nhận rõ cơ hội thuận lợi đó, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích thật rộng rãi để phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch.


Tạo thời cơ và nắm thời cơ là để hành động, thời cơ có trở thành sức mạnh, có tạo nên chiến thắng hay không là do hành động của con người quyết định, "nắm được thời cơ rồi mà không hành động hoặc hành động chậm thì thời cơ không có ý nghĩa gì, thậm chí có khi làm đảo ngược tình thế: Đang mạnh hóa yếu, đang thắng hóa thua"1 (Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Nghệ thuật tác chiến mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Sđd, tr. 125). Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, quân và dân ta nỗ lực vượt bậc gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đảm bảo cho tác chiến. Các chiến trường đã nhanh chóng triển khai hoạt động tác chiến, khắc phục mọi khó khăn về cung cấp, về sức cơ động của bộ đội, vừa đánh vừa chuẩn bị, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, tranh thủ thời gian, mở rộng chiến tranh nhân dân, kết hợp đánh địch trên cả hai mặt trận (mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch). Kết hợp tác chiến của các đại đoàn chủ lực với chiến tranh du kích ở khắp nơi để phá kế hoạch chiếm đóng mới của địch, lợi dụng lúc địch sơ hở để đánh sâu vào vùng chúng chiếm đóng. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định: "Sử dụng các đại đoàn 308, 312, 304 và Đại đoàn công pháo 351 vào nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch trên hướng chính Hòa Bình; còn ở Đồng bằng Bắc Bộ, sử dụng các đại đoàn 320, 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh phá "bình định" ở các vùng sâu chúng tạm chiếm"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiếnchiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 148), tranh thủ thời cơ tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ hệ thống phòng ngự của chúng, đẩy mạnh du kích chiến tranh, mở rộng vùng giải phóng, phá âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", thực sự biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, giành lại sức người, sức của cho kháng chiến.


Nhờ có sự nhận định đánh giá đúng tình hình, đề ra phương hướng hành động phù hợp; tích cực tạo lập thế trận, tạo thời cơ, nắm bắt đúng thời cơ; sự chỉ đạo chiến lược kịp thời, nhạy bén, quyết đoán của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của lực lượng chủ lực kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương, của mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận địch hậu ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, chủ động tiến công, từng bước đánh bại kẻ thù, buộc chúng phải rút chạy khỏi Hòa Bình. Chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch phát triển mạnh, nhiều khu du kích, căn cứ du kích được phục hồi và mở rộng; ta đã đẩy địch vào thế bị động, lúng túng đối phó; âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, chiếm đóng "Xứ Mường", chia cắt chiến trường Bắc Bộ của địch đã hoàn toàn bị phá sản. Thế trận chiến lược đã thay đổi có lợi cho ta, phạm vi chiếm đóng của địch bị thu hẹp, tạo ra những thời cơ mới cho kháng chiến thắng lợi.


Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Hòa Bình (1951 - 2021) là dịp để chúng ta ôn lại trang sử oanh liệt, hào hùng của dân tộc; đồng thời, tiếp tục khẳng định sự thành công về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng nói chung, nghệ thuật nắm bắt thời cơ, tận dụng thời cơ tiến công địch nói riêng. Bài học về nắm bắt thời cơ trong Chiến dịch Hòa Bình đã tiếp tục được vận dụng thành công dẫn đến thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta cũng đã tiếp tục thực hiện thành công bài học về nắm thời cơ, vận dụng và tận dụng thời cơ. Năm 1972, nắm được thời cơ nội bộ chính phủ Mỹ có xáo trộn, phong trào phản đổi chiến tranh trong nhân dân Mỹ dâng cao, quân và dân ta đã liên tục tiến công địch, giành nhiều thắng lợi quan trọng trên chiến trường, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước. Mùa xuân 1975, xác định thời cơ chiến lược đã đến, ta chọn phương án hành động chính xác: Đánh trước vào Tây Nguyên. Khi ta giành được thắng lợi và làm chủ Tây Nguyên, địch đã phải rút chạy khỏi Tây Nguyên trong hoảng loạn. Thời cơ chiến lược mới đã đến, Bộ Chính trị chớp thời cơ, quyết định tập trung nhanh nhất lực lượng để giải phóng Sài Gòn và quyết tâm đó được thực hiện thành công trọn vẹn với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước chúng ta cũng đã nhiều lần vận dụng thành công bài học về nắm bắt thời cơ và tận dụng thời cơ. Năm 1986, Trung ương Đảng đã kịp thời nắm bắt tình hình, tận dụng thời cơ có sự chuyển biến trong lý luận và nhận thức để tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, đưa Việt Nam thoát ra khỏi những khó khăn của thời kỳ bao cấp và ảnh hưởng của chiến tranh. Năm 1991, những biến cố chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu tạo ra cho chúng ta những thách thức rất lớn, nhưng chúng ta đã vượt qua và nắm bắt được thời cơ, chuyển hóa khó khăn thành cơ hội để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời rất linh hoạt và nhạy bén trong ngoại giao để mở rộng quan hệ đối với nhiều nước trên thế giới; nắm bắt tốt thời cuộc để gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995; gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới năm 2007... Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao gần 200 quốc gia, lãnh thổ với nhiều cấp độ khác nhau, đó là những cơ hội rất lớn giúp nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.


Theo quy luật vận động, phát triển của xã hội, đi liền với những cơ hội, vận hội mới luôn có những khó khăn, thách thức nảy sinh. Nếu biết vận dụng, nắm bắt tốt cơ hội và luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách thì sẽ biến điều bất lợi thành có lợi. Trung ương Đảng ta đã nắm bắt rất rõ quy luật vận động ấy, từ đó thường xuyên, kịp thời có những nhận định, phân tích, định hướng, chỉ đạo mang tính chiến lược, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta "chủ động, nhạy bén nắm chắc thời cơ, quyết vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế, khơi dậy ý chí, tiềm năng, nguồn lực cho phát triển"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 204); phát huy ý chí tự lực, tự cường, truyền thống yêu nước, khát vọng vươn lên của toàn dân tộc lạo thế và lực mới cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu rất cao, song bài học kinh nghiệm về nghệ thuật nắm bắt thời cơ trong Chiến dịch Hòa Bình (1951) vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, phát triển và vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #112 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:28:29 pm »

PHÁT HUY SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ, TINH THẦN NHÂN TỐ GÓP PHẦN QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO
Giám đốc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng


Cách đây 70 năm, Chiến dịch Hòa Bình đã diễn ra theo 3 đợt từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến ngày 25 tháng 2 năm 1952 và giành thắng lợi to lớn. Tại Mặt trận Hòa Bình ta đã diệt hơn 6.000 lính Pháp và ngụy binh, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm và bắn cháy 17 canô, tàu, xuồng, phá hủy 246 xe quân sự. Đồng thời, giải phóng 2.000km2 khu vực Hòa Bình - sông Đà với gần 2 triệu dân, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng quân đội Pháp, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 39). Thắng lợi đó là kết quả tất yếu của những quyết sách đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy, của tài thao lược sáng tạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đồng thời là thắng lợi của lực lượng vũ trang ta trong thực hành thành thạo những chiến thuật, kỹ thuật và khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên mặt trận rộng lớn, phức tạp. Trong đó, đặc biệt là việc phát huy cao độ sức mạnh chính trị,tinh thần của quân và dân ta tham gia chiến dịch, đây là nhân tốgóp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch.


Sau thất bại nặng nề ở Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông năm 1950, tiếp đó lại bị du kích gây cho những thiệt hại ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã khiến quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Trước tình hình đó, cuối tháng 10 năm 1950, Chính phủ Pháp đưa tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi trở lại Đông Dương nắm quyền Tổng Chỉ huy quân viễn chinh, kiêm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Đờ Lát đờ Tátxinhi tuyên bố: Đã tới lúc giành lại chủ động trên chiến trường, buộc Việt Minh phải tiếp nhận chiến đấu trên một địa điểm do Pháp lựa chọn.


Để giành lại quyền chủ động, quân Pháp mở liên tiếp các cuộc hành binh "Hoa Tuylíp" ngày 9 tháng 11 năm 1951, với 12 tiểu đoàn bộ binh cùng 5 cụm pháo binh và cuộc hành binh "Hoa Sen" - Lôtuýt ngày 14 tháng 11 năm 1951. Lực lượng quân Pháp gồm 16 tiểu đoàn, 8 cụm pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 2 đại đội xe tăng cùng với không quân tiến công lớn ra Hòa Bình. Chúng lập phòng tuyến Sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm nối lại "Hành lang Đông - Tây" bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4 của Việt Minh. Ở Hòa Bình, thực dân Pháp cho thành lập "Xứ Mường tự trị", thực hiện chính sách "Da vàng hóa chiến tranh", nhằm dùng các lợi ích về kinh tế, chính trị để lôi kéo người dân tộc thiểu số đi lính cho Pháp.


Trước âm mưu, hành động của thực dân Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp, đề nghị Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng. Tiến công địch ở Hòa Bình là hướng chính, các hoạt động tác chiến ở trung du (Bắc Giang, Bắc Ninh), Liên khu 3 và Bình - Trị - Thiên là hướng phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích.


Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình và nhận định: "Đó là một cơ hội hiếm có cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đánh ra Hòa Bình địch phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, núi rừng hiểm trở, địa hình đột xuất, công sự chưa vững chắc. Mặt khác, vì phải tập trung phần lớn quân cơ động ra Hòa Bình nên lực lượng địch ở đồng bằng bị dàn mỏng, các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước"1 (Hồ sơ 514, Phông Bộ Tổng Tham mưu, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng).


Phân tích tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Căn cứ vào nhận định trên, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương mở một cuộc tiến công lớn trên cả 2 mặt trận: Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hòa Bình và mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ.


Thực hiện chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy quyết định sử dụng 3 đại đoàn bộ binh: 308, 312, 304 cùng Đại đoàn công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phương thực hiện vây hãm và tiêu diệt quân Pháp ở Mặt trận Hòa Bình. Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân phá "bình định" phát triển chiến tranh ở vùng sau lưng địch. Đây là chiến dịch huy động lực lượng chủ lực lớn nhất kể từ khi diễn ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Để đảm bảo giành thắng lợi lớn trong một chiến dịch diễn ra dài ngày (78 ngày đêm), công tác chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương, toàn diện, từ quân sự, chính trị đến hậu cần, kỹ thuật. Trong đó, công tác chính trị được chú trọng nhằm phát huy cao nhất sức mạnh chính trị, tinh thần của các lực lượng tham gia chiến dịch, góp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch.


Sau hoạt động tác chiến Xuân - Hè năm 1951, các đại đoàn chủ lực của ta có thời gian tập trung huấn luyện quân sự và học tập chính trị. Các lớp chỉnh huấn chính trị cho đội ngũ cán bộ trung cấp và sơ cấp của các đại đoàn được tổ chức kịp thời, khẩn trương. Trong đó, chú trọng rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về nhận thức tư tưởng, ý chí quyết tâm của bộ đội trong 3 chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950 - 17.1.1951), Hoàng Hoa Thám (23.3 - 7.4.1951), Quang Trung (28.5 - 20.6.1951). Nhờ đó, ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu của bộ đội được nâng lên với niềm tin vững chắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến và sẵn sàng bước vào chiến đấu trong Đông - Xuân 1951 - 1952.


Đặc biệt, trong thời gian Chiến dịch Hòa Bình sắp được tiến hành, việc xây dựng ý chí quyết tâm, tạo lòng tin vào thắng lợi cho các lực lượng tham gia đã được các cấp lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội rất chú trọng nhằm phát huy nhân tố chính trị, tinh thần, đó là nhân tố mà như V.I. Lênin đã khẳng định: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (V.I.Lênin toàn tập, Tập 31, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr. 165). Với cương vị người chỉ huy cao nhất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trường Chiến dịch đã sớm có lòng tin tuyệt đối vào sự thắng lợi: "Tôi lên đường tư tưởng không một chút hoài nghi, phân vân. Chiến dịch này chỉ có thắnglớn hoặc thắng nhỏ, nhưng nhất định thắng. Đáp số đã hiện lên rõ mồn một: Ta sẽ tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ cũng như các vùng địch hậu sẽ được phục hồi"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 334, 347). Để tạo lòng tin và ý chí quyết tâm giành thắng lợi cho các lực lượng tham gia chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra Huấn lệnh, kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đứt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 334, 347). Bản Huấn lệnh của Đại tướng đã tiếp thêm sức mạnh chính trị, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là bộ đội và dân quân du kích trực tiếp tham gia Chiến dịch Hòa Bình trong cuộc chiến đấu chống lại đội quân viễn chinh Pháp mạnh hơn ta nhiều lần về vũ khí trang bị.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #113 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:30:25 pm »

Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi, không ngừng tăng cường ý chí quyết chiến, quyết thắng, phát huy cao độ sức mạnh chính trị, tinh thần của các lực lượng tham gia chiến dịch đã được thực hiện trong suốt 3 đợt tiến công địch để góp phần quyết định làm nên thắng lợi to lớn.


Đợt 1 (10 - 26.12.1951), bộ đội ta vận động phục kích tiêu diệt một bộ phận lớn Tiểu đoàn dù số 1 của quân Pháp; tiến công Tu Vũ (huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) - một vị trí phòng ngự then chốt của Phân khu Sông Đà do lực lượng lính Âu - Phi của Pháp chiếm đóng; đồng thời, kiên quyết đánh bại lực lượng địch tiếp ứng bằng đường sông bởi các tàu chiến và canô của quân Pháp từ Trung Hà lên. Khi tiến công Tu Vũ, một cứ điểm được cấu trúc kiên cố, do Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Marốc số 2 (1/2 RTM),cùng đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6 và 1 trung đội tăng thiết giáp chốt giữ, xung quanh được phát quang với nhiều lớp rào, bãi mìn rộng tới 24m, bộ đội của các đơn vị thuộc Đại đoàn 308 đã phát huy cao độ ý chí quyết tâm, kiên quyết tiến công tiêu diệt cứ điểm của địch. Đặc biệt, việc phát huy cao độ ý chí chiến đấu kiên cường, quyết tiêu diệt địch, trong trận phục kích ở làng Giang Mỗ (xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình), cách thị xã Hòa Bình khoảng 10km do Tiểu đoàn 352 Trung đoàn 9 thực hiện vào ngày 13 tháng 12 năm 1951 đã xuất hiện tấm gương chiến đấu dũng cảm quyết tâm đánh địch đến cùng. Đó là Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan một mình đuổi xe tăng địch, nhảy lên thành xe, ném lựu đạn vào buồng lái tiêu diệt địch tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.


Đợt 2 (27 - 31.12.1951), bộ đội ta tiếp tục phát triển tiến công, phá đánh tan tuyến phòng thủ Sông Đà, tiêu diệt địch ở các điểm cao 400, 600,... chặn đánh quân viện trên các trục Đường số 87, sông Đà, Mỹ Khê lên Ba Vì. Quá trình chiến đấu, bộ đội ta đã phải đương đầu với quân tinh nhuệ Pháp và lực lượng cơ giới hiện đại của địch, nên cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt. Việc phát huy cao độ ý chí quyết tâm, giữ vững niềm tin vào thắng lợi đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho các lực lượng tham gia chiến đấu của ta, đẩy quân đội Pháp ở thị xã Hòa Bình vào thế bị cô lập, khó khăn lúng túng.


Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), bộ đội ta tập trung lực lượng bao vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6. Trong đợt tiến công này, khi ta tiến đánh cứ điểm Pheo vào ngày 7 tháng 1 năm 1952 (đây một tiền đồn cách thị xã Hòa Bình 5km về phía Bắc do Tiểu đoàn 2 lính lê dương trấn giữ), lực lượng ta gặp khó khăn và tổn thất nhiều, nhưng các cấp chỉ huy đã kịp thời động viên, khích lệ bộ đội, củng cố quyết tâm và giữ vững niềm tin vào thắng lợi.Nhờ đó, ta đã phát huy được sức mạnh mọi mặt, nhất là sức mạnh về chính trị, tinh thần giúp cho cán bộ, chiến sĩ hăng hái tiếp tục chiến đấu. Cũng trong đợt này, khi Đại đội 41 nhận nhiệm vụ luồn sâu, bí mật đột nhập để tiêu diệt trận địa pháo của địch nằm kẹp giữa xóm Đúng và đồi Dè (thị xã Hòa Bình), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư tay động viên khích lệ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 41: "Các đồng chí được nhận nhiệm vụ xung phong vào ngay tung thâm địch, diệt hỏa lực của chúng, giúp các bạn chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đó là một vinh dự lớn. Bí mật và bất ngờ, anh dũng và kiên quyết, nhanh và gọn! Tôi tin các đồng chí sẽ làm tròn nhiệm vụ và trước khi các đồng chí ra trận, tôi gửi đến các đồng chí lời chào Quyết thắng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr. 363). Với sự động viên chính trị, tinh thần kịp thời của người chỉ huy cao nhất đã củng cố, nâng cao quyết tâm và phát huy tinh thần chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến dịch. Nhờ đó, lực lượng của ta đã kiên cường chiến đấu, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ và phương tiện chiến tranh của địch. Đẩy địch rơi vào tình thế đường sông bị cắt đứt, Đường số 6 bị uy hiếp, thị xã Hòa Bình liên tục bị tập kích. Quân Pháp đứng trước nguy cơ cô lập và bị tiêu diệt, cho nên từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 2 năm 1952, chúng buộc phải rút chạy khỏi Hòa Bình. Ngày 25 tháng 2 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi.


Đánh giá về thất bại của quân Pháp ở Chiến dịch Hòa Bình, sau này trong cuốn sách "Đông Dương hấp hối", tướng Hăngri Nava - Tông Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương viết: Chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được một kết quả quyết định nào. Chiến dịch Hòa Bình đã giam chân các binh đoàn chủ lực cơ động tinh nhuệ của ta ở xa đồng bằng trong một thời gian dài. Do đó, đã tạo lợi thế cho đối phương đưa các binh đoàn chủ lực lọt vào đồng bằng hoạt động. Đối phương đã giành được thắng lợi quan trọng1 (Hăngri Nava, Đông Dương hấp hối, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.45).


Với thắng lợi được lập nên sau nhiều ngày đêm chiến đấu của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình, ngay trong ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen ngợi Bộ Chỉ huy Chiến dịch và các chiến sĩ Mặt trận Hòa Bình, dân công phục vụ và đồng bào địa phương. Trong thư Người viết: "So với những thắng lợi trước, thắng lợi lần này là khá to. Thắng lợi lần này đã đánh dấu một bước tiến bộ mới của bộ đội ta, và đã làm cho địch phải thất bại nhục nhã trong âm mưu củng cố phòng ngự chuyển lên tiến công, nhưng bộ đội phải luôn luôn cố gắng thi đua giết giặc lập công và ra sức học tập chỉnh huấn, đồng bào phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất hơn nữa để tranh lấy thắng lợi to hơn nữa"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 331-332). Với sự ghi nhận, động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các lực lượng đã lập được chiến công ở Chiến dịch Hòa Bình càng làm tăng thêm sức mạnh về chính trị, tinh thần để quân và dân ta hăng hái lập thêm những chiến công mới trong Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, gian khổ.


Chiến dịch Hòa Bình giành thắng lợi được tạo nên bởi nhiều nhân tố, trong đó nhân tố phát huy sức mạnh chính trị, tinh thần của các lực lượng tham gia chiến dịch có ý nghĩa quan trọng hàng đầu góp phần quyết định làm nên thắng lợi to lớn đó. Chiến dịch Hòa Bình Đông - Xuân 1951 - 1952 chính là kết tinh thành quả bởi những nỗ lực phi thường của quân và dân ta trong những năm chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược,dưới sự lãnh đạo hết sức tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. 70 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình vẫn làm sáng ngời bài học về phát huy cao độ sức mạnh chính trị, tinh thần của quân và dân Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân lộc - nhân tố đã, đang và sẽ tiếp tục quyết định tạo nên những thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #114 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:34:36 pm »

CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG
THẾ TRẬN PHÒNG THỦ TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 3 HIỆN NAY

Trung tướng NGUYỄN QUANG CƯỜNG
Chính ủy Quân khu 3


Chiến thắng Hòa Bình là chiến công vang dội của quân và dân ta trên cả mặt trận chính tỉnh Hòa Bình và mặt trận phối hợp là vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, đã đập tan âm mưu lập phòng tuyến sông Đà nổi liền với tuyến phòng thủ trung tâm nhằm mở thông "hành lang Đông - Tây", thực hiện khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, cắt đứt đường liên lạc giữa Chiến khu Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 của thực dân Pháp, làm cho "những hy vọng về chiến thắng vừa nhen nhóm trở lại trong chính giới Pháp đã tàn lụi"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 294). Với lực lượng vũ trang Quân khu 3, chiến thắng này để lại nhiều kinh nghiệm quý trong vận dụng xây dựng thế trận khu vực phòng thủ trên địa bàn hiện nay.


Giữa tháng 11 năm 1951, quân Pháp huy động 20 tiểu đoàn gồm phần lớn lực lượng cơ động chiến lược đánh chiếm tỉnh Hòa Bình. Đánh giá tình hình và âm mưu địch, Tổng Quân ủy nhận định: Đánh Hòa Bình, địch đã phân tán lực lượng cơ động ra một địa hình rừng núi hiểm trở, binh lực ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mỏng và tương đối sơ hở; đây là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch vì "phần lớn lực lượng cơ động đã tập trung vào Mặt trận Hòa Bình, cho nên lực lượng của địch ở vùng địch hậu đồng bằng bị dàn mòng", "các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước"1 (Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội, Tổng cục Chính trị, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977, tr. 447). Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, sử dụng các đại đoàn 304, 308 312 vây hãm và tiêu diệt địch ở Mặt trận Hòa Bình; các đại đoàn 316, 320 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh phá bình định, phát triển chiến tranh du kích vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch" nêu rõ: Ở mặt trận Hòa Bình, đồng thời với việc đánh địch, phải động viên lực lượng toàn dân phá kế hoạch chiếm đóng của chúng, phá kế hoạch tổ chức ngụy quân, đặt cơ sở ngụy quyền. Ở đồng bằng Bắc Bộ, cần hoạt động mạnh, liên tiếp tiêu diệt địch, khôi phục, củng cố, mở rộng căn cứ du kích, tiến hành công tác vận động ngụy binh.


Tại Mặt trận Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các đơn vị: Các đại đoàn 308, 312 tiến công trên hướng chủ yếu, phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch; Đại đoàn 308 (thiếu Trang đoàn 102) ở tả ngạn sông Đà, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân tiếp viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình; Đại đoàn 312 ở hữu ngạn, diệt cứ điểm Chẹ, đánh quân tiếp viện trên đường từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ; Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch, kiềm chế địch ở thị xã Hoà Bình và đánh địch trên Đường số 6; Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) làm lực lượng dự bị dừng chân ở Cổ Tiết (phía Nam thị xã Phú Thọ) cùng lực lượng vũ trang địa phương sẵn sàng đánh địch càn quét. Cách đánh chiến dịch được xác định là "đánh điểm, diệt viện", kết hợp đánh địch trong công sự với đánh địch vận động, càn quét hoặc tăng viện, ứng cứu bằng đườngbộ, đường sông, đường không, sẵn sàng đánh địch rút chạy. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn từ Xuân Mai đến thị xã Hòa Bình và từ thịxã Hòa Bình đến Trung Hà (là vùng rừng núi sát với đồng bằng).


Thực tiễn chiến đấu, Chiến dịch Hòa Bình diễn ra thành 3 đợt, trong đó, đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá tuyến sông Đà. Ngày 9 tháng 12, khi phát hiện chủ lực ta vượt sông Đà sang hữu ngạn, địch điều Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) càn quét vùng Ba Vì, Yên Lê, Làng Chúc, Đường số 87. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 312 hoãn đánh cứ điểm Chẹ, chuyển sang đánh địch đi càn; Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Tu Vũ. Sáng ngày 10 tháng 12, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) vận động đến Ninh Mít chặn đánh địch càn vào Làng Chúc, cùng lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục đánh địch ở Gốc Bộp, Điểm cao 306, diệt 4 đại đội bộ binh và 1 trung đội cơ giới, buộc địch phải kết thúc cuộc càn, rút chạy về Trung Hà.


Đêm mùng 10 tháng 12, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được tăng cường 1 tiểu đoàn, 8 khẩu sơn pháo 75mm, 1 đại đội trọng liên 12,7mm tiến công và nhanh chóng làm chủ cứ điểm Tu Vũ, một vị trí quan trọng trên tuyén phòng ngự Sông Đà. Trận đánh đã làm rung chuyển tuyến phòng ngự Sông Đà của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Mất Tu Vũ, quân Pháp cố mở thông tuyến Sông Đà. Trong ngày 11 tháng 12, địch cho 2 đoàn canô từ Trung Hà lên và từ thị xã Hòa Bình xuống nhưng đều bị ta chặn đánh. Trên hướng thứ yếu, đầu tháng 12 tháng 1951, Đại đoàn 304 tới phía Nam Đường số 6; ngày 12 tháng 12, Trung đoàn 66 phục kích trên đoạn đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, Tiểu đoàn 322 (Trung đoàn 9) cùng 1 trung đội địa phương tỉnh Hoà Bình phục kích ở Giang Mỗ, diệt 1 đại đội Âu - Phi. Ngày 15 tháng 12, địch cho 2 đại đội vào xóm Bãi Bể (Cao Phong) càn quét, bị bộ đội địa phương tỉnh Hòa Bình chặn đánh, tiêu diệt và bắt trên 100 quân địch.


Ở mặt trận vùng địch hậu, các đại đoàn 316, 320 đã cùng các lực lượng vũ trang địa phương tiến công rộng khắp, giành thắng lợi lớn, nhất là ở Lương Tài, Thuận Thành (Bắc Ninh), Phát Diệm (Ninh Bình), Ngô Khê (Hà Nam)... Địch phải rút quân cơ động từ Hoà Bình về đối phó. Khi bị ta uy hiếp mạnh ở Hòa Bình, địch phải bỏ dở cuộc càn ở địch hậu để điều quân về ứng cứu. Ngày 26 tháng 12, đợt 1 chiến dịch kết thúc. Hoạt động tác chiến của quân và dân vùng địch hậu Liên khu 3 đã khiến quân địch đối phó bị động, lúng túng giữa hai mặt trận.


Đợt 2 của chiến dịch (27 - 31.12.1951) là giai đoạn ta phát triển tiến công nhằm phá vỡ phòng tuyến Sông Đà. Đêm 29 tháng 12, Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) bí mật tập kích các điểm cao 400, 600 (Ba Vì). Trên hướng Đường số 6, các trung đoàn 57,9 (Đại đoàn 304) tiến công cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi. Trong thời gian này, ở mặt trận vùng địch hậu Liên khu 3, ta tiếp tục hoạt động mạnh, tiêu diệt, bức rút nhiều đồn bốt, chặn đánh nhiều cuộc càn lớn của địch, giữ vững và mở rộng các khu du kích. Địch phải điều thêm 2 binh đoàn cơ động từ đồng bằng lên tăng viện nhưng không khai thông được tuyến Sông Đà, Đường số 6 vẫn bị uy hiếp, thị xã Hoà Bình vẫn bị cô lập. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu xuống Đường số 6, đồng thời tiếp tục khống chế tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, vây chặt địch trong thị xã Hòa Bình và sẵn sàng đánh địch rút chạy.


Bước vào đợt 3 của Chiến dịch, đêm 7 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 102 tiến công cứ điểm Pheo (Bắc thị xã Hòa Bình), một vị trí quan trọng trên tuyến Đường số 6, Trung đoàn 66 tiến công vị trí Đầm Huống nhưng đều không thành công. Cùng ngày, Trung đoàn 36 bí mật đột nhập thị xã Hòa Bình tiêu diệt 4 vị trí và 1 trận địa pháo địch. Bị đánh mạnh tại Đường số 6 và thị xã Hòa Bình, ngày 8 tháng 1, địch rút toàn bộ lực lượng ở tuyến Sông Đà về giải vây cho thị xã và mở thông Đường số 6. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương tiếp tục chia cắt Đường số 6, bao vây thị xã Hòa Bình, tổ chức nhiều trận đánh nhỏ tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, tác chiến kết hợp với phá hoại, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch rút lui. Từ ngày 9 tháng 1, ta hoạt động mạnh và rộng khắp trên tuyến Đường số 6, tổ chức nhiều trận phục kích nhỏ và phá cầu, đường từ Phương Lâm đến Đồng Bến. Ngày 21 tháng 1, địch điều 11 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh rải ra đóng thêm nhiều vị trí từ Ao Trạch đến Hàm Voi. Ta tiếp tục bám địch, trong vòng 30 ngày đánh trên 10 trận vừa và nhỏ. Ngày 27 tháng 1, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định địch sẽ rút khỏi Hòa Bình và chỉ đạo cơ quan tham mưu lập kế hoạch đánh địch rút chạy.


Bị bao vây cô lập ở mặt trận chính, đồng thời bị đánh mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ, từ ngày 23 tháng 2, quân Pháp rút khỏi Hòa Bình, ta tổ chức tiêu diệt một bộ phận quân địch, còn phần lớn chạy thoát về Xuân Mai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc.


Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ở Mặt trận Hòa Bình ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo1 (Trung tâm Từ điền bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 176); giải phóng khu vực Hoà Bình - Sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Ở mặt trận địch hậu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hàng vạn quân địch, thu 6.000 súng, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hoà Bình giành thắng lợi. Sự chỉ đạophối hợp có hiệu quả giữa hai mặt trận là yếu tố quyết định trực tiếp thắng lợi của chiến dịch. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đà góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ có lơi cho ta và đưa nghệ thuật chiến dịch Việt Nam phát triển lên một bước mới. Đây không chỉ là "thắng lợi quân sự, mà còn là thắng lợi chính trị có tiếng vang trên thế giới"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập luận văn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.263). Tướng Nava phải thừa nhận: "Chúng ta đã thiệt hại nặng nề về chiến lược, không thu được kết quả quyết định nào"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 40).


Chiến thắng Hòa Bình đã khẳng định sự chủ động, nhạy bén, sáng tạo của Đảng ta; khẳng định sức mạnh của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh; sự đoàn kết, kiên cường chiến đấu của quân dân, điển hình là mặt trận phối hợp Liên khu 3. Chiến dịch Hòa Bình cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, về công tác vận động quần chúng nhân dân, công tác binh địch vận, về phối hợp chiến đấu giữa các mặt trận, về vấn đề xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận khu vực phòng thủ trong tình hình mới...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #115 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2025, 03:36:12 pm »

Từ nghiên cứu diễn biến và kết quả của Chiến dịch Hòa Bình, có thể rút ra một số vấn đề vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu 3 như sau:

Một là, chú trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, cốt lõi là "thế trận lòng dân" làm cơ sở xây dựng thế trận khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu

Thực tiễn trong Chiến dịch Hòa Bình, các đơn vị lực lượng vũ trang chiến đấu ở cả mặt trận chính và mặt trận phối hợp đã làm tốt công tác vận động nhân dân và công tác binh địch vận. Do đó, khơi dậy được lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc trong nhân dân. Đồng bào đã không tiếc vật chất, máu xương để ủng hộ kháng chiến. Ở tỉnh Hòa Bình, trong tháng 12 năm 1951, nhân dân đã tham gia 20 vạn ngày công làm nhiệm vụ vận chuyển, tải thương... phục vụ chiến đấu. Ở vùng địch hậu Liên khu 3, các địa phương đã ủng hộ lượng vật chất to lớn, đồng thời trực tiếp che chở, đùm bọc, dẫn đường, dùng phương tiện của gia đình để vận chuyển bộ đội, vũ khí, giúp bộ đội vượt qua nhiều đồn bốt, các vùng vành đai trắng mà quân địch không hay biết. Từ những thành công này, trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trang xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, phát huy vai trò của các đoàn thể trong tuyên truyền, vận động, tập hợp nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng cho toàn dân. Thực hiện tốt công tác dân vận, công tác chính sách hậu phương Quân đội, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, khắc phục thiên tai, phòng, chống dịch bệnh... tạo sự đồng thuận, nhất trí cao giữa cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương trong xây dựng khu vực phòng thủ.


Hai là, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị và ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cho bộ đội

Trong Chiến dịch Hòa Bình, các đơn vị tham gia chiến đấu ở mặt trận chính và mặt trận phối hợp Liên khu 3 đã làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ, giúp bộ đội nhận rõ cơ hội thuận lợi và nhiệm vụ quan trọng của cuộc chiến đấu; quán triệt thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ trương đánh địch trên cả mặt trận chính và địch hậu với phương châm tiêu diệt sinh lực địch, chiến đấu liên tục, dẻo dai, bền bỉ. Qua đó, khơi dậy tinh thần đoàn kết, quyết đánh, quyết thắng cho bộ đội và dân quân du kích. Trong chiến đấu, đã xuất hiện những tấm gương tiêu biểu như anh hùng liệt sĩ Cù Chính Lan ở mặt trận chính Hòa Bình, anh hùng liệt sĩ Trương Công Man, anh hùng Nguyễn Phú Vỵ... ở mặt trận đồng bằng. Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lực lượng vũ trang Quân khu Cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vỉ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới. Tiếp tục làm tốt chức năng của "đội quân công tác" để xây dựng, rèn luyện phẩm chất "trung với nước, hiếu với dân", xây dựng tình cảm gắn bó máu thịt với nhân dân của bộ đội.


Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh làm nòng cốt trong xây dựng khu vực phòng thủ và thế trận khu vực phòng thủ

Phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, Liên khu 3 cũng có các đơn vị chủ lực tinh nhuệ, giàu kinh nghiệm chiến đấu (các trung đoàn 42, 46); các đơn vị bộ đội địa phương đến cấp tiểu đoàn và lực lượng dân quân du kích đông đảo, làm nòng cốt cho cuộc chiến đấu ở địa phương. Các đơn vị chủ lực của Bộ, của Liên khu 3, địa phương và dân quân du kích đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ chiến đấu và vận động quần chúng nhân dân, liên tục bao vây, uy hiếp, tiêu diệt sinh lực địch. Ở mặt trận vùng địch hậu, bộ đội và nhân dân còn kết hợp phá tề, tổ chức binh địch vận, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích. Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung xây dựng lực lượng thường trực theo hướng "tinh, gọn, mạnh". Chú trọng nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, bảođảm cho bộ đội làm chủ, sử dụng thành thạo vũ khí, trang bị trong biên chế, giỏi về kỹ thuật, chiến thuật, có khả năng cơ động hiệp đồng tác chiến với các lực lượng đứng chân trên địa bàn trong khu vực phòng thủ. Đối với lực lượng dự bị động viên, cần coi trọng từ khâu tạo nguồn, đăng ký, quản lý, huấn luyện cho đến việc bảo đảm chế độ chính sách; tổ chức, sắp xếp bảo đảm 100% quân số cho các đơn vị động viên. Tăng cường quản lý các phương tiện, vật tư, kỹ thuật của nền kinh tế trong khu vực phòng thủ, sẵn sàng động viên khi có tình huống. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo hướng "vững mạnh, rộng khắp", triển khai thực hiện hiệu quả Đề án "Xây dựng hải đội dân quân thường trực tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới".


Bốn là, gắn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh

Trong Chiến dịch Hòa Bình, ta đã xây dựng được thế trận chiến dịch trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp; đã tổ chức và kết hợp hiệu quả giữa mặt trận chính và mặt trận phối hợp - nơi có sức người, sức của dồi dào, tạo nên hiệu quả chiến lược lớn, "vô hiệu hóa một đòn tiến công chiến lược của địch, đồng thời làm cho chúng rối tung không biết tìm cách nào đối phó"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Sđd, tr.295). Bộ Tổng Tư lệnh còn đưa 2 đại đoàn chủ lực về vùng địch hậu đồng bằng phối hợp đánh địch trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch. Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu của bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích, phát động toàn dân tham gia đánh giặc, phá tề, trừ gian, bảo vệ bí mật, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích. Đồng thời, ta cũng xây dựng được các cơ sở chính trị tin cậy, sẵn sàng hỗ trợ, che chở, thậm chí hy sinh đổ bảo vệ bộ đội. Trên địa bàn Liên khu 3, trước các trậnđánh, ta đã quán triệt cho bộ đội chủ trương, chính sách của Đảng, các nội dung tuyên truyền kháng chiến, nhất là ở các vùng công giáo, tạo dựng niềm tin trong đồng bào. Cán bộ được đưa về các địa bàn bám đất, nắm dân, chuẩn bị tổ chức quần chúng nổi dậy và phối hợp cùng bộ đội đánh địch. Trong giai đoạn hiện nay, cần kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ tinh, thành phố với phòng thủ Quân khu, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc. Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập bảo đảm khu vực phòng thủ của các sở, ngành, diễn tập phòng, chống lụt bão - tìm kiếm cứu nạn... gắn với xây dựng các kế hoạch, phương án về phòng thủ dân sự. Tập trung xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cơ động, dân quân tự vệ binh chủng chiến đấu, dân quân thường trực, dân quân tự vệ biển ở các địa bàn trọng điểm. Thực hiện bố trí quốc phòng gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế, xã hội bảo đảm tính lưỡng dụng, sẵn sàng phục vụ quốc phòng, an ninh. Làm tốt việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ.


Chiến thắng Hòa Bình là thành công xuất sắc của Đảng ta trong chỉ đạo chiến dịch, đánh dấu bước phát triển mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật về khả năng chiến đấu liên tục, dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn, phức tạp, đồng thời tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng kháng chiến, mở rộng căn cứ cách mạng, từ đó làm thay đổi cục diện chiến trường ngày càng có lợi cho ta. Chiến thắng Hòa Bình cũng là cuộc tập dượt lớn cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng thời để lại cho lực lượng vũ trang Quân khu 3 những kinh nghiệm quý về xây dựng thế trận phòng thủ trên địa bàn, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #116 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 07:43:10 am »

BẢO ĐẢM VŨ KHÍ CHO CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Thượng tá, ThS NGÔ NHẬT DƯƠNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của Bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào diễn ra từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 23 tháng 3 năm 1971 ở vùng biên giới Việt - Lào trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) lấy Đường 9 làm trục. Để phục vụ chiến dịch thắng lợi, hậu cần chiến dịch phải tổ chức bảo đảm một khối lượng rất lớn vũ khí, đạn dược cho các lực lượng tham gia chiến dịch của nhiều binh chủng gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng tại chỗ của Quân khu Trị - Thiên (B4), Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (135), Đoàn 559. Nhu cầu vũ khí, đạn dược chiến dịch lên đến 23.312 súng bộ binh, 770 cối, pháo, ĐKZ, 670 súng pháo cao xạ, 3.978 tấn đạn (340 tấn đạn bộ binh, 3.163 đạn cối, pháo, 475 tấn đạn cao xạ) và 59 tấn thuốc nổ, hỏa cụ. Lượng dự trữ đạn là 1 cơ số đạn bộ binh, 2 cơ số đạn cối, tăng; 3 cơ số đạn ĐKZ, 4 cơ số đạn pháo xe kéo, 2 cơ số đạn cao xạ 12,7mm, 14,5mm, 6 cơ số đạn cao xạ 37mm và 4 cơ số đạn cao xạ 57mm.


Tổng cục Hậu cần trực tiếp bảo đảm vũ khí, đạn dược cho chiến dịch. Đại tá Lương Nhân - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Phó Tư lệnh hậu cần chiến dịch. Cục Quân khí cử Cục phó Lê Đình Tạo vào tham gia chỉ đạo công tác quân khí chiến dịch. Trước nhiệm vụ nặng nề khó khăn và yêu cầu khẩn trương của công tác bảo đảm Tổng cục sử dụng các lực lượng tiền phương Đoàn 559 hậu cần tiền phương B4, hậu cần B5 bảo đảm tất cả nhu cầu về vũ khí, đạn dược cho chiến dịch.


Công tác chuẩn bị vũ khí, đạn dược cho chiến dịch bắt đầu được triển khai từ tháng 12 năm 1970. Dựa vào biên chế trang bị của các đơn vị tham gia chiến đấu và những kinh nghiệm về tiêu thụ, tổn thất vũ khí, đạn dược trên chiến trường Đường 9, Cục Quân khí tiến hành lập kế hoạch bảo đảm và cử người tham gia đoàn cán bộ hậu cần chiến dịch đi trinh sát khu vực mặt trận, xác định vị trí đặt kho, trạm chuẩn bị cho các đơn vị bước vào chiến đấu. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh chiến dịch điều một cán bộ từ Phòng Quân khí Bộ Tư lệnh B70 về giúp việc cho Phó Tư lệnh Lương Nhân để theo dõi kế hoạch, nắm tình hình tiêu thụ, tổn thất của các đơn vị, đề xuất yêu cầu bảo đảm vũ khí, đạn dược của chiến dịch với đại diện Cục Quân khí ở cơ quan tiền phương và Bộ Tư lệnh 559.


Để trực tiếp phục vụ cho chiến dịch, theo chỉ lệnh hậu cần, việc tổ chức triển khai kho quân khí trên cả 4 hướng chiến dịch. Hướng bắc (B70) là hướng chủ yếu sử dụng các kho: Mường Trương - trữ lượng từ 50 đến 100 tấn, Cha Ky - trữ lượng 100 đến 150 tấn, một kho ở khu vực hậu cứ. Sư đoàn 308 bố trí một cụm kho ở khu vực Alia (kho H1 ở Phao Cút, kho H2 ở Làng Sen, một kho chuyển tiếp) với trữ lượng khoảng 160 tấn. Khu vực Thạch Bàn có một kho để tiếp nhận vũ khí trả về và cấp phát lẻ cho các đơn vị đi qua kho vào chiến trường. Trung đoàn 102 bố trí một kho ở Làng Ho, một kho chuyển tiếp tại dốc Tà Rít; Trung đoàn 84 bố trí một kho ở cao điểm 988; Trung đoàn 36 bố trí một kho ở Km 102 đường 16 và một trạm chuyển tiếp ở Km 107. Cấp tiểu đoàn chỉ có Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 102) khi đánh vào cao điểm 500 có đặt kho, còn các tiểu đoàn khác không đặt kho mà chỉ tìm chỗ an toàn bố trí kho tạm thời để cấp phát đạn và nhận vũ khí trả về. Hướng tây (hướng Sư đoàn 2): phía bắc sông Sê Pôn bố trí một kho thuộc cụm kho hậu cần. Sư đoàn gần kho Bộ Tư lệnh 559, phía nam bố trí một cụm kho tại khu vực đường 128, một cụm kho ở nam cao điểm 425. Hướng nam (Sư đoàn 324) có các cụm kho phía trước, bố trí từ Làng Con đến tây bắc cao điểm 546 và đông nam Làng Sen; các cụm kho phía sau, bố trí ở đông nam cao điểm 748, đông nam Phu Cốc Tôn của Binh trạm 33. Hướng đông có các cụm kho nằm trong hệ thống kho tàng của B5 đã bố trí sẵn trên các tuyến của binh trạm vận tải. Ngoài ra, phía sau có các kho của binh trạm vận tải, kho tuyến của Cục Quân khí.


Kho đặt dưới quyền chỉ huy của Chủ nhiệm căn cứ hậu cần quân khí chiến dịch chỉ đạo công tác chuyên môn. Khi triển khai các kho tại các địa điểm đã xác định vì biên chế quân số quá ít, không xây dựng được hầm hố bảo vệ nên phải bố trí rải rác dọc hai ven đường, địa hình trống trải. Trên thực tế, khi bị phi pháo địch bắn phá, có kho bị tổn thất (kho Mường Khương mất 39 tấn). Một số kho tận dụng điều kiện địa hình tự nhiên như hầm (kho Alia) hố bom (kho Trung đoàn 88) sẵn có đổ cất chứa đạn nên giảm nhiều tổn thất. Đạn dược trong kho ở các căn cứ được kiểm tra, phân loại, sắp xếp đồng bộ nên quá trình cấp phát cho đơn vị ít bị nhầm lẫn. Đối với một số loại đạn có khả năng chất lượng không bảo đảm được, cán bộ, nhân viên kho kiểm định kỹ lưỡng trước khi cấp cho đơn vị. Đạn pháo ĐKB, pháo Đ74 gồm nhiều lô loại rất phức tạp, được mọi người chú ý phân biệt sắp xếp để khi bắn bảo đảm chính xác. Các kho tích cực làm đủ hòm hộp phục vụ vận chuyển đạn về tới kho sư đoàn, trung đoàn.


Trong điều kiện các đơn vị cơ động nhanh, ngày nổ súng đến rất gần nên hậu cần chiến dịch đặc biệt quan tâm tới công tác dự trữ đạn dược cho tất cả các đơn vị tham chiến. Cục Quân khí cùng với Cục Vận tải xây dựng kế hoạch cụ thể bảo đảm đủ số lượng đạn dược dự trữ và kế hoạch do cấp trên phê duyệt. Khắc phục mọi khó khăn, binh trạm vận tải ở các hướng đã tổ chức vận chuyển cho chiến dịch 3.152 tấn đạn, 47,730 tấn thuốc nổ, hỏa cụ cho yêu cầu chiến đấu ban đầu cũng như trong quá trình diễn biến của chiến dịch (xem bảng). Binh trạm 27 (hướng B70) dự trữ được 260 tấn, Binh trạm 33 dự trữ 49 tấn, Binh trạm 9 dự trữ 237 tấn (hướng tây), Binh trạm 41 dự trữ 49 tấn (hướng nam), cụm kho của B5 dự trữ được 550 tấn vũ khí cho hướng đông. Sư đoàn được bảo đảm đủ cơ số đạn dược dự trữ thường xuyên theo từng người và khẩu đội, các trung đoàn dự trữ các loại đạn hoả lực cối 60mm, côi 82mm, B40, B41, DKZ75, 12,7mm, trữ lượng từ 2 đến 3 tấn. Chính vì vậy khi Sư đoàn 308 vào chiến trường, sau 2 ngày chuẩn bị đã đủ đạn chiến đấu được ngay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #117 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 07:52:59 am »


Nguồn tài liệu: Công tác hậu cần Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1987, tr.121.


Theo yêu cầu của hậu cần chiến dịch, phải tổ chức bộ máy quân khí hoàn chỉnh, mạnh, bảo đảm phục vụ trên các hướng chiến dịch. Một lực lượng với hàng trăm cán bộ, nhân viên và thợ sửa chữa quân khí có phẩm chất chính trị, trình độ nghiệp vụ kỹ thuật tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ đã nhanh chóng được bố trí ở các bộ phận. Nhiều người nhận nhiệm vụ ngoài khả năng chuyên môn, nhưng đều ra sức hoàn thành trách nhiệm. Cục Quân khí tăng cường lực lượng thợ sửa chữa pháo của Nhà máy Z133, Xưởng T667 cho chiến dịch. Do yêu cầu thực tế chiến trường, hướng B70 là hướng chủ yếu của chiến dịch, nên được tổ chức thành Phòng Quân giới với số cán bộ, nhân viên lên đến 20 người. Giữa chiến dịch, Cục Quân khí tăng cường thêm 4 cán bộ. Phòng Quân giới đã họp với quân giới đơn vị trực thuộc phổ biến chỉ lệnh hậu cần, phân công, phân cấp bảo đảm, quan hệ hiệp đồng. Phòng tăng cường 3 cán bộ trực tiếp xuống phụ trách các kho quân khí và cử cán bộ, nhân viên bảo quản vào Mường Khương, Cha Ky, Alia nghiên cứu, chuẩn bị bố trí kho tàng, bảo quản vũ khí, đạn dược. Ban Quân giới Sư đoàn 308 cũng tăng cường 1 trợ lý và 3 thợ sửa chữa xuấng các kho, kiểm tra tình hình, sửa chữa vũ khí.


Trong phần lớn thời gian chuẩn bị, vũ khí, đạn dược vận chuyển đến vị trí tập kết trên địa hình phức tạp, lại bị địch thường xuyên đánh phá gây tổn thất, hư hỏng lớn. Vì vậy, công tác bảo đảm kỹ thuật hết sức nặng nề, phức tạp. Trước tình hình trên, thực hiện chủ trương của hậu cần chiến dịch, các đơn vị tham gia chiến đấu tiến hành kiểm tra khôi phục tình trạng kỹ thuật vũ khí, bổ sung vũ khí, đạn dược tổn thất trong hành quân và tiến hành sửa chữa dự phòng trước khi vào tác chiến, phát hiện kịp thời những hiện tượng bảo quản kém, sử dụng vũ khí không hợp lý để khắc phục. Để thực hiện điều này, chiến dịch bố trí 26 trạm sửa chữa vũ khí ở đơn vị để sửa chữa vũ khí hư hỏng nhẹ. Các trạm được biên chế đủ bộ đồ sửa chữa nhỏ, nhiều trạm được biên chế xe công trình nên bảo đảm cơ động sửa chữa nhanh các hỏng hóc vũ khí với phương thức là dồn lắp, thay thế bộ phận, thực hiện hỏng đâu sửa đấy. Tổng cục Hậu cần tăng cường cho chiến dịch đội sửa chữa pháo cơ động với quân số 32 người. Trạm sửa chữa pháo do kỹ sư Nguyễn Hồng Vân phụ trách đã sửa chữa phục hồi 3 khẩu cao xạ 37mm, 5 khẩu 85mm và 44 khẩu Đ74. Trong quá trình chiến dịch, mặc dù lực lượng có hạn nhưng các trạm tích cực đón nhận sửa chữa vũ khí và thường xuyên tổ chức các tổ, đội sửa chữa cơ động xuống giúp đơn vị sửa chữa tại chỗ. Kết quả trong chiến dịch sửa chữa được: 30% súng pháo cao xạ; 10% cối, pháo, ĐKZ; 2% súng bộ binh so với tổng số vũ khí bị hư hỏng.


Đây là chiến dịch đầu tiên quân đội ta sử dụng một khối lượng đạn rất lớn lên đến 1.833,86 tấn, chiếm 33% tổng khối lượng vật chất kỹ thuật sử dụng trong 2 tháng chiến đấu; riêng hướng chủ yếu sử dụng đến 1.073 tấn, trong đó, đạn bộ binh tiêu thụ 108 tấn (5,9%), đạn cối, ĐKZ, pháo 1.666 tấn (90,8%), đạn cao xạ 50 tấn (2,6%), thuốc nổ hỏa cụ 8,7 tấn (0,4%). Đặc biệt, đạn hoả lực được sử dụng dồn dập và dày dặc trong các đợt pháo kích độc lập hoặc chi viện cho bộ binh. Riêng đạn pháo Đ74, loại hoả lực chủ yếu nhất của pháo binh trong chiến dịch này sử dụng trong 13 ngày hết 17.492 quả (chưa kể 1.617 quả bị tổn thất), bình quân một khẩu bắn 600 quả (7,5 cơ số), khẩu bắn nhiều nhất lên đến 800 quả (10 cơ số).


Tuy còn một số hạn chế thiếu sót nhất định về mặt bảo đảm trong quá trình chuẩn bị và thực hành tác chiến nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, quân khí chiến dịch đã khẩn trương sắp xếp bộ máy quân khí các cấp, nhanh chóng triển khai hệ thống kho, trạm bảo dưỡng sứa chữa vũ khí và cung cấp một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phục vụ kịp thời, đầy đủ cho các đơn vị chiến đấu. Sau chiến dịch, số chiến lợi phẩm ta thu được gồm 57 khẩu pháo và cối hạng nặng, 24 khẩu cối 60 và 81mm, 7 khẩu ĐKZ, hơn 2.000 súng bộ binh... bổ sung kịp thời nguồn vũ khí cho đơn vị.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #118 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 07:55:48 am »

Việc hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm vũ khí, đạn dược cho Chiến dịch Đương 9 - Nam Lào đã đóng góp phần rất quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang trong suốt thời gian chiến dịch. Chiến dịch giành thắng lợi còn để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý về công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến đấu:

Một là: phải kịp thời hình thành hệ thống tổ chức bảo đảm quân khí chiến dịch, có phân công hợp lý, tổ chức quan hệ hiệp đồng chặt chẽ với các cấp bảo đảm.

Trên cơ sở chỉ lệnh hậu phương, cơ quan quân khí chiến dịch cần nghiên cứu dự kiến về tổ chức biên chế cán bộ, nhân viên kỹ thuật cho cơ quan và cơ sở, báo cáo với Chủ nhiệm hậu cần chiến dịch. Cơ quan hậu cần, quân khí từ chiến dịch đến trung đoàn nên bố trí một phó chủ nhiệm ở sở chỉ huy tiền phương để nắm diễn biến chiến đấu, tình hình tiêu thụ, tổn thất, quyết tâm chiến đấu của chỉ huy, yêu cầu bảo đảm quân khí và qua chỉ huy để chỉ đạo công tác quân khí với các đơn vị, đồng thời báo cáo với cơ quan quân khí ở sở chỉ huy cơ bản. Cấp đại đội phải có nhân viên quân khí để nắm và quản lý thực lực vũ khí, đạn dược. Đối với kho quân khí, cần biên chế đủ lực lượng cần thiết để bốc dỡ, vận chuyển, đào hầm hố, ngụy trang, canh gác và bảo vệ kho trong mọi tình huống. Cán bộ quân khí chiến dịch tham gia vào đoàn cán bộ hậu cần phải quan hệ hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bảo đảm để hợp đồng bảo đảm đạn cho toàn chiến dịch và cho từng hướng theo kế hoạch đã được phê duyệt, cần thống nhất về phương thức bảo đảm theo khu vực; phân công, phân cấp về vận chuyển, bốc dỡ; quy định và thủ tục giao nhận, thu hồi vũ khí...


Hai là: cơ số đạn dự trữ thường xuyên mang theo đầy đủ tới từng chiến sĩ, từng khẩu đội, có dự trữ hợp lý ở từng cấp và bổ sung theo yêu cầu chiến đấu bằng cách tự điều chỉnh nội bộ các đơn vị trong chiến dịch.

Với những chiến dịch nằm trên địa bàn hoạt động của tuyến vận tải chiến lược, có nhiều kho quân khí của các binh trạm thì cần xác định cơ số đạn cho sát với nhu cầu chiến đấu. Cấp chiến dịch chỉ nên tổ chức kho dự trữ đạn ở những nơi không có kho của cấp trên. Trên cơ sở lượng đạn được cấp trên phê duyệt cho từng hướng, chỉ huy đơn vị cần xác định lượng dự trữ ở từng cấp cho sát. Thực tế chiến dịch, ở cấp trung đoàn bộ binh chỉ nên có một lượng dự trữ tối thiểu cần thiết để bảo đảm cho các phân đội chiến đấu liên tục trong một thời gian nhất định, khối lượng còn lại nên để ở sư đoàn, phân trạm của binh trạm vận tải hoặc binh trạm của quân khu. Có như vậy thì bộ đội mới cơ động nhanh và không để xảy ra thiếu đạn.


Trong quá trình chiến đấu, việc bổ sung vũ khí, đạn dược cho các đơn vị ngoài số cấp trên vận chuyển tới, cần tận dụng lượng thu hồi từ số bị thương vong, chiến lợi phẩm, hoặc điều chuyển nội bộ của các đơn vị tác chiến gần nhau chưa dùng đến. Thực tế trong chiến dịch, Sư đoàn 308 thu hồi lượng vũ khí đạn của 700 thương binh, Trung đoàn 36 điều chỉnh lấy ở các đơn vị bạn nên bảo đảm rất kịp thời theo yêu cầu chiến đấu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Ba là: kịp thời nắm vững tình hình tiêu thụ, tổn thất, từ đó bổ sung chính xác số lượng vũ khí, đạn dược cần thiết cho bộ đội chiến đấu.

Trong chiến dịch, chiến đấu phải nắm được kế hoạch bảo đảm vũ khí, đạn dược đã được phê duyệt cho cả chiến dịch và từng nhiệm vụ được giao. Sau mỗi đợt chiến dịch, từng trận chiến đấu, hàng ngày phải nắm được thực lực của đơn vị, của kho; nắm được tình hình tiêu thụ, tổn thất của đơn vị, yêu cầu bổ sung cho đơn vị bằng cách thường xuyên tổng hợp báo cáo của cấp dưới. Kịp thời nắm tình hình vận chuyển vũ khí, đạn dược chiến dịch và tình hình thực nhận của đơn vị thông qua cơ quan vận tải, kho, cơ quan quân khí cấp dưới. Trên cơ sở quản lý chắc tình hình sẽ chủ động để xuất kế hoạch bổ sung của trên và điều chỉnh vũ khí, đạn dược trong nội bộ đơn vị mình và chấn chỉnh tình hình sử dụng, quan hệ hiệp đồng giữa vận tải đơn vị, kho... Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, thực tế ở cấp trung đoàn, tiểu đoàn có trận chiến đấu kết thúc đã 3 ngày nhưng vẫn chưa nắm được số lượng vũ khí, đạn dược đơn vị mình vì thế cấp sư đoàn, chiến dịch càng khó nắm chắc thực lực, xin trên vận chuyển bổ sung chưa sát. Có tình trạng vận chuyển một số loại đạn cho đơn vị nhiều hơn từ 1,5 đến 3 lần so với kế hoạch bảo đảm như đạn B41 kế hoạch là 1.600 quả vận chuyển đến 5.554 quả, đạn cối 81 mm là 18.720 quả vận chuyển đến 31.720 quả, đạn ĐKZ là 2.160 quả vận chuyển đến 3.543 quả hoặc pháo huy động chỉ sử dụng một nửa như ở hướng B70 có 32 khẩu Đ74, chỉ sử dụng 15 khẩu, gây tổn thất nhiều về con người và vật chất.


Bốn là: phải huấn luyện cho bộ đội sử dụng hết tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại vũ khí, đạn dược được trang bị.

Trước chiến dịch phải huấn luyện cho bộ đội biết sử dụng nhiều loại vũ khí, nhất là loại vũ khí mới đưa vào sử dụng; người giữ loại nào phải huấn luyện sử dụng thành thạo loại đó. Trong chiến đấu, phải tận dụng thời gian nhất định để huấn luyện cho người sử dụng, có như vậy thì mới phát huy hết khả năng của trang bị vũ khí, tiêu diệt được địch, bảo vệ được mình. Trong chiến đấu, quân số bị hao hụt do thương vong, chiến sĩ mối bổ sung vào đòi hỏi phải được huấn luyện bổ sung ngay về sử dụng vũ khí trang bị. Thực tế chiến dịch nhiều đơn vị sử dụng chưa tốt, chưa phát huy được tính năng của vũ khí, đạn dược: bộ đội bắn đạn AT vài lần không diệt được xe tăng, cho là khó sử dụng rồi loại bỏ; Trung đoàn 36 cấp 16 khẩu B41 giao cho chiến sĩ chưa được huấn luyện sử dụng, quá trình chiến đấu, bắn không trúng nên tiêu hao nhiều đạn. Sử dụng cối 60mm bắn liên tục bị chèn đạn làm vỡ nòng súng, gây thương vong; sử dụng đại liên K57, có khẩu đội khi xạ thủ chính hy sinh, trong khẩu đội không còn người biết bắn, nên không phát huy được hoả lực; sử dụng đạn pháo Đ74 bắn liều nguyên trong khi đó có thể bắn liều giảm.


Trong giai đoạn hiện nay, vùng biên giới của Việt Nam có vị tri chiến lược rất quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng - an ninh. Để bảo đảm vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, quân đội ta cần tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm quý về công tác bảo đảm vũ khí, đạn dược cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #119 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2026, 08:37:10 am »

QUÂN DÂN HƯỚNG HÓA (QUẢNG TRỊ) TRONG CHIẾN DỊCH
ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971

ThS HOÀNG CHÍ HIẾU
Đại học Huế
Thượng úy NGUYỄN VĂN VIÊN
Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, huyện Hướng Hóa - Quảng Trị có vị trí chiến lược quan trọng, là địa bàn tiếp giáp miền Bắc, một trong những bàn đạp để triển khai tuyến vận tải chi viện cho cách mạng miền Nam. Hướng Hóa còn là địa phương có tuyến Đường 9 cắt ngang nên đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đây chính là địa bàn lý tưởng để ngăn chặn "sự xâm nhập của Cộng sản".


Từ năm 1969, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh bình định, mở một số cuộc tấn công lớn lên miền núi Trị - Thiên hòng tiêu diệt chủ lực ta, đánh phá các kho tàng và chặt đứt các nhánh của đường Trường Sơn mà ta vừa mới mở trong năm 1968. Ngày 24 tháng 1 năm 1969, địch mở trận càn "Dewey Cayon" đánh vào vùng núi Cô Ca Va (Nam Hướng Hóa). Ngày 17 tháng 3 năm 1969, địch mở tiếp cuộc hành quân "Lam Sơn 271" đánh vào Tam Thanh, A Dơi (2 địa phương sản xuất lương thực chính vùng Nam Hướng Hóa)... Các cuộc hành quân của địch đều bị ta đập tan và cơ bản từ tháng 10 năm 1970, ta khôi phục thế làm chủ khu vực miền núi Trị - Thiên, giữ vững vùng giải phóng và tạo hành lang bảo vệ tuyến đường Trường Sơn.


Từ cuối năm 1970, để chuẩn bị cho việc thực hiện kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719", địch sử dụng nhiều phương thức khác nhau nhằm thăm dò tình hình, thu thập tin tức vùng giải phóng. Chi cảnh sát Hướng Hóa (đóng lưu vong ở khu tập trung Cùa - Cam Lộ) tích cực tổ chức mạng lưới mật báo viên trong đồng bào khu tập trung để tung lên miền núi hoạt động, móc nối với số phản động còn rải rác trong vùng giải phóng. Chúng lợi dụng việc đi rừng làm ăn để trà trộn vào nhân dân. Mặt khác, địch tổ chức nhiều toán gián điệp hoạt động từ vùng giáp ranh dọc Đường 9 lên Khe Sanh, Lao Bảo và đi sâu vào vùng Thanh, Thuận, Xi, A Dơi, Tà Long, Ba Nang, A xốc. Ta đã phát hiện, bắt giữ một số tên, như A Đi, Pa Phong. Trong tháng 1 năm 1971, địch tung 3 tên (Ai Đi, Pa Xươi và Vi) cải trang làm thường dân lên Khe Sanh, Lao Bảo và vùng Thanh - Thuận. Những tên này đã thu thập được một số tin tức để dịch đánh phá như vụ tập kích Trường huấn luyện sĩ quan (ở xã Xi), bắn chết một số đồng chí, cướp một túi tài liệu; tập kích Cơ quan 107 (ở A Cha); trực thăng Mỹ nhiều lần bắn phá Viện 92 (ở Tuồi Muồi), máy bay oanh kích trúng các trận địa phòng không của ta ở Thanh - Thuận1 (A-B-T-N 54, Sơ kết 6 tháng đầu năm 1971, ngày 15-7-1971, tr. 2-3. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị) ...


Mặc dù trong những cuộc đụng độ với thám báo và biệt kích địch, hiệu quả diệt địch chưa cao bởi mỗi khi bị ta phát hiện địch đều nhanh chóng cho trực thăng bốc quân ngay nhưng tinh thần cảnh giác, thường trực chiến đấu của quân dân Hướng Hóa được thể hiện rõ và qua các cuộc đụng độ này, quân dân Hướng Hóa đã rút ra một số kinh nghiệm trong cách hạn chế chiến thuật "trực thăng vận" của địch, bố trí lực lượng mai phục ở những địa điểm địch sẽ đổ bộ, không cho chúng có cơ hội tẩu thoát. Việc phát hiện, đẩy lùi nhiều toán gián điệp và thám báo đã làm thất bại âm mưu sử dụng lực lượng này để thu thập tin tức, phát hiện bố trí lực lượng và kho tàng ta trong khu vực, cũng như ý đồ sử dụng những điểm cao dọc hai bên Đường 9 để bảo vệ sườn cho những cuộc hành quân sắp tới của địch.


Bên cạnh việc tổ chức vây lùng, tiêu diệt các tổ chức thám báo, khi nhận chỉ lệnh của Trung ương chuẩn bị cho Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, lực lượng du kích Hướng Hóa đã cùng với bộ đội chủ lực tích cực chuẩn bị về mọi mặt. Du kích các xã được đưa về thôn, vừa để bảo vệ nhân dân vừa bám địa bàn chiến đấu. Từ chỗ chỉ có súng trường nay du kích được trang bị trung liên, đại liên, 12,7mm. Được trang bị vũ khí mới, ngày 19 tháng 1 năm 1971, du kích xã A Bung đã bắn rơi 1 trực thăng vũ trang ngay khi nó vừa xuất hiện.


Đồng thời với việc tổ chức củng cố lực lượng, du kích Hưỏng Hóa còn tổ chức đưa dân sơ tán về nơi ở cũ1 (Tháng 8 năm 1969, toàn miền núi Trị - Thiên có chủ trương sơ tán dân về phía sau để tránh các hành lang cơ giới ta đang mở hoặc sẽ mở. Đây là một chủ trương sai lầm. Đã thế, các địa phương không thực hiện đúng kế hoạch nên càng khó khăn thêm. Nhân dân dồn về phía biên giới, bỏ lại một khoảng trống rất rộng, cắt đứt thế liên hoàn giữa miền núi với vùng giáp ranh, giữa vùng này với vùng khác, ở biên giới, người tăng lên gấp bội, đất đai cằn cỗi, hoa màu sẵn có của địa phương có hạn không đủ nuôi sống, dẫn đến khó khăn mới. [Đảng ủy miền núi Trị - Thiên, Tình hình miền núi Trị - Thiên sau 4 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng (8.1967 - 8.1971), tháng 8 năm 1971, tr. 12. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Vãn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị)) nhằm lấp kín những địa bàn quan trọng, lập thế trận đánh địch, đồng thời tiếp tục tham gia sản xuất, khắc phục khó khăn về lương thực trước mắt cũng như lâu dài. Mỗi xạ chọn 10 du kích, tổ chức thành một tổ sản xuất, tạo cơ sở ban đầu để đưa dân về. Những đội du kích này được cung cấp đủ lương thực, thuốc men, vũ khí và dụng cụ sản xuất để vừa đảm bảo sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Trong tháng 1 năm 1971, xã Tam Thanh đưa được 35 hộ, 95 lao động về chỗ cũ; các xã Tà Rụt, Ba Nang và A Túc, dân đã trở về làng cũ để sản xuất; xã A Túc đưa 7 hộ, 30 người và xã Thuận đưa 41 hộ về dọc sông Sê Pôn để sản xuất; xã Ba Tâng đưa 20 du kích và thanh niên cùng 1 tiểu đội bộ đội địa phương phục vụ sản xuất và chiến đấu1 (Báo cáo tình hình tháng 1-1971, ngày 10 tháng 2 năm 1971, tr. 4. Tài liệu lưu tại Phòng Lưu trữ, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Trị, số lưu trữ T.M.S21).


Trong khi thế trận chiến tranh ở Hướng Hóa đang được triển khai, ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đưa quân đánh chiếm Khe Sanh làm bàn đạp cho cuộc tiến công sang Nam Lào, mở đầu cho cuộc hành quân "Lam Sơn 719". Ngày 8 tháng 2 năm 1971, với lực lượng lớn (tương đương 6 trung đoàn), địch vượt biên giới đánh sang Lào, âm mưu đánh chiếm Bản Đông, qua đó cắt đôi Đông Dương, chặt dứt tuyến vận tải chiến lược của ta.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM