Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:42:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57096 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #100 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:27:01 pm »


Để tiếp nhận hàng viện trợ của nước ngoài qua đường biển, hai khu chuyển tải: đảo Ngư và Hòn La trở thành những trọng điểm quyết liệt nhất. Nơi đây đã diễn ra cuộc đọ sức giữa máy bay, tàu chiến Mỹ với "gan vàng dạ sắt" của quân và dân vùng biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Các thủy thủ trên các tàu biển của các nước anh em với tình nghĩa quốc tế cao cả đã giành giật với đạn bom Mỹ những kiện hàng, từng bao lương thực. Có đồng chí đã anh dũng hy sinh để lại niềm tiếc thương, lòng cảm phục trong bộ đội và nhân dân ta.

Ta bốc dỡ hàng ban ngày bị địch phát hiện và ngăn chặn, bốc dỡ ban đêm bị địch dùng đèn dù soi sáng cả vùng để kiểm soát và oanh tạc; ta lại có sáng kiến dùng dây tời, ròng rọc, bí mật đưa hàng từ tàu lên bãi. Quyết liệt nhất là khâu chuyển hàng từ đảo vào bờ, vào sông. Phát hiện ta chuyển hàng bằng ca-nô, thuyền máy, địch tập trung đánh phá tan nát cả hàng và phương tiện. Quân, dân các tỉnh dùng bè mảng nhỏ và người trực tiếp bơi đẩy. Có nơi dùng dây kéo hàng từ đảo đến bờ (xa hàng nghìn mét). Mặc dù vậy, địch vẫn phát hiện và cho máy bay lên thẳng rà sát mặt nước bắn phá bất cứ vật gì nổi trôi trên mặt biển. Các đồng chí thủy thủ nước ngoài cho hàng vào bao ni-lông kín, chờ nước triều lên thả trôi vào bờ, ta bố trí người đón nhặt chuyển về nơi cất giấu.

Nhân dân và dân quân các xã Nghi Hương (Nghi Lộc, Nghệ An), Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan... (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), Quảng Đông (Quảng Bình) và các xã khác trong khu vực trung chuyển đã không tiếc xương máu và tài sản, lúc tối trời cũng như khi biển động sóng cồn, đã luôn luôn có mặt bên bờ, đón nhận từng bao hàng, lấy nhà mình làm kho chứa, lấy gồng gánh và xe cộ của mình làm phương tiện chuyển hàng trong khi từng đoàn máy bay, tàu chiến địch cứ dai dẳng lồng lộn, bắn phá. Thắng lợi của việc chuyển tải ở hai đảo đã góp thêm một chiến công nữa trong nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải trên tuyến lửa Quân khu 4 trong những ngày tháng đầy thử thách gian truân.

Mặt trận giao thông vận tải ngày càng trở nên ác liệt. Cuối tháng 7 năm 1972, Quân ủy Trung ương chỉ thị "tăng cường tuyến vận tải quân sự trên hậu phương miền Bắc trong tình hình mới" và thành lập cơ quan tiền phương của Tổng cục Hậu cần ở Khu 4, thống nhất chỉ huy bảo đảm giao thông vận tải trên đường 15A (trước đó do Bộ Giao thông vận tải phụ trách), đồng thời tổ chức thêm tám tiểu đoàn vận tải đường bộ, một tiểu đoán vận tải sông - biển, 11 tiểu đoàn công binh cầu đường, bốn đại đội công binh cầu phà, 10 tiểu đoàn cao xạ, bảy đại đội thông tin và ba binh trạm. Lúc này đường số 15A chạy suốt dọc nội địa quân khu được chuyển thành tuyến vận tải quân sự nối với đường chiến lược Trường Sơn do lực lượng của Bộ bảo vệ và bảo đảm. Các địa phương và nhân dân ven tuyến có nhiệm vụ phối hợp hỗ trợ. Quân khu dồn sức vào các tuyến khác, nhất là tuyến đường số 1A.

Tháng 10 năm 1972, Phủ Thủ tướng triệu tập Hội nghị bảo đảm giao thông ở Quân khu 4, quyết định giao tuyến đường goòng Đức Thọ - Minh Cầm cho quân đội phụ trách; các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An có nhiệm vụ khôi phục dần tuyến đường sắt Thanh Hóa - Vinh. Thực hiện quyết định đó các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An đã tổ chức các tổng đội thanh niên xung phong, lập các công trường, huy động hàng nghìn dân công cùng ngành đường sắt lao động quên mình thu gom từng thanh tà vẹt, từng đoạn đường ray, sửa chữa nền đường, cầu cống, đầu máy, toa hàng cho đường sắt sớm được khôi phục.

Để bổ sung cho vận tải cơ giới trong tình hình địch đánh phá và phong tỏa ngặt nghèo, Tỉnh ủy, Ủy ban Hành chính tỉnh Thanh Hóa có sáng kiến thành lập lại đoàn vận tải thuyền nan và xe đạp thồ do Ty Giao thông quản lý, điều hành. Nhân dân Thanh Hóa đã huy động hàng chục nghìn thuyền, xe, tham gia phong trào "Giao thông quyết thắng" do tỉnh phát động từ ngày 23 tháng 5 năm 1972, sau chuyển thành "Chiến dịch vận chuyển 19-8".

Từ kinh nghiệm của Thanh Hóa, đầu tháng 8 năm 1972, Hội đồng Chính phủ ra chỉ thị 237 về "Tổ chức lực lượng vận tải nhân dân" ở các tỉnh Khu 4, làm nhiệm vụ vận chuyển hàng theo hình thức tiếp sức từ tỉnh này sang tỉnh khác cho đến hành lang 559. Mỗi tỉnh trong quân khu đều thành lập ban chỉ đạo vận tải nhân dân. Trên các nẻo đường những đội xe đạp thồ, xe trâu, xe kéo, xe ba gác, xe "Kiến An"... của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình suốt đêm ngày cần mẫn chuyển hàng ra phía trước. Khối lượng hàng hóa được bảo đảm an toàn cao, khó có loại binh khí kỹ thuật nào của địch có thể đánh phá, ngăn chặn triệt để được. Lực lượng vận tải nhân dân được duy trì cho đến cuối năm 1972 là hình ảnh sinh động của chiến tranh nhân dân, toàn dân làm vận tải và đánh giặc, là một trong những đóng góp quan trọng của nhân dân Khu 4.

Cường độ đánh phá và phong tỏa của địch càng cao thì việc bảo đảm giao thông càng khó khăn phức tạp. Đến cuối tháng 6 năm 1972, các địa phương trong quân khu đã tổ chức 248 trạm quan sát bom, 166 đài quan sát biển, 293 đội rà phá, 385 đội ứng cứu, 116 trạm điều chỉnh, khai thác gần 200 nghìn mét khối đá, 50 nghìn mét khối sỏi, gần 150 nghìn gánh bổi, làm hơn 13 nghìn cọc tiêu, huy động hơn 330 nghìn ngày công sửa chữa, hồi phục các tuyến đường bộ, làm mới hơn 400 ki-lô-mét đường vòng, đường xế, đường tránh, phà dã chiến, ngầm, bến vượt; đào đắp hàng nghìn âu xe, bồn xăng dã chiến. Trên tuyến vận tải đường sông, các nơi đã chăm lo nạo vét luồng lạch, đào đắp hơn 2.000 âu thuyền ngụy trang kín đáo làm nơi trú đậu an toàn cho phương tiện. Đây cũng là nơi bốc dỡ và giao nhận hàng. Từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 1972, tuyến đường số 1 qua Nghệ An, Hà Tĩnh thông 20 đêm, qua Quảng Bình thông 23 đêm, qua Hà Tĩnh thông 29 đêm. Riêng đường sông hầu như thông hoàn toàn. Khối lượng do các địa phương vận chuyển qua quân khu vào hành lang đều được bảo đảm.

Từ ngày 9 tháng 6 đến ngày 22 tháng 10 năm 1972, địch mở cuộc phản công quy mô lớn trên chiến trường Quảng Trị và dồn sức tìm kiếm một thắng lợi quân sự để mặc cả với ta trên bàn hội nghị ở Pa-ri. Để hỗ trợ cho âm mưu và hành động đó, địch dồn đánh vào các khu vực phía nam Quân khu 4, hòng bóp nghẹt mọi chi viện từ ngoài vào mặt trận. Từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, không quân Mỹ đánh phá vào Quân khu 4 tới 22.014 lần chiếc máy bay các loại. Trung bình 4.400 lần chiếc mỗi tháng, 140 lần chiếc mỗi ngày. Máy bay B52 phần lớn tập trung đánh vào Quảng Bình - Vĩnh Linh và hành lang. Ngoài ra, từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 30 tháng 10 năm 1972, chúng còn rải thêm 6.305 thủy lôi và bom từ trường trên các trọng điểm.

Nhiệm vụ chính trị của các lực lượng phòng không trên địa bàn quân khu lúc này là "phải phát huy cao độ tư tưởng cách mạng tiến công, tinh thần chủ động kiên quyết tiến công địch, tập trung khả năng, trí tuệ, tình cảm, trực tiếp đánh thắng không quân Mỹ - lực lượng chủ yếu tiến hành chiến tranh phá hoại..."1.
______________________________________________
1. Nghị quyết Quân khu ủy, họp trong hai ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1972.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #101 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:27:41 pm »


Cuối tháng 6 năm 1972, Bộ Tham mưu phòng không quân khu mở hội nghị chuyên đề về bắn máy bay, nghiên cứu cách đánh có hiệu quả nhất. Hạ tuần tháng 8 năm 1972, Bộ Tư lệnh quân khu triệu tập hội nghị quân chính phòng không, có hơn 280 đại biểu các đơn vị phòng không ba thứ quân tham dự. Hội nghị tập trung nghiên cứu và quán triệt quyết tâm và kế hoạch chiến dịch phòng không của Bộ Tư lệnh quân khu.

Mục đích chiến dịch lần này nhằm: phối hợp chiến trường, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ bảo đảm giao thông vận chuyển trong tình hình mới, gây khí thế thi đua bắn rơi chiếc máy bay thứ 4.000 trên đất quân khu. Ban chỉ huy tác chiến hướng bắc Nghệ An (hướng chủ yếu của chiến dịch) do đồng chí Nguyễn Cận làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Đình Sô làm chính ủy; các đồng chí Hoàng Quế và Nguyễn Hữu Phúc làm phó chỉ huy và phó chính ủy. Tại trọng điểm Quỳnh Lưu, ban chỉ huy tác chiến còn được giao nhiệm vụ "tích cực chủ động, tạo thời cơ đánh thắng cho được thủ đoạn tuần thám vũ trang phản ứng trận địa và hành động cứu giặc lái của địch. Nếu giặc lái nhảy dù ngoài biển ở cự ly gần cũng kiên quyết bắt". Để thực hiện tốt ý định đó, quân khu đã tập trung vào trọng điểm một tiểu đoàn tên lửa phòng không của trung đoàn 263, bảy tiểu đoàn pháo cao xạ cùng với toàn bộ lực lượng phòng không dân quân tự vệ huyện Quỳnh Lưu. Thời gian chiến dịch phòng không của quân khu kéo dài suốt cả tháng 10 năm 1972.

Được động viên tốt, chuẩn bị chu đáo, có kinh nghiệm, các lực lượng phòng không quân khu bước vào chiến dịch tháng 10 năm 1972 rất sôi nổi hào hứng. Tin thắng lợi liên tiếp báo về, toàn quân khu bắn rơi thêm 28 máy bay Mỹ. Địa phương nào cũng lập chiến công: Nghệ An bắn rơi 12 chiếc, Hà Tĩnh: sáu chiếc, Quảng Bình: bảy chiếc, Vĩnh Linh: ba chiếc. Trung đoàn 233 là đơn vị được xếp loại trung bình yếu, nay dẫn đầu về hiệu suất chiến đấu khá; bình quân bốn trận bắn rơi một máy bay, tỷ lệ rơi tại chỗ nhiều hơn các đơn vị bạn (5 trong tổng số 13 chiếc), 18 lần địch đánh trúng vào trận địa vẫn bám trụ chiến đấu. Trung đoàn 218 chiến đấu ở vùng quyết liệt nhất (nam quân khu) đã bắn rơi hai chiếc và thu hút chín lần địch đánh vào trận địa giả với 25 lần chiếc. Các tiểu đoàn 15, 16 (mới thành lập) 19, 20 đều bắn rơi được máy bay. Tiểu đoàn 15 đưa trận địa áp sát mục tiêu, trong 19 ngày bắn rơi ba máy bay Mỹ. Bộ đội địa phương huyện Quảng Trạch đặt súng lên bè thả trên biển dụ máy bay trực thăng địch đến. bắn rơi hai chiếc trong khu chuyển tải Hòn La. Đội trực chiến dân quân gái xã Kỳ Phương (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) đã nắm vững quy luật hoạt động của địch, linh hoạt khôn khéo di chuyển trận địa, cơ động phục đánh máy bay Mỹ quanh khu vực bắc đèo Ngang, liền trong hai tháng 9 và 10 năm 1972, đã bắn rơi hai chiếc. Tự vệ thị xã Đồng Hới, xí nghiệp 250B Nghĩa Đàn..., đã cơ động ra ngoài huyện (thị) tìm địch mà đánh, dựng mục tiêu giả lừa địch đến để tiêu diệt.

Trên hướng trọng điểm Quỳnh Lưu, quân và dân địa phương đã bắn rơi bảy máy bay Mỹ. Tiểu đoàn tên lửa hạ một chiếc, tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân hạ một chiếc, dân quân tự vệ Quỳnh Lưu hạ hai chiếc, tiểu đoàn 17 trung đoàn 222 hạ một chiếc, tiểu đoàn 15 Nghệ An hạ hai chiếc. Thủ đoạn tuần thám vũ trang của không quân Mỹ đã bị đòn đau. Sau này chúng không bay lẻ, đánh lẻ nhiều như trước. Thắng lợi của chiến dịch này càng củng cố quyết tâm của quân và dân Quân khu 4 đánh bại mọi thủ đoạn đánh phá của địch.

Ở Thanh Hóa, đại đội 94 dân quân tập trung huyện Quảng Xương, với 94 cán bộ, đội viên mới thành lập cuối tháng 5 năm 1972, chiến đấu tại trọng điểm phà Ghép từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972 đã bắn rơi năm máy bay Mỹ. Chiến sĩ công an vũ trang Trương Khắc Vánh đốn 60 biên phòng, một mình một súng trường bắn rơi máy bay địch khi chúng giảm tốc độ, hạ độ cao để soi tìm giặc lái.

Sau 136 ngày đêm (từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 22 tháng 10) cùng chia lửa với quân và dân Quảng Trị bảo vệ Thành Cổ, quân và dân Quân khu 4 đã liên tục chiến đấu và chiến thắng, bắn rơi 100 máy bay Mỹ các loại và bắn cháy 31 lần chiếc tàu chiến địch. Riêng lưới lửa tầm thấp của dân quân tự vệ hạ 54 máy bay.

Tháng 10 đã qua. Cuộc tiến công hạn chế bằng bộ binh của địch ra nam Quân khu 4 không xảy ra, nhưng công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị chiến đấu và chi viện miền Nam của quân, dân Quân khu 4 càng diễn ra khẩn trương sôi nổi. Lúc này lực lượng chủ lực của quân khu có sư đoàn 341 và trung đoàn 270 cùng một số binh chủng. Bộ tăng cường thêm hai tiểu đoàn xe tăng. Quân khu xây dựng và tổ chức 10 tiểu đoàn cao xạ, sáu tiểu đoàn công binh, một đại đội pháo 130 ly cơ động và một số cơ sở hậu cần - kỹ thuật. Bộ còn phối thuộc cho quân khu các đơn vị hải quân thuộc vùng 2 và căn cứ 4. Như vậy, Quân khu đã có một lực lượng quân - binh chủng hợp thành, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và quen thuộc địa bàn.

Bộ đội địa phương các tỉnh vừa phát triển, vừa khôi phục có 11.807 cán bộ, chiến sĩ, cao nhất so với bất cứ thời kỳ nào trước đó. Như vậy, lực lượng chủ lực và địa phương trong quân khu vào lúc này lên tới 46.100 quân (chưa kể Thanh Hóa).

Dân quân tự vệ gần 300 nghìn cán bộ, đội viên, chiếm 11,3 phần trăm so với số dân. Trong đó, hơn 100 nghìn là lực lượng chiến đấu nòng cốt, có bộ binh và một số binh chủng cần thiết. Tổ chức dân quân tự vệ được xây dựng thực sự rộng khắp theo hướng "ở đâu có dân là có dân quân tự vệ", được trang bị tốt nhất với 76.233 súng pháo các loại và hàng chục vạn lựu đạn, mìn, chất nổ, các loại vũ khí thô sơ tự chế tạo. Các "xưởng quân khí nhỏ" có mặt ở khắp làng xã, công - nông - lâm trường, xí nghiệp. Bình quân đạt mức trang bị năm người có một súng. Trong lực lượng nòng cốt, gần hai người một súng. Nhưng ở các trọng điểm tuyến 1, lực lượng chiến đấu đạt mức 100 phần trăm trang bị súng bộ binh và hỏa lực đi cùng. Súc chiến đấu của các phân đội cơ động của dân quân, tự vệ trên những trọng điểm tương đương với bộ đội địa phương cùng cấp. Chất lượng nhiều mặt khá cao, phần lớn cán bộ, đội viên là đảng viên và đoàn viên. Hơn 30 phần trăm dân quân, tự vệ là quân nhân phục viên, xuất ngũ, đã từng qua chiến đấu, nhiều đơn vị được tổ chức theo ngành, theo giới (đội lão, đội nữ, đội công nhân cơ khí, đội trại gà, nông trường...). Nền nếp quân sự hóa trong dân quân, tự vệ cao, kỷ luật nghiêm, được nhân dân, gia đình, cơ quan xí nghiệp bảo đảm tốt, trực tiếp nuôi dưỡng, săn sóc và động viên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #102 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:28:14 pm »


Sức mạnh của lực lượng vũ trang còn được nhân lên gấp bội khi quân và dân Quân khu 4 đã từng bước xây dựng, bổ sung và củng cố một thế trận phòng thủ vững chắc trên sáu khu vực tác chiến dọc theo tuyến 1 ven biển từ Quỳnh Lưu đến Vĩnh Linh, với hàng trăm làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn, điểm tựa - cụm điểm tựa, nhiều chốt, cụm chốt, khu then chốt, khu quyết giữ... trên mọi hướng dự kiến được chuẩn bị đến từng chi tiết. Hơn 300 cán bộ chỉ huy chủ lực được tăng cường về các xã, cụm chiến đấu, khu công nghiệp... bổ sung vào các ban chỉ huy quân sự cơ sở. Một hệ thống trận địa kết hợp dã chiến và kiên cố, lợi dụng thế hiểm của các dạng địa hình khác nhau, nhằm phát huy cao nhất ưu thế của các dãy điểm cao như núi Kiến (Quỳnh Lưu), Thần Vũ (Nghi Lộc), Hồng Lĩnh (Nghi Xuân), đèo Ngang (Kỳ Anh), Hồn Bung (Quảng Bình) và dốc Sỏi (Vĩnh Linh). Đứng ở vị trí xung yếu nhất, quân và dân Vĩnh Linh đã nâng trình độ "vũ trang hóa toàn dân, công sự hóa toàn khu vực" lên chất lượng mới. 21.620 mét địa đạo và hàng vạn hầm hào nối liền toàn khu vực. Quân và dân Quảng Bình dựng tám hầm chốt dưới sân thành cổ Đồng Hới, sẵn sàng bảo vệ thị xã với toàn bộ sức mạnh của "quê hương Hai Giỏi", kiên quyết không để cho địch đánh chiếm thị xã Đồng Hới. Quân và dân quân khu sẵn sàng phát huy vai trò và khả năng của mình phối hợp chặt chẽ với chiến tranh của các binh đoàn chủ lực trong một cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Quân khu 4.

Vào đầu tháng 10 năm 1972, tại Pa-ri, các bên đàm phán đang tiến dần đến một giải pháp sau một thời gian bế tắc. Dự thảo Hiệp định về "chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" do phái đoàn ta đưa ra sẽ được ký chính thức vào ngày 31 tháng 10 năm 1972. Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra kể từ ngày 22 tháng 10 năm 1972. Quân khu 4 lúc này vẫn là trọng điểm đánh phá thường xuyên của không quân, hải quân Mỹ.

Từ tháng 10 đến ngày 17 tháng 12 năm 1972, không quân Mỹ cho 459 tốp B52 (1.394 lần chiếc) hoạt động trên vùng trời Khu 4 và ném bom rải thảm những nơi chúng nghi có kho tàng dự trữ lớn của ta (đường số 22, đường goòng từ Yên Duệ đến Tân Ấp, ngã ba Bãi Vọt, rú Đụn, Anh Sơn, Đô Lương, Giang Sơn, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ). Từ Nghệ An trở vào, có tới 82 phần trăm số huyện (thành, thị) và toàn khu vực Vĩnh Linh bị B52 rải thảm. Toàn bộ số huyện của Quảng Bình, số xã và thị trấn của Vĩnh Linh bị B52 đánh phá nhiều lần. Đợt ném bom hạn chế này kéo dài 53 ngày đêm. Không quân Mỹ chịu thêm tổn thất mới: 40 máy bay đã bị bắn rơi trên vùng trời Quân khu 4. Đặc biệt đêm 22 tháng 11, bộ đội tên lửa phòng không bố trí ở Yên Thành (Nghệ An) đã bắn cháy một tốp hai chiếc B52 trong một lần phóng. Từ trận này, bộ đội tên lửa rút ra được nhiều kinh nghiệm về đánh trả B52 bằng tên lửa trong điều kiện địch gây nhiễu mạnh.

Trong 53 ngày đêm đó, tình hình giao thông vận tải đã không bị ngưng trệ mà còn bảo đảm tốt hơn. Ngày 30 tháng 11 năm 1972, Hội đồng Chính phủ ra quyết định "thống nhất công tác giao thông vận tải ở Khu 4 theo tổ chức quân sự hóa". Các ban chỉ huy giao thông vận tải cấp tỉnh thành lập. Lực lượng giao thông vận tải được biên chế chặt chẽ, trang bị mạnh; các cung, trạm bố trí hợp lý hơn. Từng đoàn, đội, kho trạm, cung đường đều có tổ chức chỉ huy chu đáo... Nhờ đó, mặc dầu địch dồn sức đánh phá ồ ạt, trên các tuyến đường bộ số 15A, 1A, tỷ lệ hàng hóa bị tổn thất hao hụt giảm từ 15 phần trăm xuống còn 8 phần trăm. Số bom, thủy lôi được rà phá tính đến ngày 15 tháng 12 gồm 2.324 quả trong tổng số 9.252 quả địch đã thả.

Trong tháng 12 năm 1972, khối lượng hàng và xe vận chuyển qua quân khu nhiều hơn trước, số hàng đến nơi đều vượt chỉ tiêu.

Hơn tám tháng ném bom ác liệt phần đất Quân khu 4, đế quốc Mỹ chẳng những không ngăn chặn được luồng hàng miền Bắc tiếp tế cho miền Nam, mà còn bị thua nặng trên các chiến trường. Mặt khác, do vẫn bàn Hiệp định "Về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam" do ta đưa ra không có lợi cho phía Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn, ngày 18 tháng 12 năm 1972, Ních-Xơn ra lệnh mở cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng để gây ép cao nhất buộc ta phải nhân nhượng

Trong thời gian này, mật độ đánh phá của không quân Mỹ trên địa bàn quân khu có giảm. Từ ngày 18 đến 25 tháng 12 năm 1972, máy bay Mỹ chỉ oanh tạc vào địa bàn quân khu 441 lần chiếc cường kích và 69 lần chiếc B52. Quân và dân quân khu đã bắn rơi thêm 20 chiếc. Nhân cơ hội này, các lực lượng giao thông vận tải đã tranh thủ chạy xe cả ban ngày trên các tuyến đường nội địa số 15, 21. Đến cuối tháng 12, tất cả các tuyến đều tận dụng chạy ngày, các bến vượt từ một phà nâng lên hai phà, tiến thêm một bước nữa là chuyển thành cầu phao. Trên các tuyến đường sông, đường goòng, đường sắt, từng đoàn xe, thuyền chở đầy hàng chạy suốt đêm ngày vào Nam. Từ ngày 26 đến 30 tháng 12, khi cường độ đánh phá vào Hà Nội, Hải Phòng giảm dần, thì địch tập trung đánh mạnh Quân khu 4.

Bị thất bại nặng trong cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội, Hải Phòng và nguy cơ chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam bị phá sản trước cuộc tiến công của Quân giải phóng, Ních-Xơn phải tuyên bố ngừng hoạt động quân sự ném bom bắn phá, phong tỏa miền Bắc nước ta. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định "Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" được ký kết tại Pa-ri.

Riêng đối với Khu 4, thời gian 15 ngày xuống thang lần cuối của đế quốc Mỹ cũng là 15 ngày không quân của chúng điên cuồng dồn số lượng máy bay ném bom ác liệt cho đến ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

Cuộc đánh phá cuối cùng của không quân Mỹ đã gây cho nhân dân Khu 4 tổn thất nặng nề về người và tài sản. Ngày 4 tháng 11, xã Sơn Diệm (Hương Sơn) bị thương vong 80 người. Ngày 14 tháng 11, xã Thanh Hà (Thanh Chương) thương vong 62 người. Ngày 6 tháng 1 năm 1973, xã Cẩm Mỹ (Cẩm Xuyên) thương vong 70 người. Ngày 2 tháng 1 năm 1973, xã Quảng Sơn (Quảng Trạch) thương vong 191 người...

Nhận thức sâu sắc tinh thần Nghị quyết Quân khu ủy (tháng 11 năm 1972): "nơi đây, địch đánh đầu tiên và sẽ kết thúc sau cùng..." và "chiến sự sẽ diễn ra quyết liệt ngày càng tăng cho đến khi kết thúc chiến tranh...", quân và dân trong toàn quân khu đã dũng cảm chiến đấu, ghi tiếp chiến công bắn rơi thêm 10 máy bay Mỹ (có sáu máy bay B52).

Ngày 30 tháng 12 năm 1972, trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc (Hậu Lộc - Thanh Hóa) bắn rơi một F4H. Đây là lần thứ ba trung đội này bắn rơi máy bay Mỹ.

Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 17 tháng 1 năm 1973, dân quân xã Ngư Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình) bắn rơi một máy bay không người lái Mỹ. Đây là chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ bị quân và dân Quân khu 4 bắn rơi, kết thúc thắng lợi hai lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #103 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:21:07 pm »


III. CÙNG BẠN XÂY DỰNG, CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG TRUNG LÀO

Mùa khô 1971 - 1972, quân và dân Lào đã giành được nhiều thắng lợi lớn trong các chiến dịch phản công chiếm lại các khu vực chiến lược quan trọng ở Bắc và Nam Lào. Cả quân ngụy Lào và lính đánh thuê nước ngoài đều bị suy yếu, vùng kiểm soát của chúng bị thu hẹp dần về phía tây dọc sông Mê Công. Nội bộ phái hữu Lào lục đục. Nhằm duy trì chế độ tay sai Viêng Chăn, Mỹ tăng viện trợ quân sự, thúc ép ngụy quyền tăng cường bắt lính, củng cố quân chính quy, đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt, thực hiện lùng quét bên trong, lấn chiếm bên ngoài, bình định các vùng đông dân đô thị, trì hoãn đàm phán với phía Pa-thét Lào. Mặt khác, thông qua cơ quan tình báo CIA, Mỹ trực tiếp nuôi dưỡng và củng cố lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở Thượng Lào, sử dụng vào những âm mưu thâm độc trước mắt và lâu dài.

Ở Trung Lào, từ cuối năm 1972 đến mùa mưa 1973, các hoạt động lấn chiếm của địch giảm hẳn so với trước. Quân ngụy Lào ở vùng này (gồm các tiểu đoàn địa phương BV32, 34, 51 và các tiểu đoàn chính quy BI11, BI19 thuộc binh đoàn GT312) co lại chốt giữ đường số 13, ra sức kiểm soát chặt vùng chiếm đóng còn lại của chúng dọc sông Mê Công. Các lực lượng kìm kẹp của ngụy quyền ráo riết thực hiện kế hoạch bình định, dựa vào các điểm dân cư lớn, bốc dân các nơi về lập "ấp chấn hưng" thực chất là những khu tập trung trá hình mới được đưa vào áp dụng.

Ở vùng rừng núi, rẻo cao, các tiểu đoàn thuộc lực lượng Vàng Pao chia ra từng phân đội nhỏ tìm cách luồn trở lại một số khu vực trong vùng giải phóng các tỉnh: Xiêng Khoảng, Bô Ri Khăm Xay, nhen nhóm những ổ phỉ mới ở các huyện Mường Mộc, Mường Mày, mua chuộc người Mẹo, người Khơ Mú theo chúng chống lại Pa-thét Lào. Chúng lôi kéo thanh niên theo phỉ chiếm lại một số căn cứ đã bị lực lượng vũ trang cách mạng Lào triệt phá trước đây: Nậm Heo, Mường Nham, Tha Si (huyện Mường Mộc), Mường Chuồn, Pha Xin, Phá Lai (Mường Mày). Những hoạt động đó đã làm cho vùng giải phóng của bạn ở Trung Lào kém ổn định. Sự kiểm soát của các lực lượng cách mạng ở một số vùng bị lỏng lẻo dần. Thực chất âm mưu địch là chiếm lại vùng rừng núi thuộc hai tỉnh Xiêng Khoảng và Bô Ri Khăm Xay, tiếp giáp phía tây Quân khu 4, nhằm thâu tóm các thế lực phản động trong người H’mông và các dân tộc ít người khác, biến vùng này thành căn cú thứ hai của quân phỉ Vàng Pao nối liền với Xảm Thông - Long Chẹng.

Trước tình hình phát triển có lợi cho cách mạng hai nước, bước vào năm 1972 giữa ta và bạn đã có những chủ trương và biện pháp mới nhằm củng cố vùng giải phóng.

Tháng 12 năm 1971, do yêu cầu thực hiện có hiệu quả hơn nữa nghĩa vụ quốc tế, Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức lại lực lượng quân tình nguyện của ta ở Lào. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 có nhiệm vụ lãnh đạo và chỉ huy các hoạt động của ta và giúp bạn về mặt quân sự ở khu vực từ nam đường số 7 đến đường số 12 bao gồm tỉnh Bô Ri Khăm Xay và huyện Mường Mộc (tỉnh Xiêng Khoảng). Chuyên gia quân sự và quân tình nguyện ở khu vực này đều trực thuộc Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4.

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu giao cho các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngoài giúp đỡ về kinh tế, văn hóa vốn có từ trước, có thêm nhiệm vụ giúp đỡ hai tỉnh kết nghĩa Xiêng Khoảng và Bô Ri Khăm Xay về mặt quân sự. Theo chủ trương trên, Tỉnh ủy và tỉnh đội Hà Tĩnh đã điều chỉnh tổ chức lực lượng tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương tỉnh và đoàn 128 chuyên gia quân sự giúp bạn tại Bô Ri Khăm Xay. Tỉnh ủy và tỉnh đội Nghệ An cũng thành lập tại huyện Mường Mộc tỉnh Xiêng Khoảng lực lượng thường xuyên gồm tiểu đoàn 43 bộ đội địa phương và một đội công tác cơ sở, lấy phiên hiệu đoàn 7.

Cuối mua khô 1971 - 1972 và mùa mưa năm 1972, các lực lượng giúp bạn của Nghệ An, Hà Tĩnh thực hiện kế hoạch xây dựng và củng cố vùng giải phóng, phát triển và nâng cao chất lượng vũ trang địa phương của bạn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng. Đến trước mùa khô 1972-1973, ở các vùng giải phóng tỉnh Bô Ri Khăm Xay và huyện Mường Mộc, phong trào cách mạng có bước phát triển. Lực lượng vũ trang tỉnh Bô Ri Khăm Xay đã có tiểu đoàn 17 và bốn đại đội độc lập. Mỗi huyện đều có trung đội bộ đội địa phương huyện. Toàn tỉnh đã có 1.766 cán bộ, đội viên dân quân ở các bản, xã, trong đó gần 600 du kích vũ trang. Phần lớn các xã vùng giải phóng có trung đội du kích tập trung. Ở huyện Mường Mộc, bạn đã tích cực củng cố đại đội 125 bộ đội địa phương huyện, phát triển và củng cố được 150 cán bộ, đội viên dân quân các xã, bản, trong đó, lập được ba tiểu đội du kích vũ trang vùng xung quanh thị trấn. Ngoài lực lượng vũ trang, bạn chú trọng xây dựng, củng cố và tăng cường chỉ đạo hoạt động của các đội công tác cơ sở.
Đầu năm 1972, hội nghị lần thứ 17 Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra quyết tâm chiến lược và phương hướng cách mạng Lào trong tình hình mới: "Phát huy thế thắng lợi chủ động và khẩn trương đẩy mạnh mọi mặt hoạt động và xây dựng tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ giành thắng lợi to lớn hơn, làm chuyển biến mạnh mẽ cục diện cuộc chiến tranh ở Lào hoàn toàn có lợi cho cách mạng".

Về phía ta, nghị quyết hội nghị Quân ủy Trung ương tháng 2 năm 1972 (phần về nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào) cũng xác định: "Theo tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, cần phải giúp đỡ và phối hợp với bạn thật tốt trong nhiệm vụ tác chiến, xây dựng lực lượng và củng cố vùng giải phóng, cùng nhau tạo nên những đợt hoạt động nhịp nhàng, tiến công địch đồng đều, đón thời cơ giành thắng lợi to lớn".

Mùa mưa năm 1972 đã qua, cả ta và địch trên khu vực đường số 7, đường số 8, ở phía bắc Trung Lào đều lấy việc xây dựng và củng cố là chính, không có hoạt động quân sự lớn. Cuối mùa mưa, bạn và ta chủ trương tranh thủ mở đợt hoạt động tác chiến ở Trung Lào trong mùa khô 1972 - 1973, lấy tỉnh Khăm Muộn (đường số 12) làm hướng chủ yếu nhằm: "mở rộng thêm vùng giải phóng mới, đông dân, dọc sông Mê Công thuộc tỉnh Khăm Muộn, uy hiếp đường số 13, bảo vệ hành lang chiến lược của ta, phối hợp các chiến trường khác ở Lào tạo chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh ở Lào"1. Nhiệm vụ này được giao cho Quân khu 4 thực hiện.
______________________________________________
1. Chỉ thị của Quân ủy Trung ương gửi Quân khu 4, tháng 9 năm 1972.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #104 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:21:49 pm »


Khăm Muộn là tỉnh tiếp giáp với vùng Hạ Lào, phía đông là vùng rừng núi dọc theo giải Trường Sơn giáp biên giới các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình; đồng thời là khu vực cửa ngõ hành lang của ta ở phía tây Trường Sơn từ cửa khẩu Ba Na Phào đi xuống phía nam. Trước đây, Đoàn 559 đảm nhiệm việc giúp bạn và bảo vệ hành lang ở khu vực này. Phía đông tỉnh Khăm Muộn, dọc theo đường số 12, đường số 15 gồm thị xã Thà Khẹt và vùng đồng bằng đông dân cư còn chịu sự kiểm soát của ngụy quyền Viêng Chăn khống chế đoạn hiểm yếu nhất của đường số 13 xuyên Lào. Địch triển khai một hệ thống đồn bốt dày đặc từ Nậm Thơn ở phía bắc qua thị xã Thà Khẹt đến sông Sê Băng Phai ở phía nam thị xã Thà Khẹt - căn cứ chủ yếu, đồng thời là trung tâm đầu não của ngụy quyền tỉnh. Tiến công vào vùng này, không những khôi phục lại vùng giải phóng trước đây của Pa-thét Lào, lập lại ranh giới khi có hiệp định năm 1962, mà còn trực tiếp uy hiếp đường số 13, trục giao thông chiến lược độc nhất của Lào, thực hiện đòn chia cắt chiến lược Bắc Lào và Nam Lào, mở ra một hướng tiến công mới để phối hợp với các hướng khác.

Ở chiến trường Trung Lào, tỉnh Khăm Muộn là vùng đất quen thuộc đối với các lực lượng vũ trang Quân khu 4. Song, trong thời gian này, toàn quân khu đang phải tập trung đối phó với chiến tranh phá hoại cực kỳ ác liệt của đế quốc Mỹ, thực hiện chi viện miền Nam, củng cố hậu phương vô cùng khẩn trương và cấp bách. Mặc dầu vậy, Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu và lãnh đạo các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh vốn chủ động trong mọi tình huống nên khi được giao nhiệm vụ hoạt động tác chiến trên một hướng đã khẩn trương chuẩn bị triển khai đợt hoạt động đúng ý định của trên.

Trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1972, Thường vụ Quân khu ủy họp phiên đặc biệt để quán triệt nhiệm vụ giúp bạn và quyết định những chủ trương lớn sau đây:

- Sử dụng lực lượng chủ lực của quân khu phối hợp với lực lượng chính trị của bạn mở chiến dịch tiến công trên hướng đường số 12 do quân khu trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy, lấy phiên hiệu "chiến dịch 972”.

- Giao cho tỉnh đội các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh với lực lượng của địa phương, cùng với lực lượng vũ trang và chính trị của bạn mở đợt hoạt động tác chiến phối hợp trực tiếp với "chiến dịch 972".

Lực lượng vũ trang Hà Tĩnh hoạt động trên đường số 8, phiên hiệu là 872.

Lực lượng vũ trang Nghệ An hoạt động nam đường số 7, khu vực huyện Mường Mộc, phiên hiệu là 772.

- Ban cán sự Đảng và Bộ chỉ huy chiến dịch 972 do đồng chí Nguyễn Văn Thuận - Phó tư lệnh quân khu làm Tư lệnh và đồng chí Lê Đình Sô - Phó chủ nhiệm chính trị quân khu làm chính ủy. Đồng chí Nguyễn Văn Trị - Hiệu trưởng trường quân chính quân khu làm tham mưu trưởng.

Lãnh đạo, chỉ huy các hướng phối hợp (đường số 8, đường số 7) do Đảng ủy, tỉnh đội các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An chỉ định, trên cơ sở tăng cường cho các ban chỉ huy đoàn 128 và đoàn 7 đã có.

- "Chiến dịch 972" và các hướng phối hợp phải khẩn trương xúc tiến mọi công tác chuẩn bị tổ chức chiến đấu để hạ tuần tháng 10 năm 1972 bước vào hoạt động.

Sau khi cân nhắc, soát xét mọi mặt nhiệm vụ tác chiến của quân khu trên các hướng, cả phía trước và phía sau, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định sử dụng lực lượng gồm ba tiểu đoàn bộ binh (tiểu đoàn 4 trung đoàn 270, tiểu đoàn 42 Nghệ An, tiểu đoàn 44 Hà Tĩnh), đại đội 1 đặc công tiểu đoàn 3, đại đội 3 xe tăng tiểu đoàn 206, tiểu đoàn 22 pháo mặt đất, đại đội 14 súng cối trung đoàn 270, tiểu đoàn 25 pháo cao xạ trung đoàn 233, đại đội 16 súng máy cao xạ 12,7 ly, một đại đội vận tải cơ giới thuộc trung đoàn 25, và một số phân đội trực thuộc khác. Ban lãnh đạo tỉnh Bô Ri Khăm Xay cử hai đội công tác cơ sở gồm 22 đồng chí tham gia chiến dịch.

Ngày 4 tháng 10 năm 1972, Bộ Tư lệnh quân khu theo dõi đánh giá kết quả chuẩn bị các hướng, phê chuẩn quyết tâm chiến đấu và ra lời động viên các lực lượng của ta: "Ra sức giúp đỡ bạn, cùng bạn đẩy mạnh cuộc tiến công giành thắng lợi to lớn hơn nữa, tạo cho bạn thế có lợi vững chắc để đưa cách mạng bạn tiến lên mạnh mẽ trong giai đoạn đấu tranh sắp tới, nhất là khi có thời cơ thuận lợi".

Mặc dầu phải tác chiến trên một chiến trường xa quân khu, thời gian gấp, lực lượng hỗn hợp tách từ nhiều đơn vị khác nhau, có chủ lực, có bộ đội địa phương, bộ binh và binh chủng với khả năng tác chiến chưa đồng đều, Ban cán sự, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tích cực chủ động chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, trinh sát nắm chắc địch và vạch phương án tác chiến cụ thể tỷ mỷ, tạo thuận lợi cho các đơn vị hoàn thành các nhiệm vụ.

Trên hướng 872, tỉnh đội Hà Tĩnh đã tăng cường cho đoàn 128 hai đại đội đặc công, hai đại đội súng máy cao xạ, một đại đội súng cối, một đại đội DKB và 500 dân công. Đồng chí tỉnh đội phó tỉnh Bô Ri Khăm Xay tham gia ban chỉ huy mặt trận 872. Toàn bộ lực lượng vũ trang chính trị của tỉnh cùng phối hợp chiến đấu.

Trên hướng 772, tỉnh đội Nghệ An tăng cường cho đoàn 7 một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội súng cối và 2.000 dân công. Đồng chí bí thư huyện ủy Mường Mộc tham gia ban chỉ huy mặt trận 772. Đại đội 125 và cán bộ cơ sở của huyện Mường Mộc phối hợp hoạt động tác chiến.

Căn cứ kết quả chuẩn bị, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ trương mở màn chiến dịch bằng trận tập kích tiêu diệt cứ điểm Nậm Thơn, sở chỉ huy của tiểu đoàn quân địa phương ngụy (BV43) nằm trên đường số 13 cách thị xã Thà Khẹt về phía bắc 12 ki-lô-mét. Rạng sáng ngày 28 tháng 10 năm 1972, các chiến sĩ thuộc đại đội 1 tiểu đoàn 31 đặc công đã hỗ trợ cho lực lượng của bạn tập kích diệt gọn cứ điểm Nậm Thơn. Trận đánh mở màn giành thắng lợi giòn giã đã thu hút sự đối phó của địch về phía bắc thị xã Thà Khẹt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #105 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:22:34 pm »


Ngày 12 tháng 11 năm 1972, tiểu đoàn 4 tiến công trên hướng chủ yếu đã đồng loạt nổ súng đánh chiếm các cứ điểm tiền tiêu Pa Nom, Pha Lai trên đường số 12, cửa ngõ vào thị xã Thà Khẹt từ phía tây. Trong khi đó, một mũi đặc công và bộ binh luồn sâu áp sát thị xã, ngay đêm 13 tháng 11 năm 1972, tập kích một số mục tiêu trong nội thị gây cho địch nhiều tổn thất.

Trong khi địch vì lo sợ thị xã Thà Khẹt bị tiến công đang lúng túng đối phó ở phía bắc và phía tây thì tiểu đoàn 49 quân tình nguyện cùng với các đội cơ sở của bạn thọc sâu vào vùng địch hậu phía tây đường số 13. Các đồn, bốt lẻ của địch và hệ thống kìm kẹp ở các bản, ấp nhanh chóng bị ta xóa bỏ. Nhân dân được phát động, cơ sở mới của cách mạng được xây dựng, lực lượng Pa-thét Lào làm chủ một vùng đồng bằng rộng gồm 17 xã thuộc hai huyện Thà Khẹt và Noọng Bốc, phá tung tuyến phòng thủ vòng ngoài của thị xã Thà Khẹt, kiểm soát nhiều đoạn trên đường số 13.

Địch hốt hoảng điều động lần lượt tám tiểu đoàn từ Viêng Chăn tới để cùng với quân địch ở đây giữ các vị trí then chốt còn lại, nhất là thị xã Thà Khẹt và cứ điểm Sê Băng Phai ở phía nam. Ta chuyển sang bao vây uy hiếp thị xã, tiếp tục củng cố thế làm chủ vùng mới giải phóng và chuẩn bị đạn dược, lương thực cho đợt hoạt động tiếp theo.

Trên hướng 872, các lực lượng tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ tích cực cho bạn nhanh chóng đánh chiếm một số đồn, bốt lẻ của địch ở vùng giáp ranh phát triển ra đường số 13, đánh chiếm cầu Pha Ca Đin, vây ép cứ điểm Pắc San, giải phóng 11 xã thuộc Bô Ri Khăm Xay và Hin Bun, làm chủ đoạn đường sá 13 từ Pha Ca Đin tới Pắc San.

Trong khí chiến sự đang được đẩy dần về phía trước thì vùng giải phóng phía sau lại xảy ra vụ phản loạn chính trị do Khăm-xổm cầm đầu. Khăm-xổm lúc đó là bí thư tỉnh ủy Bô Ri Khăm Xay, nhưng do bất mãn cá nhân nên đã lôi kéo một số tay chân, mua chuộc một bộ phận nhân dân và du kích, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng tỉnh, chiếm căn cứ để đón quân phái hữu về chiếm lại vùng giải phóng. Từ đêm 16 tháng 11 năm 1972, bọn phản loạn tập kích vào một số cơ quan tỉnh trong đó có nơi ở và làm việc của đoàn chuyên gia Việt Nam, bắt giết nhiều cán bộ, đảng viên trung kiên, chiếm khu vực Noọng Leng - Noọng Bạc.

Theo yêu cầu của bạn nhằm trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng, ban chỉ huy mặt trận 872 điều một bộ phận lực lượng ở đường số 13 quay lại cùng với bạn dập tắt cuộc bạo loạn, bảo vệ vùng giải phóng. Đêm 29 tháng 11, ta hỗ trợ cho bạn tiến công vào sào huyệt của Khăm-xổm ở Noọng Leng, bắt diệt một bộ phận quân phản loạn. Riêng Khăm-xổm chạy thoát sang khu vực núi đá Pha Hom ẩn náu, thu thập tàn quân, bắt liên lạc với Viêng Chăn và được tăng cường một tiểu đoàn quân phái hữu Lào, lập sân bay dã chiến, định biến nơi đây thành căn cứ, chờ thời cơ.

Sau một thời gian kiên trì thuyết phục, gọi hàng không kết quả, ngày 16 tháng 12 năm 1972, ta buộc phải hỗ trợ để bạn tiến công Pha Hom. Cuối tháng 12 năm 1972, vụ phản loạn do Khăm-xổm cầm đầu bị dập tắt hoàn toàn, vùng giải phóng ở đây được ổn định.

Tại mặt trận 772, ngày 29 tháng 10 năm 1972, lực lượng tình nguyện của Nghệ An hỗ trợ cho lực lượng của bạn ở Mường Mộc tiến công căn cứ BS.226 ở Mường Nham. Đánh chiếm sân bay Mường Nham và các điểm ngoại vi, buộc địch phải chạy sang căn cứ của BS.225 ở vùng Phu Luông - Nậm Heo. Sau một thời gian chuẩn bị, đêm 22 tháng 12 năm 1972, được ta hỗ trợ, bạn đã tập trung lực lượng tiến công vào căn cứ địch ở Phu Luông - Nậm Heo. Các mũi vũ trang luồn sâu vào sào huyệt phỉ, trực tiếp tiến công vào các vị trí do quân phỉ đóng giữ. Các đội công tác cơ sở bắt liên lạc với dân bị địch bốc theo, hướng dẫn và bảo vệ cho dân tách khỏi địch, trở về vùng giải phóng an toàn. Cuộc chiến đấu của bạn nhằm giành dân, diệt phỉ kéo dài tới ngày 1 tháng 1 năm 1973. Quân phỉ bị đánh bật ra khỏi các sào huyệt của chúng. Ta đã cùng bạn giải phóng hàng nghìn dân, đưa họ về bản cũ. Sau đó ta còn tiếp tục giúp bạn làm trong sạch địa bàn, giúp dân ổn định đời sống, khôi phục lại vùng giải phóng nam đường số 7, nối liền Xiêng Khoảng với Bô Ri Khăm Xay.

Sau những trận tiến công mở đầu thắng lợi, Bộ chỉ huy chiến dịch 972 quyết định tập trung lực lượng hỗ trợ để bạn tiến công tiêu diệt cứ điểm địch ở Sê Băng Phai, một vị trí xung yếu trên đường số 13, vừa bảo vệ cầu sắt Sê Băng Phai, vừa là điểm nối giữa hai căn cứ Thà Khẹt ở phía bắc và Sê Nô ở phía nam. Cứ điểm này được phòng thủ khá kiên cố và vững chắc do một tiểu đoàn tăng cường đóng giữ. Bộ chỉ huy 972 đã phối hợp với bạn sử dụng lực lượng binh chủng hợp thành, gồm bộ binh xe tăng, pháo binh, cao xạ tiến công cứ điểm. Trận đánh diễn ra suốt hai ngày đêm 19 và 20 tháng 12 năm 1972. Đến ngày 20 tháng 12, ta và bạn chiếm được Sê Băng Phai và làm chủ vùng này trong nhiều ngày. Đường số 13 hoàn toàn bị cắt đứt. Tuy không diệt gọn được địch, nhưng trận tiến công cứ điểm Sê Băng Phai là trận đánh then chốt, kết thúc chiến dịch 972 trên hướng đường số 12, tỉnh Khăm Muộn. Đầu tháng 1 năm 1973, các lực lượng chiến đấu trên đường số 12 rời khỏi chiến trường, các lực lượng bạn được bổ sung thêm để bảo vệ và củng cố vùng mới giải phóng.

Từ tháng 1 năm 1973, các lực lượng tình nguyện hoạt động giúp bạn từ nam đường số 7 đến đường số 12 được thống nhất tổ chức thành đoàn 128, góp phần cùng bạn tạo nên thế trận mới của cách mạng ở Trung Lào sau hiệp định ngừng bắn tháng 2 năm 1973.

Hoạt động của lực lượng tình nguyện trên các mặt trận 772, 872, 972, thể hiện nỗ lực lớn của quân và dân Quân khu 4 đối với nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường Trung Lào năm 1972.

Với việc mở các mặt trận này, lực lượng tình nguyện của quân khu đã phối hợp với bạn đánh địch ở cả ba hướng (đường số 7, đường số 8 và đường số 12) với 280 trận lớn nhỏ. Ta đã thu hút và giam chân một lực lượng quan trọng quân ngụy Viêng Chăn, buộc chúng phải dồn tới vùng Thà Khẹt và xung quanh đó thường xuyên từ 8 đến 12 tiểu đoàn quân phái hữu, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác giành thắng lợi.

Đồng thời, lực lượng tình nguyện của ta còn giúp bạn quét sạch địch và bọn phản loạn trong vùng giải phóng cũ, mở thêm vùng giải phóng mới trong khu vực đồng bằng đông dân, nhiều của dọc theo đường số 13 với số dân trên 70 nghìn người, đưa số dân vùng giải phóng Trung Lào lên 170 nghìn trên tổng số 215 nghìn.

Thắng lợi này đã nâng cao uy tín và sức mạnh cho Mặt trận Lào yêu nước trong cuộc đàm phán với phái hữu Viêng Chăn, góp phần quan trọng đẩy địch vào thế suy yếu hơn trước trên chiến trường ba nước Đông Dương. Do thắng lợi trên chiến trường cùng với lập trường đúng đắn, thái độ kiên trì và thiện chí của đoàn đại biểu Pa-thét Lào, ngày 21 tháng 2 năm 1973, tại Thủ đô Viêng Chăn, hai bên đã ký kết "Hiệp định về lập lại hòa bình thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào". Cách mạng Lào có được một bước ngoặt quyết định.

*

*        *

Năm 1972, quân và dân Quân khu 4 đã hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trên các hướng chiến trường trong nước cũng như nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào.

Trên chiến trường Trị - Thiên, nhất là mặt trận Quảng Trị, quân và dân ta đã thực hiện một chiến dịch tiến công lớn nhất, phá vỡ một hệ thống phòng thủ cực mạnh của địch, sau đó là cuộc bảo vệ vùng mới giải phóng dài ngày, tiêu biểu là 81 ngày đêm dũng cảm kiên cường bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường Trị - Thiên đã góp phần tích cực cùng quân và dân ta đánh bại về cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Ở hậu phương Quân khu 4, suốt thời gian tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai, giặc Mỹ đánh phá vô cùng ác liệt, tưởng chừng quân, dân Quân khu 4 sẽ bị tê liệt hoàn toàn. Song với trách nhiệm là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến miền Nam và là hậu phương chiến dịch của chiến trường Trị - Thiên, lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 4 đã vượt qua bao ác liệt, hy sinh, đem hết tinh thần, vật chất, bảo vệ vững chắc hậu phương và chi viện kịp thời cho tiền tuyến.

Năm 1972 cùng một lúc, Quân khu phải tiến hành bốn nhiệm vụ trên ba chiến trường khác nhau, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu, các tỉnh ủy, đảng bộ, chính quyền địa phương, quân và dân Quân khu 4 đã biết huy động sức người sức của "dồn ra phía trước", "ưu tiên tiền tuyến", "hết lòng hết sức giúp đỡ bạn Lào" trong những thời cơ quyết định góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #106 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:25:39 pm »


CHƯƠNG VII
DỐC SỨC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG, GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN TRỊ - THIÊN - HUẾ, CÙNG CẢ NƯỚC GIÀNH TOÀN THẮNG TRONG MÙA XUÂN 1975 (1973-1975)

Hiệp định Pa-ri được ký kết, miền Bắc nước ta thực sự có hòa bình. Ở miền Nam, chiến tranh còn tiếp diễn, nhưng sau khi quân Mỹ, chư hầu rút, thế và lực của quân ngụy suy yếu hẳn. Ta có vùng giải phóng rộng lớn, nối liền với hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, có lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ và đứng vững trên những địa bàn chiến lược quan trọng, nhất là bộ đội chủ lực.

Để tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho quân ngụy Sài Gòn. Với viện trợ của Mỹ, quân ngụy không ngừng củng cố lực lượng, ngang nhiên phá hoại Hiệp định Pa-ri. Chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân bình định, lấn chiếm, lập tuyến phòng thủ nhằm đẩy lực lượng ta ra xa, hòng tiến tới xóa bỏ vùng giải phóng của ta. Do đó, cuộc chiến tranh giải phóng của quân và dân ta ở miền Nam vẫn diễn ra gay go phức tạp và quyết liệt.

Tháng 3 năm 1973, Quân ủy Trung ương họp xác định nhiệm vụ của lực lượng vũ trang cả nước là: "Ra sức tổ chức và nâng cao sức mạnh chiến đấu nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, đồng thời tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tham gia đấu tranh chính trị và xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, xây dựng căn cứ địa và vùng giải phóng ở miền Nam, luôn luôn nêu cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi âm mưu gây lại cuộc chiến của địch".

Trong bối cảnh chung đó, đòi hỏi quân và dân Khu 4 phải tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng tiến công, nỗ lực phấn đấu cao độ cùng cả nước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ.

I. CHỐNG LẤN CHIẾM, PHÁ "BÌNH ĐỊNH” CỦA ĐỊCH, GIỮ VỮNG VÀ CẢI THIỆN THẾ TRẬN TRÊN BA VÙNG CHIẾN LƯỢC

Đến cuối năm 1972, đầu năm 1973, vùng giải phóng Trị— Thiên trải rộng trên khu vực đồng bằng bắc Quảng Trị và miền tây của hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên chiếm 83 phần trăm đất đai với 15 phần trăm dân số1. Lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn hai tỉnh gồm trên 50.000 bộ đội chủ lực, gần 10.000 bộ đội địa phương, bố trí thành thế trận bao vây uy hiếp và chia cắt địch từ ba phía: bắc, tây và tây-nam. Tuy vậy, lực lượng chính trị và vũ trang quần chúng của ta ở cơ sở vẫn còn yếu, nhất là vùng địch tạm kiểm soát.

Từ sau Hiệp định Pa-ri Mỹ - ngụy vẫn chia miền Nam Việt Nam thành bốn quân khu. Trị - Thiên - Huế năm trong quân khu 1 của chúng. Ở đây địch bố trí lực lượng mạnh nhất bao gồm năm sư đoàn chủ lực (trong đó có hai sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị) và bốn liên đoàn biệt động, 21 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo gồm 418 khẩu, năm thiết đoàn và sáu chi đội xe tăng, thiết giáp có 449 xe, một sư đoàn không quân và 96 máy bay chiến đấu. Ngoài ra, chúng còn có một bộ máy chính quỵền, cảnh sát và lực lượng phòng vệ dân sự dày đặc để kìm kẹp nhân dân và đánh phá cơ sở cách mạng. Phần lớn quân chủ lực được bố trí tập trung bảo vệ Huế và Đà Nẵng.

Trị - Thiên là chiến trường hiểm yếu mà cả ta và địch đều tập trung mọi nỗ lực lớn để giành ưu thế. Do đó, từ năm 1973 trở đi, hình thái cơ bản trên chiến trường Trị - Thiên là địch cố lấn chiếm, ta chống lấn chiếm; địch bình định, ta phá bình định để giữ vững và cải thiện thế trận

Ngay trước ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên chủ trương đẩy mạnh đợt hoạt động từ bảy đến mười ngày, sử dụng đại bộ phận lực lượng vũ trang gồm sư đoàn 324, trung đoàn 6 và lực lượng vũ trang hai tỉnh cùng với cán bộ chính trị tiến công tiêu diệt để lập một số vùng "lõm" ở đồng bằng, cài thế xen kẽ với địch và giữ thế có lợi cho ta ở giáp ranh.

Thực hiện chủ trương đó, lực lượng vũ trang và chính trị của ta liên tiếp tiến công địch ở phía tây đường số 1, chiếm lĩnh được 39 thôn, giải phóng trên 10.000 dân của hai tỉnh Trị - Thiên. Cùng với tiến công quân sự, lực lượng vũ trang và lực lượng đấu tranh chính trị tiến hành vũ trang tuyên truyền, hướng dẫn cho trên 30.000 dân đấu tranh đòi ngụy quân, ngụy quyền phải thi hành Hiệp định Pa-ri.

Nhưng do lực lượng địch vẫn còn đông, các vùng ta vừa chiếm thiếu liên hoàn vững chắc, nên chỉ sau một thời gian ngắn hầu hết đã bị địch phản kích chiếm lại. Về cơ bản, ta vẫn giữ được thế trận như trước ngày ngừng bắn.

Hiệp định Pa-ri vừa ký, tranh thủ lúc hiệp định chưa có hiệu lực, quân ngụy đã tập trung lực lượng, thực hiện kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ", mở đầu là chiến dịch "Sóng thần lần thứ tư” (Tan-go Ci-ty) phản kích đánh chiếm Cửa Việt.

Trong các ngày 25, 26 tháng 1 năm 1973, địch dùng phi pháo, ném bom, bắn phá rất ác liệt vào vùng Cửa Việt2. Vào hổi 4 giờ ngày 27 tháng 1 năm 1973, lợi dụng mưa to gió lớn, biển động, hàng trăm xe tăng và xe bọc thép địch từ Long Quang phối hợp với một lực lượng lớn bộ binh3 bám theo mép biển tiến ra cắm cờ ở Cửa Việt trước lúc Hiệp định Pa-ri có hiệu lực.

Phát hiện địch ra đến Cửa Việt, sư đoàn 320 lập tức cùng các đơn vị bộ đội địa phương và dân quân, du kích đang làm nhiệm vụ ở đây đã phát động nhân dân làm công tác binh vận và tổ chức phản công tiêu diệt địch. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra liên tục và quyết liệt. Ta đã đánh bại hàng chục cuộc phản kích của địch. Đến ngày 31 tháng 1, địch bị thiệt hại nặng nề, những tên sống sót vội vàng tháo chạy thục mạng về Long Quang. Chiến dịch tái chiếm Cửa Việt của địch hoàn toàn thất bại. Ta đã tiêu diệt trên 1.500 tên địch, bắt trên 160 tên, bắn cháy gần 100 xe tăng và xe bọc thép, thu 13 xe tăng, bắn rơi năm máy bay, bắn cháy ba tàu chiến và phá hủy 10 khẩu pháo lớn.

Chiến thắng Cửa Việt là đòn trừng trị kịp thời và đích đáng hành động lấn chiếm của địch, bước đầu đánh bại kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của Mỹ - ngụy. Với chiến thắng đó, vùng giải phóng của ta được giữ vững, lòng tin của nhân dân đối với cách mạng được củng cố.

Tuy ta đã giành thắng lợi, nhưng trong lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức chiến đấu đã mất cảnh giác, chậm phát hiện địch; khi phát hiện đã không kiên quyết tiến công tiêu diệt địch lấn chiếm mà lại chủ trương binh vận nên để cho trận đánh kéo dài, không diệt gọn được địch.
______________________________________________
1. Cuối năm 1972, đầu 1973, dân số hai tỉnh Trị - Thiên khoảng 900.000 người, diện tích đất đai khoảng 10.300 ki-lô-mét vuông.
2. Cả chiến dịch, địch đã sử dụng 72 lần chiếc máy bay chiến lược B52 ném bom, bắn 45.000 viên đạn pháo vào khu vực Cửa Việt.
3. Lực lượng địch huy động cho chiến dịch: lữ đoàn 147 thủy qụân lục chiến, liên đoàn 15 biệt động quân, hai chiến đoàn thiết giáp, ba tiểu đoàn pháo binh và thường xuyên có bốn đến năm khu trục hạm của Mỹ ở ngoài biển chi viện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #107 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:27:10 pm »


Sau thất bại ở Cửa Việt, địch phải lùi ngay về đồng bằng và giáp ranh, vừa củng cố tuyến phòng thủ, vừa tổ chức lực lượng lớn, chuẩn bị tiến hành lấn chiếm các "lõm" giải phóng của ta, nhằm xóa thế "da báo" và đẩy lực lượng ta ra xa để ổn định tinh thần cho ngụy quân, ngụy quyền.

Tại Thừa Thiên, từ ngày 28 tháng 1, địch tập trung lực lượng lớn từ bốn tiểu đoàn đến hơn năm tiểu đoàn, có xe tăng yểm trợ, liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm, líp lại được các "lõm" giải phóng của ta ở An Đô, Lai Bằng, Thượng An, Bồ Điền, Đồng Dạ và An Lỗ. Từ 28 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2, địch cho năm tiểu đoàn, hai đại đội bộ binh và hai chiến đoàn xe thiết giáp hành quân lấn chiếm vùng giáp ranh ở nam Phổ Cần, Dưỡng Mông, đẩy được trung đoàn 4 chủ lực của ta ra khỏi Phổ Cần và líp lại được vùng này. Sau đó địch lại liên tiếp lấn chiếm các khu vực địa hình có lợi ở giáp ranh tây Thừa Thiên như: Khe Thai (15-2), cao điểm 502 (16-2), cao điểm 303 (20-2), bắc Mỏ Tàu - Ly Hy (2-3), Đồng Dương và cao điểm 620 (14-3), núi Bông, cao điểm 165 và núi Sơn (15-3)...

Cùng thời gian này, tại Quảng Trị, địch huy động trên 2.500 quân, đa số là chủ lực, có xe tăng, pháo binh và máy bay chi viện, tổ chức nhiều cuộc hành quân đánh bật lực lượng ta ra khỏi tám xã trong vùng chúng kiểm soát ở đồng bằng hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng, nhưng chúng đã phải trả một giá đắt, 760 tên bỏ mạng và 22 xe quân sự bị phá hủy. Cùng với việc lấn chiếm các "lõm" giải phóng ở đồng bằng, địch liên tiếp mở các cuộc hành quân quy mô lớn1 lấn chiếm giáp ranh của ta ở Tích Tường, Như Lệ, các cao điểm 52 và 15. Tại đây, quân và dân ta đánh trả quyết liệt, gây cho địch thiệt hại nặng nề, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.

Tại các khu vực vừa lấn chiếm, địch nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng chốt, hình thành tuyến phòng ngự kiên cố theo địa hình vòng cung ôm lấy vùng kiểm soát của chúng ở đồng bằng Trị - Thiên. Hệ thống phòng thủ của địch hình thành ba tuyến: bắc, tây và tây-nam, nhằm ngăn chặn và đề phòng ta tiến công từ hướng bắc, hướng tây xuống đồng bằng và thành phố Huế.

Tuyến phòng thủ phía bắc dài 60 ki-lô-mét, từ Thanh Hội qua thành cổ Quảng Trị đến động Ông Do, cao điểm 367, cao điểm 300.

Tuyến phía tây gồm Cổ Bi, Núi Gió, Sơn Na, Chúc Mao...

Tuyến tây - nam Huế đang hình thành với các chốt ở Mỏ Tàu, cao điểm 224, cao điểm 303, dãy Kim Sắc...

Suốt hơn hai tháng tranh chấp quyết liệt, ta bị mất một số "lõm" giải phóng ở đồng bằng, nhưng vẫn giữ được thế trận cơ bản như trước ngày ngừng bắn.

Để giữ vũng và phát triển phong trào cách mạng, kịp thời uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc vừa qua và bàn phương hướng nhiệm vụ sắp đến, sau khi hợp nhất B4 và B5 thành Quân khu Trị - Thiên, Quân khu ủy họp phiên đầu tiên từ ngày 7 đến 12 tháng 4 năm 1973, phân tích kỹ tình hình, xác định nhiệm vụ cơ bản của quân và dân Trị - Thiên: "... kiên định quan điểm bạo lực, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu tốt, kiên quyết bảo vệ vững chắc vùng giải phóng và hành lang chiến lược, làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho đấu tranh chính trị, giữ vững hòa bình đưa cách mạng tiến lên".

Hội nghị đề ra phương hướng vài năm tới phải nhanh chóng tạo ra chuyển biến mới trong tương quan lực lượng cả thế và lực trên cả ba vùng chiến lược, sẵn sàng chủ động giành thắng lợi lớn trong mọi tình huống.

Tháng 5 năm 1973, Thường vụ khu ủy họp nêu rõ nhiệm vụ chung cho Đảng bộ Trị - Thiên - Huế là: trên cơ sở nắm vững mục tiêu hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nắm vững chiến lược tiến công, đánh lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn mà chuyển sang lãnh đạo đấu tranh chính trị là chính", với khẩu hiệu "Hòa bình độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa hợp dân tộc". Đồng thời hội nghị cũng đề ra bốn công tác lớn là:

- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị.

- Xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, sẵn sàng đánh bại những cuộc hành quân lấn chiếm của địch, kiên quyết bảo vệ vùng giải phóng.

- Ra sức xây dựng căn cứ địa cách mạng và vùng giải phóng.

- Củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.

Nghị quyết của Quân khu ủy và Thường vụ khu ủy đã thể hiện sự quán triệt đường lối, quan điểm quân sự của Đảng trong giai đoạn mới, đề cập toàn diện nhiệm vụ quân sự của chiến trường và xác định quyết tâm chính xác cho quân và dân Trị - Thiên.

Lực lượng vũ trang ở Trị - Thiên đã tích cực, chủ động tiến công và phản công, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch. Kết hợp tiến công quân sự với đẩy mạnh công tác binh vận, ta đã giành nhiều thắng lợi, nhất là ở các khu vực Tích Tường, Như Lệ, cao điểm 262 tỉnh Quảng Trị và Phong Sơn, Tà Lương, Khe Thai, Mỏ Tàu, cao điểm 673 tỉnh Thừa Thiên, bảo vệ vững chắc được vùng giải phóng ở bắc và tây Trị - Thiên.

Đối phó với những đòn tiến công, phản công của ta, địch tăng cường các cuộc hành quân lấn chiếm, đẩy mạnh "bình định", thực hiện kế hoạch "cộng đồng tái thiết", "cộng đồng phát triển địa phương" nhằm triệt phá cơ sở cách mạng, bảo vệ vững chắc vùng chúng kiểm soát, tăng cường lực lượng, lấn đất giành dân, kiểm soát chặt chẽ dân chúng.

Năm 1973, địch ra sức quân sự hóa và cảnh sát hóa bộ máy ngụy quyền, thành lập các phân chi khu quân sự, đưa các sĩ quan ác ôn về tận thôn, xã nhằm thanh lọc quần chúng, tổ chức lại các đảng phái phản động, nhất là đảng dân chủ của Thiệu, tăng lực lượng phòng vệ dân sự ở Trị - Thiên từ 18.000 lên 30.000 tên.

Cùng với việc củng cố bộ máy ngụy quyền, địch tăng cường sử dụng tổng hợp các lực lượng, cả chủ lực, phòng vệ dân sự và cảnh sát; tổ chức hành quân cảnh sát liên minh để thanh lọc, vơ vét, bóc lột làm cho đời sống nhân dân trong vùng chúng kiểm soát vô cùng cực khổ. Năm 1973, địch đã mở 15.862 cuộc hành quân, "thanh lọc" và đưa hàng chục nghìn dân thường vào các trại tập trung để dễ bề kìm kẹp.
_____________________________________________
1. Lực lượng địch gồm có: 2.500 tên, 20 xe tăng, 45 khẩu pháo, có máy bay của lữ đoàn dù số 1 và số 2 chi viện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:30:17 pm »


Từ đầu năm 1973, Khu ủy Trị - Thiên đã chủ trương; tăng cường cán bộ cho vùng địch kiểm soát ở nông thôn đồng bằng để đưa phong trào đấu tranh chống phá bình định lên bước phát triển mới.

Thực hiện chủ trương đó, một số tỉnh ủy viên được điều xuống làm bí thư huyện ủy; các huyện ủy viên về làm bí thư các thôn, xã để xây dựng lại phong trào ở vùng nông thôn địch hậu. Chỉ sau một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang, chính trị ở nông thôn đồng bằng đã được khôi phục; phong trào tuy chưa mạnh nhưng đã có bước phát triển.

Khu ủy Trị - Thiên đã phát động quần chúng nắm chắc Hiệp định Pa-ri để tiến công địch bằng cả quân sự và chính trị, nhằm phá âm mưu bình định của chúng. Các cơ sở đảng đã dùng nhiều hình thức phong phú: tổ chức hội thảo, nói chuyện về hiệp định, mít tinh, biểu tình, tuyên truyền vận động quần chúng xuống đường đấu tranh chính trị, với khẩu hiệu "Hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh và hòa hợp dân tộc". Phong trào đã lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân, kể cả môt bộ phận binh sĩ và nhân viên ngụy quyền ở cơ sở của địch, khơi dậy tư tưởng muốn hòa bình, chán ghét chiến tranh trong hàng ngũ địch. Ở nhiều địa phương vùng đồng bằng, nhân dân đấu tranh đòi về làng cũ, tự do đi lại làm ăn, đòi quyền dân sinh, dân chủ và thả những người bị bắt; chống gài mìn, phục kích, chống phân tuyến, phân vùng gây chia rẽ hận thù, chống khủng bố. Phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi của quần chúng đã thu hút hàng trăm nghìn người tham gia. Do áp lực đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng nên địch phải nhượng bộ, để cho dân của 60 ấp trở về làng cũ và 78 ấp về theo khu vực quy định của chúng. Ngụy quân, ngụy quyền ở thôn xã có nơi ủng hộ quyền lợi của quần chúng, thế kìm kẹp của địch phần nào kém hiệu quả. Do kết quả của đấu tranh chính trị và vũ trang, ta đã bảo vệ và phát triển được cơ sở cách mạng, đẩy lùi các thủ đoạn khủng bố, chia rẻ và chống phá của địch.

Bên cạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân, công tác binh vận được tăng cường với nhiều hình thức khác nhau. Ta đã in hàng chục nghìn tập Hiệp định, gửi đến tận tay binh lính ngụy, tổ chức gọi loa vào các chốt của địch ở tuyến giáp ranh, trực tiếp gặp gỡ sĩ quan, binh sĩ địch để tuyên truyền nội dung Hiệp định Pa-ri và chính sách hòa hợp dân tộc của ta, đồng thời chỉ rõ thế thắng của ta và thế thua không tránh khỏi của chúng.

Đòn tiến công chính trị, binh vận và tề vận của ta góp phần làm cho hàng ngũ sĩ quan, binh lính địch hoang mang giao động. Một số trung đội, đại đội và tiểu đoàn địch, cả chủ lực và quân địa phương bắt đầu có hiện tượng chống lệnh chỉ huy, đào ngũ, rã ngũ1. Đến cuối năm 1973 đầu năm 1974, cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát đã được củng cố và phát triển. Thừa Thiên có hai hệ thống cơ sở mật và công khai với hơn 3.000 cơ sở thuộc các đoàn thể quần chúng, trên 270 cơ sở nội tuyến, 315 du kích mật và gần 850 cán bộ phong trào. Ở Quảng Trị, tuy địch kiểm soát gắt gao hơn, nhưng các đội biệt động cùng với cán bộ xã, huyện đội và cán bộ chính trị vẫn liên tục thay nhau bám cơ sở trong vùng sâu để hoạt động nên đã móc nối được cơ sở ở 23 trên 58 thôn (của 14 trên 19 xã).

Tuy nhiên, lực lượng tại chỗ của ta vẫn còn ít và yếu, thế hỗ trợ trực tiếp của đòn tiến công quân sự chưa đủ mạnh, địa bàn đứng chân vùng giáp ranh và hành lang về đồng bằng, thành phố còn nhiều khó khăn, sức mạnh đấu tranh trên các vùng chiến lược của ba thứ quân chưa được phát huy đều khắp. Kết quả phong trào đấu tranh của ta chống phá bình định của địch bị hạn chế.

Tại các vùng giải phóng, thực hiện nghị quyết Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên đề ra đầu năm 1973: “xây dựng vùng giải phóng vững mạnh toàn diện", trong đó nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế phải được hết sức coi trọng, phấn đấu một vài năm tới phải tự túc được lương thực và thực phẩm, nhân dân và lực lượng vũ trang đã nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống xã hội. Mọi người, mọi lực lượng hăng hái tham gia khai hoang, phục hóa; xây dựng các công trình thủy lợi, đẩy mạnh sản xuất, tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, chính trị, củng cố quốc phòng để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng.

Trong các vùng mới giải phóng ở Quảng Trị, nhân dân và lực lượng vũ trang đã tập trung sức rà phá, tháo gỡ bom, mìn, phục hồi sản xuất, cải thiện đời sống. Hàng chục nghìn quả bom, mìn đã được tháo gỡ, gần 37.000 héc-ta đất hoang hóa đưa vào sản xuất. Nhân dân đóng góp hàng chục nghìn ngày công xây dựng các công trình thủy lợi, đảm bảo tưới tiêu cho đồng ruộng; đồng thời mạnh dạn áp dụng kỹ thuật tiên tiến, đưa giống mới vào gieo cấy trên đồng ruộng quê hương. Gần hai năm sau ngày giải phóng, sản xuất được phục hồi, sản lượng và năng suất lương thực ngày càng tăng, trong đó điển hình là xã Mai Xá, huyện Gio Linh2. Cùng với sản xuất lương thực, chăn nuôi và các ngành nghề khác đều phát triển. Đời sống nhân dân trong vùng mới giải phóng ở đồng bằng Quảng Trị nhanh chóng được ổn định và cải thiện.

Vùng giải phóng miền núi Trị - Thiên liên hoàn từ nam Thừa Thiên tới bắc Quảng Trị, nối liền với hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa là địa bàn, căn cứ địa cách mạng có tầm quan trọng về chiến lược. Vì vậy, ngày 21 tháng 4 năm 1973, Khu ủy Trị - Thiên họp với cán bộ các địa phương, các ngành và Đoàn 559 đã nhất trí xác định: phải xây dựng miền núi tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, toàn diện và có trọng điểm theo yêu cầu: vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, tiến bộ về văn hóa kỹ thuật, làm tròn nhiệm vụ là căn cứ địa cách mạng trong khả năng hòa bình cũng như khi có chiến tranh... đặc biệt là vùng giáp ranh phải được xây dựng thật mạnh, giữ vững thế liên hoàn giữa ba vùng chiến lược.

Ngay sau ngày giải phóng, nhân dân đã nhanh chóng trở về xây dựng quê hương mới tại Nam Đông, Khe Tre, A So, A Lưới, vùng Ka Kê thuộc tỉnh Thừa Thiên; Ba Lòng, Khe Sanh, dọc đường số 9 của tỉnh Quảng Trị. Trong niềm vui quê hương vừa giải phóng, lại được miền Bắc chi viện, nhân dân đã hăng hái đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, một số nơi đồng bào dân tộc ít người bắt đầu định canh, định cư... 3.

Góp phần giải quyết khó khăn về lương thực, thực phẩm trong điều kiện chiến tranh, hai năm 1973 và 1974, lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên trồng 50 héc-ta cây lương thực, thu hoạch đạt sản lượng quy ra gạo được trên 330 tấn. Bình quân đầu người tự túc được 34 ngày trên chỉ tiêu hai tháng lương thực.

Cùng với đẩy mạnh sản xuất, xây dựng lại quê hương, nhân dân bỏ ra hàng chục nghìn công cùng lực lượng vũ trang Trị - Thiên xây dựng công trình phòng thủ bắc Quảng Trị, tham gia vận chuyển hàng hóa ra phía trước.
______________________________________________
1. Đến tháng 9 năm 1973, ở Trị - Thiên có một đại đội, 13 trung đội chủ lực, sáu tiểu đoàn, ba đại đội bảo an, một trung đội biệt kích và 73 trung đội dân vệ giao động, chống lệnh chỉ huy; 9.500 sĩ quan và binh sĩ đảo ngũ.
2. Sản lượng lương thực năm 1973 ở vùng giải phóng Quảng Trị đạt 58.000 tấn.
3. Về sản xuất nông nghiệp ở miền núi: năm 1973, Thừa Thiên cấy 3.620 héc-ta lúa, thu hoạch 106.000 thúng lúa, Quảng Trị cấy 7.780 héc-ta, thu hoạch trên 10.000 tấn. Năm 1974, Thừa Thiên thu hoạch 3.900 tấn lương thực, Quảng Trị thu 12.000 tấn lương thực.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 08:32:12 pm »


Mạng lưới phòng không bắn máy bay ở Quảng Trị cũng tổ chức được gần 340 trận địa bắn máy bay tầm thấp, liên tục đánh trả mọi hành động xâm phạm của địch, bảo vệ được vùng giải phóng.

Tuy phải liên tục chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, nhưng các lực lượng vũ trang Trị - Thiên được sự chi viện của Bộ đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua khó khăn trở ngại, từng bước chủ động điều chỉnh, bổ sung quân số và trang bị ngày càng hợp lý trên cơ sở ưu tiên hàng đầu cho lực lượng chiến đấu1. Đến tháng 6 năm 1974, Quân khu Trị - Thiên đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân gồm: ba trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh cơ giới, một trung đoàn cao xạ cơ giới, một trung đoàn công binh, một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn bộ binh đánh giao thông và một tiểu đoàn vận tải cơ giới. Bộ đội địa phương tỉnh có: năm tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn đặc công; huyện có 12 đại đội và 13 trung đội bộ đội huyện, 16 đội vũ trang công tác với tổng số 2.342 người.

Nhằm không ngừng nâng cao khả năng tác chiến của lực lượng vũ trang, Quân khu chú trọng công tác huấn luyện. Ngay từ cuối năm 1973, sau khi hoàn chỉnh biên chế tổ chức, từ quân khu đến các tỉnh và đơn vị tập trung mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn và tại chức cho cán bộ các cấp từ tiểu đội đến trung đoàn và tương đương. Nội dung huấn luyện chủ yếu là về kỹ thuật, chiến thuật, tổ chức và phương pháp huấn luyện chiến sĩ, chất lượng đội ngũ cán bộ chỉ huy trong toàn quân khu được nâng lên rõ rệt.

Trên cơ sở nỗ lực cao trong huấn luyện và xây dựng lực lượng, trình độ tổ chức chỉ huy, khả năng vận dụng kỹ thuật, chiến thuật trong tác chiến tập trung của bộ đội có tiến bộ rõ rệt. Nhờ sự trưởng thành của lực lượng vũ trang quân khu nên ta đã rút được ba sư đoàn chủ lực ra cơ động, vừa đánh địch tạo thế, vừa tranh thủ củng cố lực lượng chuẩn bị cho tổng tiến công tiêu diệt địch.

Để đáp ứng yêu cầu của tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, Quân khu chú trọng việc xây dựng mạng đường, tổ chức hệ thống kho tàng, các công trình chiến đấu... Ngay từ đầu năm 1973, Quân khu đã huy động lực lượng bộ đội, du kích không trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu cùng nhân dân vùng giải phóng làm mới và sửa chữa các đường số 15N, 71, 72, 73A, 73B và đường số 9B nối liền với đường số 14 từ hướng tây xuống nam và bắc Trị - Thiên để vận chuyển vật chất, lương thực, thực phẩm, vũ khí, binh khí kỹ thuật và cơ động bộ đội, bảo đảm phục vụ cho yêu cầu tác chiến của các lực lượng vũ trang trên chiến trường Trị - Thiên và Quảng Nam - Đà Nẵng. Đến tháng 9 năm 1973, ta đã hoàn thành 97 ki-lô-mét đường ô-tô, bảo đảm cho xe vận tải chở hàng chạy trong suốt mùa khô.

Ngoài đường bộ, Quân khu còn khắc phục mọi khó khăn, tận dụng sông Mỹ Chánh, sông Tả Trạch và sông Bồ để vận chuyển hàng bằng bè mảng và thả hàng bằng túi ni-lông từ phía tây xuống giáp ranh và đồng bằng Trị - Thiên - Huế.

Cùng với giải quyết mạng lưới giao thông, Quân khu xây dựng các cụm kho ở Cam Lộ (tây Quảng Trị), ở đường số 71 đường số 15N và đường số 73 (tây Thừa Thiên) để phục vụ cho các hướng chiến dịch. Đến tháng 7 năm 1973, công tác vận chuyển cung cấp cho chiến trường cũng được hoàn thành vượt mức, đảm bảo cho các đơn vị ở hướng bắc Trị - Thiên một khối lượng lương thực dự trữ tương đối lớn. Đơn vị ít nhất, đủ ăn đến hết tháng 9 năm 1973, đơn vị nhiều nhất đủ ăn đến hết tháng 1 năm 1974; hướng nam Thừa Thiên bảo đảm ăn đến tháng 11 hoặc tháng 12 năm 1973.

Các tuyến quân y, trạm sửa chữa xe máy, vũ khí, khí tài, các hệ thống công trình quân sự và thông tin liên lạc cũng được xây dựng khẩn trương, bước đầu bảo đảm kịp thời cho công tác chỉ huy chiến đấu. Tuy vậy, số lượng và chất lượng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chiến đấu lớn cũng như yêu cầu phòng tránh.

Hơn một năm chiến đấu và xây dựng trên chiến trường Trị - Thiên, thế và lực của ta được nâng lên một bước. Ta đã làm chủ được vùng giáp ranh, giữ được vùng giải phóng, buộc địch phải lui về phòng ngự và thường xuyên bị uy hiếp. Tuy nhiên, chúng còn kìm kẹp được một bộ phận khá lớn nhân dân, thực hiện được phân tuyến, phân vùng, ngăn chặn ta về vùng sâu đồng bằng. Vì thế, lực lượng ta ở vùng đồng bằng Thừa Thiên và nam Quảng Trị còn yếu.

Để tiếp tục đưa cách mạng miền Nam tiến lên, tháng 7 năm 1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 đã đề ra đường lối nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị khẳng định con đường cách mạng miền Nam là: "con đường bạo lực cách mạng", là "đường lối chiến lược tiến công"; đồng thời chỉ rõ: "Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển lực lượng cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản trong tình hình mới"2.

Tháng 1 năm 1974, Khu ủy Trị - Thiên họp quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, đã vạch ra hai nhiệm vụ cơ bản của quân khu là:

1. Kiên cường đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, binh vận và vũ trang, từng bước đánh bại kế hoạch bình định và lấn chiếm, phá lỏng, phá rã kìm kẹp của địch, ra sức giành dân, từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng tại chỗ, đưa phong trào vùng địch kiểm soát lên cao hơn.

2. Tranh thủ thời gian, ra sức xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng vững mạnh toàn diện. Tổ chức hậu cần đảm bảo chi viện phía trước và đánh thắng địch trong mọi tình huống.

Khu ủy cũng xác định hướng tiến công chính của ta là vùng nông thôn, đồng bằng, nhằm đạt mục tiêu cơ bản là tạo thế, tạo lực, tiến lên giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế.
______________________________________________
1. Đến tháng 6 năm 1973, Bộ bổ sung cho Quân khu Trị - Thiên 2.000 quân, trong đó có hai tiểu đoàn lựu pháo 122 ly, một đại đội pháo 85; đưa 2.700 thương bệnh binh nhẹ, lạc ngũ về đơn vị cũ. Quân khu tự điều chỉnh được 1.394 đồng chí và tuyển chọn lên chủ lực được 425 người.
2. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, nhũng sự kiện quân sự, Hà Nội 1980, tr.170 và 171.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM