chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2024, 06:36:39 pm » |
|
Trong chiến dịch vận tải "Vì miền Nam" tỉnh Quảng Bình đã chủ trương "Trút gạo trong nồi cho miền Nam đánh thắng". Với vùng đất cội cằn, sản xuất không đủ ăn lại bị địch đánh phá có tính hủy diệt, nhưng nhân dân Quảng Bình vẫn sẵn sàng nhường phần gạo ít ỏi cho chiến trường. Chỉ trong tháng 6 và tháng 7, tỉnh đã góp được 2.600 tấn. Các binh trạm 12, 14, 16 đã kịp thời chuyển số gạo này vào Trị - Thiên.
Được tin này, Bác Hồ đã kịp thời biểu dương tinh thần hết lòng vì tiền tuyến của quân dân Quảng Bình. Bác dặn đồng chí Bí thư tỉnh ủy Quảng Bình phải tìm cách trả cho dân hết số gạo đã vay, không được lợi dụng lòng tốt của dân.
Khắc phục B52 rải thảm, pháo chụp, pháo bầy đủ loại, đủ cỡ, từ bờ nam sông Bến Hải bắn sang, từ ngoài biển bắn vào... nhân dân Vĩnh Linh vẫn vững vàng trụ bám sản xuất và chiến đấu. Các xã bờ bắc Bến Hải chèo thuyền đưa bộ đội vượt sông vào đường số 9. Cha hy sinh con thay thế. Chị ngã xuống, em thay chèo. Huyện đoàn Vĩnh Linh giao cho đoàn xã Vĩnh Thủy điều động 40 đoàn viên cõng đạn sang bờ nam trong chiến dịch đánh địch giải tỏa căn cứ Khe Sanh. Đoàn viên đã xung phong đến 120 người. Đoàn viên nông trường Quyết Thắng đảm nhận toàn bộ công việc bốc vác, vận chuyển hàng chục vạn tấn hàng trong chiến dịch vận tải "Vì miền Nam".
Dân quân các xã Vĩnh Mốc, Vĩnh Kim tổ chức các đội tình nguyện giỏi bơi lặn chi viện cho Cồn Cỏ, giữ trọn lời thề: "Vĩnh Linh còn, Cồn Cỏ còn"...
Bảy tháng chống thủ đoạn "ném bom hạn chế" của đế quốc Mỹ, quân, dân Quân khu 4 đã anh dũng chiến đấu, cùng lực lượng phòng không và pháo binh trên địa bàn quân khu bắn rơi 425 máy bay, bắn cháy 31 tàu chiến địch. Toàn quân khu đã huy động 10 triệu lượt người ra mặt đường; khôi phục và làm mới 2.500 ki-lô-mét đường cơ giới, 173 ki-lô-mét đường goòng. xí nghiệp Chiến Thắng đóng 21 chiếc phà mới, 17 bộ cầu phà, 17 phao cầu, sửa chữa 33 phà, 200 thuyền cho các binh trạm 1, 2, 3, 14 chuyển gấp 26.000 tấn hàng vào chiến trường đường số 9 trong chiến dịch "Quang Trung II". Cả năm 1968, khối lượng hàng vận chuyển vào miền Nam và sang Lào tăng gấp hai lần so với năm 1967.
Vừa chiến đấu đánh trả không quân, hải quân Mỹ, giữ vững giao thông vận tải, các tỉnh Khu 4 tiếp tục động viên con em mình nhập ngũ vào Nam chiến đấu. Năm 1968, các địa phương đã sớm chủ động khám tuyển, chú trọng công tác giáo dục, động viên, chuẩn bị tốt và đầy đủ cho thanh niên lên đường nhập ngũ. Được giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất của dân tộc và của quê hương, được chính quyền, đoàn thể địa phương chăm lo săn sóc, thanh niên Khu 4 nhận rõ nghĩa vụ vinh quang của mình hăng hái lên đường ra trận.
Hàng nghìn gia đình trong quân khu có từ ba con trở lên đi bộ đội. Đến hết năm 1968, Thanh Hóa có 66 gia đình, Nghệ An có 60 gia đình, Hà Tĩnh 32 gia đình, Quảng Bình 46 gia đình có năm con trở lên đang chiến đấu ở các chiến trường. Nhiều gia đình cả cha và con cùng chiến hào đánh Mỹ.
Ông Lưu Quang Nghĩa ở xã Minh Sơn huyện Ngọc Lạc, Thanh Hóa có tám con đi bộ đội. Bảy cha con đồng chí Nguyễn Văn Hoàn xã Quảng Ngọc huyện Quảng Xương cùng tại ngũ. Cụ Bột ở xã Họp Lý huyện Triệu Sơn cả con và cháu có 11 người đi bộ đội. Bà Sáu ở xã Vĩnh Thanh, Vĩnh Lộc có ba thế hệ ông, con, cháu đang đánh Mỹ. Đến năm 1968, tỉnh Thanh Hóa có 150 nghìn bộ đội đang chiến đấu trên các chiến trường. Tỉnh Nghệ An có 70 nghìn hộ gia đình có con đi đánh Mỹ.
Năm 1968, toàn quân khu có trên 66.000 thanh niên nhập ngũ, bổ sung cho tiền tuyến 60.000 cán bộ, chiến sĩ, đạt mức cao nhất trong chiến tranh, đáp ứng kịp thời nhu cầu cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy. Quân khu còn bổ sung đi chiến trường 1 sư đoàn, 5 trung đoàn, 21 tiểu đoàn, 30 đại đội. Trung đoàn 27 thành lập trên quê Bác ngày 8 tháng 2 năm 1968, thì ngày 31 tháng 3 đã chiến đấu ở cánh đồng trên mặt trận Đường số 9. Tiểu đoàn 491 (Lam Sơn) đặc công vào chiến trường Khu 5 lập công xuất sắc được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các trung đoàn 270, 84, 164, 204, 218, 282 cùng hàng nghìn dân quân, du kích Quảng Bình, Vĩnh Linh "ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam" trực tiếp chiến đấu trên chiến trường đường số 9.
Dưới bom đạn đánh phá ác liệt và mặc dù một lực lượng lớn nhân lực trẻ khỏe được huy động ra tiền tuyến, nhưng sản xuất ở hậu phương vẫn được duy trì. Nhiều hợp tác xã đạt năng suất từ năm tấn thóc một héc-ta trở lên. Thanh Hóa có 37 xã, Nghệ An có 17 xã, và 60 hợp tác xã đạt năm tấn một héc-ta.
Ở Vĩnh Linh, diện tích gieo trồng đạt 101 phần trăm kế hoạch. Bình quân lương thực đầu người đạt 305 ki-lô-gam. Hợp tác xã Vĩnh Kim, Nam Hồ đạt năng suất năm tấn. Các xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Thủy vẫn duy trì đàn lợn tập thể.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các hợp tác xã nông nghiệp từng bước được tăng cường. Hệ thống thủy lợi vẫn đảm bảo tưới tiêu cho đồng ruộng. Các xí nghiệp cơ khí nhỏ, sản xuất phân bón, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng đã làm ra một số lượng sản phẩm góp phần đảm bảo sản xuất và đời sống của nhân dân.
Trong khói lửa chiến tranh, tình làng nghĩa xóm, tình đồng chí, đồng bào, tình cảm Bắc - Nam ngày càng thêm gắn kết, nồng đậm theo nhịp sống sôi động của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Trẻ em vẫn đội mũ rơm, cắp sách đến trường. Bệnh viện, trạm xá sơ tán tới những nơi ít bị địch đánh phá, tiếp tục khám chữa bệnh cho nhân dân. An ninh chính trị, trật tự xã hội được củng cố vững chắc.
Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 cùng với việc đánh bại thủ đoạn "ném bom hạn chế" của không quân Mỹ trên địa bàn Khu 4 là nhân tố trực tiếp buộc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống miền Bắc Việt Nam kể từ ngày 1 tháng 11 năm 1968, chấp nhận hội nghị bốn bên ở Pa-ri. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã có bước chuyển biến quan trọng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 06:51:09 pm » |
|
CHƯƠNG V BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG, CHI VIỆN CÁC CHIẾN TRƯỜNG, KHÔI PHỤC THẾ CHIẾN LƯỢC BA VÙNG, THAM GIA CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO (1969 - 1971)
I. BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG, CHI VIỆN CÁC CHIẾN TRƯỜNG (1969 - 1970) Sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược từ "chiến tranh cục bộ" sang "phi Mỹ hóa" rồi "Việt Nam hóa chiến tranh", tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác đối với miền Bắc Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ vẫn âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta. Ngày 5 tháng 11 năm 1968, Quân khu ủy Quân khu 4 họp, nhận định: "... tùy diễn biến tình hình quân sự trên chiến trường, tình hình chính trị trong nước Mỹ và diễn biến của cuộc đấu tranh ngoại giao, địch có thể đánh lại bất ngờ trên toàn miền Bắc hoặc có thể sử dụng bộ phận mở các cuộc tập kích, tiến công hạn chế ra quân khu". Quân khu ủy đề ra nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang quân khu là: "Tập trung mọi khả năng, trí tuệ, tình cảm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chi viện của miền Bắc đối với miền Nam mà quân khu trực tiếp đảm nhiệm. Tranh thủ thời gian củng cố nâng cao sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang quân khu về mọi mặt, đồng thời tập trung chuẩn bị tốt mọi công tác phòng thủ, chuẩn bị tác chiến, sẵn sàng đánh thắng địch tại chỗ trong mọi tình huống và sẵn sàng cơ động đánh thắng địch ở bất cứ chiến trường nào” 1. Mặc dù đã tuyên bố chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom, bắn phá miền Bắc, đế quốc Mỹ vẫn dùng máy bay trinh sát, đánh phá lẻ tẻ khu vực chân hàng, kho tàng trên địa bàn quân khu, tung các toán gián điệp biệt kích từ bờ nam sang phá hoại bờ bắc sông Bến Hải. 13 giờ 17 phút ngày 23 tháng 11, Mỹ đã cho hai máy bay RF4C vào trinh sát khu vực kho tàng, bến bãi ở thị xã Đồng Hới (Quảng Bình). Tiểu đoàn cao xạ Nguyễn Viết Xuân với tinh thần cảnh giác cao, đánh giỏi, bắn rơi tại chỗ một chiếc. Tiếp đó, ngày 25 tháng 11, trung đoàn 222 bắn rơi tại chỗ một RF4C. Ngày 1 tháng 1 năm 1969, đồn biên phòng Cù Bai (Vĩnh Linh) phối hợp với bộ đội binh trạm Đoàn 559, dân quân xã Hướng Lập phát hiện và truy lùng toán biệt kích, thám báo ở các bản A Sóc, Tà Rụt, diệt 13 tên. Ngay sau khi địch ngừng ném bom miền Bắc, quân và dân Quân khu 4 đã chuẩn bị tích cực phục vụ chiến dịch vận tải mang tên "VT5" 2 để chi viện chiến trường miền Nam và Lào. Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, khu vực Vĩnh Linh hàng ngày có hàng chục vạn người ra mặt đường lấp hố bom, sửa chữa đường sá, cầu, phà, bến bãi. Chỉ sau năm ngày địch ngừng bắn, đường sắt đã thông đến cầu Giát và sau 10 ngày đến Vinh. Đầu tàu mang tình hữu nghị Việt-Xô sau nhiều năm vắng bóng, giờ đây lại vang lên tiếng còi rộn rã. Sau ba ngày, tàu vận tải sông biển vào Bến Thủy, sau năm ngày vào cảng Gianh, sau tám ngày vào cửa Nhật Lệ (Quảng Bình). Chiếc cầu phao qua sông Gianh dài 800 mét chỉ ba ngày đã bắc xong, sẵn sàng đón những đoàn xe vận tải vào, ra. Theo kế hoạch của Trung ương giao, Quảng Bìreh tiếp nhận 120.000 tấn hàng từ đường bộ vào Đồng Hới và từ biển vào cảng Nhật Lệ, rồi từ đó giao tiếp vào đường số 20, đường số 16 và Vĩnh Linh. Nhà nước điều động một số tàu của hải quân và các đoàn thuyền vận tải của các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa chuyển hàng vào Nam 3. Đoàn xe tải của Quân khu 4 lấy hàng từ cảng Gianh, Đồng Hới, chuyển thẳng vào A Sầu, A Lưới (Thừa Thiên). Bộ Giao thông vận tải cử đồng chí Thứ trưởng Dương Bạch Liên chỉ đạo thống nhất các lực lượng vận tải của Trung ương và địa phương ở Quảng Bình, Vĩnh Linh. Tỉnh ủy Quảng Bình chia làm hai bộ phận: bộ phận thứ nhất do đồng chí Cổ Kim Thành - Chủ tịch tỉnh, đồng chí Lại Văn Ly - trưởng ty Giao thông vận tải, đồng chí Trần Sự - tỉnh đội trưởng chỉ đạo các lực lượng vận tải của tỉnh tham gia chiến dịch. Bộ phận thứ hai do một đồng chí ủy viên thường trực chỉ đạo sản xuất, huy động xã viên các hợp tác xã bám ruộng đồng, quyết giành vụ đông - xuân 1968 - 1969 thắng lợi. Trong các tháng 11, 12 năm 1968 và tháng 1 năm 1969, quân, dân Quảng Bình đã tiếp nhận 132.000 tấn hàng, vượt kế hoạch 11 phần trăm. Nhằm tổng kết kinh nghiệm và cổ vũ phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước, tháng 3 năm 1969, Đại hội thi đua quyết thắng của các lực lượng vũ trang Quân khu 4 họp. Hơn 700 đại biểu về dự 4. Đại hội đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu để thúc đẩy cao trào hành động cách mạng, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của các lực lượng vũ trang quân khu trong những năm tới. Đại hội cử đoàn đại biểu ra Hà Nội báo cáo với Bác Hồ, Quân ủy Trung ương về thành tích và quyết tâm của quân, dân trong quân khu. Bác vui vẻ tiếp đoàn và chăm chú nghe các đồng chí Phạm Doãn Sửu đại biểu đảo Cồn Cỏ, đồng chí Đặng Đình Trương đại biểu tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân, đồng chí Trần Thị Thản, đại biểu đại đội dân quân gái pháo binh xã Ngư Thủy, đồng chí Nguyễn Trung Hùng đại biểu xã Hưng Dũng (Vinh)... báo cáo thành tích. Bác khen ngợi: "Trong thắng lợi hết sức to lớn của quân và dân miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, quân dân quân khu 4 đã góp phần rất quan trọng, lập thành tích to lớn và toàn diện trong chiến đấu, sản xuất, giao thông vận tải, phục vụ tiền tuyến, phòng không nhân dân, bảo vệ trật tự trị an, bảo đảm đời sống. Bác rất vui lòng về tinh thần anh dũng, kiên cường và mưu trí sáng tạo khắc phục khó khăn và tinh thần đoàn kết nhất trí của đồng bào và chiến sĩ Quân khu 4". Bác căn dặn các đơn vị và địa phương trong Quân khu: "... Không được thỏa mãn với thành tích, phải luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, tăng cường đoàn kết, đã chiến đấu giỏi phải chiến đấu giỏi hơn nữa, đã sản xuất giỏi phải sản xuất giỏi hơn nữa, đã giành được thắng lợi to lớn phải giành được thắng lợi to lớn hơn nữa. Phải cố gắng hơn nữa về mọi mặt góp phần xứng đáng cùng toàn quân và dân đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược. Quân khu 4 phải làm tốt hơn nữa nhiệm vụ vẻ vang là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn anh hùng" 5. Bác tặng mỗi đồng chí trong đoàn một huy hiệu của Bác. Đoàn đến thăm Thường trực Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trưng ương thân mật đón tiếp đoàn. _____________________________________________ 1. Nghị quyết Quân khu ủy Quân khu 4 ngày 15 tháng 11 năm 1968. 2. Lúc đầu Bộ Giao thông vận tải gọi là Chiến dịch vận tải tranh thủ tụt thang "Chiến dịch VTTTTT" sau gọi "Chiến dịch VT5". 3. Quảng Ninh 10 chiếc thuyền buồm, gắn máy – mỗi chiếc chở 100 tấn. Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hóa 400 thuyền gỗ nhỏ làm nhiệm vụ chuyển tải. 4. Đồng chí Lê Hiến Mai, đại diện Quân ủy Trung ương, đồng chí Nguyễn Phú Soại – Quyền trưởng đoàn đại diện Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Bắc, đồng chí Lê Quang Hòa - Chính ủy Quân khu, đồng chí Ngô Thuyền - Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa; đồng chí Võ Thúc Đồng - Bí thư tỉnh ủy Nghệ An; đồng chí Nguyễn Tiến Chương - Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh; đồng chí Trần Đồng - Bí thư Khu ủy khu vực Vĩnh Linh tham dự Đại hội. 5. Trích "Truyền thống lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1954-1975)" Quân khu 4 xuất bản.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 06:53:01 pm » |
|
Giữa lúc cuộc chống Mỹ, cứu nước đang trải qua thời kỳ đầy thử thách ác liệt, ngày 2 tháng 9 năm 1969, dân tộc Việt Nam chịu một tổn thất vô cùng to lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cha của lực lượng vũ trang, vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng ta, nhân dân ta qua đời. Nhân dân và lực lượng vũ trang Khu 4 vô cùng thương tiếc Bác. Biến đau thương thành hành động cách mạng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu phát động phong trào lập công đền ơn Bác. Khắp các đơn vị ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, từ mặt trận bắc Quảng Trị, Trị - Thiên - Huế, đến Trung - Hạ Lào, cán bộ, chiến sĩ quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, ai ai cũng muốn lập công để kính dâng lên Người. Các đơn vị tổ chức những trận đánh với chủ đề "Trận đánh đền ơn Bác", "Trận đánh lập công dâng Đảng, Bác kính yêu". Qua hơn một tháng sôi nổi thi đua lập công, các đơn vị ở mặt trận bắc Quảng Trị (từ ngày 10 tháng 9 đến 15 tháng 10) tiêu diệt hơn 1.200 tên địch, bắn rơi 58 máy bay, bắn chìm 4 tàu vận tải, phá hủy 37 xe quân sự.
Đi đôi với việc động viên các địa phương chi viện lương thực, thực phẩm cho Trị - Thiên. Quân khu chủ trương làm thêm nhiều đoạn đường mới để tiếp nhận nhanh, nhiều hàng từ hậu phương gửi ra tiền tuyến. Đội thanh niên xung phong Cù Chính Lan (Nghệ An) và đội thanh niên xung phong Quyết Thắng (Quảng Bình) làm đoạn đường từ làng Ho đến dốc Khỉ, qua đèo 1001 đến phía bắc sông Xê Băng Hiên (đường số 16). Chỉ sau một thời gian khẩn trương thi công đoạn đường này đã hoàn thành. Thanh Hóa huy động đoàn xe đạp thồ trên 2.000 chiếc do đồng chí Hoàng Văn Hiều - Phó chủ tịch tỉnh phụ trách kịp thời chuyển hàng nghìn tấn hàng vào Trị-Thiên.
Cuối năm 1969, đế quốc Mỹ tập trung đánh phá ác liệt các cửa khẩu, nhất là ở đường số 12, đường số 20 để ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến. Địch dùng nhiều loại máy bay trinh sát cả ban ngày, ban đêm. Thủ đoạn trinh sát lẻ bị đánh, địch thay đổi bằng cách dùng cả tốp bốn đến sáu chiếc trinh sát có hộ tống để đánh trả nhanh và rút nhanh. Địch ném bom 847 lần vào các khu chân hàng, các đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường. Chúng tập trung đánh phá ác liệt (kể cả máy bay B52) khu giáp ranh, vùng Hướng Lập. Chúng còn tung nhiều toán biệt kích, thám báo nắm tình hình, phục kích những đoàn xe vận tải, phá hoại trật tự trị an ở địa phương. Quyết tâm bảo đảm mạch máu giao thông vận tải thông suốt, các đơn vị cao xạ của quân khu: các trung đoàn 280, 282, 284, tiểu đoàn 15, 16... được tăng cường thêm các đơn vị phòng không của Bộ, của Đoàn 559 đã đánh mạnh, áp chế địch bảo đảm cho các đoàn xe vượt qua cửa khẩu an toàn, đạt chỉ tiêu vận chuyển kịp thời cho tiền tuyến. Trung đoàn 222B tiểu đoàn 12 cao xạ tỉnh Nghệ An chiến đấu suốt mùa mua ở phía tây đường số 7, bắn rơi tám máy bay phản lực Mỹ cùng với các đơn vị bạn Lào hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận tải tuyến miền tây.
Toàn quân khu đã tu sửa hầm hào cũ và làm thêm được 7.345 hố cá nhân, 862 hầm tập thể, 532 hầm công cộng, 418.113 mét giao thông hào. Chính quyền các địa phương tổ chức sơ tán dân ở các thành phố, thị xã, thị trấn: Vinh, Hà Tĩnh, Đức Thọ... Vĩnh Linh là nơi tiếp giáp với chiến trường nên các cụ già, trẻ em tiếp tục sơ tán ra Hà Tĩnh, được đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đến tiếp đón chu đáo, giúp đỡ hàng vạn ngày công, hàng vạn tấm tranh, hàng nghìn cây tre, gỗ để làm nhà. Nhân dân các xã Kim Lộc, Trung Lộc, Hậu Lộc (Can Lộc); Thạch Lâm, Thạch Hương, Thạch Điền (Thạch Hà) làm trên 500 ngôi nhà ở trị giá gần 200.000 đồng ủng hộ đồng bào sơ tán. Các ngành ngân hàng, thủy sản đầu tư gần 750.000 đồng để giúp đồng bào sơ tán mua chài lưới đánh cá biển.
Năm 1969, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh đã làm tốt công tác giao thông vận chuyển và công tác động viên tuyển quân1. Các địa phương còn thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, chính sách hậu phương quân đội. Con liệt sĩ, con em thương binh, bệnh binh, quân nhân tại ngũ được chăm lo học hành, trở thành con ngoan, trò giỏi. Nhiều hợp tác xã trong quân khu đã động viên nhân dân làm trên 1.000 ngôi nhà "tình nghĩa" cho gia đình liệt sĩ. Xã Hoằng Quý tỉnh Thanh Hóa nêu gương lá cờ đầu của phong trào toàn dân thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội để toàn tỉnh học tập. Nhờ làm tốt chính sách hậu phương quân đội, hầu hết các gia đình thương binh, liệt sĩ, quân nhân tại ngũ đã giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang, gương mẫu trong lao động sản xuất, học tập và công tác.
Bước sang năm 1970, trong khi đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ từng bước mở rộng chiến tranh xâm lược ra các nước trên bán đảo Đông Dương, hòng cô lập, bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.
Trước âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù, nhân dân ba nước Đông Dương phát huy truyền thống đoàn kết, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Miền Bắc Việt Nam không những là hậu phương lớn của miền Nam mà còn là hậu phương của cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Quân khu 4 là tuyến đầu của hậu phương lớn càng có vị trí đặc biệt quan trọng, phải bảo vệ bằng được đường hành lang vận chuyển chiến lược từ đầu nguồn, động viên sức người, sức của cho tiền tuyến, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu đánh bại mọi âm mưu khiêu khích mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Nhằm động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong quân khu, đầu năm 1970, Quân khu ủy họp ra nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ của quân khu là: "Nêu cao tinh thần chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang của quân khu, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch, đáp ứng đầy đủ nhất, kịp thời nhất mọi yêu cầu của chiến trường, làm tốt nhiệm vụ quốc tế, tích cực tham gia củng cố hậu phương về mọi mặt".
Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, quân khu liên tục mở các đợt sinh hoạt chính trị, quán triệt tình hình nhiệm vụ học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt Nghị quyết 81 của Trung ương Đảng về công tác vận động thanh niên, công tác xây dựng chi bộ "Bốn tốt"; mở nhiều lớp bồi dưỡng bí thư chi bộ, tiếp tục thực hiện cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Đội ngũ đảng viên trong quân khu có số lượng đông, chất lượng tốt. ______________________________________________ 1. Nghệ An đã vận chuyển được 847.631 tấn hàng, Hà Tĩnh 213.200 tấn, Quảng Bình 315.928 tấn, Vĩnh Linh 191.573 tấn. Thanh Hóa đã tuyển 7.069 thanh niên vào quân đội, vượt số lượng, đảm bảo chất lượng, Thanh Hóa có trên 300 gia đình có từ 5 con trở lên đi bộ đội. Nghệ An, Hà Tĩnh tuyển 9.613 thanh niên vào quân đội, vượt 5 phần trăm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 06:55:44 pm » |
|
Từ năm 1965 đến cuối năm 1969, quân khu đã phát triển được 21.157 đảng viên, nâng tỷ lệ lãnh đạo từ 18,9 phần trăm (1965) lên 44,9 phần trăm (4-1970). Trong 5 năm số lượng đảng viên bổ sung các chiến trường và cung cấp cho quân khu trên 23.422 đồng chí, gấp hai lần tổng số đảng viên Đảng bộ quân khu năm 1969.
Đảng bộ quân khu đã thực hiện được phương châm đã có chỉ huy là có lãnh đạo, có tổ chức cơ sở là có chi bộ, có hoạt động quần chúng là có đảng viên lãnh đạo. Tỷ lệ lãnh đạo các đơn vị của quân khu ở chiến trường miền Bắc: 40,4 phần trăm, ở chiến trường miền Nam: 41,1 phần trăm, ở chiến trường Lào: 48,75 phần trăm, tỷ lệ đảng viên ở các cơ quan từ trung đoàn trở lên là 62,1 phần trăm.
Nhờ tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị, quân khu đã kịp thời bổ sung cán bộ, đảng viên cho các đơn vị đang hoạt động ở chiến trường đường 9; Trung - Hạ Lào, đảm bảo sức chiến đấu liên tục trong điều kiện chiến đấu vô cùng gian khổ ác liệt1.
Phong trào "luyện hay, đánh giỏi" học tập kinh nghiệm chiến đấu của quân giải phóng Trị - Thiên đánh bại các chiến thuật co cụm, chốt điểm cao của địch, tổ chức hội thao kỹ thuật cao xạ pháo binh, công binh, chỉ đạo các đơn vị diễn tập phương án tác chiến hiệp đồng quân binh chủng được triển khai ở các đơn vị trong toàn quân khu.
Để thực hiện "Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng là một pháo đài", trong hai ngày 17, 18 tháng 9 năm 1970, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu đã tổ chức hội nghị liên tịch với các tỉnh trong quân khu bàn về công tác quân sự địa phương. Hội nghị xác định: có làm tốt công tác quân sự địa phương mới tạo được cơ sở vững chắc cho việc phát huy cao độ lực lượng đánh giặc tại chỗ, rộng khắp, hùng mạnh.
Sau hội nghị liên tịch, cấp ủy và chính quyền các địa phương trong quân khu ra sức huy động sức người, sức của, đảm bảo giao thông vận tải thông suốt.
Năm 1970, Vĩnh Linh chuyển được 9.857 tấn, trong đó có một phần ba số lượng hàng phục vụ chiến trường miền Nam. Nghệ An, Hà Tĩnh vận chuyển được 213.261 tấn, Thanh Hóa vận chuyển được 96.500 tấn, trong đó có 32.013 tấn phục vụ chiến trường miền Nam.
Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa chuẩn bị đầy đủ mọi mặt để động viên cho chiến trường từ 12 đến 16 tiểu đoàn và tiếp nhận nuôi dưỡng gần 1.700 thương bệnh binh từ chiến trường gửi ra. Công tác phòng không nhân dân được đẩy mạnh, đặc biệt chú ý các trọng điểm cầu Hàm Rồng, ga Thanh Hóa, phà Ghép... Ở các huyện, hầm hào được tu sửa thêm, các biện pháp phòng tránh liên hoàn được duy trì phù hợp với tình hình chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Xã Hải Lĩnh huyện Tĩnh Gia có phong trào toàn dân xây dựng làng, xã chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo đảm giao thông vận tải, xây dựng lực lượng vũ trang và đẩy mạnh sản xuất. Chỉ trong ba ngày cuối tháng 8 năm 1970, nhân dân trong xã đóng góp trên 2.000 cây tre, đào đắp thêm 1.000 hầm 5.000 mét giao thông hào để cơ động tác chiến và phòng tránh.
Để tiếp tục ngăn chặn sự chi viện của hậu phướng đối với tiền tuyến đồng thời chuẩn bị cho những bước phiêu lưu quân sự mới, đế quốc Mỹ càng tăng cường đánh phá đường hành lang chiến lược. Tháng 9 năm 1970, Mỹ đã huy động gần 100.000 phi vụ máy bay chiến thuật và gần 1.500 phi vụ B52 tập trung đánh vào những trọng điểm Cổng Trời, đèo Mụ Giạ, thung lũng Seng Phan, có tính chất hủy diệt môi sinh.
Nhằm bảo đảm kế hoạch vận chuyển cho chiến trường đánh to thắng lớn, các đơn vị phòng không của quân khu: trung đoàn 230, trung đoàn 233, tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân phối hợp với trung đoàn tên lửa 270, trung đoàn pháo cao xạ 100 ly của Bộ, tổ chức một đợt chiến đấu dài ngày tiêu diệt máy bay trinh sát có hệ thống trên tuyến hành lang ngã ba Khe Ve, bắn rơi bảy máy bay Mỹ, bảo vệ an toàn các kho tàng và phương tiện vận chuyển. Tiểu đoàn 12 (pháo cao xạ Nghệ An) bảo vệ phía tây đường số 7, bắn rơi hai F105, tiểu đoàn 8 pháo cao xạ Hà Tĩnh bảo vệ phía tây đường số 8, bắn rơi hai F4.
Năm 1970, các lực lượng phòng không chiến đấu trên địa bàn quân khu đã nêu cao tinh thần tích cực, chủ động bắn rơi nhiều loại máy bay địch, bảo vệ được giao thông vận chuyển trong suốt các mùa, bảo vệ các chân hàng, kho tàng, góp phần quan trọng tăng cường lực lượng vật chất kỹ thuật cho các chiến trường và hoàn chỉnh tổ chức phòng thủ của quân khu. Các đơn vị dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh cùng với các đơn vị thanh niên xung phong các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình... đã hoàn chỉnh nhiều trục đường vượt khâu chủ yếu, thiết lập được tuyến đường ống nhiên liệu cho chiến trường. Các đoàn xe vận tải của Bộ, của quân khu (tiểu đoàn 32, các binh trạm 1, 5...) nêu cao tinh thần "sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm” đã chuyển một khối lượng lớn hàng hóa vào chiến trường miền Nam2.
Chiến sĩ lái xe Đoàn Minh Nguyệt, đại đội 3, binh trạm 1 thực hiện khẩu hiệu "tăng từng tấn, lấn từng chuyến". Từ tháng 1 năm 1965 đến tháng 6 năm 1969, trên các tuyến đường ác liệt: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, Trung - Hạ Lào, Nguyệt đã lái 95.000 ki-lô-mét an toàn, với 82.500 tấn ki-lô-mét, trung bình 141 ki-lô-mét mỗi đêm. Có thời gian thức suốt 100 đêm chạy liên tục. Có lần qua phà bom nổ hất ngã xuống sông, bị nhiều thương tích, Nguyệt vẫn kiên quyết cứu hàng cứu xe. Có khi phụ trách một đội xe bốn chiếc chở lương thực, thực phẩm ra tiền tuyến, giữa đường thiếu gạo, đói, khát, anh đã vận động đồng đội: đói thì vào rừng đào củ mài, chứ không nên động đến hàng hóa của tiền tuyến. Với thành tích phục vụ chiến đấu, Đoàn Minh Nguyệt đã được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 16 tháng 2 năm 1970.
Chiến sĩ lái xe Nguyễn Văn Diên, bị thương vẫn cùng đồng đội lăn xả vào trọng điểm địch đánh phá để cứu xe, cứu hàng. Sau khi cùng đồng đội dập tắt đám cháy, Diên nhanh chóng đưa xe mình vượt trọng điểm, nhưng một quả bom nữa lại nổ, mảnh bom găm trúng ngực, anh gục xuống trên tay lái của chiếc xe mang biển số BA 38-24. ______________________________________________ 1. Trong 17 tháng. (7-1968 đến 1-1970) trung đoàn 27 chiến đấu ở đường 9 - bắc Quảng Trị, mỗi đại đội phải thay đổi sáu lần chính trị viên và tám lần đại đội trưởng. Nhiều đại đội bộ binh, sau một trận chiến đấu ác liệt với bộ binh cơ giới Mỹ phải bổ sung toàn bộ cán bộ sơ cấp. 2. Năm 1970 kế hoạch trên giao 338.800 tấn, tuyến vận tải chiến lược hậu phương bao gồm các lực lượng của Bộ, của quân khu... đã thực hiện 35.095 tấn đạt 107,5 phần trăm kế hoạch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 06:57:52 pm » |
|
Bị thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Đông Dương, không thực hiện được ý đồ bắt "Việt cộng" phải quay về đánh du kích ở chiến trường miền Nam Việt Nam, Mỹ cho rằng ngăn chặn được từ đầu con đường chiến lược Trường Sơn, nhất là ở đoạn đường số 9 - Nam Lào, cách mạng miền Nam sẽ "tàn lụi" dần, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sẽ thành công.
Tháng 10 năm 1970, địch đã có những hành động nghi binh, chúng tung tin sẽ mở cuộc tiến công ra bắc vĩ tuyến 17, đồng thời đưa quân Mỹ ra Quảng Trị...
Về phía ta, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nắm được ý đồ và dự đoán đúng về khả năng địch có thể mở cuộc tiến công quy mô lớn trong mùa khô 1970 - 1971 ra vùng Trung - Hạ Lào và đông bắc Cam-pu-chia. Ta đã tích cực chuẩn bị sẵn sàng thế trận, quyết tâm đánh bại quân địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường theo hướng có lợi.
Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân khu 4 phải chuẩn bị cả hai phương án:
- Đánh địch tiến công hạn chế ra phía nam quân khu, bảo vệ đường hành lang chiến lược, bảo vệ giao thông vận chuyển chi viện chiến trường.
- Tham gia đánh địch nếu chúng đánh ra đường số 9 - Nam Lào.
Chấp hành chỉ thị Quân ủy Trung ương, ngày 14 tháng 12 năm 1970, quân khu ủy họp, đề ra nhiệm vụ của quân và dân trong quân khu: "Kiên quyết đập tan cuộc tiến công bằng bộ binh của địch ra quân khu, bất kỳ địch đánh phá bằng hình thức nào, thời gian nào với quy mô và lực lượng như thế nào. Tập trung sức người, sức của chi viện đắc lực cho chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của Mỹ và tay sai".
Sau hội nghị Quân khu ủy, quân khu bước vào chuẩn bị cho chiến dịch. Khắp các địa phương, đơn vị dấy lên phong trào "toàn dân đánh giặc", "toàn dân bàn việc nước". Các cụ phụ lão họp bàn hiến kế đánh Mỹ, giữ làng, làm sống lại không khí Diên Hồng" đời Trần thuở trước. Nam nữ thanh niên hăng hái xung phong làm nghĩa vụ quân sự, đi dân công hỏa tuyến1. Phụ nữ phát huy vai trò "Ba đảm đang" động viên chồng, con, em tòng quân. Trong ba thứ quân rộ lên phong trào đăng ký "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt ngụy", “Dũng sĩ bắn tỉa"... Ngày đêm, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ hăng say rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, diễn tập theo phương án tác chiến, xây dựng làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn. Các đơn vị bộ đội chủ lực, kể cả của Bộ đóng trên địa bàn quân khu, tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa ba thứ quân. Lực lượng vũ trang quân khu được tăng cường về số lượng và chất lượng. Toàn quân khu có 48.000 bộ đội chủ lực, 94.000 dân quân, tự vệ với 50.000 khẩu súng. Mỗi xã có từ một đến ba trung đội cơ động gồm những chiến sĩ du kích trẻ, khỏe có kinh nghiệm chiến đấu, được trang bị vũ khí đầy đủ. Mỗi xã có một tiểu đội đặc công. Quân khu chủ trương rút 320 cán bộ bộ đội chủ lực tăng cường cho các xã trọng điểm. Địa bàn quân khu được phân chia thành nhiều khu vực tác chiến2. Các khu vực trọng điểm ở phía nam được bố trí lực lượng của ba thứ quân, lấy lực lượng tại chỗ là chủ yếu. Ở các điểm cao như đèo Lý Hòa, rú Bung, đèo Ngang... các phân đội bộ đội địa phương tỉnh, huyện chốt giữ với ý thức thường trực chiến đấu cao "địch vào là biết, địch đến là diệt", "sẵn sàng chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ quê hương". Dân quân tự vệ miền biển phối hợp với các đồn biên phòng duy trì chặt chẽ chế độ tuần tra bờ biển đề phòng quân địch bất ngờ tập kích vào đất liền bảo vệ trật tự an ninh xã hội. Các đơn vị pháo binh của địa phương như đại đội 13 Vĩnh Linh, đại đội gái pháo binh Ngư Thủy, đại đội 9, đại đội 8 (Quảng Bình) được bố trí sát bờ biển, sẵn sàng đánh tàu chiến, ca-nô và xe lội nước của địch trong tầm cự ly có hiệu quả.
Ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, công tác chuẩn bị chiến đấu cũng được tiến hành tích cực khẩn trương và sẵn sàng đánh thắng địch trong mọi tình huống.
Việc tích cực chuẩn bị mọi mặt để đánh bại âm mưu địch nếu chúng tiến công ra phía nam của hậu phương quân khu có ý nghĩa rất quan trọng, vừa nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện của ba thứ quân, bảo vệ vững chắc hậu phương, đường hành lang chiến lược, bảo đảm giao thông vận chuyển thông suốt trong mọi tình huống, vừa tích cực chuẩn bị tham gia và chi viện đắc lực cho chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào. _____________________________________________ 1. Năm 1970, quân khu làm tốt công tác động viên tuyển quân vượt số lượng đảm bảo chất lượng và thời gian. Thanh Hóa tuyển 8.045 thanh niên vào bộ đội. Nghệ An, Hà Tĩnh, 213.261 người nhập ngũ, đạt tỷ lệ 102 phần trăm. 2. Khu vực Lệ Thủy bố trí hai trung đoàn bộ binh (270 và 27), hai trung đoàn cao xạ (218 và 285), trung đoàn 164 pháo binh, một đại đội xe tăng T75, tiểu đoòn 45 bộ đội địa phương Quảng Bình. Khu vực Bắc Gianh - Hoàn Lão, Đồng Hới, bố trí hai trung đoàn bộ binh (64 và 66), tiểu đoàn 7 trung đoàn 271, tiểu đoàn 96 Quảng Bình, hai trung đoàn cao xạ (214 và 241), trung đoàn tên lửa 282, đại đội 48 rú Bung, đại đội 365 Quảng Trạch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 07:01:22 pm » |
|
II. BÁM ĐẤT, BÁM DÂN GIỮ THẾ TIẾN CÔNG, CÙNG BẠN LÀO MỞ RỘNG ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC (1969 - 1970) Năm 1969 là năm khó khăn khốc liệt nhất của quân và dân Trị - Thiên. Lực lượng địch còn mạnh 1. Chúng ra sức bình định đồng bằng, đẩy mạnh hành quân đánh phá rừng núi hòng tiêu diệt và đẩy bộ đội chủ lực ta sang bên kia biên giới Việt - Lào; ngăn chặn đường hành lang vận chuyển nhằm giành thế chủ động chiến lược trên ba vùng, thực hiện một bước âm mưu: "Việt Nam hóa chiến tranh", rút một bộ phận quân Mỹ về nước. Trị - Thiên là một trong những trọng điểm bình định. Mỹ - ngụy đẩy mạnh việc đánh phá tiêu diệt hạ tầng cơ sở của cách mạng. Địch cho quân các tiểu khu, chi khu mở cuộc hành quân bắt dân tập trung để thanh lọc, phân loại, truy bức quần chúng, phát hiện du kích nằm vùng. Cuối năm 1968, địch dồn dân vào 24 khu tập trung; nhưng đến đầu năm 1969, chúng chủ trương cho dân về làng vì địch đang muốn tạo bộ mặt mới ở nông thôn miền Nam. Thực chất âm mưu này là chúng đưa dân về tập trung thành ấp nhỏ quanh quận lỵ, thị xã, lập hàng rào và tổ chức canh phòng chặt chẽ, làm lá chắn ngăn chặn ta tiến công vào các cơ quan đầu não của chúng ở địa phương. Có nơi, chúng phát dây kẽm gai cho từng nhà để rào quanh vườn tạo nên những khu vực che chắn phức tạp quanh các căn cứ, gây khó khăn cho ta khi vào liên lạc móc nối cơ sở. Địch khống chế được quần chúng, thu hút được nhân lực, vật lực, thiết lập được bộ máy kìm kẹp ở hầu hết thôn xã. Đi đôi với công tác bình định, liên tiếp mở các cuộc hành quân lên miền núi, địch đưa bộ binh Mỹ đóng chốt các điểm cao, đánh phá đường hành lang chiến lược hết sức ác liệt để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Do địch ném bom, bắn pháo, rải chất độc hóa học, cộng với thiên tai mùa màng bị mất, nên nạn đói hoành hành nghiêm trọng. Đời sống của nhân dân vùng giáp ranh và miền núi lúc này gặp nhiều khó khăn. 6.000 dân miền núi phải sống dựa vào rau rừng, củ rừng là chính. Bộ đội ở phía trước chỉ được ăn từ hai đến ba lạng gạo mỗi ngày, bộ đội phía sau và cán bộ cơ quan ăn từ một lạng rưỡi đến hai lạng. Trước âm mưu thủ đoạn vô cùng dã man, tàn bạo của địch, đầu năm 1969, Quân khu Trị - Thiên đề ra nhiều biện pháp kiên quyết khắc phục khó khăn về hậu cần, xây dựng lại thế trận ở rừng núi, đánh bại các cuộc hành quân của địch, trực tiếp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh ở đồng bằng. Từ ngày 21 tháng 1 đến 8 tháng 2 năm 1969, Mỹ - ngụy hành quân lên vùng rừng núi Cô Ca Va giáp giới phía tây hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên nhằm "trục" lực lượng ta ra xa, phá kho tàng, phá đường hành lang vận chuyển. Quân địch đã huy động một lực lượng lớn gồm 12 tiểu đoàn (có sáu tiểu đoàn Mỹ), hướng hành quân chính là Cô Ca Va. Trung đoàn 6 tiểu đoàn 3 đặc công phối hợp với lực lượng binh trạm và du kích miền tây Trị - Thiên đánh địch quyết liệt, tiêu diệt 2.863 tên, bắn rơi 14 máy bay, gây thiệt hại nặng trung đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ, buộc địch phải bỏ Cô Ca Va. Cuộc hành quân của địch bị thất bại. Chiến thắng Cô Ca Va mở đầu cho những trận chiến đấu của năm 1969, động viên cổ vũ quân và dân Trị - Thiên, Huế nỗ lực vươn lên tiêu diệt địch, đồng thời làm cho quân địch phải chùn bước trong âm mưu đánh phá miền núi của ta. Ở mặt trận Đường số 9, ngày 10 tháng 2 năm 1969, Đảng ủy mặt trận họp xác định: "Hiện nay cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn tiếp tục trong cục diện mới "vừa đánh vừa đàm", Đường số 9 phải có phương thức hoạt động mới cho phù hợp, phải đánh những đòn đau, hiểm, đánh thường xuyên, liên tục để làm thất bại âm mưu ngăn chặn chia rẽ Bắc - Nam, nhưng không rầm rộ, không ồn ào trong khi Mỹ đang tăng cường khả năng cho quân ngụy để rút các đơn vị quân chiến đấu Mỹ về nước". Quân và dân mặt trận Đường số 9 tiến công toàn diện cả quân sự, chính trị, binh vận, mở đợt hoạt động mùa xuân từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 20 tháng 3, tiêu diệt 164 tên địch, bắt 12 tên, phá hủy 210 xe. Ngày 2 tháng 2, sư đoàn 324 thọc sâu vào Tân Lâm rồi chuyển sang đánh động Tiên, An Thái Thượng, điểm cao 300. Địch tăng cường phòng ngự cho những đơn vị xe tăng nống ra chống đỡ. Ngày 18 tháng 3, đại đội 1 tiểu đoàn 11 trung đoàn 2 diệt gọn một đại đội bộ binh cơ giới Mỹ và tám xe tăng tại Đá Bạc. Chiến sĩ Dương Bắc với ba quả đạn B40 diệt ba xe tăng. Ngày 18 tháng 4 năm 1969, đại đội 1 tiểu đoàn 4 trung đoàn 95D tập kích Hồ Khê, diệt 80 tên địch. Trong trận vận động tiến công kết hợp chốt ở điểm cao 353 từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 20 tháng 5, tiểu đoàn 6 trung đoàn 95D và đại đội trinh sát của trung đoàn 101D đánh thiệt hại nặng cả bốn đại đội ngụy và một tiểu đoàn Mỹ, bắn rơi 13 máy bay 2. Phối hợp với đòn tiến công quân sự, nhân dân hai huyện Gio Linh, Cam Lộ nổi dậy phá kìm giành quyền làm chủ, đẩy mạnh chiến tranh du kích, diệt 700 tên, bắn cháy năm máy bay, bốn tàu chiến, phá hủy 47 xe quân sự. ngày 19 tháng 5, bộ đội địa phương và dân quân, du kích tiến đánh Tân Lâm, Cồn Tiên, Dốc Miếu diệt gần một trăm tên địch. Ngày 20 tháng 3, du kích Cửa Việt đánh vị trí bắc Cửa Việt, diệt 80 tên ác ôn. Tuy bị thất bại nặng nề ở Cô Ca Va và đường số 9, nhưng còn khá đông quân, nên từ ngày 17 tháng 3 đến 31 tháng 4, địch lại huy động năm tiểu đoàn mở cuộc hành quân lên vùng Tam Tanh, A Giới (tây nam Quảng Trị). Trung đoàn 2 sư đoàn 324 tiến công cánh quân gồm hai tiểu đoàn Mỹ từ Tam Tanh đến Ka Mai. Đoàn 7 bộ đội địa phương Quảng Trị, đại đội du kích Hướng Hóa tiến công quân ngụy và một tiểu đoàn Mỹ trên hướng A Giới, cả hai cánh quân đều bị thiệt hại, buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân. ______________________________________________ 1. Đầu năm 1969, ở Trị - Thiên, quân Mỹ có bảy tiểu đoàn của sư đoàn 3 thủy quân lục chiến, bốn tiểu đoàn của sư đoàn 1 dù, ba tiểu đoàn của sư đoàn 101, lữ đoàn 1 sư đoàn 5 bộ binh cơ giới. Quân ngụy ở đây có 16 tiểu đoàn bộ binh, 34 đại đội bảo an, 126 trung đội dân vệ, 8 đại đội cảnh sát. 2. Sau khi sư đoàn 325C bổ sung cho Tây Nguyên, tháng 3 năm 1969 sư đoàn 325D được thành lập, trung đoàn 95 sư đoàn 325D phối thuộc chiến đấu với B5, trung đoàn 18D làm đường tây Trường Sơn, trung đoàn 101D ở lại Quảng Bình làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 07:03:13 pm » |
|
Sau thắng lợi ở Cô Ca Va và nhiều nơi khác, bộ đội địa phương, dân quân, du kích và cán bộ ta đã trở lại bám vùng giáp ranh. Tình hình miền núi bước đầu đã có chuyển biến. Tuy vậy, ta cũng còn gặp rất nhiều khó khăn về hậu cần, tổ chức chiến trường. Chủ quan trong việc đánh giá khả năng của ta, địch cho rằng "Việt Cộng không đủ sức tiến công cấp trung đoàn mà chỉ dừng lại hoạt động ở biên giới Việt - Lào". Lợi dụng khó khăn của ta, từ ngày 10 đến 20 tháng 5 năm 1969, Mỹ - ngụy lại mở tiếp cuộc hành quân ra vùng thung lũng A Lưới, A Bia, cách Huế khoảng 50 ki-lô-mét về phía tây - nam. Địch tập trung lực lượng gồm 13 tiểu đoàn (tám tiểu đoàn Mỹ, năm tiểu đoạn ngụy) nhằm đẩy cơ quan chỉ huy và bộ đội ta ra sát biên giới Việt - Lào, phá đường hành lang vận chuyển. Trung đoàn 3 sư đoàn 324, trung đoàn 6 và du kích Thừa Thiên liên tục tiến công, thực hiện đánh tiêu hao, đồng thời bố trí sẵn trận địa tiêu diệt địch ở khu vực A Bia, đập tan cuộc hành quân của địch, chặn đứng cuộc tiến công của lữ đoàn 3 dù, tiêu diệt 1.500 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Tướng hai sao Mô-đi-xơn, tư lệnh lữ đoàn 3 sư đoàn dù 101 bị thương nặng. Chiến thắng A Bia làm chấn động dư luận quốc hội Mỹ. Thắng lợi A Bia không những có ý nghĩa về quân sự mà còn tác động, làm phân hóa dao động nội bộ địch và thúc đẩy nhân dân đồng bằng đánh phá bình định của địch.
Phối hợp với các cuộc hành quân lên miền núi, địch càn quét khốc liệt vùng đồng bằng, nhất là ở các vùng đông dân, trù phú như: Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị), Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên). Do địch đánh phá rất ác liệt, cơ sở cách mạng ở những nơi này bị tổn thất nặng. Chỉ riêng thôn Thượng Xá, xã Hải Thượng (Hải Lăng), địch dùng một đại đội Mỹ, hai đại đội ngụy, một đại đội cảnh sát càn quét 28 ngày liền. Hàng trăm người bị giết, bị bắt, bị tra tấn rất dã man, trong đó có 11 người bị tra tấn đến chết. Mặc dù vậy, dân quân, du kích, nhân dân vẫn kiên cường bám trụ, tổ chức hàng nghìn cuộc đấu tranh chống địch cào nhà, cày ủi ruộng vườn, rào làng, dồn dân; chống bắt lính, chống lập phòng vệ dân sự.
Tháng 3 năm 1969, địch đem xe cày ủi các cồn đống để tìm hầm bí mật, bắt cán bộ, đảng viên, du kích; phá hoại các lăng mộ, miếu thờ quanh vùng Phú Vang, Mỹ Đức, Quảng Thái. Nhân dân đã dũng cảm chặn địch, che chở cho một số cán bộ đang nằm hầm bí mật ở khu vực địch đang cày ủi. Sau bốn giờ giằng co, địch phải từ bỏ hành động nói trên. Các mẹ, các chị không quản gian khổ, hy sinh bám trụ giữ làng, đào hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ. Nhân dân Phò Trạch (Phong Chương) chỉ còn sáu gia đình vẫn đấu tranh kiên quyết không về khu tập trung. Nhân dân Quảng Thái dỡ nhà làm hầm tránh bom đạn địch, quyết không về khu tập trung. Địch khủng bố khốc liệt, huyện ủy Quảng Điền tổ chức ở Quảng Thái hai chi bộ, một chi bộ bám địa bàn để khôi phục lực lượng cách mạng, một chi bộ theo nhân dân vào khu tập trung tiếp tục hoạt động. Các chi bộ Khánh Mỹ, Vĩnh Nguyên, Phong Thu tổ chức hàng trăm chị em nằm chắn trước mũi cày thép, trước những bánh xe xích của Mỹ - ngụy, buộc chúng phải ngừng gây tội ác. Bà Ngô Thị Lễ xã Thủy Thanh đã dẫn đồng chí Lộc, cán bộ thành đội Huế xuống hầm bí mật trốn thoát sau khi đồng chí Lộc đã bắn bị thương hai tên địch.
Bộ đội địa phương huyện phối hợp chặt chẽ với dân quân du kích chống địch càn quét, phá kế hoạch bình định của chúng. Đội 4 biệt động quân Gio Linh, trong hai tháng 5 và 6 năm 1969, đánh tan hai đoàn bình định, diệt trên 100 tên lính bảo an, dân vệ.
Đến tháng 7 năm 1969, ta đã đẩy lùi địch về tuyến giữa, củng cố một bước vùng rừng núi, cổ vũ nhân dân đồng bằng đánh phá bình định của địch. Tuy nhiên địch vẫn phát triển được ngụy quân, củng cố ngụy quyền, rút dần một bộ phận quân Mỹ về nước. So với đầu năm 1969, quân ngụy được tăng thêm 10 tiểu đoàn bộ binh, 59 đại đội bảo an, 199 trung đội dân vệ. Ở Hải Lăng (Quảng Trị), Phú Vang (Thừa Thiên) ta mất thêm 10 xã, khoảng 50 nghìn dân.
Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong những ngày này vẫn còn nhiều gian khổ ác liệt, khó khăn chồng chất. Nhằm tạo thêm khó khăn cho quân và dân ta trên chiến trường, địch tăng cường đánh phá tuyến chi viện chiến lược. Chúng cho máy bay B52 ném bom rải thảm và dùng chất độc hóa học đốt trụi nhiều cánh rừng, đồng thời tăng cường các toán biệt kích, thám báo sục sạo khắp nơi. Ban đêm, hễ nghe một tiếng gà gáy, một tiếng chó sủa là biệt kích mò vào để tìm diệt lực lượng cách mạng hoặc gọi các trận địa pháo bắn chỉ điểm cho các loại máy bay đến ném bom. Nhân dân, bộ đội chịu đựng nạn đói chưa từng có từ trước đến nay. Thôn Hương Hữu, huyện Hướng Hóa có 171 người, chết đói hơn 70 người. Bộ đội cũng thiếu cơm, thiếu muối, bệnh tật tăng, sức chiến đấu bị giảm sút nghiêm trọng.
Ở tuyến giáp ranh, địch phục kích bộ đội đi lấy gạo. Gùi được một tấn gạo, ta phải hy sinh từ sáu tới bảy người. Tiêu chuẩn ăn của bộ đội mỗi ngày một lạng rưỡi, nhưng vẫn dành một phần cứu đói cho dân.
Trước những khó khăn gay gắt về hậu cần, cộng với sự đánh phá ác liệt của địch, có cán bộ, chiến sĩ dao động, ngại gian khổ, ác liệt, hy sinh, ở một số đơn vị, do cán bộ quản lý bộ đội lỏng lẻo, hiện tượng vi phạm kỷ luật diễn ra nghiêm trọng.
Đầu tháng 9 năm 1969, Khu ủy, Quân khu ủy Trị - Thiên có những nghị quyết củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang, giữ vững và phát huy truyền thống quân đội. Cục Chính trị quân khu tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị quán triệt tình hình nhiệm vụ, mở cuộc vận động chính trị: “Học tập đạo đức của Bác, biến đau thương thành hành động cách mạng”. Các đơn vị mở hội nghị chuyên đề nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, công tác bảo đảm hậu cần, sản xuất tự túc, và tổ chức các đợt tập huấn quân sự rút kinh nghiệm chiến đấu ở Cô Ca Va, A Bia, chiến thuật đánh địch ở điểm cao, kinh nghiệm đánh phá các thủ đoạn bình định của các đơn vị điển hình. Qua sinh hoạt chính trị, các đơn vị đã khắc phục dần những hạn chế. Cán bộ, chiến sĩ quán triệt tốt nhiệm vụ, tích cực hỗ trợ cho lực lượng bán vũ trang. Cuối năm 1969, ở đồng bằng Trị - Thiên ta có trên 500 đảng viên và hàng nghìn du kích; ở giáp ranh có trên 900 cán bộ và du kích vẫn kiên cường bám đất, bám dân, đánh địch giữ thế.
Ở thành phố và thị xã, phong trào đấu tranh chính trị khá sôi nổi. Ở thành phố Huế, nhân dân và sinh viên đấu tranh chống tăng thuế, chống bắt lính, đòi quyền tự do dân chủ. Đặc biệt là phong trào đấu tranh quyết liệt của sinh viên, học sinh đòi bãi bỏ "quân sự hóa học đường", đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh; đòi Mỹ cút khỏi miền Nam. Tinh thần cách mạng, tình cảm thiêng liêng của mọi tầng lớp nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ được thể hiện sâu đậm trong những ngày cả nước để tang Người. Cả tuần lễ, chợ Đông Ba vắng người, cửa hàng đóng cửa, trường học vắng bóng học sinh. Sinh viên dùng quai nón bằng màu đen, chùa chiền tổ chức cầu siêu… Ở thị xã Quảng Trị, công sở nghỉ việc, nhân dân công khai lập bàn thờ Bác.
Như vậy, mặc dù địch cố đẩy ta vào khó khăn, nhưng ta đã đưa lực lượng về bám trụ, đánh bại các cuộc hành quân của địch lên miền núi, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng1, từng bước khôi phục thế làm chủ ở miền núi, hỗ trợ cho phong trào chống phá bình định ở đồng bằng. Cán bộ chính trị, dân quân, du kích, lực lượng an ninh kiên cường bám đất, bám dân đấu tranh chống mọi âm mưu thủ đoạn bình định khốc liệt của địch, tích cực xây dựng cơ sở, đánh vào bộ máy kìm kẹp của địch, tiêu diệt nhiều tên ác ôn. _______________________________________________ 1. Năm 1969, mặt trận bắc Quảng Trị diệt 23.000 tên địch, bắn cháy 360 máy bay, phá hủy 800 xe quân sự, 300 xe tăng và xe bọc thép, phá 62 xuồng. Quân khu Trị - Thiên diệt gần 1.500 tên, bắn rơi và phá hủy 176 máy bay, 370 xe quân sự các loại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 07:05:00 pm » |
|
Đầu năm 1970, sau nhiều trận bị đánh đau ở rừng núi địch lui về củng cố tuyến giáp ranh, đồng thời bình định đồng bằng một cách khốc liệt, biến đồng bằng, thành phố thành hậu phương an toàn của chúng, đồng thời tăng cường đánh phá hành lang chiến lược, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc. Sau khi sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mỹ rút khỏi đường số 9, địch xây dựng sư đoàn 1 bộ binh thành sư đoàn mạnh, có phương tiện cơ động như một sư đoàn của Mỹ và xây dựng trung đoàn 3 thành lữ đoàn phòng vệ giới tuyến. Địch cố gắng bắt lính, dồn quân, tăng cường xây dựng và cải tiến trang bị cho quân ngụy.
Tháng 1 năm 1970, Trung ương Đảng họp lần thứ 18, đánh giá tình hình năm 1969, để ra nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là: "Kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế kết hợp với tiến công ngoại giao... đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước kéo dài chiến tranh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định…”
Chấp hành Nghị quyết của Trung ương Đảng, ngày 18 tháng 3 năm 1970, Quân khu ủy Trị - Thiên họp đề ra nhiệm vụ: đánh bại "Việt Nam hóa chiến tranh" trên đất Trị - Thiên, phải tạo ra thế và lực mới đánh đòn tổng hợp táo bạo, tạo bước chuyển biến lớn. Quân khu ủy nhấn mạnh: "bình định là chính sách quan trọng bậc nhất, là xương sống của "Việt Nam hóa chiến tranh", đánh bình định là nhiệm vụ trung tâm cấp bách của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân hiện nay".
Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu đã đề ra những chủ trương lớn năm 1970 là: chủ động đánh bại các cuộc hành quân lên miền núi và hành lang chiến lược, đánh bại các chiến thuật chốt điểm cao, nhảy cóc, trực thăng vận, phục kích giáp ranh; đẩy mạnh đánh phá kế hoạch bình định của địch; củng cố bộ đội chủ lực, tăng cường lực lượng huyện và du kích xã, phát động phong trào bắn máy bay trực thăng và phong trào sản xuất.
Thực hiện chủ trương trên, toàn quân khu đã tiến hành ba đợt hoạt động chính:
Đợt mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1970, đánh địch ở Tà Lương, động Tranh, đánh nhỏ ở giáp ranh và đường số 12.
Đợt mùa hè từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1970, trung đoàn 1 sư đoàn 324 và một bộ phận của trung đoàn 6 hình thành khu vực chiến đấu ở tuyến giữa (các điểm cao 935, 550, Dốc Mây, Tam Tanh), bao vây đánh lấn và đánh quân giải tỏa của địch ở điểm cao 935 và 550, đánh thiệt hại hai tiểu đoàn dù Mỹ, diệt một đại đội bộ binh và một cụm pháo binh Mỹ ở điểm cao 550, bắn rơi nhiều trực thăng ở Quảng Trị. Sư đoàn 304 chiến thắng giòn giã với các trận diệt trại biệt kích Mai Lộc, Cùa, Cô Tiên, động Ché1. Các đoàn ở đồng bằng đã cùng lực lượng dân quân, du kích và lực lượng chính trị tích cực đánh phá kế hoạch bình định của địch. Đoàn 7 (Quảng Trị) đánh địch ở Chiêm Dòng, tập kích Tân Điền, tiêu diệt quận lỵ Mai Lĩnh. Đoàn 6 (Phong Quảng) đánh địch ở khu vực Cóc Muôn, Ca Cúi, A Tầm diệt nhiều địch và kết hợp với du kích địa phương thọc sâu, đánh bình định. Đoàn 5 (thành đội Huế) đánh Tân Ba và La Sơn. Đoàn 4 đánh địch ở An Bằng, Hòa Miên (Phú Lộc) diệt căn cứ Hói Mít, phá hai ấp chiến lược.
Đợt hè-thu từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1970, trong lúc Mỹ - ngụy đang bị sa lầy ở Cam-pu-chia, các lực lượng vũ trang Trị - Thiên, bắc Quảng Trị tranh thủ tiêu diệt địch, đồng thời chấp hành lệnh của Bộ Tổng tư lệnh mở hai chiến dịch tiến công và sẵn sàng đánh địch khi chúng đánh phá đường hành lang chiến lược. Sư đoàn 324 chịu trách nhiệm ở khu vực cao điểm 935. Sư đoàn 304 ở khu vực nam Ba Lòng, kết hợp với đẩy mạnh hoạt động ở giáp ranh và đồng bằng, thành phố, tạo một đợt tiến công quy mô trên cả ba vùng.
Từ ngày 1 đến 23 tháng 7, sư đoàn 324 và trung đoàn 6 dùng chiến thuật vây ép điểm, đánh quân giải tỏa cứ điểm 935 ở tây Thừa Thiên do hai tiểu đoàn dù của sư đoàn 101 Mỹ đóng giữ. Sau 32 ngày đêm chiến đấu, sư đoàn 324 đã chiến thắng oanh liệt ở điểm cao 935, loại khỏi vòng chiến đấu 1.700 tên địch, đánh quỵ lữ đoàn 3 sư đoàn dù 101 Mỹ.
Để giành giật lại địa bàn này, ngày 30 tháng 7 năm 1970, lữ đoàn dù 3 Mỹ lại đưa tiểu đoàn 1 trung đoàn 506 xuống động Ngãi, Cô Pung, mở cuộc hành quân thăm dò, nhưng bị ta đánh trả mãnh liệt. Sau khi đánh bại địch ở điểm cao 935, sư đoàn 324 bố trí lực lượng sẵn sàng đánh địch "nhảy cóc” vào phía nam. Tại điểm cao Cô Pung, khẩu đội 1 của đại đội 3 súng máy 12,7 ly do Đăng Thọ Truật chỉ huy, với 135 viên đạn bắn rơi 10 máy bay lên thẳng Mỹ, sau đó dùng súng máy bộ binh đẩy lùi các mũi tiến quân của Mỹ, tiêu diệt nhiều địch.
Bộ Tổng tư lệnh nhiệt liệt khen ngợi cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 324 đã không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu giành những thắng lợi mới và chỉ thị cho sư đoàn tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm: vây điểm dài thời gian, diệt viện, tiến tới diệt điểm bằng nhiều hình thức chiến thuật ở điểm cao 935. Đây là phương thức tác chiến thích hợp để phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở Trị - Thiên, đánh bại chiến thuật "chốt điểm cao" của địch.
Sau khi tiêu diệt cứ điểm 935, sư đoàn 324 bao vây đánh lấn cứ điểm Cốc Bai. Sư đoàn 304 đánh Đá Bàn (tây Quảng Trị). Tháng 10 năm 1970, địch phải rút hai cứ điểm trên. Tuyến ngăn chặn giữa của Mỹ - ngụy bị phá vỡ và từ đó miền núi của Trị - Thiên đã hoàn toàn giải phóng.
Trong thời gian này, Quân khu Trị - Thiên đã rút 1.500 cán bộ, bộ đội chủ lực khu, tỉnh bổ sung cho các huyện, xã ở Quảng Trị và Thừa Thiên (Thừa Thiên 800 đồng chí, Quảng Trị 700 đồng chí). Các lực lượng vũ trang quân khu đã cùng với nhân dân làm thất bại kế hoạch bình định của địch ở giáp ranh và đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Lộc, thọc sâu xuống đánh địch và xây dựng cơ sở ở Phong An, Phong Sơn, Phong Thu, Quảng Đại, Quảng Thái, Hương Thanh, Phú Hồ... Ở nhiều xã, ta đã tổ chức ban tề "hai mặt". Đồng chí Vương Văn Tế ở xã Phú Hồ vừa là ấp trưởng của địch, vừa là bí thư chi bộ của ta. Một số đồng chí cốt cán khác được lồng vào hoạt động ở các tổ chức xã hội khác nhau như hội Phật tử, hội trị sự chùa. _____________________________________________ 1. Bộ tăng cường sư đoàn 304 cho Quân khu Trị - Thiên để rút lực lượng địa phương ra làm đường.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 07:08:32 pm » |
|
Chiến tranh du kích phát triển ở nhiều nơi. Du kích Thủy Phương phối hợp với lực lượng của thành đội Huế đánh vào đồn bốt địch ở đầu cầu Tràng Tiền. Ngày 20 tháng 8, tự vệ cùng đội biệt động thành phố Huế diệt một nữ mật vụ và một tình báo Mỹ tại Tây Lộc. Đêm 14 tháng 9, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân, du kích huyện Phong Điền, tiến công quận lỵ diệt một đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ, 50 tên bình định ác ôn, đốt một kho xăng. Bộ đội địa phương huyện phối hợp với dân quân, du kích đánh địch ở các xã vùng giáp ranh Lộc Tiến, Lộc Sơn, Thủy Phương, Hương Hà, Phong Sơn... đẩy lùi địch từng bước, cải thiện thế đứng chân của ta ở vùng giáp ranh; tiến hành thu mua lương thực, thực phẩm để chuyển lên chiến khu. Các xã Phong Thu, Phong An, Phong Sơn mua được 200 tấn gạo, 20 tấn muối, 700 ki-lô-gam bột ngọt, hàng trăm mét vải, hàng nghìn mét ni-lông. Đây là những xã điển hình của phong trào xây dựng địa bàn đứng chân ở vùng giáp ranh, ở thành phố, thị xã, nhân dân đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị. Thành ủy Huế phát động nhân dân thực hiện năm điểm trong phong trào đô thị do Trung ương Cục đề ra với nội dung: đòi hòa bình; chống tệ nạn xã hội và thảm họa chiến tranh; đòi dân sinh, dân chủ; chống văn hóa đồi trụy; chống bắt lính và quân sự hóa học đường.
Ngày 1 tháng 9, đại hội sinh viên toàn miền Nam được tổ chức tại Huế. Đại hội ra nghị quyết đấu tranh đòi hòa bình, đòi Mỹ rút quân, đòi áo cơm, đòi quyền dân tộc tự quyết, đòi bãi bỏ chế độ quân sự hóa học đường. Đại hội quyết định phát động đợt đấu tranh bảy ngày. Trong hai ngày đầu, tại Huế có 10 nghìn người xuống đường, có hàng trăm thương binh, phế binh ngụy tham gia. Khẩu hiệu "Mỹ cút về nước" được viết lên mặt đường. Những người biểu tình đã đốt phá phòng "quân sự hóa học đường'' của Mỹ - ngụy và chống trả quyết liệt với cảnh sát.
Cuối năm 1970, cán bộ chính trị của ta đã đi sâu vào các thôn, xã, xây dựng cơ sở chính trị, tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng, kết nạp đảng viên, đoàn viên, rút thanh niên ra vùng giải phóng bổ sung cho bộ đội huyện, tỉnh. Ở hai huyện Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị) các đoàn cán bộ chính trị đã phát triển được 27 cơ sở, kết nạp 88 đảng viên, 38 đoàn viên, rút 100 thanh niên bổ sung cho bộ đội tỉnh và huyện.
Học tập kinh nghiệm của quân, dân miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Quân khu Trị - Thiên phát động phong trào quần chúng bắn máy bay rộng khắp từ miền núi đến đồng bằng. Già, trẻ, gái, trai thi đua bắn rơi máy bay Mỹ. Phong trào thi đua đã đưa lại kết quả tốt, hạ uy thế "không lực Huê Kỳ" góp phần quan trọng đánh bại chiến thuật "trực thăng vận" của Mỹ - ngụy. Đến tháng 12 năm 1970, các lực lượng vũ trang trong quân khu đã bắn rơi, phá hủy gần 800 máy bay các loại, hầu hết là trực thăng. Công tác tổ chức chiến trường có bước phát triển mới. Ta mở tiếp các đường 71, 72... xây dựng vùng giáp ranh, xây dựng miền núi, sản xuất hơn năm triệu gốc sắn ...
Năm 1970, chiến trường Trị - Thiên - Huế giành được thắng lợi quan trọng. Các lực lượng vũ trang quân khu đã tích cực đánh địch ở miền núi và vùng giáp ranh, tích cực hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của đồng bào nông thôn và đô thị giải phóng hoàn toàn miền núi, đẩy lùi kế hoạch bình định của địch, bước đầu tạo thế tiến công ở ba vùng chiến lược.
Tuy nhiên, ở Trị - Thiên phong trào đấu tranh chính trị, quân sự đánh phá bình định, chiến tranh du kích ở đồng bằng vẫn còn yếu, công tác bảo đảm hậu cần còn gặp nhiều khó khăn.
Giữa lúc quân và dân Quân khu 4 phải lo xây dựng, bảo vệ căn cứ hậu phương chiến lược và chi viện cho Trị - Thiên đánh địch, giữ vững thế tiến công, thì đế quốc Mỹ ra sức tăng cường chiến tranh đặc biệt ở Lào, chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương.
Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang Quân khu 4 và bộ đội tình nguyện ở Lào được lệnh phối hợp với bạn Lào quét những nhóm phỉ lâu năm trong vùng giải phóng, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, bảo vệ hành lang vận chuyển và mở rộng vùng giải phóng1.
Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hổ trợ để bộ đội Pa-thét Lào, bộ đội địa phương, dân quân du kích bạn đánh địch ở Nậm Bạc, Mường Xủi, diệt quân địch nống ra gần biên giới Việt - Lào, Bản Ban, Noọng Hét; chủ động tiến công địch trong khu đệm giữa Xiêng Khoảng và Bô Ly Khăm Xay củng cố, xây dựng khu giải phóng liên hoàn hai tỉnh.
Tháng 8 năm 1969, các đơn vị bộ binh, cao xạ, đặc công của Quân khu 4, của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã hỗ trợ cho bộ đội Pa-thét Lào, lực lượng trung lập yêu nước và dân quân, du kích Lào đánh tan các cụm phỉ hoạt động lâu năm trong vùng giải phóng của bạn ở Nậm Giàng, Đôn Viêng (ở đường số 8 ), Nậm Xòng, Phà Ngưu, Phù Xủng, Mường Mộc (ở đường số 7); đánh địch quyết liệt trong cuộc hành quân "Cù Kiệt" lấn chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Cùng thời gian này, sư đoàn 968, tiểu đoàn 46 bộ đội địa phương Quảng Bình cùng với quân và dân Lào bẻ gãy cuộc lấn chiếm của địch, giải phóng Mường Phìn.
Tháng 2 năm 1970, quân và dân Lào phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam đuổi địch ra khỏi Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, bảo vệ đường hành lang chiến lược, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, đập tan cố gắng quân sự của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở Lào, đánh bại âm mưu địch muốn giữ vùng này để làm bàn đạp tiến sâu vào vùng giải phóng uy hiếp Sầm Nưa, căn cứ địa cách mạng của Lào. ______________________________________________ 1. Nhiệm vụ do đại diện Quân ủy Trung ương ta và Quân ủy Trung ương bạn thống nhất đề ra ngày 18 tháng 7 năm 1969.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2024, 07:09:17 pm » |
|
Tháng 3 năm 1970, Mỹ giật giây bọn phản động Lon-non Xi-ric Ma-tắc làm cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Xi-ha-núc, thiết lập một chính phủ thân Mỹ, nhằm mục đích trước hết đánh phá các cơ sở hậu cần và cắt tiếp tế của ta qua tuyến chi viện 559 và cảng Xi Ha Núc Vin vào miền Nam.
Tình hình diễn biến phức tạp ở Cam-pu-chia, hàng vận chuyển vào Nam Bộ và một phần Tây Nguyên có thể bị cắt đứt thì tuyến hành lang chiến lược Hạ Lào càng trở nên quan trọng.
Nhận rõ tầm quan trọng đó, tranh thủ thời cơ khi quân địch bị đánh bật ra khỏi Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và khi Mỹ - ngụy bị sa lầy ở Cam-pu-chia, ở Hạ Lào, tháng 3 năm 1970, Trung ương quyết định thành lập một trận "X" để cùng với lực lượng vũ trang của bạn giải phóng thị xã A Tô Pơ. Đồng chí Hoàng Kiện - Phó tư lệnh Quân khu 4, được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, đồng chí Trần Quyết Thắng làm Phó chính ủy. Lực lượng tham gia gồm có: sư đoàn 968, trung đoàn 24 của mặt trận B3 do trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Thước chỉ huy, phối hợp với lực lượng vũ trang của bạn ở Hạ Lào. Ngày 25 tháng 4, ta và bạn tiến công vào sào huyệt địch ở A Tô Pơ. Từ A Tô Pơ địch thường tung phỉ và biệt kích đánh phá vùng giải phóng ở ngã ba biên giới. Lực lượng địch ở đây có tiểu đoàn BV43, một đại đội công chức vũ trang, một đội cảnh sát, tổng số gồm 800 tên. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 30 tháng 4, gần 500 tên bị tiêu diệt, số còn lại phải rút khỏi thị xã A Tô Pơ. Ngày 1 tháng 5, thị xã A Tô Pơ và các vùng phụ cận Phu Xa Phay, Phu Lay Keo, Xê Ca Mán được giải phóng.
Phát huy thắng lợi, ngày 19 tháng 5, Quân ủy Trung ương lại quyết định thành lập mặt trận "Z" do đồng chí Hoàng Biền Sơn làm Tư lệnh để phối hợp với các lực lượng vũ trang của bạn giải phóng Xa Ra Van. Bộ đội Lào - Việt đã liên tiếp tiến công, đánh bại nhiều đợt phản kích của địch. Ngày 9 tháng 6, được sự ủng hộ của nhân dân địa phương, sư đoàn 968 phối hợp với bộ đội địa phương và tự vệ thị xã giải phóng Xa Ra Van. Các đơn vị lính ngụy Lào BV41, SGU30 bị tổn thất nặng nể.
Chiến thắng A Tô Pơ, Xa Ra Van có ý nghĩa to lớn về quân sự và chính trị, đánh tan âm mưu của địch nống ra đánh phá vùng giải phóng và hành lang chiến lược của ta, thực hiện được ý định của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương của hai nước: bất kỳ trong tình huống nào cũng giải phóng A Tô Pơ, Sa Ra Van trước khi Mỹ - ngụy rút khỏi Cam-pu-chia.
Chiến đấu xa Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam chịu đựng muôn vàn gian khổ, ác liệt, nhưng với tinh thần quốc tế vô sản cao cả đã nêu cao tinh thần chiến đấu ngoan cường dũng cảm.
Tiểu đoàn 1 Anh hùng1 sư đoàn 968 thường xuyên được sự động viên cổ vũ của Đảng bộ, nhân dân Hà Tĩnh, đã đánh những trận đạt hiệu suất chiến đấu cao ở Bản Phòn, Bản Tửu, Noọng Lầu, tích cực xây dựng cơ sở, được nhân dân Xa Ra Van quý trọng.
Hạ sĩ Động Quốc Phiếu là đảng viên đại đội 1 tiểu đoàn 1, sau khi cùng đơn vị tiêu diệt đồn Bản Thảm, đã xung phong đánh quả bộc phá nặng tám ki-lô-gam phá lô cốt chính đồn Nậm Sắn. Bị thương nặng vào hai mắt, chịu đựng đói khát bảy ngày, anh vẫn luồn rừng, tìm đường và mang đầy đủ vũ khí trở về đơn vị.
Không những anh dũng chiến đấu bảo vệ tính mệnh, tài sản của nhân dân nước bạn, bộ đội tình nguyện Việt Nam còn kính trọng người già, hết lòng thương yêu chăm sóc các em nhỏ, dạy múa, dạy hát, dạy học chữ Lào cho các em.
Nhân dân Lào tích cực giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam, dẫn đường cho bộ đội đánh giặc, tiếp tế lương thực, thực phẩm. Thấy anh em trinh sát của đại đội 1 ở ngoài rừng không có cái ăn, cụ Lạp và nhân dân Bản Phao huyện Lào Ngăm đang phải sống trong trại tập trung đã khôn khéo dùng những quả bầu khô, để gạo xuống dưới, đựng nước ở trên bỏ vào hốc cây cổ thụ tiếp tế cho bộ đội. Cán bộ, chiến sĩ đại đội 2 quân tình nguyện còn nhớ mãi mẹ Binh hết lòng thương yêu bộ đôi. Mẹ động viên dân bản "Đường Mòn" tỉnh Sa Ra Van tiếp tế ba mươi típ xôi cho bộ đội đánh đồn Noọng Pè (tháng 7 năm 1970).
Chiến thắng A Tô Pơ, Sa Ra Van cùng với việc giải phóng vùng đông bắc Cam-pu-chia, và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong nửa đầu năm 1970, có ý nghĩa chiến lược rất to lớn, hình thành khu vực căn cứ cách mạng rộng lớn, tạo nên thế trận mới vững chắc dựa lưng vào nhau của nhân dân ba nước Đông Dương. ______________________________________________ 1. Tiểu đoàn 1 là tiểu đoàn 927 bộ đội địa phương tỉnh Hà Tĩnh thành lập trong kháng chiến chống Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|