Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:48:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57122 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #130 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:37:42 pm »


3. Kết hợp chặt chẽ tiền tuyến với hậu phương, dân tộc với quốc tế.

Do nhận thức được nhân tố hậu phương với tiền tuyến, đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa chiến trường Bình - Trị - Thiên với Thanh - Nghệ - Tĩnh, trong kháng chiến chống Pháp, Liên khu ủy 4 đã có nhiều chủ trương kế hoạch, chăm lo xây dựng, củng cố hậu phương về mọi mặt, tạo nên sự nhất trí triệu người như một, cùng hướng ra tiền tuyến, tất cả để chiến thắng. Thực hiện chủ trương "kháng chiến, kiến quốc”, "bồi dưỡng sức dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày càng mạnh về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện. Nhờ đó, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương, huy động hàng trăm nghìn người ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đặc biệt là cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, ở miền Nam kẻ địch xây dựng Trị - Thiên thành tuyến phòng thủ mạnh và căn cứ xuất phát để có thể tiến công miền Bắc (khi có điều kiện), ra sức ngăn chặn, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Vì vậy, Trị - Thiên trong chiến tranh chống Mỹ không chỉ là một hướng chiến trường mà còn là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trước hết là bảo vệ Quân khu 4.

Trong chiến tranh phá hoại, Quân khu 4 trở thành "tiền tuyến của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương trực tiếp của miền Nam và Trung - Hạ Lào”. Ở vị trí đó, Quân khu 4 là nơi tập kết cơ sở vật chất kỹ thuật, là đoạn cuối của hành lang chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, là bàn đạp tiến công, là đội dự bị trực tiếp của chiến trường Trị - Thiên, là nơi chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn kịp thời và có hiệu quả nhất. Vì thế nhiệm vụ của quân và dân quân khu hết sức nặng nề. Nhiệm vụ đó chi phối sâu sắc, thường xuyên về tư tưởng và tổ chức trong suốt 21 năm đánh Mỹ.

Nhờ ý thức được tầm quan trọng của địa bàn và nhiệm vụ nên Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu đã giải quyết tốt các mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu của từng khu vực cụ thể, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia cắt chiến lược của kẻ địch.

Quân khu đã biết phát huy sức mạnh của hậu phương để chi viện đắc lực cho tiền tuyến và cùng với tiền tuyến đánh bại kẻ địch để bảo vệ hậu phương, có tiến công địch mới bảo vệ được mình.

Với quan điểm "nam Quân khu 4 với Trị - Thiên là một chiến trường, bắc Quảng Trị và Vĩnh Linh là một mặt trận", nhân dân Quảng Bình, Vĩnh Linh đã vì Trị - Thiên mà không tiếc công sức, của cải và tính mạng của mình. Dân quân, du kích Quảng Bình, Vĩnh Linh và cả Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa đã “ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam” sát cánh chiến đấu cùng quân dân Trị - Thiên ruột thịt.

Với tinh thần "tiền tuyến có đánh to thắng lớn hay không là do sức mạnh chi viện của hậu phương lớn quyết định; hậu phương có đáp ứng được yêu cầu tiền tuyến hay không, vị trí đầu cầu trung chuyển của Quân khu 4 giữ vai trò quyết định", quân và dân Quân khu 4 đã dồn tất cả sức lực, tài năng, trí tuệ; bằng cả mọi phương tiện thô sơ, hiện đại, vượt lên mọi thử thách hy sinh, thực hiện bằng được quyết tâm chiến lược của Đảng là bảo đảm giao thông thông suốt, chi viện nhiều nhất, tốt nhất, nhanh nhất cho tiền tuyến đánh to thắng lớn.

Chiến tranh là cuộc đọ sức quyết liệt giữa hai bên tham chiến. Sức mạnh của tiền tuyến, chủ yếu lại bắt nguồn từ hậu phương vững mạnh. Trong những năm chiến tranh, Quân khu 4 đã giải quyết linh hoạt và thắng lợi cả hai nhiệm vụ chiến lược là chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi to lớn trên hai nhiệm vụ chiến lược ấy đã làm tăng thêm tiềm lực chính trị, kinh tế, quốc phòng ở các địa phương trong quân khu. Phong trào toàn dân đánh giặc đã tạo nên một tiềm lực quân sự rất mạnh. Lực lượng vũ trang nhân dân địa phương phát triển đến 12 phần trăm dân số (chỉ kể người cầm súng) là lực lượng tại chỗ rất hùng mạnh, có giác ngộ chính trị cao, có trình độ quân sự khá, là đội dự bị dồi dào sung sức, bổ sung cho các lực lượng chủ lực tại chỗ và các chiến trường.

Tri thức quân sự không còn là của riêng quân đội mà đã được phổ cấp cho toàn dân. Nhiều nông dân bình thường, nhiều cô gái đồng quê hiền lành, chất phác, đã trở thành "vua", "kiện tướng" phá bom như Vương Đình Nhỏ, Cao Thị Yến... Các mối quan hệ giữa chiến đấu và sản xuất, giữa động viên toàn dân và bồi dưỡng sức dân, giữa tiến lên phía trước và bảo vệ phía sau, cũng được lãnh đạo quân khu giải quyết một cách chặt chẽ, khoa học. Nhờ vậy, trong bom đạn ác liệt, nơi đây vẫn giữ vững sản xuất. Trên đất lửa Vĩnh Linh, chồng ngã xuống trên luống cày, vợ tiến lên thay chống tiếp bước. Vì sản xuất trong chiến tranh, không chỉ để giải quyết đời sống trước mắt, mà sản xuất là để thắng giặc.

Vừa động viên nhân dân tham gia kháng chiến, các đảng bộ địa phương vừa coi trọng bồi dưỡng sức dân, bảo vệ dân. Các cấp ủy và chính quyền các tỉnh trên địa bàn quân khu vừa lãnh đạo sản xuất, chiến đấu, vừa quan tâm đến chính sách lưu thông phân phối, vệ sinh phòng bệnh, giáo dục, văn hóa, văn nghệ..., tạo cho nhân dân có được cuộc sống tương đối ổn định về mọi mặt; đồng thời tích cực đôn đốc việc đào hầm hào phòng tránh và sơ tán để bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản nhân dân. Chính vì vậy, trong điều kiện chiến tranh gian khổ, tinh thần quần chúng vẫn vững vàng, lạc quan tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

Hậu phương, tiền tuyến Quân khu 4 có chung đường biên giới 1.162 ki-lô-mét với nước bạn Lào, cùng dựa lưng vào Trường Sơn, cùng chung kẻ thù, chung lý tưởng; cho nên mối đoàn kết liên minh chiến đấu là nét đẹp truyền thống và luôn là vấn đề sống còn. Từ ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, liên minh đó được bồi đáp bằng tinh thần quốc tế vô sản trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã không ngừng được củng cố và phát triển. Với tinh thần: "giúp bạn là tự giúp mình", và theo yêu cầu của bạn, Quân khu 4 đã gửi nhiều đơn vị quân tình nguyện sang cùng bạn xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng và thế trận, tạo lập căn cứ địa quan trọng Sầm Nưa - Phong Sa Lỳ trong kháng chiến chống Pháp.

Bước sang giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi đất nước Lào xẩy ra sự kiện bọn phái hữu bắt giam các lãnh tụ Pa-thét Lào, uy hiếp, tước vũ khí của lực lượng Pa-thét; theo yêu cầu của bạn và chấp hành chỉ thị của Bộ, Quân khu 4 đã kịp thời hỗ trợ cho tiểu đoàn 2 Lào vượt vòng vây về tập kết ở miền tây Nghệ An. Quân khu còn tiếp tục giúp bạn củng cố lực lượng, huấn luyện quân sự, chuẩn bị trở về nước chiến đấu.

Từ những năm hậu phương Khu 4 còn có hòa bình đến khi trở thành trọng điểm đánh phá, ngăn chặn của không quân và hải quân Mỹ, nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu luôn luôn sát cánh cùng bạn Lào; gian khổ, ác liệt, đói no có nhau: "hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa", cùng chống kẻ thù chung vì sự nghiệp cách mạng của mỗi nước.

Kết hợp chặt chẽ hậu phương với tiền tuyến, dân tộc và quốc tế là một trong những quy luật để tồn tại, phát triển và chiến thắng của quân và dân Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #131 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:38:47 pm »


4. Xây dựng Đảng vững mạnh, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân tộc ta đương đầu với những kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần, nhưng cuối cùng chúng ta đã giành được thắng lợi rất vẻ vang. Có nhiều nhân tố chủ quan, khách quan tạo nên sức mạnh để nhân dân ta đánh thắng kẻ thù, nhưng nhân tố có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hò Chí Minh và vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Đảng có đường lối đúng, tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát và có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong gương mẫu trên tất cả các mặt trận sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Luôn ý thức được Đảng Cộng sản Việt Nam - người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Đảng bộ quân khu và các địa phương không ngừng chăm lo xây dựng đảng lớn mạnh về mọi mặt. Công tác xây dựng đảng đã được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, cả chính trị, tư tưởng, tổ chức, từ trên xuống dưới, từ cấp ủy các cấp đến từng đảng viên. Quân khu đặc biệt coi trọng xây dựng đảng bộ cơ sở và chi bộ, làm cho cơ sở, chi bộ, có khả năng lãnh đạo toàn diện, vững vàng, chủ động giải quyết những vấn đề cấp bách trong tình huống chiến tranh ác liệt, gian khổ. Ở Quảng Bình, Đảng bộ tỉnh quy định đảng viên được quần chúng bình bầu "Hai giỏi", mới được công nhận là đảng viên “Bốn tốt". Đảng bộ Vĩnh Linh gắn việc xây dựng đảng với phong trào cách mạng quần chúng, vận dụng các tiêu chuẩn "Bốn tốt" để xây dựng chi bộ và đảng bộ "thép"...

Sức mạnh của Đảng là ở khối đoàn kết nhất trí giữa Đảng và quần chúng. Không đoàn kết được quần chúng, không dựa vào quần chúng thì Đảng ta mất sức chiến đấu. Trong chiến tranh ác liệt, quần chúng đã góp hàng nghìn sáng kiến trên nhiều lĩnh vực, giải quyết được những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi.

Sự đoàn kết nhất trí ấy còn phải được bắt nguồn từ sự đoàn kết giữa tổ chức đảng quân khu và đảng bộ các địa phương với tinh thần: cùng bàn, cùng làm, cùng chịu trách nhiệm. Ở địa bàn Quân khu 4 trong chiến tranh chống Mỹ, mặc dù không có Khu ủy lãnh đạo thống nhất, nhưng giữa Quân khu ủy và cấp ủy các địa phương đã xây dựng được mối quan hệ đoàn kết thống nhất lãnh đạo, trên cơ sở vì thắng lợi chung mà chủ động tìm đến bàn bạc về cả hai phía, chân thành lắng nghe ý kiến lẫn nhau để có sự nhất trí về các chủ trương, kế hoạch, nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho quân khu và các địa phương trong quân khu. Sự đoàn kết nhất trí được thử thách qua lửa đạn chiến tranh, khó khăn, thiếu thốn, đã trở thành truyền thống vô cùng quý báu.

Ở Trị - Thiên, tuyến đầu của tiền tuyến lớn – một trong những chiến trường khốc liệt nhất, thì mọi thử thách nặng nề, gay gắt nhất của chiến tranh trước tiên đều nhằm vào tổ chức đảng. Với mưu đồ hòng vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng, kẻ thù đã tập trung mọi khả năng quét sạch toàn bộ cơ sở đảng ở nơi đây, tách dân ra khỏi Đảng. Cao điểm của những hành động khủng bố, đàn áp dã man, tàn bạo của kẻ thù tập trung vào những năm 1956-1957 (sau Hiệp định Giơ-ne-vơ) và 1968 - 1969 (sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân). Trên thực tế, ta cũng đã gặp những khó khăn và chịu bao tổn thất tưởng chừng không gượng nổi. Khó có thể nói hết những gian khổ, hy sinh của những đảng viên bám đất, bám dân, nhen nhóm từng "ngọn lửa" nhỏ cách mạng từ trong vùng địch kiểm soát. Nhưng cũng chính từng "ngọn lửa" nhỏ nhoi đó đã bùng cháy thành biển lửa dữ dội, thiêu rụi quân thù, giải phóng quê hương. Đó chính là mối quan hệ sinh tồn, phát triển giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng, mà người đảng viên của Đảng đã nắm chắc ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt 30 nam đấu tranh cách mạng, quan hệ đó ngày càng được củng cố, tạo nên sức mạnh mà không thể thủ đoạn thâm độc, tàn bạo nào của kẻ thù có thể phá vỡ nổi.

Một nét rất đáng tự hào là Đảng bộ Trị - Thiên đã hết sức chăm lo việc phát triển đảng vào vùng dân tộc ít người, xây dựng nên tổ chức đảng ở miền núi, gồm những con người được giác ngộ tuyệt đối trung thành với cách mạng làm nòng cốt, tổ chức miền núi thành một vùng căn cứ cách mạng vững mạnh đóng vai trò quyết định trong việc giành quyền làm chủ ở căn cứ địa miền tây, chỗ dựa sống còn của cách mạng và kháng chiến ở Trị - Thiên.

Quá trình phát triển chiến tranh cũng là quá trình phát triển của đảng bộ với đội ngũ đảng viên đã được tôi luyện từ trong khói lửa của địa phương cùng với một đội ngũ hùng hậu được tăng cường từ Quân khu 4, từ miền Bắc vào, tạo thành lực lượng lãnh đạo và chiến đấu, có sức mạnh về tinh thần, ý chí, trí tuệ, có năng lực toàn diện, đủ sức đương đầu với mọi thử thách, giải quyết được những nhiệm vụ ngày càng khó khăn, phức tạp, đưa cuộc chiến đấu của chiến trường Trị - Thiên từ phát triển chậm đến tiến kịp và có lúc còn là tiêu biểu của các chiến trường.

Nhờ không ngừng tăng cường sự lãnh đạo thường xuyên của các cấp ủy Đảng và phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; củng cố khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng với quần chúng mà những năm chiến tranh ác liệt, hàng triệu đảng viên, quần chúng đã vì lý tưởng của cách mạng, vì lòng yêu nước, thương dân đã tự giác đối đầu với kẻ thù, góp phần tạo nên thắng lợi của quê hương, của dân tộc.

*

*       *

Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc, đánh dấu một chặng đường lịch sử chiến đấu, chiến thắng đầy huy hoàng của dân tộc Việt Nam, đồng thời để lại trên địa bàn Khu 4 những trang sử đẹp đẽ.

Ngày xưa, Khu 4 từng là "địa linh, nhân kiệt". Trong thời đại Hồ Chí Minh, mà đặc biệt là suốt 30 năm kháng chiến anh dũng, trên mảnh đất này, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam lại có bước phát triển rực rỡ. Qua hai cuộc kháng chiến, hàng trăm nghìn tên xâm lược bị tiêu diệt, hàng nghìn máy bay Mỹ bị bắn rơi... Từ thực tiễn ác liệt của cuộc chiến đấu nơi đây đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân anh hùng, dũng sĩ.

Quân và dân Khu 4 nhận thức sâu sắc rằng: thắng lợi này trước hết thuộc về Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không có thắng lợi nào của quân và dân Khu 4 tách rời sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân Trị - Thiên - Huế xứng đáng với tám chữ vàng "Tiến công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường" do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng. Quân và dân Quân khu 4, cũng hết sức vinh dự với lời khen của Bác Hồ: "Quân và dân Quân khu 4 rất xứng đáng là tuyến đầu của miền Bắc anh dũng".

Lịch sử là sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai. Càng tự hào và trân trọng truyền thống vẻ vang, quý báu của quê hương, quân và dân Quân khu 4 càng đoàn kết, nhất trí, khắc phục thiên tai, nghèo nàn lạc hậu, từng bước xây dựng quân khu giàu về kinh tế, vững về quốc phòng, an ninh, góp phần cùng cả nước xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #132 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:39:41 pm »


PHỤ LỤC

"HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ MAC NA-MA-RA"

Tuyến "hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra" bắt đầu thiết lập từ những tháng cuối năm 1966, chạy dọc theo đường số 9, từ bờ biển kéo lên biên giới Việt - Lào, qua Sê Pôn, Mường Phìn, tổng chiều dài 100 ki-lô-mét, chiều rộng 30 ki-lô-mét.

Đây là sáng kiến của Mac Na-ma-ra, bộ trưởng quốc phòng Mỹ và là công trình đồ sộ, thu hút nhiều tiền, vật tư - kỹ thuật và nhân lực của nước Mỹ.

Mac Na-ma-ra cho rằng, các chiến dịch ném bom mở rộng không có khả năng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, cần có giải pháp thay thế, đó là việc xây dựng một "hàng rào điện tử", một cuộc "chiến tranh điện tử", một "chiến trường tự động hóa" ngăn chặn triệt để nguồn tiếp tế đối phương.

Hàng rào được bố trí thành hai hệ thống chống xâm nhập: hệ thống chống hành quân bộ và hệ thống chống hoạt động vận tải. Các nhà khoa học Mỹ đã sáng tạo ra một hệ thống máy cảm ứng địa chấn, cảm ứng âm thanh, được máy bay thả xuống khắp núi rừng, mệnh danh là những kẻ "gác đường tin cậy" và còn được gọi là "cây nhiệt đới" (loại thiết bị này được ngụy trang như những mầm cây, dùng truyền bắt cả âm thanh và tiếng động. Có loại còn truyền bắt cả mùi của mồ hôi người và nước tiểu). Cộng vào đó là máy bay tuần tra suốt 24 giờ trong ngày, máy bay C.130 còn thả hàng nghìn tấn hóa chất trên các đoạn đường để làm nhão đất, nhằm biến đường giao thông thành những suối bùn...

Cùng với hệ thống trinh sát, chỉ huy tối tân, là những loại vũ khí giết người rất tinh vi.

- Bom WAARM là loại bom hình tròn, có rãnh. Các trái bom chứa trong bom mẹ. Bom mẹ rơi, bom con tự quay lên cò và rải đều trên mặt đất. Chỉ cần chạm nhẹ bom sẽ nổ và gây sát thương.

- Bom MIG - bom mẹ, có 182 bom con; rải xuống nổ ngay; có khả năng sát thương hàng trung đội.

- Bom BLU31 - được ném cắm sâu vào lòng đất, khi có tác động của xe cơ giới, bom sẽ nổ và có sức công phá lớn.

- Bom PAVE PALIL, là loại bom có dù. Khi ném từ máy bay xuống, bom nổ cách mặt đất sáu mét, tạo một áp suất lớn, quét sạch mọi vật dưới mặt đất trong diện tích 1.000 mét vuông.

- Bom răng rồng, bom túi, bom lá cây..., để sát thương người.

- Bom điện quang, tự quay đến mục tiêu để tăng khả năng sát thương.

- Bom dẫn bằng "la-đe" còn gọi là "bom khôn ngoan"...

Để xây dựng hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra, chính phủ Mỹ đã chi trên một tỷ đô-la. Các phóng viên, báo chí Mỹ phô trương đây là "Magiaot phương đông" - một chiến tuyến bất khả xâm phạm.

Thực tế lịch sử khẳng định: không một thủ đoạn thâm độc, không một loại binh khí kỹ thuật tối tân nào của địch có thể ngăn chặn được sức mạnh, ý chí của con người Việt Nam quyết giành độc lập, tự do, thực hiện thống nhất Tổ quốc. Tướng Mỹ - Tay-lo đã cay đắng thú nhận rằng: "Không có cách gì có thể ngăn cản nổi sự thâm nhập ngày càng tăng của đối phương".

Hàng rào điện tử Mac Na-ma-ra đã bị vô hiệu hóa bởi trí thông minh, lòng quả cảm của những con người Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #133 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:40:19 pm »


NGÃ BA ĐỒNG LỘC

Ngã ba Đồng Lộc là giao điểm giữa quốc lộ số 15 và tỉnh lộ số 2 thuộc vùng đất đồi Can Lộc, Hà Tĩnh, năm lọt giữa ba ngọn núi thấp: núi Trọ Voi ở phía đông-bắc, núi Mũi Mác ở phía tây-nam và núi Môi ở phía đông.

Sau khi cầu Cổ Ngựa bị địch đánh sập và cả tuyến đường số 1 bị phá hoại nặng nề, ngã ba Đồng Lộc trở thành “yết hầu" của tuyến giao thông vận tải từ Bắc vào Nam. Đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn không quân đánh phá để cắt đứt con đường huyết mạch này. Qua hai lần đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, nơi đây đã phải chịu đựng hơn 2.057 trận bom. Mỗi mét vuông đất ở khu vực ngã ba phải chịu đựng từ ba tới năm quả bom các loại.

Ngã ba Đồng Lộc là nơi diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa ý chí, trí tuệ của con người Việt Nam và bom đạn của đế quốc Mỹ.

Ở ngã ba nhỏ bé này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân dũng cảm kiên cường trên mặt trận bảo đảm giao thông, chống địch đánh phá, ngăn chặn.

Tiểu đội thanh niên xung phong Võ Thị Tần gồm 10 nữ (hai đảng viên, tám đoàn viên), làm nhiệm vụ san lấp hố bom, làm đường, đào hầm trú ẩn, bảo đảm an toàn cho xe và người qua ngã ba. Có ngày chỉ trong năm giờ, địch đánh xuống đây bốn trận, giội hàng trăm tấn bom, nhưng cả tiểu đội đều không rời vị trí chiến đấu. Đây là một tập thể luôn luôn nêu cao tinh thần thương yêu đùm bọc lẫn nhau, nhường áo, sẻ cơm, động viên nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù.

Ngày 24 tháng 7 năm 1968, sau 18 lần địch đánh phá ác liệt vào ngã ba Đồng Lộc, cả 10 cô gái vẫn trụ bám kiên cường, giữ vững mạch máu giao thông và đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Năm 1972, tiểu đội thanh niên xung phong Võ Thị Tần đã được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng.

Để kịp thời đối phó với thủ đoạn ném bom của địch, một tổ quan sát bom được bố trí ở ngã ba Đồng Lộc do La Thị Tám làm tổ trưởng. Tổ có ba người, suốt 24 tiếng đồng hồ trong ngày phải thay nhau theo dõi hoạt động của máy bay địch, đếm số bom rơi và quan sát vị trí của nó. Ban ngày, các chiến sĩ trong tổ cắm tiêu báo hiệu cho xe biết để tránh bom nổ chậm và để phá gỡ; ban đêm, họ dùng đèn, súng làm tín hiệu, dẫn dắt xe nhanh chóng vượt qua nơi nguy hiểm. Làm việc dưới bom đạn, nhưng cả tổ vẫn bình tĩnh, lạc quan. La Thị Tám đã cùng tổ cắm tiêu hơn 500 quả bom tại ngã ba Đồng Lộc và 203 quả bom tại Thượng Gia - Cổ Ngựa. Chị đã 23 lần bị bom nổ vùi dập... Ngày 22 tháng 12 năm 1969, La Thị Tám vinh dự được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngã ba Đồng Lộc còn nổi danh bởi tổ phá bom Vương Đình Nhỏ (phòng quân sự ty giao thông Hà Tĩnh). Rà phá bom ở khu vực máy bay địch không ngừng đánh phá là điều hết sức nguy hiểm, nhưng điều gây không ít khó khăn cho tổ là sự thay đổi chiến thuật ném bom, sự xuất hiện nhiều loại bom mới. Một yêu cầu đặt ra là làm sao hạn chế tối đa việc phá bom để bảo vệ đường. Tổ phá bom Vương Đình Nhỏ chấp nhận phương án táo bạo nhưng vô cùng nguy hiềm là tháo gỡ bom. Trường hợp phải cho bom nổ thì phải đánh bằng phương pháp nổ hai lần. Lần một cho bom từ lòng đất bắn lên trên không, và lần hai, từ trên không bom được nổ tung. Sáng kiến đó của Vương Đình Nhỏ đã được sử dụng hiệu quả. Không một ai trong tổ phá bom của Vương Đình Nhỏ được đào tạo về kỹ thuật phá bom. Toàn tổ vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Bằng ý chí và trí thông minh, những chiến sĩ phá bom ở ngã ba Đồng Lộc đã từng bước làm chủ được kỹ thuật. Một mình Vương Đình Nhỏ đã tháo gỡ và phá gần 200 quả bom nổ chậm.

Trong điều kiện hết sức khó khăn nguy hiểm, tổ máy gạt do Uông Xuân Lý phụ trách đã bám trụ suốt ngày đêm trên trọng điểm, kịp thời san lấp những đoạn đường bị bom phá hỏng. Có lần, tổ phải xử lý một quả bom từ trường ngay ở giữa ngã ba, giải phóng đường cho cả đoàn xe đang ùn tắc. Uông Xuân Lý xung phong dùng máy xúc để đưa quả bom đó ra xa. Biết việc mình làm rất nguy hiểm, nhưng với quyết tâm và lòng dũng cảm, Lý nói với anh em trong tổ: "Tôi còn trẻ, chưa có vợ con, để tôi làm". Người con trai “đất lửa" Kỳ Anh ung dung, tự tin ngồi vào sau cần gạt đối mặt với tử thù. Quả bom được máy gạt của anh đẩy ra xa 40 mét. Khi xe của Uông Xuân Lý lùi lại được nửa đường thì bom nổ. Sức ép của bom làm Uông Xuân Lý ngất đi, nhưng đường đã thông, cả đoàn xe tiếp tục qua ngã ba Đồng Lộc, đem hàng ra tiền tuyến.

Khó có nơi nào trên miền Bắc, sự căng thẳng, khốc liệt của bom đạn kẻ thù lại kéo dài như ở ngã ba Đồng Lộc. Bom, đạn thù hủy diệt không còn một ngọn cỏ, nhành cây. Nhưng chính nơi đây những con người bình thường đã trụ bám kiên cường đánh địch và đã lập được những chiến công kỳ diệu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #134 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:41:00 pm »


THƯ CỦA VÕ THỊ TẦN GỬI VỀ THĂM MẸ

Đồng Lộc, ngày 20-7-1968

Mẹ kính yêu của con!

Ngày mai, chị Thúy về nhận thực phẩm sẽ ghé vào nhà ta. Con viết mấy dòng gửi về thăm mẹ.

Mấy hôm nay giặc Mỹ đánh hơn dạo trước, chắc là mẹ lo cho chúng con nhiều? Đừng có lo mẹ ạ! Ở đây vui lắm! Ban đêm, chúng đến thắp đèn để chúng con làm đường. Ban ngày, chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom đạn chúng làm rung chuyển đồi núi, nhưng không thể làm rung chuyển trái tim chúng con. Bom đạn chúng có thể làm nát ngã ba, nhưng không thể làm một xe nào mất lối. Thằng Mỹ còn hung hăng, con còn nhiều chuyện kể mẹ nghe thất bại của chúng trên mảnh đất bé nhỏ này.

Mẹ ơi, thời gian này mặc dầu địch đánh phá ác liệt, nhưng bọn con vẫn tập được nhiều bài hát mới. Quyển số tay mẹ gửi dạo nọ, con ghi đã gần hết rồi, mẹ nói Tửu cho con một ít giấy.

Mẹ, mới về thăm mẹ đó mà con thấy nhớ mẹ quá! Mẹ dạo này có khỏe không? Giờ đây, cũng như bao lần con khuyên mẹ hãy giữ gìn sức khỏe và đừng lo cho con nhiều. Còn con thì dạo về đến nay vẫn khỏe, công tác tốt. Các chị em trong đơn vị cũng thế. Lần đầu tiên được giao làm tiểu đội trưởng, con thấy bỡ ngỡ quá, nhưng nay nhờ sự giúp đỡ của chị em và sự cố gắng của bản thân nên đã quen dần. Mấy ngày nay, con còn đang chuẩn bị tổng kết cuối tháng.

Tửu! Tình hình học tập của em ra sao, có tốt không? Cho chị biết với. Chị nhắc em phải tranh thủ thay chị giúp mẹ, đừng bắt mẹ làm nhiều mà tội.

Các chị em trong đơn vị gửi lời thăm hỏi sức khỏe mẹ đó. Cho con gửi lời hỏi thăm sức khỏe cậu, mự cùng các cháu và bà con xung quanh.

Thôi mẹ nhé!

Con của mẹ
Chị của em

TẦN
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #135 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:46:07 pm »


 
ĐÓNG GÓP CỦA HẬU PHƯƠNG THANH - NGHỆ - TĨNH TRONG KHÁNG CIIIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Từ năm 1965 đến 1975, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã động viên 405.161 thanh niên vào quân đội, 42.449 người tham gia thanh niên xung phong. Năm 1968, Thanh Hóa có 30.200 thanh niên vào quân đội, có gia đình có người con thứ tám đi bộ đội, có xã giao hẳn một đại đội, có huyện giao hẳn một trung đoàn. Nghệ An, Hà Tĩnh có 104 gia đình có năm con nhập ngũ, bảy gia đình có sáu con nhập ngũ, 192 gia đình cả cha và con cùng tại ngũ. Mẹ Tính, xã Sơn Trường có chín con đi bộ đội. Cụ Ngô Phúc Hợp (Thạch Thanh, Thạch Hà) có bảy con trai đi bộ đội và ba con dâu đi thanh niên xung phong. Mẹ Nguyễn Thị Hợp (Hưng Lộc, Vinh) có sáu con, tất cả đều lên đường chống Mỹ. Cụ Võ Tá An (Thạch Hà), mẹ Nguyễn Thị Luận (Nghi Lâm, Nghi Lộc), ông Trần Văn Quán (Mỹ Thành, Yên Thành) theo đạo Thiên chúa có năm con nhập ngũ. Xã Minh Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) gồm 500 gia đình, có tới 300 thanh niên vào quân đội. Xã Cẩm Nhượng (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) có 600 bộ đội tại ngũ. Các xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), Diễn Bình (Diễn Châu), Thạch Linh (Thạch Hà), Tùng Ảnh (Đức Thọ)..., là những xã liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyển quân và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

Đầu năm 1965, với khẩu hiệu "Tuổi trẻ quê hương Trần Phú, Lý Tử Trọng sẵn sàng lên đường diệt Mỹ", chỉ một tháng, Hà Tĩnh đã có 70 nghìn đảng viên, đoàn viên, thanh niên, dân quân, tự vệ viết đơn tình nguyện nhập ngũ, 258 xã trong tỉnh sục sôi phong trào "2 nguyện, 5 cử" (bản thân tự nguyện, gia đình tự nguyện; Đảng cử, đoàn cử, dân quân tự vệ cử, hợp tác xã, xí nghiệp cử, gia đình cử).

Mẹ Nguyễn Thị Trực xã Thạch Hưng, cử bốn con trai và một con gái nhập ngũ. Khi được tin hai con trai hy sinh, mẹ cùng chồng lên ủy ban hành chính xã, tha thiết cử thêm một con trai, một con gái và một con dâu tiếp tục lên đường chống Mỹ, cứu nước...

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh có 77.384 liệt sĩ, 25.235 thương binh. Riêng Thanh Hóa có 33.463 liệt sĩ và 14.428 thương binh.

Trên nghĩa trang Trường Sơn (Quảng Trị), có 10.036 mộ liệt sĩ. Trong đó, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh có 3.139 mộ (Thanh Hóa 1.099, Nghệ An 1.262, Hà Tĩnh 778).

 

CÁC ĐƠN VỊ VÀ CÁ NHÂN ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

ĐƠN VỊ

- Tuyên dương năm 1967:

1. Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ.
2. Đại đội 32 (đảo Cồn Cỏ).
3. Đại đội 9 đoàn 565.
4. Dân quân xã Vĩnh Giang (Vĩnh Linh).
5. Dân quân du kích xã Triệu Hải (Triệu Phong, Quảng Trị).
6. Dân quân Tây Thôn xã Ngư Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình).

- Tuyên dương năm 1968:

7. Trung đoàn 214 pháo cao xạ.
8. Tiểu đoàn 6 pháo cao xạ Vĩnh Linh.
9. Tiểu đoàn 1 trung đoàn 164 pháo binh.
10. Đại đội 1 vận tải Cục Hậu cần Quân khu 4.
11. Tự vệ phà Bến Thủy (thành phố Vinh).
12. Dân quân xã Võ Ninh (Quảng Bình).
13. Dân quân xã Vĩnh Thủy (Vĩnh Linh).
14. Dân quân xã Hương Trạch (Hà Tĩnh).

- Tuyên dương năm 1969:

15. Tiểu đoàn 10 đặc công (Quảng Trị).
16. Đại đội 1 tiểu đoàn 75 (B5).
17. Đại đội 6 tiểu đoàn 75 (B5).
18. Đại đội 11 pháo binh (B5).
19. Đại đội 1 đoàn 1A (đoàn 126) đặc công hải quân (B5).
20. Đại đội 1 tiểu đoàn 7 trung đoàn 270.
21. Đại đội 2 tiểu đoàn 27 công binh Quân khu 4.
22. Đại đội 15 vận tải (B5).
23. Đại đội 1 tiểu đoàn 1 trung đoàn 414 công binh.
24. Dân quân xã Vĩnh Quang (Vĩnh Linh).
25. Dân quân xã Quảng Phúc (Quảng Bình).
26. Dân quân du kích xã Do Hải (Quảng Trị).

- Tuyên dương năm 1970:

27. Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ (tuyên dương lần thứ hai).
28. Tiểu đoàn 75 súng máy 12,7 ly (B5).
29. Đại đội 32 (đảo Cồn Cỏ, tuyên dương lần thứ hai).
30. Đại đội 13 pháo binh trung đoàn 270.
31. Đại đội 1 bộ binh đoàn 968.
32. Đại đội 20 quân y trung đoàn 270.
33. Dân quân xã Hưng Dũng (Hưng Nguyên - Nghệ An).
34. Đơn vị tự vệ nữ 404 đường goòng.

- Tuyên dương năm 1971:

35. Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy (Lệ Thủy - Quảng Bình).
36. Dân quân xã Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh).
37. Dân quân xã Tiến Hóa (Tuyên Hóa - Quảng Bình).
38. Đội nữ dân quân xã Kỳ Phương (Kỳ Anh - Hà Tĩnh).
39. Dân quân du kích xã Cam Chính (Cam Lộ - Quảng Trị).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #136 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:47:49 pm »


- Tuyên dương năm 1972:

40. Tiểu đoàn 27 công binh Quân khu 4.
41. Tiểu đoàn 8 pháo cao xạ (Hà Tĩnh).
42. Tiểu đoàn 15 trung đoàn 4 (Quân khu Trị - Thiên).
43. Tiểu đoàn 32 đặc công (Quân khu Trị - Thiên).
44. Tiểu đoàn 8 bộ binh (Quảng Trị).
45. Tiểu đoàn 1 đặc công (Thừa Thiên).
46. Tiểu đoàn 2 đặc công (Thừa Thiên).
47. Đại đội 8 pháo binh (Quảng Bình).
48. Đại đội 32 (đảo Mắt - Nghệ An).
49. Đại đội 4 biệt động (Do Linh - Quảng Trị).
50. Đại đội 14 công binh (Quân khu Trị - Thiên).
51. Đại đội 4 vận tải tiểu đoàn 32 (Quân khu Trị - Thiên).
52.  Đội điều trị Cục Hậu cần (Quân khu Trị - Thiên).
53. Dân quân xã Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh).
54. Dân quân xã Lộc Ninh (Quảng Bình).
55. Dân quân du kích xã Trung Giang (Do Linh - Quảng Trị).
56. Dân quân du kích xã Hải Phú (Quảng Trị).
57. Dân quân du kích xã Phong Thu (Thừa Thiên).
58. Dân quân du kích xã Phú Trạch (Thừa Thiên).
59. Dân quân du kích xã Mỹ Thủy (Hương Thủy - Thừa Thiên).

- Tuyên dương năm 1973:

60. Trung đoàn 6 (Quân khu Trị - Thiên).
61. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 4 (Quân khu Trị - Thiên).
62. Tiểu đoàn 3 (Quảng Trị).
63. Tiểu đoàn 12 đặc công (Quân khu Trị - Thiên).
64. Đại đội 12 trung đoàn 166.
65. Đọi đội 211 trung đoàn 218.
66. Đại đội 10 pháo binh (Quảng Bình).
67. Đại đội 442 pháo binh (Hà Tĩnh).
68. Ban ngoại 1 viện quân y 41.
69. Đại đội 69 vận tải (Cục Hậu cần Quân khu 4).
70. Đại đội 12 đặc công trung đoàn 6 (Quân khu Trị - Thiên).
71. Dân quân xã Hướng Lập (Vĩnh Linh).
72. Dân quân xã Phong Thủy (Lệ Thủy - Quảng Bình).
73. Dân quân du kích xã Hải Thượng (Hải Lăng - Quảng Trị).
74. Dân quân du kích xã Trung Hải (Do Linh - Quảng Trị).
75. Dân quân xã Kỳ Tân (Kỳ Anh - Hà Tĩnh).
76. Dân quân xã Nghi Hương (Nghi Lộc - Nghệ An).

- Tuyên dương năm 1974:

77. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 218.
78. Đại đội 3 tiểu đoàn 13 đặc công.
79. Đại đội 3 tiểu đoàn 26 thông tin.
80. Đại đội 3 tiểu đoàn 9 Quảng Bình.
81. Đại đội 33 (đảo Ngư - Nghệ An).
82. Dân quân xã Quỳnh Long (Quỳnh Lưu - Nghệ An).
83. Dân quân xã Trung Trạch (Quảng Bình).
84. Dân quân xã Đức Ninh (Quảng Bình).

- Tuyên dương năm 1975:

85. Tiểu đoàn 804 (Quân khu Trị - Thiên).
86. Đội biệt động quận Hữu, thành phố Huế.

- Tuyên dương năm 1976:

87. Tiểu đoàn 814 (Quảng Trị).
88. Đại đội 15 trung đoàn 6.
89. Đại đội 12 (Thừa Thiên).
90. Đại đội 94 (Quảng Xương - Thanh Hóa).
91. Đại đội 4 pháo cao xạ Hàm Rồng.
92. Dân quân xã Cảnh Dương (Quảng Bình).
93. Dân quân du kích xã Triệu Trạch (Quảng Trị).
94. Dân quân du kích xã Triệu Thượng (Quảng Trị).
95. Dân quân du kích xã A Túc (Quảng Trị).
96. Dân quân xã Phú Thủy (Quảng Bình).
97. Dân quân xã Thông Thụ (Nghệ An).
98. Đại đội dân quân Nam Ngạn (thị xã Thanh Hóa).
99. Trung đội lão dân quân xã Hoằng Trường (Hoằng Hóa - Thanh Hóa).
100. Bộ đội đảo Mê (Thanh Hóa).
101. Trung đội nữ dân quân xã Hoa Lộc (Hậu Lộc - Thanh Hóa).
102. Dân quân xã Thanh Thủy (Thanh Hóa).

- Tuyên dương năm 1978:

103. Sư đoàn 324.
104. Trung đoàn 1 sư đoàn 324.
105. Trung đoàn 3 sư đoàn 324.
106. Trung đoàn công binh 14 đoàn 565.
107. Tiểu đoàn 7 trung đoàn 3 sư đoàn 324.
108. Tiểu đoàn 4 trung đoàn 2 sư đoàn 324.
109. Tiểu đoàn 10 trung đoàn 4 sư đoàn 324.
110. Tiểu đoàn 16 (súng máy 12,7 ly) sư đoàn 324.
111. Tiểu đoàn 33 trung đoàn công binh 14 đoàn 565.
112. Đại đội 17 (trung đoàn 1 sư đoàn 324).
113. Đại đội 17 (trung đoàn 2 sư đoàn 324).
114. Đại đội 2 (tiểu đoàn 10 sư đoàn 324).
115. Đại đội 3 (tiểu đoàn 16 sư đoàn 324).
116. Đại đội 1 tiểu đoàn 7 trung đoàn 39 đoàn 565.
117. Đại đội 211 (trung đoàn 245 đoàn 565).
118. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
119. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Nghệ An.
120. Lực lượng với trang nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
121. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Bình.
122. Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Trị.
123. Lực lượng vũ trang nhân dân khu vực Vĩnh Linh.
124. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa.
125. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An.
126. Lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Vinh - Nghệ An.
127. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
128. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Hướng Hóa - Quảng Trị.
129. Dân quân du kích xã Phong Chương (Thừa Thiên).
130. Dân quân du kích xã Quảng Thái (Hương Điền - Thừa Thiên).
131. Dân quân du kích xã Thủy Thanh (Hương Phú - Thừa Thiên).
132. Dân quân du kích xã Phú Hồ (Hương Phú - Thừa Thiên).
133. Dân quân du kích xã Lộc Tụ (Phú Lộc - Thừa Thiên).
134. Dân quân du kích xã Hồng Quảng (A Lưới - Thừa Thiên).

- Tuyên dương năm 1979:

135. Lực lượng vũ trang nhân dân Thừa Thiên - Huế.
136. Lực lượng vũ trang nhân dân miền tây Thừa Thiên.

- Tuyên dương năm 1985:

137. Trung đoàn 335 sư đoàn 324.
138. Trung đoàn 273 sư đoàn 341.
139. Tiểu đoàn 41 đặc công Quân khu 4.

- Tuyên dương năm 1989:

140. Tiểu đoàn 5 trung đoàn 9 sư đoàn 968.
141. Tiểu đoàn 34 (sư đoàn 324)1.
____________________________________________
1. Các đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân xếp thứ tự từ 87 đến 141, tuyên dương sau năm 1975, nhưng cơ sở để xét tặng danh hiệu cao quý đó là những thành tích mà các đơn vị đã lập được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #137 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2024, 08:57:06 pm »

CÁ NHÂN

1. Nguyễn Viết Xuân (liệt sĩ)
2. Nguyễn Huy Hồng (liệt sĩ)
3. Phạm Ngọc Khánh (liệt sĩ)
4. Nguyễn Bá Vanh (liệt sĩ)
5. Phan Thanh Chung (liệt sĩ)
6. Nguyễn Viết Phong (liệt sĩ)
7. Trần Tiến Lực (liệt sĩ)
8. Trần Thị Tâm (liệt sĩ)
9. Võ Trọng Thiện (liệt sĩ)
10. Nguyễn Văn Chư (liệt sĩ)
11. Biện Văn Thanh (liệt sĩ)
12. Dương Quang Bổ (liệt sĩ)
13. Nguyễn Hùng Lễ (liệt sĩ)
14. Thái Vân A
15. Nguyễn Văn Mật
16. Nguyễn Hữu Ngoãn
17. Dương Chí Uyển
18. Cao Văn Khang
19. Đỗ Trọng Ngân
20. Trần Thị Lý
21. Lê Văn Ban
22. Đặng Văn Đài
23. Lê Đăng Tới
24. Hồ Vai
25. Hồ Dục
26. Can Lịch
27. Nguyễn Chí Phi
28. Nguyễn Thị Lài
29. Nguyễn Thị Thanh
30. A Nun
31. Cao Tất Đắc
32. Ngô Thị Tuyển
33. Trương Thị Khuê
34. Nguyễn Hữu Quyền
35. Cao Lương Bằng
36. Trần Ngọc Mật
37. La Thị Tám
38. Nguyễn Văn Nuôi
39. Hoàng Kim Nông
40. Đoàn Minh Nguyệt
41. Nguyễn Văn Mạo
42. Đỗ Văn Chuyền
43. Nguyễn Thị Bằng
44. Đặng Đình Chí
45. Lê Văn Long
46. Bùi Hạnh
47. Nguyễn Thái Giám
48. Bùi Thị Thiêm
49. Trương Văn Đo
50. Nguyễn Văn Thái
51. Hồ Soi
52. Trịnh Tố Tâm
53. Văn Thị Xuân
54. Trương Quang Thọ
55. Hán Duy Long
56. Lê Thị Thu Hạnh
57. Lê Thị Tám
58. Hà Quang Đinh
59. Phạm Văn Thọ
60. Phan Châu Mỹ
61. Đặng Văn Lồi
62. Nguyễn Đức Nghĩa
63. Lê Thị Mịch
64. Hoàng Ngọc Chương
65. Đặng Trung Thành.


Hết!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM