Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57095 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:24:11 pm »


Tại cảng Gianh, lúc 14 giờ 47 phút ngày 2 tháng 3, địch cho 164 lần chiếc máy bay chia thành nhiều tốp, từ nhiều hướng khác nhau ồ ạt tiến công căn cứ hải quân, đánh phá ngư trường và các thôn Mỹ Hòa (Quảng Phúc), Bắc Hải (Thanh Trạch).

Các tàu 161, 177, 171, 173, 175, đại đội 24 và đại đội 47 (thuộc lực lượng hải quân), tự vệ ngư trường, dân quân Quảng Phúc, Quảng Thuận, Thanh Trạch tập trung hỏa lực đánh trả quyết liệt. Giữa khói đạn mù mịt, các chiến sĩ dân quân xông vào dập lửa, cứu doanh trại hải quân. Tự vệ ngư trường phía nam sông Gianh bơi qua sông rộng gần 1.000 mét, phối hợp chiến đấu với hải quân. Nhân dân Quảng Phúc đưa thuyền ra áp sát mạn tàu, chuyển thương binh vào bờ cấp cứu. Thầy giáo và học sinh xóm Quán dũng cảm lao vào dập lửa, bảo đảm kho đạn an toàn. Các chiến sĩ dân quân Quảng Thuận, Quảng Phúc, Thanh Trạch kịp thời cơ động đến chi viện cho các tàu hải quân. Khi các chiến sĩ hải quân bị thương vong, anh chị em dân quân đã theo thuyền tiếp đạn của cụ Lê Hiến và của một số ngư dân khác ra tàu thay thế các pháo thủ chiến đấu.

Kết thúc trận đánh, bảy máy bay (gồm A4 và F8) của địch bị bắn rơi. Nhưng phía ta, doanh trại bộ đội và nhà cửa nhân dân xóm Cửa bị bom đạn Mỹ phá nát. Nhân dân thôn Đan Sa, Diên Phúc chuyển ngay 3.000 cây tre đến giúp bà con xóm Cửa dựng lại nhà ở. Cụ Lê Hiến, một giáo dân ở Mỹ Hòa, nói với bà con xóm đạo: "Mỹ muốn ta sợ nó. Ta cóc sợ. Đánh xong Mỹ, ta phá đá nung vôi. Ta sẽ làm lại nhà ngói như hồi đánh thắng Tây"1.

Trên hướng Khe Bang (Lệ Thủy), sau bốn giờ chiến đấu quyết liệt giữa vùng rừng núi rậm, đại đội 6 tiểu đoàn 6 cao xạ 37 ly đã cùng lực lượng tại chỗ bắn rơi và bị thương tám máy bay.

Sau trận đánh ngày 2 tháng 3, Quân khu 4 huy động hàng trăm xe ô-tô của các nông trường và đơn vị cùng hàng nghìn người bốc dỡ, vận chuyển sơ tán 4.700 tấn hàng về các kho dã chiến, chuyển 8.815 tấn vật chất phục vụ yêu cầu chiến đấu trong địa bàn quân khu và trên các tuyến đường số 8, số 9, số 12, Hạ Lào; tiếp nhận 8.250 tấn hàng hóa, phương tiện từ Tổng cục Hậu cần vào; nâng mức dự trữ từ 5.000 tấn lên 20.000 tấn. Nhân dân bảy xã của Hưng Nguyên, Nghi Lộc quanh thành phố Vinh đóng góp sức người, sức của, giúp quân khu sơ tán hệ thống kho trạm, xưởng sửa chữa, bệnh viện ở Vinh về các địa phương. Nhân dân thị xã Đồng Hới, thị trấn Hồ Xá và các khu vực trọng điểm được sơ tán triệt để. Các nhà máy, cơ quan, trường học sơ tán, phán tán về nông thôn, một số chuyển lên vùng núi an toàn.

Để đánh trả máy bay có hiệu quả, bảo vệ được các kha vực trọng yếu, quân khu điều chỉnh lực lượng pháo cao xạ tập trung bảo vệ những mục tiêu chủ yếu, chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai mạng lưới bắn máy bay rộng khắp, phán đoán kịp thời, âm mưu thủ đoạn địch, đề ra biện pháp đối phó có hiệu quả. Quân khu 3 tăng cường cho Thanh Hóa 100 cán bộ, giúp các địa phương xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, bảo đảm địch đến là đánh thắng, khắc phục tình trạng "người ngủ, súng ngủ". Đồng thời, quân khu xác định: "Hàm Rồng là một trọng điểm có ý nghĩa chiến lược" tập trung về đây 80 phần trăm số đại đội cao xạ, dành ra một tháng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ở trọng điểm này.

Ngày 15 tbáng 3, tổ dân quân xã Diễn Hùng do Tô Đức Hùng chỉ huy đón đánh bắn rơi một máy bay địch, mở đầu phong trào bắn hạ máy bay Mỹ bằng súng trường trên miền Bắc. Tiếp đó, ngày 21 tháng 3, ba máy bay AD6 của địch bị bắn rơi, khi oanh tạc đồn công an vũ trang Cù Bai và khu vực A Re, động Chặt dọc triền sông Bến Hải. Chính quyền Sài Gòn 22/3 đã phải thú nhận ngày 22 tháng 3. “Thật là một ngày ảm đạm của không lực Việt Nam cộng hòa".

Ngày 22 tháng 3, tiểu đoàn 14 cơ động đến Đèo Ngang, phối hợp với hải quân, bắn rơi ba máy bay.

Bốn ngày sau, bằng cách bố trí trận địa ra-đa giả trên núi Nài, đại đội 8 cao xạ phối hợp với lực lượng phòng không của thị xã Hà Tĩnh và các xã lân cận phục sẵn, bắn rơi bốn máy bay.

Những ngày cuối tháng 3 năm 1965, không quân Mỹ tập trung oanh tạc hệ thống cầu cống lớn trên trục đường sắt và các tuyến đường bộ số 1, số 7, số 8, số 12, số 15, đánh phá các mục tiêu khác như bến đò, bến phà, bến vượt dọc các dòng sông trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... Bộ đội phòng không và dân quân tự vệ kiên cường đánh trả bảo vệ mục tiêu, hạ 22 chiếc, đưa tổng số máy bay giặc Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc lên hơn 100 chiếc, trong đó, quân và dân các tỉnh Khu 4 đã hạ 53 chiếc2.

Trước tình hình địch đánh phá ngày càng ác liệt vùng đất Khu 4, hòng ngăn chặn nguồn tiếp tế của hậu phương miền Bắc cho miền Nam, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ đã dành thời gian làm việc cụ thể với lãnh đạo các tỉnh ở Khu 4. Kế hoạch nhà nước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình địch đánh phá và đáp ứng yêu cầu, phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải thiện đời sống nhân dân và động viên lực lượng chi viện cho miền Nam, chiến đấu bảo vệ miền Bắc.

Ba tháng leo thang chiến tranh, tập trung đánh phá ác liệt các tỉnh Khu 4, đế quốc Mỹ vẫn không làm suy giảm được quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, không ngăn chặn được sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Vì thế, từ tháng 4 năm 1965, địch chuyển sang đánh cắt giao thông, liên tục oanh tạc dữ dội toàn bộ hệ thống cầu, cống, bến phà, các phương tiện vận tải trên trục đường số 1 ở địa bàn Khu 4. Bom đạn Mỹ đã phá sập một số cầu, cống, tàn phá nhiều khu vực dân cư, đập nước, trường học, bệnh viện, gây cho nhân dân ta nhiều tổn hại nặng nề về sinh mạng và tài sản. Ngoài khơi vùng biển Khu 4, địch sử dụng chất độc hóa học hủy diệt đào Cồn Cỏ.

Không nao núng quyết tâm, lực lượng phòng không trên địa bàn Quân khu 4 ngày đêm có mặt ở các trận địa, kiên quyết chiến đấu bảo vệ mục tiêu.
_____________________________________________
1. Cụ Lê Hiến được tuyên dương Anh hùng ngành công an nhân dân.
2. Ngày 1 tháng 4 năm 1965; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng cờ luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" cho quân và dân Quân khu 4, quân và dân Quân khu 3.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:28:18 pm »


Ngày 9 tháng 4, quân và dân Nghệ An đánh trả mãnh liệt, bắn rơi 12 máy bay khi chúng tiến công cầu Cấm, đò Đao, khe Kiền, cầu Hoàng Mai... Trong ba ngày 17, 19 và 20 tháng 4, lực lượng phòng không Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ An và đảo Cồn Cỏ đã hạ 24 chiếc. Đêm 20 tháng 4, tự vệ công trường Cẩm Ly (Quảng Bình) dùng súng bộ binh bắn rơi tại chỗ một chiếc AD61. Tuần lễ từ ngày 19 đến 25 tháng 4, trên 40 máy bay các loại, đã bị bắn rơi trên vùng trời Quân khu 4.

Cuộc chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng diễn ra quyết liệt trong hai ngày 3 và 4 tháng 4. Địch sử dụng hàng trăm lần chiếc máy bay thay đổi các thủ đoạn chiến thuật hòng đánh sập chiếc cầu lớn vắt qua sông Mã, cắt đứt tuyến vận tải chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Máy bay địch đã bắn hàng trăm quả rốc-két, thả hàng trăm quả bom xuống khu vực cầu. Lực lượng cao xạ trung đoàn 213, 234, tàu hải quân, cùng tự vệ lò cao nhà máy điện, đội cầu 19-5 và dân quân các xã Hoàng Long, Hoàng Anh, Hoàng Quang, Hoàng Lý, Nam Ngạn, Đông Tác, Quảng Trung, Quảng Chính, Hải Châu, Hải Ninh, Hải An, Tân Dân, Triều Dương... đón đánh địch quyết liệt. Tổ trung liên của bộ đội địa phương bố trí trận địa đánh máy bay trên mỏm núi Ngọc sát mố cầu phía bắc, đại đội 1 cao xạ đưa pháo vào núi Rồng, tạo tầm bắn, góc bắn có hiệu quả. Đại đội 4 trung đoàn 234 đang vượt phà Ghép tiến về khu vực cầu Hàm Rồng thì máy bay Mỹ lao ập tới. Không chần chừ, dù pháo chưa tháo khỏi xe kéo, các pháo thủ lập tức đánh trả máy bay địch. Phối hợp với lực lượng phòng không bảo vệ cầu, Không quân nhân dân Việt Nam kịp thời xuất kích đánh địch trên bầu trời Thanh Hóa. Khắp các ngõ xóm khu vực Hàm Rồng — Nam Ngạn các tốp dân quân tỏa đi tiếp đạn, tải thương. Nhiều anh chị em chèo thuyền đưa đạn, chở pháo thủ dự bị đến các trận địa. Các mẹ, các chị trong xóm thôn, nhân viên cơ quan mậu dịch quốc doanh tổ chức nấu cơm nước đưa ra trận địa cho bộ đội và dân quân. Thiếu niên tiếp lá ngụy trang. Sư bà Đàm Xuân dành nơi trụ trì làm chỗ cấp cứu, điều trị thương binh.

Qua hai ngày chiến đấu, lực lượng phòng không cùng nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã bắn rơi trên 50 máy bay. Tại trận địa Hàm Rồng, Không quân nhân dân Việt Nam xuất trận lần đầu đã hạ bốn máy bay địch.

Cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững trong bom đạn quân thù.

Sau ngày 4 tháng 4, không quân địch ngừng đánh phá khu vực Hàm Rồng một tháng.

Ở các đào thuộc vùng biển Khu 4, cuộc chiến đấu chống không quân, hải quân địch ngày càng trở nên quyết liệt. Địch liên tục đánh phá dữ dội các đảo: Nẹ, Mê, Ngư, Mắt, Cồn Cỏ; vây bắt ngư dân, chặn luồng tiếp tế từ đất liền ra đảo. Tại Cồn Cỏ, trong tháng 3 năm 1965, hầu như không một ngày ngớt tiếng gầm rú của máy bay và bom đạn địch. Cuộc sống và chiến đấu của bộ đội ta trên đảo thiếu thốn, khó khăn và thường xuyên căng thẳng. Bệnh tật phát sinh. Liên lạc thông tin giữa đảo và hậu phương có lúc gián đoạn mấy ngày liền. Trong những ngày gian nan ấy, cán bộ, chiến sĩ trên đảo thề với nhau: "Thà hy sinh, quyết không để đảo lọt vào tay quân thù". Chi bộ Đảng trên đảo chủ trương: "Công sự hóa toàn đảo, toàn năng hóa mọi người". Mỗi cán bộ, chiến sĩ luyện tập sử dụng thành thạo các loại vũ khí có trong tay. Toàn bộ cuộc sống được chuyển xuống dưới mặt đất. Nơi ăn, ở, ngủ, nghỉ, phòng mổ cấp cứu, điều trị thương binh, nơi vệ sinh tắm giặt, đều có hầm che chở.

Khắc phục khó khăn do địch phong tỏa, bao vây, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ tổ chức tăng gia quanh trận địa; trồng rau, bắt cua, câu cá cải thiện bữa ăn.

Ở đất liền, quân và dân Vĩnh Linh, quân và dân Kha 4 ngày đêm hướng về đảo Cồn Cỏ. Vĩnh Linh đã lập nhiều đội cảm tử vượt biển tiếp tế cho Cồn Cỏ trong những ngày địch bắn phá đảo dữ dội. Quân khu cử văn nghệ xung kích ra biểu diễn phục vụ... Tổng cục Chính trị cử một số nhà văn, nhà làm phim và họa sĩ ra đảo. Từ mọi miền, hàng vạn bức thư gửi tới cán bộ, chiến sĩ Cồn Cỏ.

Đứng vững giữa muôn trùng thử thách, Cồn Cỏ trở thành niềm tự hào của nhân dân Vĩnh Linh và của cả nước.

Ngày 12 tháng 4 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen cán bộ chiến sĩ đảo Cồn Cỏ đã chiến đấu liên tục và dũng cảm, đã bắn rơi nhiều máy bay và đánh đuổi tàu biệt kích Mỹ.

Từ thực tiễn thời kỳ đầu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên địa bàn quân khu, trong hai ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1965, Hội nghị Quân khu ủy (mở rộng)2 được tiến hành nhằm phân tích, đánh giá âm mưu, thủ đoạn kẻ thù và đề ra nhiệm vụ cho quân và dân trong quân khu. Để đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch, Nghị quyết hội nghị khẳng định: "quyết tâm lấy chiến tranh nhân dân đánh bại chiến tranh phá hoại, bất luận cuộc chiến tranh đó quyết liệt đến mức nào. Quyết tâm lấy chiến tranh nhân dân đánh bại "chiến tranh cục bộ". Sẵn sàng nhận và làm tốt nhiệm vụ chi viện và đi chiến đấu ở miền Nam. Tích cực, liên tục làm nhiệm vụ ở Lào. Làm tốt nhiệm vụ bảo vệ sản xuất, bảo vệ an ninh, đập tan mọi hoạt động tập kích, biệt kích, thổ phỉ, làm tốt công tác phòng không nhân dân. Chuyển hướng mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt của nhà nước, của nhân dân thích hợp với thời chiến, vừa phục vụ quốc phòng, vừa phục vụ dân sinh làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục phát triển ngay trong chiến đấu; càng chiến đấu, các mặt kinh tế, chính trị, quân sự càng phát triển, càng lớn mạnh"... "Trước mắt, tập trung chống chiến tranh phá hoại với mức độ cao nhất. Khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng đối phó thắng lợi với "chiến tranh cục bộ" với bất cứ hình thức và mức độ nào".

Hội nghị Quân khu ủy 4 lần này đánh dấu một mốc quan trọng, đặt nền tảng cho cơ chế và nền nếp hoạt động lãnh đạo chiến tranh và xây dựng hậu phương trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.

Trong điều kiện cơ cấu tổ chức Đảng ủy quân khu không có các đồng chí lãnh đạo các địa phương trên địa bàn quân khu thì việc hình thành cơ chế lãnh đạo như hội nghị Quân khu ủy lần này đã tạo sự đoàn kết, nhất trí, thống nhất chủ trương lãnh đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp trên địa bàn.

Tiếp theo hội nghị Quân khu ủy, trong hai ngày 31 tháng 5 và 1 tháng 6 năm 1965, Hội đồng quốc phòng Quân khu 4 họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch hội đồng - Thiếu tướng Lê Hiến Mai, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy quân khu3. Quán triệt quyết định ngày 7 tháng 5 năm 1965 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Chính phủ về một số vấn đề trong công tác giao thông vận tải ở các tỉnh Khu 4, hội nghị quyết định một số chủ trương cụ thể, nhằm: "... làm cho mọi người hiểu rõ bảo đảm giao thông vận tải là nhiệm vụ cách mạng của mình, bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo đảm cho được tuyến đường số 1, đường số 15, các đoạn đường số 8, đường số 12 thông suốt". Hội nghị đã quyết định những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt các vấn đề phối hợp hiệp đồng, tổ chức lãnh đạo chỉ huy, kết hợp giữa đánh địch với bảo vệ giao thông vận tải (tổ chức làm đuờng động viên lực lượng và phương tiện phục vụ giao thông vận tải, bảo đảm bí mật an toàn...
______________________________________________
1. Đây là chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi ban đêm đầu tiến bằng súng bộ binh.
2. Dự hội nghị, ngoài các đồng chí đảng ủy viên quân khu, còn có các đồng chí bí thư tỉnh ủy các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và bí thư đảng ủy khu vực Vĩnh Linh.
3. Hội đồng gồm các đồng chí: Lê Hiến Mai, Nam Long, Nguyễn Xuân Linh. Các đồng chí Võ Thúc Đồng, Hồ Sĩ Thản, Đồng Sĩ Nguyên..., đi công tác vắng. Hội đồng mời một số đồng chí tỉnh ủy viên các tỉnh, các trưởng ty giao thông vận tải dự để về báo cáo lại với cấp ủy và chính quyền triển khai thực hiện. Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Phạm Hoàng, Cục trưởng Công binh dự.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:30:05 pm »


Từ tháng 6 năm 1965, cùng với việc mở rộng phạm vi đánh phá ra nhiều tỉnh của miền Bắc nước ta, không quân và hải quân Mỹ tập trung bắn phá ác liệt hệ thống đường sắt đường bộ, đường thủy; hệ thống cầu cống, bến phà, bến vượt; các phương tiện vận tải, các đầu mối giao thông và những khu vực tập kết hàng hóa trên dịạ bàn Khu 4. Ở Thanh Hóa, chúng tập trung đánh Hàm Rồng, Ghép, Kiểu, Khoa Trường, Hang, Hố. Ở Nghệ An, chúng tập trung vào các cầu Hoàng Mai, Bùng, Cấm, khu vực Vinh - Bến Thủy. Ở Hà Tĩnh, địch đánh quyết liệt hệ thống giao thông của ba huyện phía nam: Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Hương Khê. Một loạt trọng điểm ở Quảng Bình, Roòn, Tú Loan, Xuân Kiều, Gianh, Khe Nước, Quán Hàu (trên tuyến đường số 1), Mụ Giạ, Bãi Dinh (đường 12), Ca Tang, Khe Ve, Xuân Sơn, Long Đại (đường 15) và các khu vực tập kết, kho tàng ở Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh đều bị máy bay, tàu chiến địch oanh kích dữ dội và liên tục. Trên mỗi mục tiêu chúng đánh liên tục từ 5 đến 10 ngày để dứt điểm. Đêm đêm, bầu trời Khu 4 ở các trọng điểm giao thông cháy rực pháo sáng và không ngớt tiếng máy bay. Trên nhiều quãng đường, bom bi địch rải dày, tạo thành từng dải dài từ 6 đến 10 ki-lô-mét. Hàng ngày, trung bình 100 đến 250 lần chiếc máy bay Mỹ hoạt động.

Trong đạn bom đánh phá khốc liệt của quân thù, các hoạt động của quân và dân Khu 4 càng trở nên khẩn trương. Các địa phương và các đơn vị tập trung sức khắc phục khó khăn, triển khai toàn diện công tác bảo đảm giao thông, chi viện tiền tuyến. Thường vụ tỉnh ủy các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh xác định bảo đảm giao thông vận tải là nhiệm vụ trung tâm đột xuất số một của Đảng bộ và nhân dân địa phương. Nhiều cán bộ lãnh đạo của Bộ Giao thông vận tải và của quân khu được điều về giúp các tỉnh, các địa phương triển khai thực hiện công tác đảm bảo giao thông vận tải. Lực lượng đánh máy bay tầm thấp của dân quân tự vệ được củng cố về tổ chức và tăng cường quân số. Vũ khí bắn máy bay trong dân quân tự vệ có 48.227 súng trường, 250 đại liên, 1.027 trung liên. Bên cạnh bộ phận "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng" và trực chiến không thường xuyên, các địa phương tự tổ chức 584 đội dân quân, tự vệ trực chiến thường xuyên. Cấp ủy đảng các địa phương, các cơ quan lựa chọn những cán bộ có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy tăng cường cho lực lượng chiến đấu, đồng thời quan tâm giáo dục chính trị tư tưởng cho dân quân, tự vệ. Các hợp tác xã có chính sách đãi ngộ cho lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu như chấm công điểm lao động, khi bị thương, hoặc hy sinh được chăm sóc theo chính sách đối với thương binh, liệt sĩ, trợ cấp cho các gia đình khó khăn.

Ngoài lực lượng dân quân tự vệ đánh máy bay địch tầm thấp được bố trí rộng khắp, còn có 12 trung đoàn, 16 tiểu đoàn cao xạ và 300 khẩu 12,7 ly được tổ chức thành các đại đội độc lập, là lực lượng nòng cốt "chốt" giữ bảo vệ một số mục tiêu quan trọng1 hoặc cơ động phục kích đánh địch trên các tuyến giao thông.

Để đảm bảo giao thông vận tải trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, quân khu chủ trương tập trung lực lượng bảo vệ các mục tiêu trọng yếu kết hợp cơ động, phục kích, kiên quyết thực hiện phương châm "tìm địch mà đánh, bám địch mà đánh, gặp địch đâu đều đánh, đánh liên tục 24 trên 24 giờ". Quân khu chú trọng huấn luyện cho bộ đội và dân quân, tự vệ kỹ thuật bắn máy bay trong các điều kiện địa hình, thời tiết...

Đến tháng 9 năm 1965, các đơn vị bộ đội và cơ sở dân quân, tự vệ đều được học tập và rèn luyện kỹ thuật bắn máy bay. Hà Tĩnh tổ chức cho cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh cùng học. Các trận địa có sổ tay nhận dạng và tính năng các loại máy bay địch; loại nào địch thường sử dụng được làm thành hình mẫu cho bộ đội và dân quân tự vệ luyện tập. Đồng thời, các tỉnh trong quân khu tổ chức rút kinh nghiệm đánh trả các hoạt động của máy bay, tàu chiến địch. Từ chiến công nổi bật của dân quân Hà Trung, Thiệu Hóa, Quảng Xương, Nam Ngạn, tỉnh Thanh Hóa mở hội nghị chuyên đề bắt giặc lái, rút ra những bài học có giá trị thiết thực về cách tổ chức truy lùng, sục sạo, cách tổ chức chỉ huy cách tiếp cận bắt giặc lái và các động tác cụ thể (tắt đài, tắt tín hiệu liên lạc...). Tỉnh có cơ sở thực tế để khẳng định: dân quân tự vệ là lực lượng chính trong việc truy bắt kịp thời giặc lái Mỹ.

Hà Tĩnh và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tổ chức rút kinh nghiệm bắn máy bay bằng súng bộ binh, kinh nghiệm hiệp đồng đánh máy bay phản lực, máy bay lên thẳng đến cứu giặc lái.

Đấu tháng 7 năm 1965, Bộ Chính trị ra nghị quyết chuyển hướng công tác tổ chức, tập trung lãnh đạo kinh tế và quốc phòng đối với miền Bắc.

Ngày 20 tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "... Đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Đáp lời kêu gọi của Bác, quân và dân Khu 4 quyết tâm cùng cả nước quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trên địa bàn Khu 4, toàn bộ sinh hoạt và sản xuất nằm trong trọng thái hoàn toàn có chiến tranh ở mức độ cao. Hơn 70 nghìn dân các thành phố, thị xã, thị trấn được sơ tán triệt để. Các nhà máy điện, cơ khí, cùng hàng trăm cơ quan, xí nghiệp và hợp tác xã thủ công nghiệp được chuyển đến các vùng tương đối an toàn, tiếp tục sản xuất và phục vụ chiến đấu. Xí nghiệp cơ khí Sông Chu, cơ khí Vinh, cơ khí Ấp Bắc, cơ khí 3-2 và các trạm, xưởng sửa chữa của các nông trường được giao thêm nhiệm vụ sửa chữa ô-tô, súng, pháo cho lực lượng vũ trang dừng chân trên địa bàn theo yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Trường Đại học sư phạm Vinh, Trường Quân chính Quân khu 4, đoàn 22 huấn luyện quân tăng cường, chuyển đến Thanh Hóa. Chợ búa, trường phổ thông, sơ tán thành từng lớp nhỏ vào nơi kín đáo, có hầm hào bảo đảm.

Đoàn thanh niên phát động "Ba sẵn sàng" thu hút 13.730 người (có 5.753 nữ) vào các đội thanh niên xung phong chống Mỹ. 4.120 người đi dân công hỏa tuyến ở Lào. Hội phụ nữ phát động phong trào "Ba đảm nhiệm” sau đổi thành "Ba đảm đang". Mặt trận Tổ quốc kêu gọi "Toàn dân đoàn kết chống Mỹ", thiếu niên nhi đồng "học tập các dũng sĩ măng non ở miền Nam, vâng lời Bác dạy làm nghìn việc tốt”. Phong trào "Tiếng hát át tiếng bom” được triển khai rộng rãi trong thôn xóm và trong các đơn vị bộ đội.
_____________________________________________
1. Trong số mục tiêu quan trọng này có cụm Hàm Rồng, đập Bái Thượng, đập Đô Lương, khu vực Vinh - Bến Thủy, Linh Cảm, khu vực Gianh - Xuân Sơn - Long Đại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:33:08 pm »


Ngày 17 tháng 7 năm 1965, nhân dịp quân và dân Quảng Bình bắn rơi 100 máy bay Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi Quảng Bình "Chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi". Bác kêu gọi các địa phương khác thi đua với Quảng Bình. Từ đó dấy lên phong trào "Hai giỏi" sôi nổi khắp các tỉnh.

Vừa tổ chức lại lực lượng và thế trận, quân và dân các tỉnh Khu 4 vừa đánh trả mạnh mẽ không quân, hải quân địch; bảo đảm giao thông thông suốt. Một thời gian ngắn, sau khi tổ chức lại, tiểu đoàn 14 (sau này là tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân) đã bắn rơi 19 máy bay; tiểu đoàn 15 bắn rơi 11 chiếc; tiểu đoàn 6 bắn rơi 5 chiếc, tiểu đoàn 9 bắn rơi 4 chiếc. Tại các trọng điểm giao thông, số máy bay địch bị bắn hạ ngày càng nhiều. Chỉ riêng trên địa bàn Nghệ An, ở cầu Hoàng Mai sáu máy bay địch bị bắn rơi, cầu Bùng ba chiếc, cầu Giát bốn chiếc, đập Đô Lương - cống Mụ Bà 13 chiếc... Ngày 28 tháng 7 năm 1965, quân và dân khu vực Hàm Rồng - Thanh Hóa đánh một trận đặc biệt xuất sắc, bẻ gãy các đợt tiến công của máy bay A6A "kẻ đột nhập" vừa được cải tiến, bắn rơi ba chiếc1.

Ba chiến sĩ phân đội tự vệ nông trường 12A (Minh Hóa, Quảng Bình) gồm Nguyễn Tiến Vân, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Văn Nhung, bằng ba viên đạn súng trường bắn rơi tại chỗ một A4. Một chiếc khác đến cứu đồng bọn, bị tổ chiến đấu của trung đội trưởng Nguyễn Phương bắn bị thương, phải bỏ cuộc. Trong tháng 8 và những ngày đầu tháng 9, các lực lượng phòng không thành phố Vinh đã hạ 11 máy bay. Ngày 3 tháng 8, dân quân Sơn Bằng (Hương Sơn, Hà Tĩnh) hạ một F105 bằng hai loạt súng bộ binh. Ngày 4 tháng 8, tại Hàm Rồng ta lại hạ một máy bay rơi tại chỗ ngay từ loạt đạn đầu...

Ngày 7 tháng 8, hai AD6 và hai A4D bị bắn rơi khi ném bom thị xã Đồng Hới. Trên các đảo, lực lượng phòng không đảo Mê, đảo Mắt đánh trả máy bay địch có hiệu quả, chỉ trong ngày 8 tháng 8 đã hạ hai máy bay. Ở đất lửa Vĩnh Linh, ngày 24 tháng 9 năm 1965, lúc 15 giờ 50 phút, trong đợt đánh trả ba tốp A4D, F4H và F8U đến ném bom thị trấn Hồ Xá, tiểu đoàn 6 cao xạ đã cùng dân quân tự vệ bắn rơi hai máy bay. Đây là chiếc máy bay thứ 599 và 600 bị bắn rơi ở miền Bắc.

Trước những hoạt động đánh phá có tính ngăn chặn của không quân và hải quân Mỹ, bảo đảm giao thông tăng cường sự chi viện cho miền Nam trở thành nhiệm vụ trọng yếu của quân và dân miền Bắc. Ngày 26 tháng 8 năm 1965, liên bộ Quốc phòng - Giao thông vận tải họp với Quân khu 4 quyết định mở chiến dịch vận chuyển trong tháng 9 năm 1965. Tiếp đó, ngày 31 tháng 8 năm 1965, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị thay mặt Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ và chỉ tiêu về bảo đảm giao thông vận tải cho chủ tịch ủy ban hành chính các tỉnh, coi đó là pháp lệnh thời chiến.

Trên mặt trận bảo đảm giao thông vận tải thời gian này, công tác tổ chức chỉ huy và phân công nhiệm vụ được điều chỉnh một cách cơ bản. Tất cả các đội công nhân bảo đảm giao thông ở các tỉnh, huyện được tăng cường thêm lực lượng. Bộ đội chuyển hẳn thành lực lượng giao thông - công binh do các tỉnh đội, huyện đội chỉ huy2. Lực lượng này có ba nhiệm vụ: Bảo đảm cầu đường, đánh địch và phòng tránh bảo vệ mình. Ngành giao thông vận tải được quân sự hóa từ cơ sở.

Quân khu 4 và Quân khu 3 hoàn toàn đảm nhận nhiệm vụ bảo đảm giao thông và ứng cứu trên các tuyến đường chiến lược đi qua địa bàn quân khu. Trung đoàn 152 công binh và cao xạ hỗn hợp thuộc Quân khu 4 được thành lập, vừa làm nhiệm vụ đánh địch bảo vệ đường, vừa mở đường số 15 ở khu vực tây Quảng Bình và đường số 12. Lực lượng vận tải tập trung của quân khu từ một đại đội xe 36 chiếc phát triển thành sáu binh trạm, biên chế 1.110 người với 130 xe ô-tô, 22 ca-nô, 35 xà lan chuyên vận chuyển cung cấp cho các lực lượng vũ trang quân khu (cả số làm nhiệm vụ ở Lào).

Bộ Giao thông vận tải chuyển 12.665 công nhân của các công ty 2, 3, 4, 8 các đội công trình 3, 4, 5, 8 vào thi công các tuyến đường số 7, 12, 21 và đường số 22.

Các tổng đội thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước ở các tỉnh gồm 12.611 người chuyên lo làm đường mới vừa sửa đường ở một số tuyến. Một số tuyến đường mới khác: từ Bò Lăn đi Tam Lê, từ Hoàng Mai đi chợ Tuần, Tân Kỳ đi dốc Lụi (Nghệ An), Ba Trại (Quảng Bình) được khẩn trương xây dựng.

Đến cuối tháng 9 năm 1965, các tuyến đường số 1, 7, 8, 12, 15 và các tuyến sông ở Khu 4 cơ bản thông suốt. Đường sắt thông đến Hoàng Mai. Đường goòng nối liền Đức Thọ - đò Vàng. Lưu lượng xe và vòng quay tăng hai lần. Thời gian tắc xe trên các bến giảm 50 phần trăm.

Tình hình bảo đảm giao thông đang từng bước được cải thiện thì đầu tháng 12 năm 1965, Mỹ tiến hành một đợt đánh phá tập trung quyết liệt trên toàn bộ tuyến giao thông vận tải của ta. Phía Thanh Hóa trở ra, chúng đánh mạnh để cắt chân hàng; từ Nghệ An trở vào, đánh dứt điểm từng đoạn xung yếu, nhất là phía nam quân khu. Có những nơi như ki-lô-mét 39 - 40 đường số 15, chỉ trong năm ngày chúng đánh 43 lần liền, ki-lô-mét 19 đường số 12 đánh 152 lần với 700 quả bom, phà Quán Hàu, 19 lần, 190 quả. Trên tuyến đường số 1, ở các đoạn Lý Hòa, sông Gianh, Roòn, đèo Ngang địch còn dùng máy bay chỉ điểm cho pháo tàu biển bắn phá bổ sung sau mỗi đợt máy bay ném bom. Âm mưu của địch là phá kế hoạch vận chuyển của ta trong dịp tết dương lịch và Tết Nguyên đán, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự của chúng ở miền Nam.
_______________________________________________
1. Để chào mừng Mác Na-ma-ra, Bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ đến hàng không mẫu hạm Indépendance, trong chuyến thị sát chiến trường miền Nam Việt Nam, địch đã cho 18 chiếc A6A xuất kích hòng chặt đứt cầu Hàm Rồng, nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại.
2. Số này gồm 26 đại đội, 4.200 người.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:34:15 pm »


Hưởng ứng lời kêu gọi của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, những ngày cuối 1965, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Khu 4 đồng loạt tiến quân vào chiến dịch bảo đảm giao thông vận tải mang tên "chiến dịch Quang Trung”.

Hàng trăm nghìn lượt người lên mặt đường, tập trung lấp hàng nghìn hố bom, làm hàng trăm ki-lô-mét đường vòng tránh. Hàng chục nghìn mét khối đã được vận chuyển lên các tuyến đường phục vụ yêu cầu hàn vá, nâng cấp mặt đường. Hà Tĩnh huy động hơn chín mươi nghìn lượt người. Đoạn đường Hạ Trạch ở nam phà Gianh bị đánh bật đi 300 mét, 1.000 cán bộ, bộ đội và nhân viên các cơ quan đảm nhận hàn gắn xong kịp phục vụ chiến dịch. Hàng chục trọng điểm bị bom địch biến thành ao, đều được đắp lại như: Khoa Trương, cầu Hang, cầu Quan, phà Ghép, cầu Cấm, Sim, Tú Loan, Xuân Kiều, Gianh, Võ Xá, Ca Tang, khe Rinh, thác Cóc, Long Đại. Các cầu Hang, Hồ, Dinh, Sở, Đậu, Nầm, Nga, Sim, khe Giao, Ba Dốc, cầu Hiểm được bắc xong. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh hình thành thêm một hệ thống cầu phao song song với cầu phà ở các bến trên tuyến đường số 1. Trong dịp này, ta còn phá thêm hàng chục thác nước trên rào Trố, từ Kỳ Lâm (Kỳ Anh) đi Minh Cầm (Tuyên Hóa) dài 50 ki-lô-mét, mở thêm một tuyến vận chuyển hàng hóa và chở thương binh.

"Tết Quang Trung" Bính Ngọ (1966) làm sống dậy hào khí thời Quang Trung. Toàn dân lên mặt đường, ăn tết trên mặt đường, bến sông và tại các kho tàng, trên các chuyến xe. Các binh trạm tổ chức cung trạm bảo đảm ăn tết theo ca kíp. Thương nghiệp đưa hàng ra phục vụ trên mặt đường. Công binh các bến phà trực suốt ngày đêm với khẩu hiệu "Phà chờ xe, không để xe chờ phà". Phong trào "Những hòn đất, hòn đá chống Mỹ bảo đảm giao thông vận tải" dấy lên từ xã Diễn Phúc (Diễn Châu) được nhân nhanh ra các nơi.

Ngày đầu xuân, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Khu 4 vui mừng được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm, chúc Tết. Trong mưa phùn gió bấc sáng mồng một Tết, Thủ tướng về với đồng bào và chiến sĩ Thanh Hóa, Đại tướng đến thăm bộ đội cao xạ Hàm Rồng tiểu khu Nam Ngạn, thăm đại đội Nguyễn Viết Xuân, xã Diễn Thành (nơi có thành tích chiến đấu, sản xuất cùng bộ đội chiến đấu 60 trận, góp phần bắn rơi 4 máy bay Mỹ). Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển lời thăm hỏi ân cần của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ, biểu dương tinh thần quyết chiến, quyết thắng của đồng bào, cán bộ và chiến sĩ, chúc quân và dân trong quân khu sang năm mới lập nhiều chiến công và thành tích mới.

Biến lời chúc đầu xuân của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ thành hành động, suốt những ngày Tết, đồng bào, cán bộ, chiến sĩ không ngừng tranh thủ thời gian, thực hiện vượt mức yêu cầu khối lượng vận chuyển, kết thúc tốt đẹp "chiến dịch Quang Trung". Hàng vào Vinh, thực hiện được 115 phần trăm kế hoạch (36.781 tấn so với kế hoạch đề ra là 33.210 tấn). Hàng vào Quảng Bình, thực hiện đựợc 25.396 tấn so với yêu cầu 25.222 tấn, đạt 59 phần trăm kế hoạch cả năm 1966. Hàng vào Vĩnh Linh, thực hiện được 123,5 phần trăm chỉ tiêu (2.470 trên 2.025 tấn). Vòng quay xe từ Thanh Hóa đến Vinh thông thường mất bốn ngày, trong chiến dịch rút xuống còn một ngày; Vinh - Quảng Bình từ sáu đêm rút xuống hai ngày.

Cùng với vận chuyển phục vụ chiến dịch Quang Trung, các tỉnh, huyện tổ chức vận chuyển vật tư, hàng hóa phục vụ kế hoạch sản xuất, chiến đấu và đời sống của địa phương.

Trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh, nhân dân các tỉnh Khu 4 vẫn ngày đêm bám ruộng đồng, nhà máy; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Tháng 9 năm 1965, cuộc vận động cải tiến quản lý (vòng II) trong nông nghiệp bắt đấu triển khai trên toàn miền Bắc.

Các hợp tác xã nông nghiệp, ngư nghiệp trên địa bàn quân khu chia thành nhóm nhỏ, thực hiện "ba khoán", "đi sản xuất coi như đi chiến đấu", ở những vùng trọng điểm bị địch đánh phá, đội sản xuất tổ chức các tổ xung kích bám ruộng đồng sản xuất, thâm canh. Phong trào làm bèo hoa dâu, làm phân xanh, làm thủy lợi, cấy chăng dây thẳng hàng, chăm bón đúng quy trình kỹ thuật, đưa giống mới vào đồng ruộng gắn liền với tiêu chuẩn thi đua, với yêu cầu xây dựng Đảng, xây dựng con người xã viên mới ở nông thôn. Nông dân nhiều nơi ở Quảng Bình xác định: "Địch càng đánh phá ác liệt, ta càng cấy thật thẳng hàng, để chúng trên máy bay nhìn xuống thấy rằng bom đạn Mỹ không dễ gì làm chúng ta run tay, nhụt chí". Nhiều nơi, nông dân ra đồng phải khoác áo rơm bện, phải đào hầm bên ruộng. Trâu bò cũng phải dưa xuống hầm. Ngư dân ra biển luôn có phao bơi, dây dòng vào người, phòng khi tàu chìm, thuyền vỡ.

Các xã vùng biển Quảng Bình tổ chức lại sản xuất, chuyển chị em "buôn thúng, bán bưng" đi lập làng mới ở vùng gò đồi. Một bộ phận bám trụ học nghề đánh cá biển, cưa xẻ gỗ đóng thuyền, làm gạch, nung vôi, kết hợp trục chiến bảo vệ quê hương. Các gia đình buôn bán ở các thành phố, thị xã, thị trấn, có bộ phận chuyển về gắn với sản xuất nông nghiệp, có bộ phận tiếp tục tham gia mạng lưới phân phối - lưu thông trên thị trường nông thôn.

Từ khi bước vào chiến tranh, những vùng làng mới được thành lập như vùng Cộn, Ba Dốc, Phụ Trạch, Cao Mại, Rỏi, Bưởi, chân đèo Ngang (Quảng Bình) một số xã ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn (Nghệ An) vùng động Lách, Vĩnh Thạch, Thọ Xuân (Thanh Hóa).

Đến đầu năm 1966, tỉnh Thanh Hóa đã đào đắp 24 triệu mét khối bờ vùng, bờ thửa (tăng sáu phần trăm so với năm 1964), xây dựng xong 46 công trình chống hạn, chống úng, bảy cơ sở công nghiệp địa phương: (nhà máy ép dầu, chế biến sắn, khai thác than...). Quảng Bình có thêm nhà máy sản xuất diêm, đồ gốm. Hàng loạt công trường thủy lợi mở ra khắp các địa phương. Có nhiều công trình lớn như thủy nông Rào Nam, Cẩm Ly (Quảng Bình), La Ngà (Vĩnh Linh), Linh Cảm (Hà Tĩnh), Lam - Trà (Nghệ An).

Các chiến dịch thủy lợi đắp bờ vùng, bờ thừa, cải tạo đồng ruộng tiến hành thường xuyên ở các huyện, trong đó có những chiến dịch hưởng ứng rầm rộ các chiến thắng lớn ở các tỉnh kết nghĩa miền Nam.

Các cấp ủy địa phương có nghị quyết chuyên đề về công tác quân sự địa phương, giải quyết những khâu yếu, những khuyết điểm: huấn luyện quân sự chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, nặng hình thức, trình độ thấp. Tư tưởng thì có nơi chủ quan khinh địch, có nơi, có lúc lại sợ địch, ngại khó khăn, gian khổ, ngại hy sinh. Ở cấp cơ sở, những biểu hiện này càng bộc lộ rõ nét hơn.

Đáp ứng yêu cầu bổ sung lực lượng cho tiền tuyến đẩy mạnh kháng chiến và bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quân khu, năm 1965, Quân khu 4 đã bổ sung 22.111 cán bộ, chiến sĩ lên đường vào Nam chiến đấu. Trong số này, có một sư đoàn hoàn chỉnh (sư đoàn 325B), hai trung đoàn (trung đoàn 18 và 101), 12 tiểu đoàn, 7 đại đội. Cũng trong năm đầu chiến tranh, 61.207 thanh niên và quân nhân xuất ngũ, phục viên đã được tuyển gọi hoặc động viên vào bộ đội (Thanh Hóa 21.519, Nghệ An 21.320, Hà Tĩnh 12.364, Quảng Bình 2.533, Vĩnh Linh 713). Trong đó có 6.840 đảng viên, 29.731 đoàn viên, 5.108 dân quân tự vệ, 230 người theo đạo Thiên chúa, 4.622 thuộc các dân tộc ít người. Số quân nói trên bằng tổng số quân tuyển gọi nhập ngũ từ năm 1958 đến năm 1964.

Qua một năm trực tiếp đương đầu với không quân và hải quân Mỹ, quân và dân các tỉnh Thanh Ilóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh giữ vững niềm tin, đánh trả mạnh mẽ quân địch, bắn rơi 454 máy bay, bắn chìm bắn cháy hàng chục tàu, thuyền biệt kích. Dưới bom đạn ác liệt của quân thù, giao thông vận tải vẫn được bảo đảm. Các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy thông suốt; những đoàn tàu, đoàn xe đêm ngày vẫn lăn bánh hướng vào Nam. Nhịp sống và sản xuất không bị ngưng trệ mà trở nên khẩn trương sôi động. Nền nếp đăng ký lập công, báo công thi đua đạt danh hiệu "Hai giỏi” (chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi), sống có văn hóa, có tình nghĩa, đi vào cuộc sống như một nhu cầu thiết yếu.

Giữa lúc Mỹ chuyển sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt trên khắp hai miền đất nước, ngày 27 tháng 12 năm 1965, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã được triệu tập tại thủ đô Hà Nội. Hội nghị phân tích toàn bộ tình hình trong nước và trên thế giới, đánh giá tương quan lực lượng giữa địch và ta, hạ quyết tâm chiến lược: "Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà". Hội nghị kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên khắp hai miền của Tổ quốc: "Phải có tinh thần chiến đấu cao, dũng cảm phi thường, phải có chí khí anh hùng và quyết tâm dời non lấp biển, đạp bằng bất cứ trở lực nào, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, đánh bại bất cứ kẻ thù nào".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:36:24 pm »


II. ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN Ở ĐỒNG BẰNG TRỊ - THIÊN,
PHỐI HỢP CÙNG BẠN TIẾN CÔNG ĐỊCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TRUNG - HẠ LÀO TRONG MÙA KHÔ 1965-1966

Thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", đế quốc Mỹ tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn. Mùa khô 1965-1966, quân Mỹ và chư hầu đã vào miền Nam hơn 206.000 tên, với nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại; cùng với hơn 50 vạn quân ngụy, tổng số địch trên chiến trường lên tới 720.000 tên gồm 13 sư đoàn, 5 trung đoàn, 30 tiểu đoàn bộ binh.

Bước vào 1966, địch đã hoàn thành việc triển khai lực lượng trên các hướng, bắt đầu thực hành phản công chiến lược (mùa khô 1965 - 1966) nhằm vào hai chiến trường trọng điểm: miền Đông Nam Bộ và Khu 5, hòng giành lại quyền chủ động chiến trường.

Ở Trị - Thiên, địch chủ trương sử dụng quân ngụy càn quét, bình định vùng đồng bằng, ven đô và dọc các trục lộ giao thông; tăng cường đánh phá căn cứ, kho tàng, hành lang vận chuyển của ta.

Tháng 2 năm 1966, Quân ủy Trung ương chủ trương lấy chiến trường rừng núi làm chiến trường tiêu diệt địch, trọng điểm lấy Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chú trọng đẩy mạnh tác chiến ở Khu 5, làm chuyển biến chiến trường Trị - Thiên thành một hướng chiến lược quan trọng để phối hợp với chiến trường toàn miền, bảo đảm đường chi viện vào miền Nam.

Nhiệm vụ của Trị - Thiên lúc này là tập trung phát triển chiến tranh du kích và đẩy mạnh tác chiến ở đồng bằng, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị và công tác binh vận. Phân khu chủ trương mở chiến dịch tiến công địch ở bốn huyện đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền (Thừa Thiên), Triệu Phong, Hải Lăng (Quảng Trị).

Từ cuối năm 1965, đầu năm 1966, bộ đội địa phương và dân quân, du kích các huyện đẩy mạnh tác chiến chống càn, diệt ác, phá kìm, trừ gian.

Ở Thừa Thiên, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh cùng với bộ đội địa phương và dân quân, du kích các quận, huyện đánh địch trên cả năm huyện đồng bằng. Phía bắc Quảng Trị, Quân khu 4 đưa một bộ phận lực lượng của sư đoàn 324 và tiểu đoàn 4 thuộc Bộ tư lệnh 270 Vĩnh Linh, đại đội Lê Hồng Phong cùng các đoàn cán bộ cơ sở, các đội tuyên truyền văn hóa, đội chiếu phim lưu động vào vùng Gio Linh, Cam Lộ vừa đánh địch, vừa phát động quần chúng, cài thế, tạo thế cho bước phát triển tiếp sau.

Đầu tháng 1 năm 1966, được cơ sở mật báo thời gian, địa điểm địch họp bàn kế hoạch đánh phá phong trào cách mạng, phân khu giao nhiệm vụ cho đội 10 đặc công đột nhập quận lỵ Triệu Phong đánh địch. 12 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 1 năm 1966, từ vùng căn cứ, đội 10 xuất quân vượt qua 20 ki-lô-mét đường rừng và băng qua sông Ba Lòng, Ái Tử. Đến 2 giờ 30 phút ngày 21 tháng 1, toàn đội bất ngờ nổ súng tiến công, diệt 102 tên cảnh sát ác ôn, bắt 15 tên, thu 30 súng, thu 100.000 đồng tiến chính quyền Sài Gòn. Trận đánh diễn ra trong vòng 30 phút. Đây là trận đầu tiên đặc công thọc sâu đánh trúng đầu não địch ở Quảng Trị, phá tan âm mưu địch trên bàn hội nghị. Cơ sở ta được bảo đảm an toàn. Nhân dân phấn khởi, gói cả xôi, thịt gà cho bộ đội ăn trên đường trở về căn cứ.

Ở bắc đường số 9, bộ đội và dân quân, du kích đánh nhiều trận phục kích, tập kích tại Hà Trung, Hà Thượng, Lâm Lang... Nổi bật là trận phục kích giữa ban ngày, diệt trung đội ác ôn do tên Chùm chỉ huy đã gây nhiều nợ máu đối với nhân dân. Trận thắng đưa lại niềm phấn khởi lớn cho đồng bào Cam Lộ.

Ở tây Thừa Thiên, từ ngày 17 tháng 2 đến đầu tháng 3 năm 1966, hai trung đoàn chủ lực và hai chi đoàn xe bọc thép của địch do Nguyễn Chánh Thi trực tiếp chỉ huy mở cuộc hành quân "Lam Sơn 234". Lực lượng vũ trang Thừa Thiên bám đánh liên tục trong nửa tháng, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, làm thất bại cuộc hành quân này. Ngày 21 tháng 2, lực lượng vũ trang Phong Điền chặn đánh bốn tiểu đoàn địch càn vào Phong Sơn, diệt 60 tên, bắn rơi ba máy bay B57. Một đại đội ngụy và bọn ác ôn kìm kẹp ở Cao Ban bị ta tập kích diệt gọn. Đêm 24 tháng 2, ta tập kích lính Mỹ ở Phú Bài. Đồn cảnh sát An Cựu ở thành phố Huế cũng bị đánh. Các trận diệt ác, phá kìm, giải phóng một số thôn, xã nổ ra nhiều nơi ở Phú Lộc, Phú Vang, Hương Trà.

Trên hướng đồng bằng Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Hải hướng tiến công của trung đoàn 6, bộ phận đi đầu của trung đoàn nhanh chóng tiêu diệt bọn địch án ngữ ở cầu Hội Yên, mở đường tiến quân cho toàn đơn vị. Trung đoàn 6 lập bàn đạp đứng chân ở Ba Du, Cù Lũy và phát triển dần thế triển khai chiến dịch, vừa đánh địch, vừa hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Địch vội vã huy động lực lượng chủ lực, bảo an đến đối phó. Suốt chín ngày, địch tập trung máy bay và các cỡ pháo đánh phá các khu vực bố trí trận địa của trung đoàn. Sau mỗi đợt máy bay ném bom, đại bác bắn phá, là những đợt tiến công của bộ binh địch. Lấy rơm rạ, ván gỗ làm thành chắn cát, xây dựng công sự hầm, hào, bộ đội ta bám đánh địch suốt một dải từ Gia Đẳng, Cù Hoan, Đan Quế đến Phương Lang Đông, Phương Lạng Tây, Chợ Cạn, Trường Thọ. Sở chỉ huy trung đoàn và tiểu đoàn 1 có ngày đánh bật năm đến sáu đợt phản kích của bọn lính thủy đánh bộ. Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Cường trúng đạn pháo, hy sinh. Đồng chí Hùng, quyền tỉnh đội trưởng Quảng Trị cùng với chính ủy trung đoàn Nguyễn Trọng Dần, chỉ huy đơn vị liên tiếp đánh bại ba đợt tiến quân mới, buộc chúng phải lui quân. Trên cồn cát trắng Gia Đẳng, đại đội 3 tiểu đoàn 1 quần nhau quyết liệt với địch, diệt gọn một đại đội. Đại đội súng máy 12,7 ly bắn rơi hai máy bay và hạ nòng súng bắn thẳng vào đội hình địch, yểm trợ đắc lực cho bộ binh xuất kích. Ba chiến sĩ đặc công thuộc đại đội 12, suốt một ngày đánh lùi nhiều đợt tiến công của cả tiểu đoàn ngụy, giữ vững trận địa. Từ ngày 21 tháng 2 đến ngày 8 tháng 2, trung đoàn 6 đã chiến đấu quyết liệt, ghìm chân sáu tiểu đoàn chủ lực ngụy, tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Trong những cuộc chiến đấu này, trung đoàn 6 diệt gần 500 tên địch, bắt 30 tên, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự, cùng với nhân dân phá tan bộ máy kìm kẹp của địch, xây dựng cơ sở cách mạng trên một vùng rộng lớn ở hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng. Một số nơi đã thành lập chính quyền cách mạng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:37:18 pm »


Ngày 1 tháng 3 năm 1966, trung đoàn 6 vượt sông Ô Lâu về đứng chân ở tây và nam điểm cao 673, chuẩn bị đợt 2 giải phóng Phong Điền và Quảng Điền. Về với đồng bào Phong - Quảng lần này, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 6 như người con xa nhà, nay trở lại. Nhân dân náo nức và bí mật góp gạo nuôi quân, chuẩn bị nhà cửa, hầm hào, bảo đảm an toàn nơi trú quân, mua góp thuốc men, đường sữa cho bộ đội. Nhân dân thêm vui mừng, phấn khởi, vì các lần trước mới là từng tiểu đoàn đi lẻ về hoạt động; lần này cũng phần lớn là những khuôn mặt quen thuộc, nhưng đã nằm trong đội hình lớn hơn, bố trí trải rộng trên nhiều xã. Tiểu đoàn 1 đứng chân ở Mỹ Phú - Chánh An (Phong Chương). Tiểu đoàn 6 chốt ở Tây Hoàng, Nhất Phong (Quảng Thái). Trung đoàn bộ ở Phong Chương. Tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ ở tuyến sau bảo vệ đường dây liên lạc của trung đoàn. Các đại đội cối 82, ĐKZ, súng máy 12,7, trinh sát, thông tin, đặc công bố trí trong đội hình chiến đấu. Bộ Tư lệnh quân khu kịp thời cử trung tá Nguyễn Văn Thu làm trung đoàn trưởng thay đồng chí Cường vừa hy sinh.

Sự xuất hiện của trung đoàn 6 cùng với việc mở ra vùng giải phóng gần sát cửa ngõ phía bắc thành phố Huế, tạo nên sức ép trực tiếp trung tâm chỉ huy của địch ở vùng chiến thuật 1 và quân đoàn 1. Sau gần một tháng chuẩn bị, ngày 24 tháng 3 năm 1966, địch tập trung ba tiểu đoàn dù (7, 8, 9) ở Quảng Trị và sáu tiểu đoàn bộ binh khác cơ động từ Huế - nam Thừa Thiên ra. Máy bay hải quân Mỹ từ các  tàu sân bay hạm đội 7, đại bác từ các căn cứ Từ Hạ, Phò Trạch tập trung đánh phá dữ dội vào làng Chánh An, chi viện trực tiếp cho các cánh quân của chúng. Xe tăng địch từ An Lỗ - Sịa, Quảng Thái, Phò Trạch sang, từ Lương Mai, Phong Hòa đến. Bọn ở Đồng Lâm băng ngang trảng cát. Tất cả hướng về hợp điểm cuối cùng là Phong Chương. Đến 11 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1966, sau khi cho ném bom, bắn pháo dọn đường, dọn bãi xong, một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống phía trận địa đại đội 1, cố chiếm làng Chánh An. Bị đánh bật ra khỏi làng, địch lại củng cố đội hình, tiếp tục đột phá vào thôn. Nhiều lần, chiến sĩ ta nhảy lên khỏi chiến hào, đánh giáp lá cà với chúng. Từ trong khói lửa của cuộc chiến đấu, đồng chí Nguyễn Văn Tâm đạt hai danh hiệu dũng sĩ (dũng sĩ diệt cơ giới và dũng sĩ diệt Mỹ). Đồng chí Võ Công Liêm sử dụng nhiều loại vũ khí, cùng với xạ thủ trung liên Trịnh Xuân Phong, bẻ gãy nhiều đợt xung phong của địch. Các mũi, các cánh quân của tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 bố trí phía Mỹ Phú, Tây Hoàng, Nhất Phong, liên tục bẻ gãy các đợt tiến công của các tiểu đoàn dù 7, 8, 9 và các tiểu đoàn địch cơ động từ Huế ra. Những ngày cuối tháng 3, xe tăng, pháo binh và máy bay địch dồn sức yểm trợ cho bộ binh mở những đợt tiến công cuối cùng, hòng đánh bật lực lượng ta ở Phong Chương. Địch dùng máy bay lượn suốt ngày trên bầu trời ra rả gọi loa: "Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Thu và chính ủy Nguyễn Trọng Dần, hãy ra hàng, để hưởng lượng khoan hồng". Chiến sĩ ta trên các trận địa đã đáp lại chúng bằng những đợt đánh trả liên tục và kiên quyết. Tất cả mọi cố gắng cao nhất của địch đã bị chặn lại. 17 giờ 30 phút ngày 1 tháng 4 năm 1966, địch phải bỏ cuộc. Chỉ riêng ở rìa làng Chánh An, 54 chiến sĩ đại đội 1 tiểu đoàn 1 cùng với dân quân đã loại khỏi vòng chiến đấu nhiều lính thủy đánh bộ Mỹ.

Trong đạn bom dồn dập ác liệt, trong khi ta và địch giành giật từng ngõ xóm, đường thôn; nhân dân Phong Điền, Quảng Điền, Triệu Phong, Hải Lăng sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, phân công nhau đưa thương binh về nhà mình chăm sóc, nuôi dưỡng. Thanh niên cùng bộ đội kịp thời chuyển những thương binh nặng về tuyến sau. Thương binh nhẹ được giữ lại và tổ chức điều trị nuôi dưỡng chu đáo. Lúc bộ đội bám trụ chiến đấu, nhân dân cung cấp lương thực, đường sữa, thuốc men. Khi bộ đội lui quân về căn cứ, nhân dân mua gạo đóng thành từng túi, đêm đêm vượt vòng địch kiểm soát, mang ra điểm hẹn, đắp thành mộ giả, để bộ đội trở lại lấy. Các cụ già và cả các cháu thiếu niên cũng tham gia nhiệm vụ đầy thử thách nguy hiểm này. Lần đầu tiên ở vùng nông thôn đồng bằng, sát các căn cứ đầu não địch, trung đoàn chủ lực của ta đã trụ bám và đánh thiệt hại nặng, tiểu đoàn Mỹ, trong điều kiện địch đông hơn ta 15 lần về số quân, hơn ba lần về đơn vị cấp tiểu đoàn; có ưu thế hơn hẳn về không quân, pháo binh, cơ giới.

Cùng lúc với chiến thắng ở đồng bằng Trị - Thiên, Quân khu 4 được giao trách nhiệm tổ chức cho sư đoàn 325B vào chiến trường miền Nam. Trên đường tiến quân, sư đoàn có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm A Sầu.

Quân địch chiếm đóng ở đây gồm có một tiểu đoàn biệt kích tăng cường, một đại đội pháo hỗn hợp 105-106,7 ly. Ngoài những thành đất, lô cốt, hầm ngầm, các bãi mìn và rào dây thép gai như các cứ điểm khác, địch ở đây có lực lượng máy bay lên thẳng sẵn sàng cơ động đổ quân nhanh chóng xuống các vùng rừng núi xung quanh, lùng sục đánh phá các trạm giao liên, các kho tàng của ta.

Để đảm bảo đánh chắc thắng, từ tháng 1 năm 1966, trung tá Trần Văn Trân sư đoàn phó và phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn vào trước bắt liên lạc với Phân khu Trị - Thiên, lập phương án tác chiến. Trung đoàn 95B, do trung đoàn trưởng Lê Khắc Cần và chính ủy Nguyễn Hữu Hưu chỉ huy, được sư đoàn tăng cường hỏa lực, làm nhiệm vụ bao vây, tiến công ''diệt điểm". Trung đoàn 101B cơ động "đánh viện".

Binh trạm 1 Đoàn 559 được giao nhiệm vụ bảo đảm đủ lương thực cho sư đoàn 325B trong hai tháng. Do khó khăn, binh trạm chỉ chuẩn bị được vài chục tấn. Lương thực cạn kiệt trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, Bộ chỉ huy phân khu và Tỉnh ủy Thừa Thiên động viên đồng bào các dân tộc, các cơ quan và lực lượng vũ trang tại chỗ thu hoạch toàn bộ những nương sắn cuối cùng của mình, tiếp tế cho bộ đội. Sư đoàn phải dùng thêm củ mài, rau rừng, dành lương thực cho thương binh và bệnh binh. Dù vậy, quyết tâm chiến đấu của sư đoàn và tinh thần háo hức lập công của bộ đội vẫn được giữ vững. Ngày 6 tháng 3 năm 1966, trung đoàn 95B từ Tà Rụt cắt rừng hành quân vào, hình thành thế bao vây A Sầu. Hỏa lực ta khống chế sân bay và pháo binh địch. Xung lực khóa chặt đường bộ, tạo điều kiện cho trung đoàn 101B diệt quân tiếp viện ở vòng ngoài. Suốt sáu ngày liên tục bao vây, áp sát, lấn dũi, ta dồn địch vào thế khốn quẫn. Viện binh không lên được, quân đồn trú rút chạy không xong. Nắm đúng thời cơ khi địch đã dao động, ngày 11 tháng 3 năm 1966, trung đoàn 95B đột phá tiến công diệt gọn vị trí A Sầu. Ta diệt và bắt gần 1.000 tên địch. A Sầu bị diệt, cả tuyến hành lang tây Trị - Thiên, từ nam đường số 9 vào tây Quảng Nam - Đà Nẵng được nối liền thông suốt, tạo thêm thuận lợi cho việc tiếp tế, chuyển quân của ta.

Oay-nơ Mua-ray, cố vấn Mỹ ở A Sầu, nhờ máy bay cứu mà thoát chết đã bộc lộ tâm trạng: "Suốt 24 giờ đó, tôi không tin mình có thể sống. Ngay phút đầu, sáu quả đạn cối trúng nóc hầm chỉ huy. Điện đài đứt từng lúc, chỉ dùng tín hiệu. Lúc 2 giờ, nghe đào đất phía ngoài rào dây thép gai. Sáng sau, gọi máy bay, nhưng thời tiết xấu quá. Kho đạn cháy. Có lúc máy bay bay quá thấp dưới tầm bắn súng máy của "Vi-ci" (Việt Cộng) trên đồi quanh doanh trại, sáu máy bay bị bắn rơi. Cả phản lực đâm đầu vào núi".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:37:53 pm »


Phát huy thắng lợi xuân - hè năm 1966, đội 10 đặc công tiểu đoàn 4 trung đoàn 270, phân đội 12 đặc công và dân quân du kích Gio Linh, Cam Lộ tiếp tục mở đợt tiến công vào các đồn Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cầu Dài. Dốc Miếu là căn cứ pháo binh của ngụy án ngữ trên đường số 1 phía nam cầu Hiền Lương, gồm hai khu vực: khu trận địa pháo và khu trận địa bộ binh bảo vệ căn cứ.

Nhận nhiệm vụ cấp trên giao, đội 10 đặc công đã men theo vùng giáp ranh từ bờ sông Mỹ Chánh, vượt 40 ki-lô-mét qua các khu rừng đầy lau lách, tiếp cận đồn địch. Đêm 15 tháng 5 năm 1966, bằng lối đánh tiềm nhập bí mật, bất ngờ luồn qua bảy lớp rào dây thép gai và bãi mìn, đội 10 đã diệt toàn bộ bọn lính pháo binh ở Dốc Miếu, có một ban chỉ huy tiểu đoàn, hai ban chỉ huy đại đội, 280 tên lính bảo vệ căn cứ. 50 tên bị bắt, được ta giải thích chính sách khoan hồng của Mặt trận dân tộc giải phóng và được phóng thích tại trận. Ta thu một ĐKZ 75, một đại liên, một trung liên. 60 súng bộ binh, một điện đài 15w, một xe ô-tô, phá hủy tám khẩu pháo. Đây là trận đánh thử sức của đặc công (có kết hợp với bộ binh) đánh vào nơi địch phòng thủ khá mạnh tiếp giáp với miền Bắc. Trận đánh nhằm hỗ trợ cho đồng bào Gio Linh chống địch dồn dân vào trại tập trung; đồng thời, thăm dò phản ứng của địch và cài thế, tạo thế, chuẩn bị cho bước mở hướng tiến công mới ở mặt trận đường số 9.

Tháng 3 năm 1966, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng cách mạng phát triển mạnh mẽ, từ thành phố Đà Nẵng, Huế lan nhanh ra Quảng Trị, Hội An, Quảng Ngãi, Quy Nhơn... Nhân dân liên tục xuống đường biểu tình, đòi hòa bình, chống chiến tranh, giương cao các khẩu hiệu "Lật đổ Thiệu - Kỳ", “Thiệu - Kỳ là Hít-le", "Đả đảo Mỹ ủng hộ Thiệu - Kỳ". Học sinh bãi khóa. Tiểu thương bãi chợ. Công chức bỏ việc. Sinh viên Huế lập đội "Thanh niên quyết tử". Học sinh lập đội "xung kích". Giáo chức tổ chức "lực lượng chống đàn áp". Chị em tiểu thương chợ Đông Ba, nữ sinh trường Đồng Khánh tham gia cứu thương, tiếp tế cho "Quyết tử quân". Hàng trăm sĩ quan sư đoàn 1 ngụy tuyên bố "ly khai Thiệu - Kỳ". Sau khi tìm đủ cách dọa dẫm, xoa dịu, lừa bịp không được, Mỹ - ngụy phải đưa bảy tiểu đoàn "trâu điên" ác ôn thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ ra Đà Nẵng, Huế, để đàn áp phong trào.

Phong trào tuần hành của quần chúng ở thành phố, thị xã kéo dài 76 ngày. Tháng 5 năm 1966, cả thành phố Huế bừng bừng khí thế đấu tranh. Ngụy quân, ngụy quyền hầu như tê liệt. Sáng ngày 25 và 29 tháng 5, hàng chục nghìn người tổ chức mít tinh biểu tình ở Huế. Ngày 27 tháng 5, khoảng 15 nghìn người biểu tình tại thị xã Quảng Trị bác bỏ yêu cầu của Phan Văn Khoa, tỉnh trưởng Thừa Thiên, đòi lấy lại đài phát thanh do lực lượng đấu tranh chiếm giữ.

Phong trào nổ ra, địch tập trung lực lượng lớn đàn áp dã man, ta chưa tập trung được lực lượng lãnh đạo kịp thời và đầy đủ, nên đã bỏ lỡ cơ hội giành thắng lợi lớn hơn. Một số cơ sở của ta hoạt động trong phong trào này bị vỡ. Một số rút vào bí mật. Phong trào đấu tranh tuy không kết thúc thắng lợi, nhưng đã khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, chuyển thành một cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược, chống bọn tay sai bán nước và đã làm suy giảm cố gắng chiến tranh" của Mỹ-ngụy. Từ sự hình thành và phát triển của phong trào đấu tranh này đã gợi ý về một khả năng lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, hình thành một mặt trận công - nông - binh - trí thức liên hiệp chống Mỹ và tay sai, mở ra một hình thức nổi dậy của quần chúng đô thị chống lại chính sách thực dân mới của Mỹ - ngụy.

Trong đợt hoạt động xuân - hè 1966, chiến trường Trị - Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.400 tên địch, 30 trung đội dân vệ. Tất cả các trung đoàn của sư đoàn 1 ngụy đều bị thiệt hại. Ta giải phóng một vùng liên hoàn 30 ki-lô-mét ở nông thôn đồng bằng từ Triệu Phong, Hải Lăng đến Thanh Hương, giải phóng hoàn toàn miền núi của hai tỉnh từ nam đường số 9 trở vào. Trong dịp này, trung đoàn 270 và khu vực Vĩnh Linh đã đưa các đội tuyên truyền văn nghệ xung kích, các đội chiếu bóng vào những vùng giải phóng bắc Quảng Trị phục vụ đồng bào. Lần đầu tiên được công khai trực tiếp nghe lời ca, tiếng hát, phim, ảnh miền Bắc, đồng bào vùng giải phóng Trị - Thiên hết sức vui mừng phấn khởi và xúc động, tin tưởng. Bao năm bị địch kìm kẹp, muốn thấy lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc bay trên đỉnh cột cờ Hiền Lương, đồng bào ta cũng phải nhìn lén lút, nay lực lượng vũ trang cách mạng đã xuất hiện ở vùng nam khu phi quân sự.

Dựa vào tinh thần đóng góp tự nguyện của nhân dân vùng đồng bằng, ta đã thu mua, vận chuyển dự trữ được một lượng lương thực lớn. Các đơn vị bộ đội chủ lực, địa phương và các cơ quan đều đã có gạo cung cấp từ đồng bằng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:40:45 pm »


*

*       *

Trên chiến trường Trung - Hạ Lào, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra dai dẳng, quyết liệt.

Mỹ và quân phái hữu ở Lào tập trung 5 binh đoàn cơ động, 17 tiểu đoàn BV, BR địa phương, 35 đại đội lẻ, có không quân Mỹ, biệt kích ngụy miền Nam Việt Nam phối hợp, đánh phá quyết liệt vùng Hạ Lào, từ đường số 12 đến Bô Lô Ven. Chúng mở các cuộc hành quân lớn như Sân Xi, Si Khốt, Ta Bông, bình định lấn chiếm Bô Lô Ven, bắc - nam đường số 9. Các lực lượng phỉ, biệt kích, gián điệp tìm cách cắm sâu vào hậu phương của Pa-thét Lào. Lợi dụng tính chất sắc tộc, dân tộc, địch tập trung một số cụm phỉ ở Nậm Ngừm, Nha Hớn, Phu Voong Tay. Trong khi đó, không quân Mỹ ráo riết đánh phá ác liệt vùng giải phóng Lào, tập trung cắt đứt hệ thống vận chuyển 559, đoạn qua Trung Lào. Một ngày, máy bay chiến lược B52 ném bom trung bình 100 lần chiếc trên đất Lào.

Địch hình thành thế phòng ngự toàn tuyến Nậm Him Bun, dọc Xê Băng Phai, Sê Kun Kam, Xê Kông, tạo thế chia cắt vùng giải phóng của cách mạng Lào.

Được quân Mỹ làm hậu thuẫn, bọn phản động Lào tỏ ra rất hung hăng, tuyên bố lấn chiếm lại Mường Phìn và toàn bộ lưu vực sông Xê Kông (Hạ Lào). Mùa mưa, địch tăng cường bình định vùng đông dân, giàu của.

Đầu năm 1965, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 giao nhiệm vụ cho một số đơn vị dừng chân ở khu vực đường số 9 mở một chiến dịch ở vùng Trung Lào, có nhiệm vụ:

1. Phối hợp với bạn, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, bẻ gãy một cánh quân, đập tan âm mưu lấn chiếm, khôi phục vùng giải phóng, bảo vệ hành lang.

2. Giúp bạn củng cố vùng giải phóng, xây dựng cơ sở nhân dân; diệt phỉ, gián điệp.

3. Đẩy mạnh hoạt động địch hậu, giúp bạn phát triển dân quân, du kích.

4. Giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, huấn luyện tân binh, cải tạo tù binh.

Lúc này ở khu vực đường số 9, lực lượng của bạn có tiểu đoàn 14, tiểu đoàn pháo, hai đại đội đặc công, hai đại đội cao xạ 37 ly và súng máy 12,7 ly. Về lực lượng tình nguyện, có trung đoàn 9 (sư đoàn 304) do Quân khu 4 chỉ đạo, tiểu đoàn 929, hai đại đội pháo, cối, hai tiểu đoàn cao xạ 37 ly và súng máy 12,7 ly.

Bộ Tư lệnh quân khu tổ chức bộ chỉ huy và cơ quan chiến dịch. Tham mưu trưởng quân khu được cử làm chỉ huy trưởng kiêm bí thư đảng ủy; đồng chí phó chủ nhiệm chính trị quân khu làm chính ủy, phó bí thư đảng ủy chiến dịch; sư đoàn phó sư đoàn 304 giữ chức chỉ huy phó chiến dịch.

Do nắm địch không chắc, kế hoạch xây dựng không cụ thể, chu đáo, phân công nhiệm vụ các bộ phận không cụ thể; quyết tâm chiến đấu: đánh nhỏ, chắc thắng từ trận đầu không được quán triệt tốt đến từng cán bộ chiến sĩ cộng với tư tưởng ỷ vào khí thế, trông chờ hỏa lực, nên khi thực hành tiến công địch, ta gặp nhiều khó khăn. Giai đoạn 1 của chiến dịch, ta không hoàn thành nhiệm vụ, thậm chí còn bị tổn thất trong các trận Đồng Hến (ngày 9 tháng 3), Huội Mua (ngày 10 tháng 3). Rút kinh nghiệm giai đoạn 1, sang giai đoạn 2 của chiến dịch, ta đánh có hiệu quả hơn, song vẫn chưa thực hiện được ý đồ chiến thuật bao vây diệt gọn địch.

Tháng 5 năm 1965, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Mặt trận 565, thuộc Quân khu 4, nhằm phối hợp cùng bộ đội Pa-thét Lào đánh bại các cuộc càn quét, tiến công của địch nhằm lấn chiếm vùng giải phóng; xây dựng, củng cố, tăng cường lực lượng vũ trang, khôi phục đẩy mạnh phong trào vùng sau lưng địch. Phạm vi hoạt động của Mặt trận 565 từ Trung đến Hạ Lào. Lực lượng gồm trung đoàn 29, trung đoàn 27, tiểu đoàn 2 quân tình nguyện ở Hạ Lào, tiểu đoàn 1 quân tình nguyện, ba đại đội công tác cơ sở (7, 8, 9), sáu trung đội địch hậu và bốn trung đội cán bộ làm công tác xây dựng cơ sở. Phía bạn có năm tiểu đoàn chủ lực bộ binh, một tiểu đoàn pháo mặt đất, một tiểu đoàn pháo cao xạ; mỗi tỉnh có từ một đến hai đại đội độc lập, bộ đội địa phương huyện và du kích.

Ngoài ra, mặt trận thành lập thêm các đại đội binh chủng: thông tin, trinh sát, công binh, trung đội vệ binh và hệ thống trạm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2024, 08:42:30 pm »


Ngày 31 tháng 10, mặt trận mở đợt hoạt động trên đường số 12, phá vỡ hệ thống phòng ngự Na Đu - Xê Băng Phai, thu hút chủ lực địch ở các nơi đến, đặc biệt là chủ lực ở đường số 9, phá kế hoạch của địch lấn chiếm đường số 9, bảo vệ an toàn hành lang vận chuyển của ta.

Sau một loạt trận đánh phục kích, tập kích, ở Bản Khen, Khát Khan, Kê Peng, Na Đon. Noọng Bua, tập kích phỉ Mẹo ở Văng Viêng, ngày 11 tháng 11 năm 1965, tiểu đoàn 927 được giao nhiệm vụ phối hợp với một đại đội thuộc tiểu đoàn 15 của bạn, tiến công tiêu diệt cứ điểm Pha Hom.

Pha Hom nằm sâu trong tung thâm phòng ngự của địch, án ngữ đường số 12, cách thị xã Thà Khẹt 14 ki-lô-mét về phía đông – bắc, cách vị trí Na Đôn 12 ki-lô-mét. Cứ điểm được bố trí theo kẹt núi đá, sát chân núi đá. Địch lợi đụng sự che chở của các lèn đá phía đông - bắc và đông - nam làm những bức thành ngăn cách vùng ta với vùng chúng kiểm soát. Lực lượng địch ở đây bố trí thành cụm, kết hợp lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động khá chặt chẽ.

. Do cơ sở cách mạng của bạn chưa được tạo lập trong nhân dân vùng này, cộng với tính chất hiểm hóc của địa hình, nên mặc dầu đã tổ chức trinh sát Pha Hom ba lần, ta không nắm chắc được tình hình địch.

Khắc phục gian khổ khó khăn, tiểu đoàn 927 liên tục hành quân từ ngày 9 đến 11 tháng 11, dòng dây, bắc thang qua những mỏm đá tai mèo, dốc núi dựng đứng, mang vác vũ khí vào vị trí tập kết. Bốn đồng chí bị thương do trượt núi. Mặc dầu địch bắn vào đội hình, cả đơn vị vẫn kiên trì chịu đựng, giữ bí mật đến khi trận đánh bắt đầu. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra giằng co quyết liệt. Vào lúc 15 giờ ngày 11 tháng 11, địch núng thế phải bỏ chạy về Na Đon. Tiểu đoàn 927 hỗ trợ cho bạn truy kích, phục kích diệt một số ở cầu Nậm Dơn, bắc cầu Xê Băng Phai.

Trận Pha Hom đánh dấu sự tiến bộ về chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội ta trong tiến công đột phá vị trí hiểm yếu làm vỡ thế phòng ngự của địch.

Tháng 1 năm 1966, mặt trận sử dụng một số đơn vị tiến xuống Hạ Lào. Tiểu đoàn 3 quân tình nguyện (mới thành lập), xuất phát từ Vinh ngày 12 tháng 12 năm 1965, tới Hạ Lào ngày 2 tháng 1 năm 1966. Tiểu đoàn 927 rời đường số 12 từ ngày 26 tháng 11 năm 1965, xuống Lào Ngam. Để buộc địch phải bị động đối phó và bảo đảm thời gian hoạt động, tiểu đoàn được lệnh bỏ kế hoạch hành quân theo đường hành lang 559, tạt sang đường 23, qua huyện Tùm Lan, vượt sông Xê Đôn vào bắc Lào Ngam. Trên đường tiến đánh Noọng Xây, gặp lúc năm tiểu đoàn địch (4BI, BR460, BR470, BV41, BV44) đang mở cuộc càn "In-ta", tiểu đoàn 2 lập tức phối hợp cùng bạn tiến công, diệt sở chỉ huy và lực lượng 4BI tại Hun Cau.

Tiểu đoàn 4BI tan rã, buộc địch phải bỏ ngay cuộc càn vào ngày 13 tháng 11.

Sự xuất hiện của tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 927 buộc địch phải điều GM 21 xuống Sa Ra Van. Một đại đội tiểu đoàn 2 đã kịp thời vận động phục kích tại Pho Tốc, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên địch. Tiểu đoàn 927 vận động bẻ gãy cuộc càn vào Kép Pheng của đại đội CR4705 địch, thu 38 súng, giải tán hai trung đội dân vệ ở Noọng Pe, Noọng Pua. Đêm 22 tháng 1, đội đặc công ta tập kích vào thị xã Pắc Xế, diệt nhiều địch, phá hủy hai xe cơ giới, một khẩu pháo 105 ly, một đài 15w.

Ở khu vực Pheng Đeng (Mường Cầu), tiểu đoàn 3 sau hai tháng hành quân mang nặng, nhiều lần bị máy bay địch đánh, lại gặp lụt dừng mất bốn ngày, lương thực cạn, bộ đội phải ăn cả củ rừng, 38 người bị ốm, ngày 20 tháng 2 đã đến vị trí tập kết.

5 giờ ngày 25 tháng 2, tiểu đoàn 3 nổ súng tiến công căn cứ Pheng Đeng. Sau một giờ chiến đấu, lực lượng của bạn cùng đại đội 3 đánh ở hướng chính (bắc Pheng Đeng) đã phối hợp với đại đội 1 loại khỏi vòng chiến đấu đại đội 4 của địch và phát triển về Pheng Đeng, loại tiếp một đại đội của BR450, gồm 67 tên. Đại đội 3 phối hợp với bạn lùng sục tàn binh địch. Ngày 26 tháng 2, hai đại đội của tiểu đoàn BR450 và BI25 ở Phu Xa Pong và bọn Ma-ky ở Cheng Phoọc có máy bay và pháo yểm trợ, tiến về Pheng Đeng. Đại đội 2 giúp bạn chặn đánh địch, truy kích và tiếp tục phục kích đánh bại đợt tiến công thứ hai của chúng, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội gồm 12 tên, thu 13 súng.

Sáng 28 tháng 2, bốn đại đội của BR450, BI25, BI26 từ A Tô Pơ theo trục đường cái tiến về Pheng Đeng, tiểu đoàn 3 phối hợp cùng với bạn kết hợp các hình thức phục kích, tập kích, vận động tiến công đánh vỡ đội hình địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, ta thu 15 súng (có hai khẩu cối 60 và ba ĐKZ, bảy đại liên).

Ở hướng đường số 9, trong thời gian này ta và bạn chỉ tổ chức một số trận đánh nhỏ.

Các lực lượng vũ trang của bạn cùng bộ đội tình nguyện Quân khu 4 chiến đấu ở Pha Nom, Na Đon, Hin Bun, đông Bản Xanh, Bản Bung, cao điểm 164, đánh bọn lính Vàng Pao ở Bản Khoe.

Mùa khô 1965 - 1966, Mặt trận 565 đã hỗ trợ cho lực lượng của bạn loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, bắt 77 tên, thu sáu xe (có hai xe bọc thép), 16 khẩu ĐKZ, 14 súng cối, 295 súng bộ binh, 131 tấn đạn, 19 đài vô tuyến điện, giải phóng hoàn toàn Xê Con Đan, đẩy lùi địch về Xê Đăng Xoi. Tiếp đó, ta giải phóng vùng Cheng Ra Tê Pơ, buộc địch bị động phân tán lực lượng đối phó, bỏ dở kế hoạch lấn chiếm đường số 9, không thực hiện được kế hoạch "bình định" vùng Lào Ngam và Sa Ra Van.

Sang tháng 4 năm 1966, Liên quân Việt - Lào liên tục bao vây uy hiếp địch ở Lào Ngam, ghìm chân GM21 đến hết mùa mưa. Tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 4 quân tình nguyện tiếp tục giúp bạn động viên thêm quân, xây dựng lực lượng vũ trang, tiếp nhận viện trợ, tăng cường lực lượng, củng cố vùng giải phóng.
______________________________________________
1. Cuộc càn của địch bắt đầu từ ngày 12 tháng 1 năm 1966, dự định ngày 28 tháng 1 năm 1966 đến Bản Phon.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM