Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:26:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57109 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #90 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 09:04:47 pm »


Ở hướng phối hợp Thừa Thiên, các lực lượng của Bộ Tư lệnh B4 liên tục đánh địch ở Cù Mông, điểm cao 620, uy hiếp đường số 12, thu hút và kiềm chế một bộ phận quan trọng của sư đoàn 1 ngụy. Du kích các huyện trên toàn tỉnh, nhất là hướng bắc Thừa Thiên hoạt động rộng khắp, tiêu hao địch, buộc chúng phải phân tán đối phó.

Ở hậu phương trực tiếp, nhân dân khu vực Vĩnh Linh, khẩn trương huy động 8.000 dân công ngày đêm khôi phục nối liền quốc lộ số 1, bắc cầu phao qua sông Hiền Lương, chuẩn bị bến vượt cho xe, pháo lớn của ta kịp chuyển lên phía trước; đón nhận, chăm sóc thương binh, thu dung tù binh, hàng binh, giúp cho nhân dân Gio Linh, Cam Lộ các nhu cầu cần thiết lúc đầu.

Cùng với hướng trọng điểm Quảng Trị, từ ngày 31 tháng 3 đến cuối tháng 4, quân ta tiến công tuyến phòng thủ địch ở tây sông Pô Cô, giải phóng Đắc Tô, Tân Cảnh, uy hiếp vùng bắc Công Tum (Tây Nguyên), giải phóng Lộc Ninh, Bù Đốp, Thiện Ngôn, bao vây An Lộc, uy hiếp Sài Gòn (Đông Nam Bộ)...

Bất ngờ trước những đòn tiến công mở đầu của ta trên toàn miền Nam, nhất là trước tình hình đang diễn biến nghiêm trọng ở Quảng Trị, giới chóp bu Mỹ - ngụy tìm cách đối phó, phản ứng, hòng xoay chuyển lại tình thế. Tổng thống Ních-Xơn ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc. Chính phủ Mỹ đơn phương ngừng các phiên họp ở Hội nghị Pa-ri và đưa không quân, hải quân trở lại tham chiến ở miền Nam.

Ở Sài Gòn, hội đồng an ninh quốc gia ngụy họp khẩn cấp, bàn cách chặn đứng cuộc tiến công của ta, giữ Đông Hà - Quảng Trị và các huyện phía nam.

Địch điều quân cấp tốc từ Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế ra Quảng Trị đối phó với ta. Chỉ trong một thời gian ngắn, địch đã dồn về khu vực Đông Hà, Quảng Trị hơn 15.000 quân gồm năm trung đoàn bộ binh cùng với xe tăng, thiết giáp pháo binh các loại1. Với lực lượng mới tăng cường cùng với quân của sư đoàn 3 bộ binh và lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến đã đưa tổng số quân chủ lực ngụy ở đây vào giữa tháng 4 năm 1972 lên tới 54.500 tên, tương đương số quân trước ngày 30 tháng 3 năm 19722.

Với quân số đông, xe tăng, xe bọc thép nhiều (350 chiếc, có 130 xe tăng), hỏa lực mạnh (297 khẩu pháo các loại) lại được không quân và hải quân Mỹ chi viện ồ ạt, địch sử dụng phần lớn quân chủ lực tổ chức tuyến ngăn chặn mới trên chiều sâu 17 ki-lô-mét, chiều rộng không quá năm ki-lô-mét dọc theo quốc lộ số 1, gồm ba cụm lớn: Đông Hà - Lai Phước (là cụm chủ yếu, có ba trung đoàn bộ binh, hai thiết đoàn), Ái Tử (hai trung đoàn bộ binh, một thiết đoàn tăng cường, đây là cụm trung gian); La Vang - Quảng Trị (một trung đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp, căn cứ chỉ huy sư đoàn 3). Mỗi cụm triển khai số xe tăng, thiết giáp thành những "pháo đài thép di động" làm vỏ cứng vòng ngoài kết hợp với "hàng rào lửa” bằng hỏa lực nhiều tầng nhiều lớp của không quân, pháo hạm, pháo mặt đất kiểm soát chặt chẽ các hướng phát triển của ta bằng những "túi lửa" phong tỏa từ xa đến gần, nhằm ngăn chặn và tiêu hao lớn lực lượng ta trên một giải địa hình đồng bằng trống trải dưới thời tiết nắng nóng giữa mùa gió Lào miền Trung.

Một bộ phận quân chủ lực địch cùng với quân địa phương củng cố hệ thống phòng thủ bên sườn, phía sau, dọc vùng đồng bằng ven biển thuộc hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng, ra sức kéo dân sơ tán vào phía nam.

Quá trình thiết lập tuyến phòng thủ mới, chúng dồn bom, đạn bắn phá hủy diệt khu vực bắc Quảng Trị, phá cầu Đông Hà, rải chất độc hóa học khu vực Cùa - Ba Lòng, gây cho ta không ít khó khăn và thiệt hại.

Sau thắng lợi mở màn, biết địch đã thay đổi bố trí, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: "địch tuy tăng cường lực lượng nhưng chưa được củng cố, tinh thần hoang mang dao động, nếu ta đánh nhanh, đánh mạnh thì chúng sẽ tan vỡ nhanh". Từ nhận định trên, ta quyết định tiến công vào các cụm địch mới thiết lập. Đợt tiến công diễn ra đêm 8 và cả ngày 9 tháng 4, nhưng không thành công. Các lực lượng đột kích chưa chọc thủng được "vành đai thép" bằng xe tăng, thiết giáp của địch; chưa tạo ra nhiều hướng uy hiếp phân tán đối phó của chúng, phải tạm ngừng để chuyển sang bước hoạt động đêm, duy trì đánh nhỏ, vừa đánh giao thông tiếp tế, vừa tiếp tục tiêu hao địch, vừa tìm biện pháp đánh bại chiến thuật mới của chúng, tranh thủ chuẩn bị chu đáo hơn.

Các lực lượng tham gia chiến dịch được nhanh chóng bổ sung, củng cố. Lực lượng địa phương Quảng Trị khẩn trương luồn sâu xuống đồng bằng. Du kích, cán bộ chính trị, cơ sở quần chúng trong vùng địch vừa hoạt động nhỏ lẻ, rộng khắp, vừa giúp chuẩn bị chiến trường tạo thế. Một cánh bộ binh thiết giáp của chiến dịch được thành lập, có các lực lượng địa phương tham gia, lấy Cửa Việt làm bàn đạp khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu trên hướng đông.

Trong khi chiến đấu tạo thế ở khu vực Đông Hà - Ái Tử các khẩu đội B72 của Lục Vĩnh Tưởng, Lê Văn Trung và nhiều tổ bộ binh ta đã giành thắng lợi bước đầu trong việc săn diệt xe tăng, xe bọc thép địch bằng vũ khí mới và cách đánh gần3.

Ở tuyến sau, vượt qua bom đạn, chất độc hóa học và mọi thủ đoạn ngăn chặn của địch, quân và dân Hướng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ đã kiên cường bám trụ, vừa sẵn sàng chiến đấu giữ vững vùng mới giải phóng, vừa đảm đương nhiệm vụ của hậu phương trực tiếp tham gia chuẩn bị cho đợt tiến công. Giao thông qua sông Bến Hải đã thông suốt bằng mọi phương tiện của quân đội, Nhà nước và nhân dân. Tuyến hậu cần - kỹ thuật mới đã chuyển lên sát Đông Hà. Hàng chục nghìn dân Gio Linh, Cam Lộ được sơ tán an toàn ra Quảng Bình, Vĩnh Linh.
___________________________________________
1. Ngày 4 tháng 4, liên đoàn 1 biệt động quân từ Đà Nẵng ra La Vang, thiết đoàn 17 từ Đà Nẵng ra Quảng Trị. Ngày 5 tháng 5, một chi đoàn thiết giáp từ Sài Gòn ra Quảng Trị. Ngày 7 tháng 4, liên đoàn 5 biệt động quân từ Sài Gòn ra Lai Phước.
Cùng thời gian, địch còn điều lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến từ Sài Gòn ra đứng ở Mỹ Chánh, liên đoàn 4 biệt động quân từ Sài Gòn ra đứng ở Phú Bài. 1200 lính Mỹ giữ căn cứ Đà Nẵng được lệnh báo động sẵn sàng ra Quảng Trị, thiết đoàn 18 cũng từ Sài Gòn ra đứng ở Đồng Lâm.

2. Gồm bốn sư đoàn bộ binh và thủy quân lục chiến, năm trung đoàn tăng - thiết giáp, 17 tiểu đoàn pháo binh và quân địa phương còn lại.
3. Trong đợt này, 60 xe tăng, xe bọc thép, hai kho đạn, một số xe tải và lô cốt địch đã bị diệt bằng 116 viên dạn B72. Riêng khẩu đội Lục Vĩnh Tưởng ngay ngày đầu đã diệt sáu xe tăng địch bằng sáu viên đạn B72. Sau này hai pháo thủ Lục Vĩnh Tưởng và Lê Văn Trung đều được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #91 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 09:06:13 pm »


Sau thời gian chuẩn bị, ngày 20 tháng 4 năm 1972, quyết tâm và kế hoạch tiến công của Bộ Tư lệnh chiến dịch đã được phê chuẩn. Nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch tiến công là: "Tập trung lực lượng tiêu diệt các cụm địch ở Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, La Vang, hỗ trợ cho quần chúng ở Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, sau đó nắm thời cơ phát triển giải phóng Thừa Thiên". Xác định hướng tiến công chủ yếu là Đông Hà - Lai Phước. Hướng phối hợp quan trọng là Ái Tử. Hướng thọc sâu vu hồi và tiến công hỗ trợ quần chúng nổi dậy là đồng bằng Triệu Hải. Hướng chia cắt là nam Quảng Trị. Thừa Thiên vẫn là hướng phối hợp chung.

Quán triệt quyết tâm của chiến dịch, Tỉnh ủy, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị dồn đại bộ phận lực lượng vào cánh nam để hoạt động phối hợp, thành lập thêm cánh đông do đồng chí Nguyễn Văn Lương, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách. Ngoài ra, tỉnh còn cử một số đơn vị du kích và cán bộ chính trị tăng cường vào đội hình các lực lượng đột kích của chủ lực trên các hướng chủ yếu giúp trinh sát dẫn đường và liên lạc với du kích, cơ sở của ta phối hợp hoạt động.

Ở hậu phương Quân khu 4, quân và dân các tỉnh đã kịp thời đánh trả không quân, hải quân Mỹ, giữ vững mạch máu giao thông, không ngừng động viên sức người, sức của dồn ra phía trước, chi viện tiền tuyến và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn.

5 giờ ngày 27 tháng 4 năm 1972, pháo binh ta bắn gần 30.000 quả đạn vào các cụm địch ở Đông Hà, Lai Phước, Ái Tử, La Vang.

Dưới sự chi viện mạnh mẽ của pháo binh, bộ đội binh chủng hợp thành thuộc sư đoàn 308 đã đột phá mãnh liệt vào các cụm phòng ngự của địch ở Đông Hà, Lai Phước, phá vỡ từng mảng xe tăng, thiết giáp, bẻ gãy các mũi phản kích của chúng. Trận đánh diễn ra quyết liệt suốt ba ngày đêm, đến khi ta chiếm sân bay Đồng Hà, phá sập cầu Lai Phước, diệt phần lớn trung đoàn 57 và các liên đoàn biệt động số 4, số 5, thì địch ở đây mới hoảng hốt tháo chạy về Ái Tử, bỏ lại gần hết xe cộ và súng pháo nặng. Ta chiếm Đông Hà, Lai Phước lúc 18 giờ ngày 28 tháng 4 năm 1972.

Cuộc tiến công cụm địch ở Ái Tử của sư đoàn 304 quyết liệt và kéo dài hơn. Ta và địch quần nhau suốt ngày đêm, giành đi giật lại từng mục tiêu, nhất là cầu Quảng Trị, các thôn Trung Chỉ, Đại Áng trên quốc lộ số 1, cửa ngõ vào thị xã. Khi Đông Hà đã mất, lực lượng bị tiêu hao nặng nề, địch ở Ái Tử tìm cách rút chạy về thị xã qua cầu Quảng Trị. 20 chiến sĩ do trung đội trưởng Mai Quốc Ca chỉ huy (thuộc trung đoàn 9, sư đoàn 304) đã mưu trí, quả cảm chiếm lô cốt đầu cầu, đánh hất địch lại và chiến đấu đến người cuối cùng, bịt chặt đường rút của chúng tạo điều kiện cho quân ta ập đến tiêu diệt. Tàn quân địch vứt bỏ xe cộ, trang bị, liều lội qua sông bị diệt thêm một số. Ta chiếm Ái Tử lúc 2 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1972, phá và hai cụm mạnh nhất của tuyến phòng thủ Đông Hà - Quảng Trị, áp sát thị xã từ tả ngạn sông Thạch Hãn.

Cùng lúc diễn ra cuộc tiến công vào quân địch co cụm dọc quốc lộ số 1, cánh thọc sâu vu hồi chiến dịch của trung đoàn 27 bộ binh và tiểu đoàn 66 bộ binh thiết giáp có các lực lượng địa phương tham gia1, được sự hỗ trợ rất tích cực của cán bộ cơ sở và quần chúng cách mạng, sự chi viện hết lòng của hậu phương Vĩnh Linh, đã từ bàn đạp Cửa Việt bước vào tiến công trong hành tiến, đột phá vào hệ thống phòng thủ của địch dọc vùng đồng bằng ven biển Triệu Hải. Quân đi đến đâu đều được nhân dân phấn khởi chào đón và phối hợp đánh địch bằng sức mạnh áp đảo bất ngờ, bằng binh vận, kêu gọi địch đầu hàng hoặc làm binh biến. Nhờ đó ta đã nhanh chóng đánh chiếm Gia Đẳng, một khu tập trung lớn gần 10 nghìn dân (28 tháng 4), bao vây bức hàng chi khu quân sự Triệu Phong (29 tháng 4), làm chủ các thôn Linh Chiêu, Phương Lang (30 tháng 4) và tiến chiếm chi khu quân sự Hải Lăng lúc 10 giờ, ngày 2 tháng 5. Thừa tháng, đội hình thọc sâu phát triển tiếp đến bắc sông Mỹ Chánh (3 tháng 5). Các lực lượng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thọc sâu vu hồi trên một chiều dài ngót 90 ki-lô-mét từ sông Cửa Việt đến sông Mỹ Chánh, đánh một đòn hiểm sau lưng địch, giải phóng hai huyện đồng bằng, tạo thuận lợi lớn cho nhiệm vụ giải phóng Quảng Trị.

Phối hợp chặt chẽ với các hướng khác, ở hướng nam, cánh chia cắt chiến dịch do sư đoàn 324 làm nòng cốt, có lực lượng tại chỗ tham gia đã tiến công vào hệ thống phòng thủ của địch trong khu vực này. 6 giờ ngày 30 tháng 4, ta đánh chiếm cầu Dài, cầu Bến Đá, làm chủ đoạn quốc lộ số 1 giữa hai cầu, mở rộng vùng kiểm soát ra phía bắc đến Nhùng và phía nam đến sông Mỹ Chánh, đánh lui các đợt ứng viện của lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến ngụy ra giải tỏa cho đồng bọn bị vây hãm ở Quảng Trị, La Vang.

Đang lúc địch ở các cứ điểm hoang mang, lúng túng, thì trưa ngày 2 tháng 5, hàng loạt đạn hỏa tiễn BM14, Đ74 bắt thần dội xuống làm chúng thêm khiếp đảm và rối loạn. Cố vấn Mỹ bỏ về Sài Gòn, Vũ Văn Giai vội vã lên trực thăng tẩu thoát. Mất chỉ huy, đội hình địch tan vỡ liều chết theo quốc lộ số 1 chạy về Mỹ Chánh, nhưng chúng đã bị các đơn vị phía nam của ta chặn đánh lại. Suốt đoạn đường số 1 từ cầu Dài đến cầu Bến Đá, hàng trăm xe pháo, xác địch ngổn ngang.

18 giờ ngày 2 tháng 5 năm 1972, quân ta tiến vào thị xã Quảng Trị, cắm cờ chiến thắng lên tòa hành chính ngụy, đánh dấu ngày tỉnh Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng sau một thời gian dài bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chiếm đóng.

Trong đợt tiến công này, nhân dân, du kích các thôn xã, các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện đã nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, kiên cường bám trụ, phục vụ và phối hợp với các binh đoàn chủ lực chiến đấu dũng cảm. Du kích và nhân dân các xã Triệu Thượng, Triệu Lễ, Triệu Ái sát cánh với bộ đội trong những trận đánh rất ác liệt để giải phóng Ái Tử và thị xã. Dưới bom đạn của địch, nhân dân xã Triệu Thạch tự dỡ nhà mình làm công sự cho bộ đội; tham gia tiếp tế đạn, lương thực cho các chiến sĩ đánh địch phản kích. Ngư dân ven biển, ven sông đem hết thuyền, chặt thêm tre, chuối kết bè mảng giúp bộ đội vượt sông. Các tiểu đoàn 8, 10, 14 bộ đội địa phương tỉnh cùng với du kích và nhân dân Hải Lăng kịp thời đánh chiếm từng mảng đồn bốt, phá bỏ hệ thống kìm kẹp của địch, phối hợp đắc lực với chủ lực. Du kích và nhân dân xã Triệu Vĩnh chủ động chiếm đồn Thị Ông, xã Hải An chiếm cảng Mỹ Thủy, xã Hải Thiện tham gia truy kích lính "cộng hòa", xã Hải Châu chiếm đồn Đa Nghi, xã Hải Thượng vây đánh địch rút chạy, gọi hàng và bắt hàng trăm tên địch; trong đó, có hai bà mẹ đã tiến thẳng vào căn cứ một tiểu đoàn lính "cộng hòa", kêu gọi chúng bỏ súng đầu hàng. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy của địa phương ở cánh đông đã lên xe thiết giáp dẫn đường cho bộ đội tiến công và tuyên truyền phát động quần chúng, gọi hàng binh lính địch. Đồng chí Lê Thị Tám, người bí thư đảng ủy xã, chỉ huy du kích Triệu Thượng cùng đồng đội bám sát thôn xã chiến đấu. Đồng chí Bích Lan, thị ủy viên, mưu trí dẫn đường cho các đơn vị vượt sông chiếm thị xã.
____________________________________________
1. Lực lượng địa phương trong đội hình thọc sâu gồm có: tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 47, khu vực Vĩnh Linh; các đại đội địa phương Triệu Phong, Hải Lăng. Ngoài ra, khu đội Vĩnh Linh còn tăng cường thêm đại đội 11 bộ binh, đại đội 18 pháo cối, đại đội 14 Công binh phối hợp với lực lượng tỉnh Quảng Trị trên cánh này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #92 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 09:07:39 pm »


Trên hướng phối hợp Thừa Thiên, lực lượng địa phương hoạt động trên đường số 12. Một bộ phận chủ lực B4 đánh sâu xuống chi khu Hương Trà, Nam Hòa. Tỉnh mở thêm đợt hoạt động du kích ở các huyện phía nam, phá hỏng nặng đường sắt Đà Nẵng - Huế, địch phải bỏ hẳn tuyến đường sắt này kể từ đó.

Trong 34 ngày đêm (từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 2 tháng 5) của giai đoạn đầu chiến dịch, các lực lượng của ta đã diệt và làm bị thương hơn 14.000 địch, bắt hơn 3.000 tên, trong đó sư đoàn 3 ngụy bị tiêu diệt. Toàn bộ quân địa phương ở Quảng Trị bị tan rã. Ta phá hủy và thu 636 xe tăng, thiết giáp (thu nguyên vẹn 56 chiếc) và 187 xe quân sự khác, 419 khẩu pháo (73 khẩu thu nguyên vẹn), bắn rơi và phá hủy 340 máy bay; giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị với gần 30 vạn dân. Quân và dân Quảng Trị đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung. Vừa phục vụ chiến đấu và phối hợp chiến đấu cùng với bộ đội chủ lực, các lực lượng địa phương và nhân dân Trị - Thiên đã diệt và chiếm lĩnh hai thị xã, sáu quận lỵ, chi khu, 55 đồn bốt bảo an dân vệ, 56 cơ quan ngụy quyền thôn xã, triệt hạ toàn bộ hệ thống chính quyền tay sai, tổ chức chính quyền cách mạng từ tỉnh đến cơ sở, phá trên 10 khu tập trung dân của địch, đưa hàng chục nghìn dân về làng cũ, sơ tán 15 nghìn dân Gio Linh, Cam Lộ đến nơi an toàn. Riêng Triệu Phong, Hải Lăng, 160 nghìn trong số 210 nghìn dân kiên cường bám quê hương, chiến đấu; phá hai nhà lao, giải thoát gần 150 anh chị em tù chính trị bị giam cầm.

Quê hương được giải phóng, nhưng quân và dân Quảng Trị đang đứng trước nhiều thử thách nặng nề. Ngày 1 tháng 6 năm 1972, Tỉnh ủy Quảng Trị ra nghị quyết "bảo vệ và xây dựng vùng giải phóng một cách toàn diện". Ngày 9 tháng 6 năm 1972, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Trị làm lễ ra mắt tại thị xã. Các cấp chính quyền từ huyện đến xã được thành lập. Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng và các đoàn thể quần chúng từ tỉnh đến cơ sở bắt đầu hoạt động. Toàn tỉnh có gần 1.000 đoàn viên thanh niên nhân dân cách mạng, 5.029 hội viên thanh niên giải phóng, 12.600 hội viên phụ nữ giải phóng, 1.069 hội viên hội mẹ chiến sĩ. Tỉnh ủy đã khẩn trương củng cố lại các huyện ly, thành lập các chi bộ đảng ở xã, phát triển thêm đảng viên. Số đảng viên tăng nhanh cả số lượng và chất lượng. Nếu quý 1 năm 1972 toàn tỉnh có 2.757 đảng viên thì quý 2 tăng lên 3.357 đảng viên. Cán bộ các ngành cấp huyện và tỉnh có 2.080 người.

Tỉnh đội triển khai củng cố, xây lực lượng vũ trang địa phương và đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích. Sau khi tiếp nhận tiểu đoàn 3 (bộ đội địa phương khu vực Vĩnh Linh chuyển giao lại), tỉnh đã điều chỉnh bố trí các đơn vị phù hợp với nhiệm vụ mới, vừa làm nòng cốt trong phòng thủ khu vực, vừa xây dựng làng chiến đấu, dìu dắt dân quân, du kích1. Bộ đội địa phương huyện được bổ sung quân số, vũ khí. Hơn 2.000 thanh niên được tuyển chọn và tự nguyện tham gia lực lượng vũ trang của tỉnh, ở các thôn, xã có 1.512 du kích xã, 3.266 du kích thôn, 1.048 dân quân. Mỗi xã đều có trung đội du kích tập trung. Cán bộ thôn đội, xã đội, trung đội có 703 người đều có kinh nghiệm chiến đấu ở địa phương.

Nhân dân được phát động đã tích cực xây dựng làng xã chiến đấu. Trong thời gian ngắn, nhân dân đã đào được 17.212 hầm, 34.404 mét giao thông hào...

Hệ thống tổ chức an ninh được khẩn trương xây dựng và hoạt động với 315 an ninh vũ trang, 96 an ninh nhân dân và 300 an ninh huyện. Tỉnh thành lập công an xã, thôn và mạng lưới an ninh cơ sở.

Kết hợp vừa xây dựng củng cố, vừa chiến đấu bảo vệ địa bàn, lực lượng vũ trang và an ninh địa phương đã cùng nhân dân liên tục đánh trả địch bắn phá và lấn chiếm, diệt 35 tên, bắn rơi hai máy bay, bắn cháy hai xe tăng, truy bắt bọn phản động, kêu gọi 65 tên ra đấu thú, cải tạo và phóng thích 182 tên khác.

Những kết quả trên đây của một tỉnh mới giải phóng trong những ngày đầu còn non trẻ, thể hiện cố gắng lớn của quân và dân Quảng Trị.

Trước tình thế Quảng Trị bị thất thủ, Thừa Thiên bị uy hiếp nặng nề, Mỹ - Thiệu cách chức Hoàng Xuân Lãm, đưa tướng Ngô Quang Trưởng thay làm tư lệnh quân khu 1 (quân đoàn 1) giải thể luôn sư đoàn 3. Địch khẩn trương củng cố bổ sung các đơn vị bị tổn thất, đồng thời đưa hết lực lượng dự bị của quân đoàn 1 cùng với 17 tiểu đoàn pháo binh, năm trung đoàn xe tăng, xe bọc thép thiết lập một phòng tuyến mới ở nam sông Mỹ Chánh, nhằm trước mắt ngăn chặn ta phát triển vào Thừa Thiên đồng thời tranh thủ thời gian chuẩn bị cho một cuộc phản công quy mô lớn chiếm lại Quảng Trị.

Trên tuyến phòng ngự này, bộ binh và xe tăng địch vừa ngăn chặn ta theo lối "phân tán, di động", kết hợp với các trận phản kích quy mô vừa và tích cực lấn chiếm một số địa hình có lợi phía bắc sông Mỹ Chánh, vừa lập thêm bàn đạp vừa thăm dò và phá các hoạt động chuẩn bị của ta. Không quân, pháo hạm và pháo mặt đất liên tục bắn phá những khu vực ta kiểm soát. (Trung bình 11 lần chiếc mỗi ngày trong tháng 5 năm 1972, lên 51 lần chiếc, cao nhất tới 106 lần chiếc mỗi ngày trong tháng 6 năm 1972).

Tình hình địch, ta thay đổi. Thế trận và yếu tố bất ngờ trong ý định giải phóng Thừa Thiên không còn nữa. Cả thế và lực của ta đều chưa đủ mạnh. Tuy có tổ chức hoạt động tạo thế trong khu vực nam sông Mỹ Chánh, bắc sông Bồ từ ngày 3 tháng 5 đến ngày 19 tháng 6, các lực lượng của chiến dịch có tiêu hao thêm một số địch, chiếm được một số bàn đạp, nhưng không tạo ra được một chuyển biến nào có ý nghĩa. Hệ thống đường sá phía nam phải chuẩn bị trong hoàn cảnh vừa đánh địch, vừa mở đường nên rất chậm. Mùa mưa đến sớm gây lũ lớn ở sông Thạch Hãn, địch lại khống chế ác liệt các điểm vượt sông, nên vận chuyển từ sau lên gặp khó khăn lớn. Nhiều đơn vị phải dùng một phần lực lượng làm vận tải. Hầu hết các đơn vị chủ lực ta tuy có được bổ sung quân số, song cán bộ, chiến sĩ đều mệt mỏi, sức khỏe giảm sút, quân số bị hao hụt không bù kịp, các vũ khí nặng vận chuyển khó khăn và thiếu dạn. Trong khi đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch vẫn cho rằng khả năng của địch chỉ có thể phản công vào mùa mưa với điều kiện phải có thêm từ một đến hai sư đoàn nữa; trước mắt chúng chỉ có thể tổ chức cuộc hành quân vừa tại Hải Lăng. Từ đó Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tiếp tục tiến công, phá vỡ tuyến phòng thủ nam sông Mỹ Chánh của địch, thực hiện quyết tâm của trên: "tiêu diệt đại bộ phận lực lượng quân sự của địch, giải phóng Thừa Thiên. Kể cả Huế và Phú Bài - đưa cuộc tiến công chiến lược ở Thừa Thiên đến toàn thắng” (diện Quân ủy Trung ương gửi Bộ Tư lệnh B702).
______________________________________________
1. Bố trí lực lượng của tỉnh Quảng Trị sau khi được giải phóng: tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 8 tại thị xã Quảng Trị, tiểu đoàn 14 tại Cửa Việt, tiểu đoàn 10 tại Mỹ Thủy, Diên Sanh. Mỗi huyện phía sau và hai thị xã có một đại đội, riêng Triệu Phong, Hải Lăng mỗi huyện hai đại đội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #93 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 09:09:32 pm »


Sau khi đã phải kéo dài công tác chuẩn bị, đến 20 tháng 6 năm 1972, ta mới mở đầu tiến công. Một vài đơn vị chủ lực chọc thủng được phòng tuyến địch, bắt liên lạc với lực lượng địa phương bắc Thừa Thiên, tích cực thọc sâu vào tuyến sông Bồ. Nhưng cuộc tiến công của ta không đồng đều, sức chiến đấu bộ đội giảm nhanh. Sau bảy ngày chiến đấu (20 tháng 6 đến 26 tháng 6 năm 1972), ta diệt thêm gần 3.000 tên địch, nhưng các mũi đột phá của ta đều bị chặn lại. Ta không giải phóng thêm được đất đai, ngược lại bị mất thêm một số bàn đạp ở bắc sông Mỹ Chánh. Tổn thất lúc này của ta còn cao hơn cả tổn thất trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị.

Trước thực tế đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương ngừng tiến công để chuẩn bị đối phó với địch phản kích. Nhưng đã muộn, sáng 28 tháng 6 năm 1972, cuộc hành quân “Lam Sơn 72" - cuộc phản công lớn của quân ngụy đã bắt đầu. Tỉnh Quảng Trị mới được giải phóng gần hai tháng lại đứng trước thử thách mới.

Âm mưu địch trong cuộc Phản công này là tái chiếm thị xã Quảng Trị trong tháng 7 và toàn tỉnh Quảng trị trong tháng 9 năm 1972. Sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến phản công trên hai trục: quốc lộ số 1 (sư đoàn dù) và tỉnh lộ 68 (sư đoàn thủy quân lục chiến). Lực lượng dự bị của địch có chiến đoàn 4 mới được thành lập (gồm một trung đoàn bộ binh và một trung đoàn xe tăng, xe bọc thép). Toàn bộ pháo binh của quân đoàn 1, tất cả sư đoàn 1 không quân, vùng 1 hải quân ngụy cùng với không quân và hải quân Mỹ bảo đảm chi viện hỏa lực. Mỹ đã tăng gấp đôi số máy bay B52, triển khai trở lại toàn bộ lực lượng không quân chiến thuật ở miền Nam để chi viện hỏa lực cho quân ngụy phản công. Đứng sau đội hinh phản công là sư đoàn 1 bộ binh và một bộ phận của sư đoàn 2, liên đoàn 1 biệt đông quân... kể cả một bộ phận thủy quân lục chiến Mỹ đã sẵn sàng ở căn cứ Phú Bài.

Ngày 20 tháng 6 năm 1972, địch tổ chức cuộc đổ bộ giả vào vùng ven biển từ Cửa Việt đến Cửa Tùng để nghi binh. Sau đó liên tiếp trong hai ngày đêm (26 và 27 tháng 6) địch bắn phá dọn đường. Sáng sớm ngày 28 tháng 6 năm 1972 từ tuyến xuất phát đông Mỹ Chánh, bộ binh và xe tăng dịch mở cuộc phản công. Chúng kết hợp tiến công đường bộ (đường số 1 và đường 68) với đổ bộ đường không (nam sông Nhùng, Cổ Lũng) và đường biển (khu vực Thuận Đầu) từ nhiều hướng tiến đánh các chốt của ta trên đường tới thị xã.

Bộ đội chủ lực ta đang ở thế tiến công phải vừa điều chỉnh gấp đội hình, vừa chiến đấu chặn địch. Chỉ trong một tuần địch đã tràn qua một vùng khá rộng từ Gia Đẳng, Long Hưng đến La Vang, chiếm lại quận lỵ Hải Lăng, ốp sát ngoại vi phía nam thị xã Quảng Trị.

Bộ chỉ thị cho mặt trận Quảng Trị "chỉ có một khả năng giữ Quảng Trị, đánh bại cuộc hành quân của địch". Bộ Tư lệnh B702 quyết định "tăng cường và chi viện cho lực lượng giữ thị xã, đồng thời liên tục tổ chức những trận phản kích hai bên sườn, chủ yếu là hướng tây, từng bước đánh bại ý đồ của địch, nhanh chóng chiếm thị xã". Lực lượng ta “chuyển từ chiến dịch tiến công sang phản công” để đánh bại cuộc phản công của địch.

Trước yêu cầu cấp bách phải bảo vệ quê hương mới được giải phóng, Tỉnh ủy Quảng Trị chủ trương "kiên quyết phối hợp vơi chủ lực đánh bại cuộc phản kích của địch" và đề ra biện pháp: tập trung giữ vững thị xã Quảng Trị, nhanh chóng hình thành chiến tranh du kích sau lưng địch, tổ chức sơ tán dân Triệu Phong, Hải Lăng về phía sau, tích cực phòng tránh, hạn chế thiệt hại.

Tại khu vực thị xã, ngoài lực lượng nòng cốt là trung đoàn 48 được tăng cường xe tăng, pháo binh, tỉnh đã bổ sung quân số đầy đủ cho các tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 8 của tỉnh, đại đội 32 của thị xã và một số du kích, cán bộ cơ sở để phối hợp bảo vệ địa bàn.

Tiểu đoàn đặc công tỉnh và các đại đội bộ đội địa phương huyện Hải Lăng cùng với du kích bám trụ thôn xã, tích cực hoạt động ở những vùng chúng đã tràn qua, xây dựng phong trào chiến tranh du kích sau lưng địch.

Tiểu đoàn 14 với nhiệm vụ chủ yếu là cùng chủ lực chốt giữ Cửa Việt và các điểm trọng yếu ở phía đông, nhưng phải khẩn trương cùng cán bộ cơ sở vận động và tổ chức sơ tán dân Triệu Hải về phía sau, kể cả những vùng địch tràn qua.

Cuộc đánh trả địch phản công của quân và dân ta trên mặt trận Quảng Trị quyết liệt ngay từ những ngày đầu.

Sau khi chiếm được một số bàn đạp có lợi, địch chuyển sang tiến công vào thị xã. Suốt từ ngày 4 đến 24 tháng 7, quân dù ngụy đã đột phá từ hướng tây - nam, trong khi thủy quân lục chiến ngụy đánh vòng lên phía bắc. Ý định của địch chiếm thị xã vào ngày 10 tháng 7, nhưng không thành, chúng lùi thời hạn đến ngày 18 tháng 7, rồi 27 tháng 7. Trong thời gian đó, quân dù đã tổ chức hai lần tiến công. Trận địa chốt hiểm yếu của ta do các chiến sĩ đại đội 5 (trung đoàn 48) ở khu vực ngã ba Long Hưng trên cửa ngõ vào trung tâm thị xã, do đại đội trưởng Tạ Đình Dong và chính trị viên Vũ Trung Thướng chỉ huy phải chiến đấu với tương quan lực lượng quá chênh lệch "1 chọi 100". Bộ đội ta đã kiên cường, mưu trí đánh quỵ lữ đoàn 2 dù.

Một bộ phận địch đến sát đông nam Thành cổ, các chiến sĩ của tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 3, đánh bật lại. Nhiều tên liều chết tìm cách trèo lên bờ thành cắm cờ, liền bị trung đội trưởng Hán Duy Long (tiểu đoàn 8 ) và đồng đội tiêu diệt1. Tiểu đoàn 14 địa phương và lực lượng tại chỗ cùng chủ lực chặn đánh địch ở tuyến các làng Ngô Xá, Cù Hoan, Trà Trì, Trà Lộc. Ngày 22 tháng 7, địch đổ bộ bằng trực thăng xuống bắc sông Vĩnh Định, bị các lực lượng ta đánh thiệt hại nặng tại Lệ Xuyên.

Sau 20 ngày tiến công thị xã, địch chỉ lấn thêm đến làng Tri Bưu, làng Cổ Thành và khu vực chợ Sải. Lực lượng ta trên các trận địa đã vượt qua những thử thách ban đầu. Nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện, thị xã vẫn bị bao vây và bị uy hiếp, tiếp tế vận tải từ hậu phương tới rất khó khăn, lực lượng hiện có của ta trên toàn mặt trận chưa có một thế bố trí thích hợp.
_____________________________________________
1. Thị xã Quảng Trị nằm sát bờ nam sông Thạch Hãn, phía đông quốc lộ số 1, rộng khoảng 2,5 ki-lô-mét vuông. Thành Cổ nằm trong thị xã, xây bằng gạch từ năm 1927, có hình gần vuông mỗi cạnh 500 mét, rộng gần 25.000 mét vuông, có tuờng cao ba mét, dầy năm mét, phía ngoài có hào rộng 15 mét bao quanh. Ở đây, dưới thời ngụy có nhà tỉnh trưởng, tòa thị chính, khu cố vấn Mỹ và một cơ quan dân sự ngụy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #94 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 09:15:30 pm »


Trung tuần tháng 7 năm 1972, lực lượng bảo vệ thị xã được tăng thêm trung đoàn 95 (sư đoàn 325D). Một ban chỉ huy chung được thành lập. Riêng bộ đội chủ lực tại thị xã đã lên tới tám tiểu đoàn bộ binh1. Sư đoàn 325D (thiếu) được triển khai trên bờ bắc sông Thạch Hãn, sư đoàn 308 đứng chân phía tây và sư đoàn 320 (thiếu) hoạt động ở phía đông. Một thế trận mới được hình thành hai bên sông Thạch Hãn, trong đó thị xã Quảng Trị là mục tiêu bảo vệ chủ yếu.

Phía nam tỉnh, trong vùng địch đã tràn qua, chiến tranh du kích đang lan rộng. Bộ đội địa phương tỉnh đã có những trận đánh tốt ở Hội Yên, Gia Đẳng (tiểu đoàn 14), ở Trà Trì, Trà Lộc (tiểu đoàn 10), đánh sập cầu Hội Yên, Ngô Xá Đông, cầu Ba Bến trên tỉnh lộ 68, (đại đội 24 công binh). Du kích Triệu Sơn, Triệu Trạch, Hải Thượng..., đã đánh địch bằng súng bộ binh, chông, bẫy. Các xã đội trưởng Hải Thượng (đồng chí Nam), Triệu Trạch (đồng chí Kỳ) đều anh dũng lập công, bắn cháy xe địch, được thưởng huân chương. Đồng chí Trần Thị Tâm, huyện đội phó Hải Lăng cùng một tổ nữ du kích xã Hải Quế đã bám trụ làng xã chiến đấu, quần đánh một tiểu đoàn địch càn quét suốt một ngày. Phát hiện thấy hầm của ta, từ trực thăng địch dùng rốc két bắn thẳng vào hầm. Tâm bị trúng đạn. Trước khi hy sinh, chị đã kịp tháo giấu súng, đốt hết tài liệu. Nơi đồng chí Tâm ngã xuống cách không xa ngôi nhà thân yêu của chị. Trần Thị Tâm được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cũng trên vùng đất này, du kích và cán bộ cơ sở đã không quản hy sinh, gian khổ, lăn lội dưới bom đạn, trong đêm tối đến từng nhà, từng đoạn hầm, hào, vận động thuyết phục và tổ chức đưa dân đi sơ tán. Cần mẫn và nhẫn nại, hết đêm này đến đêm khác, len lỏi qua đội hình dày đặc của địch, cán bộ, du kích quyết tìm cho được từng người già, phụ nữ, trẻ em còn kẹt lại. Bằng sự kiên trì đó, ta đã đưa 60 nghìn dân Triệu Hải về sau an toàn, được hậu phương "nhường áo sẻ cơm", góp phần động viên chiến sĩ và du kích yên tâm ở lại chiến đấu.

Trong suốt tháng 8 năm 1972, lính thủy quân lục chiến thay quân dù, ba lần tiến công vào thị xã. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo binh, không quân, bộ binh và lính thủy đánh bộ ngụy đột kích liên tục, đánh "lấn dũi" nhích dần đến mục tiêu, chiếm từng đoạn hào, giành từng ô đất. Bộ đội ta kiên cường chiến đấu, đẩy lùi hết đơn vị này đến đơn vị khác của địch, không phân biệt ngày đêm, thời tiết nắng, mưa.

Phần lớn khu vực ngoại vi đã bị mất, lực lượng ta ở thị xã thực sự đang chiến đấu trong vòng vây ngày càng thít chặt của địch. Nhưng từ những trận địa đang nghiêng ngả, chao đảo vì bom đạn, các chiến sĩ ta vẫn kiên cường đánh trả quân địch. Các chiến sĩ tiểu đoàn 5 (trung đoàn 95) do tiểu đoàn phó Vũ Xuân Cương chỉ huy quần đánh với tiểu đoàn 1 thủy quân lục chiến ngụy ở chốt Tri Bưu. Do tương quan lực lượng ta, địch quá chênh lệch, địch chiếm được trận địa của tiểu đoàn 5. Sáng ngày 5 tháng 8, đại đội 7 với 27 tay súng đã táo bạo tập kích và nhanh chóng chiếm lại trận địa. Các chiến sĩ tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 3 trực tiếp giữ Thành Cổ có ngày đánh lui 13 lần tiến công của địch. Chiến sĩ Phan Văn Ba bị thương nát một bàn tay vẫn xin ở lại chiến đấu. Pháo thù súng cối Bùi Huy Hoàng bắn liên tục 60 quả, tay phồng rộp, lại bị địch phản pháo, vẫn không hề nao núng. Đồng chí Phan Thị Hồng, cán bộ cơ sở của thị xã vừa gan góc bám trụ chiến đấu vừa mưu trí dẫn đường cho chủ lực đánh địch, lại còn bảo đảm liên lạc, đưa đón các đơn vị ra vào thị xã thay quân giữa vòng vây và bom pháo của địch. Du kích và nhân dân xã Triệu Thượng bên kia sông, đứng vững dưới bom đạn của quân thù, giữ vững mạch máu giao liên với thị xã trong mùa lũ lớn, mưa to và địch thường xuyên phong tỏa2.

Cuộc chiến đấu ở Thành Cổ kéo dài giữa lúc cuộc hòa đàm ở Pa-ri bước vào giai đoạn gay cấn nhất và phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ lên cao. Địch quyết tái chiếm cho được Quảng Trị để xoa dịu công chúng Mỹ và "mặc cả" với ta tại bàn hội nghị. Chúng ráo riết đôn quân bắt lính bổ sung quân số, liên tục phản công.

Các lực lượng của ta phải chiến đấu trong điều kiện thiếu quân số và trang bị nghiêm trọng. Thời tiết xấu, mưa lũ sớm, mật độ bom đạn địch nhiều, càng làm cho tình hình xấu thêm. Bộ đội chủ lực ta tuy số lượng đầu đơn vị có nhiều, song quân số và trang bị tổn thất khá lớn. Bộ đội địa phương, dân quân, du kích tình hình cũng tương tự.

Lúc này từ các huyện Gio Linh, Cam Lộ đến Hướng Hóa đều huy động gần hết nhân lực để bổ sung cho lực lượng các huyện phía trước. Các tỉnh Quân khu 4 vừa chiến đấu vừa khẩn trương tuyển quân bổ sung cho chiến trường, rút bất cứ đơn vị nào (kể cả dân quân tự vệ) có thể rút được để đưa vào Quảng Trị. Các địa phương thuộc Quân khu Hữu Ngạn và Tả Ngạn (Thanh Hóa, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình) cũng đưa nguyên từng đại đội, tiểu đoàn quân dự nhiệm hoặc du kích tập trung vào chiến trường Quảng Trị với tinh thần “ưu tiên tiền tuyến, chủ động đáp ứng, chọn cái tốt nhất đưa đi, tình huống nào cũng kiên quyết bảo đảm số lượng, chất lượng tốt, đúng thời gian, vượt yêu cầu". Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 không những bổ sung lẻ hoặc đưa gọn, đưa hết các đơn vị quân tăng cường, mà còn đưa gọn cả hai khóa học viên sĩ quan và hạ sĩ quan (350 cán bộ) chưa kịp học hết chương trình, cùng với một phần ba số cán bộ khung và giáo viên của trường quân chính và trường hạ sĩ quan của quân khu cho Quảng Trị. Số đạn pháo 130 ly dự trữ trong kho cũng được chuyển nốt vào chiến trường.

Lúc này trên tuyến hành lang chiến lược địch đánh phá vô cùng ác liệt, gây cho ta nhiều thiệt hại về người và vật chất. Vì thế, các chiến sĩ chốt giữ ở thị xã Quảng Trị đã phải sống bằng lương khô và nước lã, bắn dè xẻn từng viên đạn suốt gần hai tháng trong vòng vây của quân thù.
____________________________________________
1. Ban chỉ huy lúc đầu gồm các đồng chí Lê Quang Thúy và Nguyễn Văn Thiệu làm chỉ huy trưởng và chính ủy, các đồng chí Trần Minh Vân, Vũ Thả, Vũ Quang Thọ làm phó chỉ huy trưởng và phó chính ủy. Từ hạ tuần tháng 8 đến 16 tháng 9, đồng chí Nguyễn Việt được giao chỉ huy trưởng thay đồng chí Thúy ra Hà Nội báo cáo. Ngoài các trung đoàn 48 (sư đoàn 320) và trung đoàn 95 sư đoàn 325D còn có các tiểu đoàn lẻ của các sư đoàn 308, 312 tham gia ở ngoại vi thị xã.
2. Trong thời gian diễn ra cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ, các xã trên vòng cung bao quanh thị xã về phía bắc đã phải chịu đựng từ 100 đến 140 phi vụ B52, như xã Triệu Long, Triệu Thượng, Triệu Trạch. Xã ít nhất cùng chịu 10 lần B52 đánh phá như Triệu Đó, Triệu Tài. Đặc biệt xã Triệu Trạch chịu 131 tốp B52 với 839 lần chiếc và 72 vụ đánh phá của máy bay chiến thuật. Tính sơ bộ địch đã thả 15.680 quả bom các loại. Bình quân mỗi người dân chịu 250 quả bom và 1.500 quả đạn pháo...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #95 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2024, 09:15:59 pm »


Ngày 15 tháng 9, tiểu đoàn 3 lữ đoàn 147 địch chiếm góc đông – bắc thành và kiểm soát được cửa Bắc. Các lực lượng của ta chiến đấu giành giật với địch từng mô đất, mảng tường, góc hầm. Cuộc cận chiến diễn ra suốt ngày 16 tháng 9 trong Thành Cổ. Ngày 16 tháng 9, trung đoàn 18 được lệnh vượt sông chi viện. Vượt qua sự phong tỏa của địch, bộ phận đi đầu vừa qua sông thì tình hình Thành Cổ đã hết sức nghiêm trọng: lực lượng ta bị thương vong lớn, đã phải rút lui hồi 18 giờ ngày 16 tháng 9 năm 1972.

Cuộc chiến đấu tại thành cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm. Từ một thị xã nhỏ ít ai biết đến, Quảng Trị đã trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của nhân dân cả nước và thế giới bởi tính chất hung bạo của kẻ thù và tinh thần anh dũng vô song của đồng bào và chiến sĩ ta. Địch đã huy động vào đây nhũng sư đoàn thiện chiến nhất, những đơn vị binh chủng được trang bị tối tân nhất, lại được quân Mỹ chi viện tối đa về hỏa lực, với khối lượng bom đạn tương dương "bày quả bom nguyên tử ném xuống Hi-rô-si-ma". Nhưng ta đã làm chủ thị xã trong một thời gian dài, diệt hơn 24.000 địch, phần lớn là quân dù và thủy quân lục chiến, bắn rơi 180 máy bay, phá hủy 40 xe quân sự (có 90 xe tăng, xe bọc thép, hơn 20 khẩu pháo cùng nhiều đồ dùng quân sự khác).

Cuộc chiến đấu dài ngày ở đây còn phối hợp tích cực vào cuộc đấu tranh ngoại giao kiên trì và bền bỉ của ta trên bàn hội nghị. Tạo điều kiện cho toàn mặt trận chuyển hẳn sang thế trận mới thích hợp, đánh địch phản kích, bảo vệ vùng mới giải phóng.

Sau khi chiếm được thị xã, ngày 22 tháng 9, địch tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân "Lam Sơn 72" và mở tiếp cuộc hành quân "Lam Sơn 72A" nhằm mở rộng bàn đạp ra phía đông và phía tây thị xã.

Từ đó cho đến tháng 1 năm 1973, các lực lượng ta tiếp tục bẻ gãy nhiều cuộc hành quân của địch định tràn sang phía bắc sông Thạch Hãn.

Ngày 1 tháng 11 năm 1972, bộ đội ta đánh bại cuộc hành quân "Sóng thần", diệt gọn tiểu đoàn 6 thủy quân lục chiến ngụy khi chúng tìm cách bí mật vượt sông Thạch Hãn ở khu vực Nhan Biều.

Từ ngày 11 tháng 11 năm 1972 đến 20 tháng 1 năm 1973, địch mở liên tiếp các cuộc hành quân "Sóng thần 36", "Sóng thần 45”, "Sóng thần 18", nhưng đều bị đánh bại.

Cùng với cuộc chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng, quân và dân Quảng Trị lại phải đối phó với âm mưu "tràn ngập lãnh thổ" của Mỹ - Thiệu, tìm cách "cắm cờ" mở rộng những khu vực kiểm soát, xóa thế "da báo", để khi hiệp định được ký kết chúng sẽ hợp pháp hóa vùng đất đã chiếm.

Chiến dịch tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị và cuộc chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng trong cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 trên hướng Trị - Thiên không những là mốc lịch sử chói lọi của quân và dân Trị - Thiên - tiền tuyến anh hùng của Khu 4, mà còn là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của quân ngụy. Tính toàn mặt trận Trị - Thiên từ ngày 30 tháng 3 năm 1972 đến 31 tháng 1 năm 1973, ta đã diệt 83.790 địch, bắt 3.685 tên; thu, phá hủy 922 khẩu pháo lớn, 2.143 xe cơ giới (có 81 xe tăng), thu 2.899 súng các loại; bắn rơi cháy 714 máy bay; bắn chìm, bắn cháy 28 tàu chiến; thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác. Nhiều binh đội lớn của địch bị diệt hoặc bị tiêu hao lớn (sư đoàn 3 bộ binh, các lữ đoàn dù và thủy quân lục chiến...). Riêng quân dù và thủy quân lục chiến "con chủ bài của quân lực Việt Nam cộng hòa” đã bị tổn thất nặng. Đó là đòn chí mạng đối với cả Mỹ lẫn ngụy khi chúng phải mất hơn 80 nghìn quân trên một hướng trong gần một năm, khi mà chúng đang đặt hy vọng vào quân ngụy sẽ là: "xương sống" của chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh" thay cho quân Mỹ rút dần trong danh dự.

Lần đầu tiên một tỉnh của miền Nam, tuyến đầu rắn chắc của chế độ tay sai Sài Gòn được giải phóng, mặc dầu sau đó địch điên cuồng phản kích chiếm lại nhưng không thực hiện nổi. Vùng mới giải phóng từ nay nối liền với miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã nhanh chóng được xây dựng thành căn cứ địa của cách mạng trong lãnh thổ miền Nam, nơi đặt trụ sở của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo thế đấu tranh ngoại giao mới, cổ vũ nhân dân trong cả nước.

Tuy nhiên, trong thắng lợi to lớn đó, cũng có những hạn chế, khuyết điểm: việc tổ chức, chuẩn bị chiến trường cho bước phát triển vào Thừa Thiên chưa chủ động, thiếu sự đánh giá đúng so sánh địch - ta trên chiến trường qua từng thời điểm để có những chuyển hướng chính xác; yêu cầu nổi dậy của quần chúng, thế trận chiến tranh du kích chưa đủ mạnh. Những nhược điểm đó hạn chế thắng lợi và gây cho ta nhiều tổn thất. Tuy vậy, đúng về toàn cục, thắng lợi to lớn trên hướng Trị - Thiên đã góp phần thực hiện rất tích cực quyết tâm chiến lược của Đảng giành thắng lợi quyết định năm 1972.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #96 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:20:16 pm »


II. GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI, BẢO VỆ QUÂN KHU TRONG MỌI TÌNH HUỐNG

Cuối năm 1971, khi phát hiện ta có hoạt động vận chuyển lớn và phán đoán khả năng có thể ta đang chuẩn bị cho hoạt động quân sự quy mô ở miền Nam, trong đông -  xuân 1971 - 1972, địch tăng cường nhanh số lượng các phi vụ "tuần thám vũ trang" và tiến hành đánh phá lớn bằng không quân từ cửa ngõ hành lang ra đến bắc quân khu. Trong thời gian từ tháng 9 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, chúng đã sử dụng tới 1.731 lần chiếc máy bay (có 612 lần chiếc B52) tổ chức bốn đợt tập kích vào các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An. Cuối tháng 12 năm 1971, địch tập trung đánh phá suốt năm ngày với 1.096 lần chiếc nhằm vào các kho, bãi, chân hàng, trận địa pháo từ bắc Quảng Bình đến Vinh - Bến Thủy. Ngoài hoạt động trên không, chúng còn ráo riết tiến hành các hoạt động biệt kích, chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp ở một số nơi vùng biển, giới tuyến và biên giới.

Trong khi quân và dân Trị - Thiên thực hành cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, thì hậu phương quân khu ra sức phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất, tiếp tục củng cố quốc phòng, an ninh và phục vụ tích cực cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên; đồng thời, nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, nhất là chống địch trinh sát, bắn phá bằng không quân, bảo vệ giao thông vận tải chiến lược và chiến dịch, bảo vệ quân khu trong mọi tình huống.

Từ tháng 10 năm 1971 trở đi, Bộ Quốc phòng lần lượt triển khai một lực lượng lớn các đơn vị phòng không từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh, gồm ba sư đoàn (sư đoàn 361, 363, 365) thay cho các sư đoàn 367, 377 vào chiến trường theo kế hoạch bảo vệ hành lang. Một nhóm sỹ quân và nhân viên kỹ thuật của Quân chủng Phòng không Không quân vào Quảng Bình nghiên cứu, chuẩn bị xây dựng sân bay dã chiến bí mật để tập kết máy bay chiến đấu phục kích đánh tàu chiến Mỹ. Các đơn vị không quân chiến đấu ở các sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa), Dừa (Anh Sơn, Nghệ An) được chỉ thị nghiên cứu tìm cách đánh máy bay chiến lược B52 của Mỹ để rút kinh nghiệm.

Tháng 11 năm 1971, Quân khu tổ chức hội nghị liên tịch giữa Thường vụ Quân khu ủy với các Thường vụ tỉnh ủy và Khu ủy Vĩnh Linh để quán triệt và thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về quyết tâm chiến lược năm 1972. Hội nghị đã thống nhất nhận định về âm mưu địch trong thời gian tới và quyết định nhiều chủ trương, biện pháp thiết thực để phối hợp lãnh đạo các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trước mắt, theo yêu cầu phát triển và biến động của tình hình nhiệm vụ. Đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nhằm ngăn ngừa và khắc phục những biểu hiện lơ là mất cảnh giác, ảo tưởng hòa bình đang xuất hiện trong một bộ phận nhân dân, cán bộ và lực lượng vũ trang. Về tác chiến phòng không, hội nghị quyết định phải phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không cấp trên và chỉ đạo tốt công tác phòng tránh ở các trọng điểm.

Đầu tháng 12 năm 1971, máy bay ta cất cánh đánh máy bay B52 Mỹ trên bầu trời Vĩnh Linh. Thường vụ Quân khu ủy dự đoán địch sẽ phản ứng trả đũa. Mục tiêu có thể bị địch đánh phá là các sân bay, kho nhiên liệu, trận địa phòng không và chân hàng lớn. Trọng điểm là khu vực Gianh - Xuân Sơn (Quảng Bình) và Vinh - Bến Thủy (Nghệ An).

Thường vụ Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu chủ trương gấp rút tổ chức chiến dịch phòng không nhân dân, kiên quyết bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống giặc lái, trừng trị địch ngang nhiên vi phạm vùng trời, vùng biển Quân khu 4 (chỉ thị số 102 của Bộ Tư lệnh quân khu gửi các đơn vị, địa phương ngày 11 tháng 12 năm 1971).

Chiến dịch được triển khai với lực lượng phòng không ba thứ quân, lấy phòng không chủ lực làm nòng cốt, chọn Vinh - Bến Thủy và vùng phụ cận làm trọng điểm, do quân khu trực tiếp chỉ đạo. Đấy cũng là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông và hàng nhất lúc bấy giờ. Lực lượng phòng không ở khu vực này có các trung đoàn cao xạ 222, 233, tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân, một trung đoàn tên lửa thuộc sư đoàn 361 và một số đơn vị phòng không địa phương (Nghệ An), dân quân tự vệ Vinh - Bến Thủy. Ban chỉ huy tác chiến khu vực trọng điểm gồm các đồng chí Nguyễn Cận chỉ huy trưởng, Phạm Thành Minh chính ủy.

Đúng như ta dự kiến, cuối tháng 12 năm 1971, ngay sau lễ Giáng sinh, địch sử dụng 201 lần tốp với. 1.096 lần chiếc máy bay đánh một lúc vào nhiều mục tiêu ở Quảng Bình (trong những ngày 26, 27, 29, 30 tháng 12 năm 1971) và Nghệ An, Hà Tĩnh (trong những ngày 28, 29, 30 tháng 12 năm 1971). Quân và dân Quân khu 4 phối hợp với chủ lực của Bộ đánh trả kịp thời. Ở Quảng Bình, sau bốn ngày chiến đấu, ta bắn rơi tám máy bay Mỹ, riêng khu vực Gianh bốn chiếc. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh sau ba ngày chiến đấu, ta bắn rơi 12 máy bay Mỹ. Riêng Vinh và phụ cận bắn rơi bảy chiếc, có hai chiếc rơi tại chỗ. Như vậy, lần đầu tiên quân khu chỉ đạo một chiến dịch phòng không, vừa mở đầu đã giành thắng lợi lớn: bắn rơi 20 máy bay Mỹ, giáng trả đích đáng âm mưu của địch, rút được nhiều kinh nghiệm về tác chiến phòng không, nhất là khắc phục được ảo tưởng hòa bình, lơ là mát cảnh giác trong một số đơn vị vũ trang và nhân dân trong quân khu.

Mặc dầu bị thua đau, nhưng địch xảo quyệt lợi dụng dịp Tết Nhâm Tý để tập kích vào địa bàn quân khu. Lần này chúng chọn đánh vào các mục tiêu khu vực cửa ngõ đường số 10 và đường số 16 tây Quảng Bình. Suốt từ mùng 2 đến mùng 4 Tết (16 đến 18 tháng 2 năm 1972), địch sử dụng 56 lần tốp (142 lần chiếc) săn xe, xăm hàng, phá các mục tiêu giao thông vận tải của ta trên cửa ngõ hành lang. Các chiến sĩ phòng không miền tây Quảng Bình với khẩu hiệu "Vui Tết đón xuân trên trận địa" đã đánh giỏi bắn trúng, hạ máy bay Mỹ tại chỗ.

Thắng lợi đánh trả không quân địch trong đông - xuân 1971 - 1972 đã nâng tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên địa bàn Quân khu 4 trong hơn ba năm địch ngừng ném bom miền Bắc (từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 3 năm 1972) lên 116 chiếc. Chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1971 và chiến thắng Tết Nhâm Tý tháng 2 năm 1972, trong hoàn cảnh cả miền Bắc có hòa bình, được coi là sự mở đầu của một năm mới tiến công thắng lợi của quân và dân Quân khu 4.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #97 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:22:55 pm »


Tháng 12 năm 1971, Bộ quyết định giao cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân thống nhất chỉ huy toàn bộ lực lượng phòng không chủ lực hoạt động từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh. Quân khu 4 làm nhiệm vụ xây dựng, bổ sung và tham gia chỉ đạo tác chiến các lực lượng phòng không địa phương hiệp đồng, phối hợp trên từng khu vực.

Đến đầu tháng 3 năm 1972, các lực lượng phòng không chủ lực đã hoàn thành việc bố trí như sau:

Từ Thanh Hóa đến Nghệ An: sư đoàn phòng không 361 của Bộ được tăng cường trung đoàn cao xạ 222 (bảo vệ Vinh) và trung đoàn 233 thuộc quân khu (bảo vệ sân bay Dừa), do sư đoàn 361 thống nhất chỉ huy.

Từ đèo Ngang đến bắc Long Đại: sư đoàn phòng không 365 thuộc Bộ được tăng cường trung đoàn cao xạ 214 thuộc quân khu (bảo vệ khu vực Gianh) do sư đoàn 363 thống nhất chỉ huy.

Từ nam Long Đại đến Vĩnh Linh: sư đoàn phòng không 365 thuộc Bộ, được tăng cường trung đoàn cao xạ 218 thuộc quân khu, do sư đoàn 365 thống nhất chỉ huy.

Tiểu đoàn Nguyễn Viết Xuân (tiểu đoàn 14 cao xạ thuộc quân khu) phụ trách khu vực Nam Đàn.

Quân khu phát lệnh động viên bốn tiểu đoàn cao xạ dự nhiệm (trong số chín tiểu đoàn dự nhiệm) triển khai ở các trọng điểm: tiểu đoàn 15 ở Hoàng Mai, tiểu đoàn 17 ở cầu Bùng, các tiểu đoàn 19, 20 ở phía nam Hà Tĩnh trên quốc lộ số 1.

Ngoài ra, trên phạm vi từ Thanh Hóa trở vào còn có lực lượng máy bay chiến đấu tại các căn cứ không quân Sao Vàng (Thanh Hóa) và Anh Sơn (Nghệ An) cùng một số sân bay dã chiến khác.

Một số biên đội tàu chiến đấu loại nhỏ ở các căn cứ cửa Hội và cửa Gianh cũng được giao nhiệm vụ chiến đấu phối hợp.

Với chủ trương chuyển hầu hết các loại súng máy cao xạ trong các đơn vị phòng không chủ lực cho dân quân tự vệ, cùng với việc ban hành Nghị định 62-CP ngày 23 tháng 2 năm 1972 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hóa chế độ đài thọ và đãi ngộ đối với dân quân, tự vệ làm nhiệm vụ thường trực chiến đấu, đã tạo thuận lợi cho dân quân, tự vệ trong quân khu tổ chức các đội trực chiến phòng không tập trung 24 trên 24 giờ một ngày. Ngoài ra còn hàng chục nghìn dân quân, tự vệ khắp các thôn xã, công - nông - lâm trường xí nghiệp, cơ quan với hình thức tổ chức "tay cày tay súng” giăng lưới tầm thấp rộng khắp và dày đặc1.

Lực lượng cao xạ bộ đội địa phương đến đầu năm 1972 cũng được tăng cường trang bị và hoàn thiện biên chế tổ chức. Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh lúc này đã triển khai xong tám tiểu đoàn cao xạ và hai đại đội lẻ, trang bị chủ yếu là pháo cao xạ 37 ly (nhiều gấp hai lần so với năm 1968) chưa kể các đảo Mê, Ngư, Mắt, Cồn Cỏ; mỗi đảo là một trận địa nổi hỗn hợp nhiều tầm bắn và cỡ nòng cùng với hàng trăm súng bộ binh của ngư dân đánh cá ven biển.

Lực lượng pháo mặt đất và pháo bờ biển cũng được chú trọng tăng cường suốt dọc tuyến biển, đảo của quân khu để đánh trả hải quân Mỹ, trừng trị bọn biệt kích và lực lượng đổ bộ đường biển của địch. Bên cạnh lực lượng pháo binh chủ lực của quân khu và các sư đoàn bộ binh đứng chân trong địa bàn được triển khai phần lớn trên tuyến 1 ven biển, lực lượng pháo binh địa phương và dân quân tự vệ trên hướng này đều được bổ sung và tăng cường thêm số pháo mặt đất (kể cả pháo tăng 130 ly), pháo bờ biển (cỡ từ 85 đến 100 ly), pháo đi cùng ĐKZ, cối2, chưa kể hàng chục tàu, thuyền đánh cá được biên chế tổ chức thành tàu thuyền chiến đấu, trang bị thêm B40, B41, đại liên, lựu đạn và chất nổ các loại, sẵn sàng đón đánh các mục tiêu trên biển trong tầm hoạt động và thời cơ có lợi.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn theo dõi sát sao công cuộc phòng thủ trên địa bàn Quân khu 4. Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trực tiếp kiểm tra sẵn sàng chiến đấu ở quân khu và các địa phương, đã chỉ thị và bổ sung cho các cấp việc xúc tiến xây dựng thế trận của chiến tranh nhân dân, phát huy cao độ vai trò chiến tranh nhân dân địa phương trong phòng thủ, đánh bại những âm mưu thủ đoạn liều lĩnh của địch mở cuộc tiến công hạn chế bằng bộ binh ra quân khu.
______________________________________________
1. Tính riêng từ Nghệ An đến Vĩnh Linh, trước khi diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của địch, dân quân tự vệ đã triển khai xong 280 đội trực chiến, phần lớn là trực thường xuyên (có bốn đội lão dân quân, 11 đội nữ), trong đó có 211 đội trang bị súng máy cao xạ 12.7 ly hoặc 14.5 ly, một trung đội trang bị súng 20 ly và 10 đội trang bị pháo cao xạ 37 ly. Nếu so với năm 1971, số đại liên trong dân quân tự vệ tăng 20 phần trăm, số nòng súng phòng không tăng 17 phần trăm, trong đó súng máy cao xạ 14.5 ly tăng 4,7 lần, pháo cao xạ 37 ly tăng hai lần.
2. Đến đầu năm 1972, trên tuyến ven biển, đảo từ Nghệ An đến Vĩnh Linh đã triển khai ba trung đoàn, hai tiểu đoàn pháo binh chủ lực và năm tiểu đoàn, 10 đại đội pháo binh bộ đội địa phương, 42 đội pháo binh dân quân tự vệ trực chiến, có đội trang bị pháo 85 - 100 ly. Số lượng pháo các loại trong dân quân tự vệ so với năm 1971 tăng 28,5 phần trăm, tạo mật độ trên hướng trọng điểm cứ 500 mét có một khẩu pháo, 300 mét có một khẩu ĐKZ, cối.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #98 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:23:56 pm »


Ngày 11 tháng 3 năm 1972, Thường vụ Quân khu ủy họp đánh giá kết quả thực hiện mọi mặt nhiệm vụ trong đông - xuân 1971-1972 và chủ trương: "Động viên toàn Đảng bộ, toàn thể lực luợng vũ trang và nhân dân trong quân khu nỗ lực cao nhất, chuẩn bị khẩn trương, đưa công tác chuẩn bị mọi mặt lên kịp sự phát triển của tình hình, phát huy tinh thần tiến công cách mạng, dũng cảm, kiên cường, bằng bất cứ giá nào cũng quyết đánh bại mọi bước phiêu lưu quân sự của địch trong thời gian ngắn nhất. Bảo vệ địa bàn quân khu, bảo vệ hành lang chiến lược thông suốt, hậu phương chiến dịch an toàn, bảo đảm cho yêu cầu phát triển tiến công phía trước, góp phần cùng miền Nam và các chiến trường khác giành thắng lợi lớn nhất".

Lúc này ở miền Nam, "chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" đang đứng trước nguy cơ thất bại, nhưng đế quốc Mỹ không thể leo thang trở lại bằng cuộc chiến tranh trên bộ. Ngày 6 tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ lại gây chiến tranh phá hoại đánh phá miền Bắc lần thứ hai. Chính quyền Ních-xơn đã đưa cuộc chiến tranh phá hoại lần này lên mức độ ác liệt gấp bội, hòng ép nhân dân ta phải nhân nhượng. Quân và dân Quân khu 4 cùng với nhân dân và lực lượng vũ trang miền Bắc bước vào cuộc chiến đấu mới vô cùng ác liệt, quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn của địch, chi viện cho miền Nam phát triển cuộc tiến công. Vào lúc 2 giờ ngày 6 tháng 4, tàu chiến Mỹ lần luợt bắn phá dọc bờ biển miền Bắc từ Vĩnh Linh đến cửa sông Thái Bình. Tiếp đó, suốt ngày 6 tháng 4, chúng huy động 300 lần chiếc máy bay ném bom ồ ạt từ sông Gianh trở ra và mở rộng dần phạm vi đánh phá ra khắp miền Bắc.

Trước hành động leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, theo kế hoạch đã dự kiến, ngày 7 tháng 4, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh: "Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ miền Bắc và làm tốt nhiệm vụ chi viện tiền tuyến trong tình hình mới". Đại bộ phận lực lượng vũ trang, nhân dân miền Bắc được chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn.

Tiếp đó ngày 16 tháng 4, Trung ương Đảng và Chính phủ ta ra lời kêu gọi "Toàn dân, toàn quân ta quyết tâm đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ".

Trên địa bàn Quân khu 4, từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 8 tháng 5, máy bay và tàu chiến Mỹ đánh phá liên tục. Chỉ trong hai ngày 6 và 7 tháng 4, chúng đã sử dụng đến 150 lần chiếc mỗi ngày. Nhưng, quân và dân quân khu cũng ngay lập tức giáng trả địch ở khắp mọi nơi. Ngày 6 tháng 4, Quảng Bình lập công đầu, bắn rơi 13 máy bay Mỹ, trong đó, dân quân tự vệ độc lập bắn rơi hai chiếc. Các lực lượng pháo binh trên toàn tuyến ven biển, và các đảo cũng nổ súng đánh trả tàu chiến địch. Đại đội 10 pháo binh Quảng Bình tại trận địa ở thôn Phú Hội trong trận đánh sáng 6 tháng 4, đã bắn trúng hai tàu chiến Mỹ. Trong tháng đầu tiên đánh trả hải quân Mỹ, pháo binh ta đã bắn cháy 20 lần chiếc tàu địch trên vùng biển từ Nghệ An đến Vĩnh Linh.

Ngày 19 tháng 4, máy bay chiến đấu ta từ một sân bay bí mật ở huyện Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình) đã bất ngờ xuất kích, bắn trọng thương một tàu khu trục Mỹ ở ngoài khơi Quảng Bình và trở về căn cứ an toàn.

Trong hai ngày (ngày 5 tháng 5 và ngày 9 tháng 6) đại đội pháo binh gái Ngư Thủy (Quảng Bình) bắn cháy thêm hai tàu chiến của hải quân Mỹ đến gây tội ác ở vùng biển địa phương.

Cùng với việc mở rộng phạm vi đánh phá, địch tập trung hủy diệt các mục tiêu giao thông vận tải, nhất là đường số 1 và tuyến vận tải ven biển. Riêng pháo tàu địch đã bắn 203 lần với 17.581 quả đạn, hòng cắt đứt hẳn đường số 1 và tuyến vận tải ven biển. Từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 8 tháng 5, giao thông trên đường số 1 tuy chỉ bị tắc 10 đêm trên đoạn qua Hà Tĩnh và hai đêm tại phà Gianh, nhưng địch đã gây khó khăn không ít cho ta, tuyến giao thông vận tải ven biển cơ bản bị ngừng trệ. Việc phòng tránh những ngày đầu chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng hầm hào chưa đủ độ bền chắc chống lại các loại bom bi, bom xuyên, tên lửa của địch đã cải tiến, nên thương vong cũng khá cao.

Ngày 3 tháng 5 năm 1972, Thường vụ Quân khu ủy họp đánh giá "kết quả chiến đấu là tích cực, chủ động, giữ vững và phát huy được khí thế của quần chúng trong sinh hoạt, lao động, chiến đấu và sản xuất, kể cả các nơi bị đánh phá ác liệt". Thường vụ Quân khu ủy cũng chỉ rõ những khuyết điểm, nhược điểm về mặt chiến đấu của lực lượng vũ trang và công tác phòng không nhân dân và chủ trương "nhiệm vụ quan trọng nhất là đánh địch để bảo vệ giao thông vận tải, bảo vệ kho tàng, chân hàng và tính mệnh tài sản của nhân dân, của nhà nước và tập thể".

Để phù hợp với đặc điểm địch và yêu cầu chiến đấu phòng không trên toàn miền Bắc trước những biến chuyển mới, Bộ quyết định giao lại cho Quân khu 4 thống nhất chỉ huy các lực lượng phòng không chủ lực đang hoạt động trên địa bàn, tăng cường cho quân khu sư đoàn phòng không 377. Cơ quan phòng không quân khu tổ chức thành Bộ Tham mưu phòng không trục thuộc Quân khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu kể từ tháng 6 năm 1972. Từ đó quân khu càng chủ động hơn trong lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng phòng không trên địa bàn.

Sau một tháng đánh phá miền Bắc thấy không ngăn chặn được tiến công của ta trên chiến trường miền Nam mà còn bị mất gọn tỉnh Quảng Trị, Đắc Tô, Tân Cảnh, Lộc Ninh, đế quốc Mỹ một mặt đơn phương tuyên bố hoãn hội nghị Pa-ri không thời hạn kể từ tháng 5 năm 1972; mặt khác tăng nhanh số máy bay Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ 1.027 chiếc lên 1.450 chiếc cường kích, từ 40 chiếc lên 140 chiếc B52 ở các căn cứ gần Việt Nam, ráo riết chuẩn bị mở rộng leo thang chiến tranh bằng không quân, hải quân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #99 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2024, 07:25:42 pm »


Đối với miền Bắc, một mặt, tổng thống Mỹ Ních-Xơn tuyên bố lừa bịp “Hòa bình tại Việt Nam đang ở trong tầm tay", mặt khác ra lệnh phong tỏa toàn bộ vùng biển, sông và hải cảng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở rộng đánh phá sâu vào Hà Nội, Hải Phòng, cùng với các cửa khẩu đường sắt, đường bộ ở biên giới phía bắc, rải chất độc hóa học ở miền tây Thanh Hóa. Quân khu 4 vẫn là trọng điểm số một của cuộc phong tỏa đó.

Ngay sau khi mở đầu bằng hành động thả bom từ trường, thủy lôi ở khu vực cảng Hải Phòng, trong hai ngày 9 và 10 tháng 5, địch tập trung vào vùng Khu 4. Từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 2 tháng 6, chúng rải bom thủy lôi ở tám cửa sông (cửa Lạch Trường, Cửa Lò, cửa Hội, cửa Sót, cửa Khẩu, cửa Nhượng, cửa Gianh và cửa Nhật Lệ). Ngày 26 tháng 7, địch phong tỏa hầu hết các tuyến sông chủ yếu (sông Mã, sông Hoàng Mai, sông Lam, sông La, sông cửa Sót, sông Gianh, sông Nhật Lệ). Hầu hết các bến vượt đất liền và cầu, phà quan trọng đều bị phong tỏa bằng bom TN với mật độ chưa từng có (Hàm Rồng, Ghép, Hoàng Mai, cầu Bùng, cầu Họ, cầu Phủ; các phà Linh Cảm, Sen, Bến Thủy, Gianh, Xuân Sơn, Long Đại...). Khi phát hiện ta tiếp nhận hàng đường biển tại đảo Ngư (Nghệ An), Hòn La (Quảng Bình), địch phong tỏa luôn cả từng vùng biển gần quanh các đảo đó1.

Đi đôi với phong tỏa chặt các tuyến sông, biển, địch tập trung đánh phá ráo riết hệ thống cầu cống lớn, nhỏ trên bộ. Từ ngày 16 tháng 4, địch đánh sập toàn bộ cầu đường bộ ở Nghệ An và 12 cầu còn lại trên đường số 1 qua Hà Tĩnh. Đường số 1 từ Thanh Hóa vào bị cả không quân và hải quân Mỹ khống chế, tạo ra những "điểm tắc" ở những đoạn xung yếu: Hàm Rồng, Ghép, Hoàng Mai, Bến Thủy, Cày, cầu Phủ, Gianh, Quán Hàu. Những nơi đó trở thành những "cửa tử", suốt đêm ngày ta phải đối phó với mìn, thủy lôi, bom đạn... từ máy bay ném xuống và từ tàu chiến địch bắn vào. Kể từ hạ tuần tháng 5, toàn tuyến vận tải biển của ta không thể duy trì hoạt động, phải rút vào sông.

Trước hành động leo thang chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ngày 30 tháng 5, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị số 81 dự kiến địch còn có thể tiến hành những âm mưu thủ đoạn khác, quyết liệt và liều lĩnh đối với miền Bắc. Chỉ thị nêu rõ "nhiệm vụ quân sự của miền Bắc là phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại mới của đế quốc Mỹ, đập tan mọi hành động phiêu lưu quân sự khác của chúng, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa sản xuất vừa chiến đấu, trong bất cứ tình huống nào cũng kiên quyết làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn". Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu quyết định chuyển toàn bộ lực lượng vũ trang nhân dân vào thời chiến, gấp rút điều chỉnh bổ sung các phương án tác chiến, chuẩn bị mọi mặt để đối phó, giành thắng lợi trong các tình huống, kể cả địch tiến công hạn chế bằng bộ binh quy mô vừa và lớn.

Tiếp đó, ngày 1 tháng 6 năm 1972 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết về "chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".

Quán triệt và chấp hành các chỉ thị, nghị quyết quan trọng đó, quân và dân quân khu càng có cơ sở để thống nhất ý chí, phát huy mọi thế mạnh, động viên mọi khả năng tiềm tàng, thúc đẩy việc thực hiện toàn bộ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của quân khu và các địa phương.

Bảo đảm giao thông vận tải lúc này là mặt trận quyết liệt nhất, đặc biệt là ven các tuyến đường thủy, bộ. Tham gia vận chuyển và bảo đảm vận chuyển lâu nay đã trở thành trách nhiệm và nghĩa vụ tự nguyện của toàn dân Khu 4, mà nòng cốt là lực lượng công binh.

Các chiến sĩ công binh ba thứ quân, trong đó công binh của vùng 3 (cửa Hội) và căn cứ 4 (Gianh) của Hải quân đã dũng cảm đi đầu nghiên cứu cấu tạo, nguyên lý nổ các loại bom, thủy lôi mới của địch. Kết hợp với hướng dẫn của cơ quan chuyên môn kỹ thuật, bộ đội công binh hải quân đã nắm được cách rà phá, gây nổ hoặc làm mất hiệu lực thủy lôi của địch bằng các phương tiện tương đối hiện đại hoặc thô sơ, đơn giản. Kinh nghiệm rà phá nhanh chóng được phổ biến rộng rãi. Bên cạnh các đội công binh chủ lực, đã hình thành một hệ thống lực lượng công binh - dân quân rộng khắp gồm tổ chức quan sát đánh dấu, trinh sát phát hiện, tổ chức rà phá, tháo gỡ làm mất hiệu lực bom, mìn. Mỗi huyện tổ chức từ một đến hai đội rà phá chuyên nghiệp sẵn sàng làm nhiệm vụ trong và ngoài huyện. Các đơn vị công binh chủ lực và địa phương được trang bị máy phóng từ, xuồng máy cao tốc. Các đội rà phá của dân quân tự vệ được trang bị các khung dây từ IM và chế tạo nhiều phương tiện rà phá giản đơn thô sơ khác.

Với phương tiện đó, lực lượng công binh - dân quân suốt đêm ngày đã vật lộn với sông nước trên từng đoạn đường, từng bến vượt, khắc phục các loại vũ khí giết người của kẻ thù. Kết quả trong hơn 30 ngày từ cuối tháng 5, từ Nghệ An đến Quảng Bình có 209 quả bom từ trường đã bị phá hủy, chiếm một phần tư số bom, thủy lôi, địch đã rải (đường bộ 60 trong tổng số 90 quả, đường sông 120 trong tổng số 322 quả và đường biển 29 quả trong số 437 quả). Trong số đó, dân quân tự vệ đã phá được 95 quả. Các chiến sĩ dân quân xã Xuân Tiên (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) chỉ sau một giờ địch rải bom, thủy lôi, đã triển khai đội hình, rà phá trong ngày đầu được 30 quả trên sông Lam từ cửa Hội đi Bến Thủy, chiếm 80 phần trăm số bom, thủy lôi địch đã rải trong ngày. Dân quân xã Tường Lâm (Tĩnh Gia, Thanh Hóa) phá 83 quả trên bộ bằng sắt nam châm và khung dây PK. Anh công nhân Mai Xuân Điểm là người đầu tiên tự nguyện dùng ca-nô kéo phà (thay cho xuồng máy cao tốc) chở máy phóng từ, kích nổ thủy lôi địch, bảo đảm cho phà thông suốt. Tấm gương quả cảm cùng với trí thông minh và sáng tạo của Mai Xuân Điểm đã để lại trong lòng cán bộ, công nhân phà Ghép tình thương yêu, sự kính phục và đã cổ vũ họ vượt mọi hy sinh giữ vững mạch máu giao thông.

Tháng 6 năm 1972, Quân khu ủy kịp thời tổng kết và phổ biến kinh nghiệm tổ chức quan sát, phá gỡ thủy lôi và bom TN. Rút kinh nghiệm tìm tòi bước đầu, Quân khu đã phát động thành phong trào quan sát, rà phá rộng rãi, đại trà bằng lực lượng địa phương, bằng mọi khả năng tại chỗ là chính. Các phương tiện phong tỏa của địch dần dần không còn là nỗi lo nhức nhối nữa. Chỉ sau ba tháng, kể từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1972, tỉnh Nghệ An phá được 1.911 quả, Hà Tĩnh phá 481 quả, Quảng Bình 187 quả, Vĩnh Linh 55 quả. Bằng kết quả đó, quân và dân Khu 4 đã góp phần vô hiệu hóa về cơ bản thủ đoạn phong tỏa miền Bắc của đế quốc Mỹ.
______________________________________________
1. Trong chiến tranh phá hoại lần trước, địch có dùng bom, thủy lôi phong tỏa một số nơi nhưng không liên tục và ở mức thấp. Lần này địch phong tỏa trên diện rộng hơn, hỗn hợp nhiều kiểu loại thủy lôi, bom mìn, liên tục thả bổ sung. Mật độ trên từng khu vực bị phong tỏa rất cao. Như vùng đảo Ngư với diện tích mặt nước 30 ki-lô-mét vuông, chúng đã rải 1.352 quả các loại, vùng Hòn La 1.162 quả trên 30 ki-lô-mét vuông, đoạn sông Lam từ cửa Hội đến Bến Thủy 820 quả, từ phao số hai cửa Gianh vào thôn Văn Phú 1.010 quả.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM