chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #150 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:58:39 pm » |
|
Trong công tác chính sách nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thương binh liệt sĩ (27.7.1947 - 27.7.1992), các địa phương, đơn vị phát triển phong trào đền ơn đáp nghĩa sâu rộng từ cơ sở, làm mới 375 nhà tình nghĩa, tặng 9.860 sổ tiết kiệm (riêng lực lượng vũ trang tặng 219 sổ) với tổng cộng gần 2 tỷ đồng, xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa trên 1,7 tỷ đồng, quy tập mộ liệt sĩ ở Lào về trong nước 5.602 mộ, xây mới 59 nghĩa trang liệt sĩ, 12 tượng dài, 15 bia chiến tích với trên 2,3 tỷ đồng, trong đó 50% do nhân dân đóng góp.
Cuối năm 1992, đầu năm 1993, Quân khu sơ kết, tổng kết những nội dung quan trọng về xây dựng cơ sở chủ lực, địa phương sau khi được sơ kết, tổng kết một bước từ cơ sở nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quốc phòng 5 năm (1991-1995), Nghị quyết Trung ương 3 và kế hoạch đã xác định, trong đó nổi bật nhất là từ ngày 4 đến 7-9-1992 tại Huế, Quân khu và các tỉnh tổ chức sơ kết đợt 2 xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu.
Từ sơ kết đợt đầu (8-1990) tại Vinh đến sơ kết đợt 2 tại Huế - nơi khởi đầu tập huấn, khảo nghiệm, định hình mô hình xây dựng cơ sở thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, việc xây dựng xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu có nhiều phát triển mới nhưng cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn cần được đúc rút, sơ kết quy mô lớn hơn. Tham dự hội nghị có gần 600 đại biểu của Trung ương, Bộ Quốc phòng, 7 Quân khu, 6 tỉnh, 75 huyện, thị, thành1, 22 xã phường, xí nghiệp, trạm trại, trường học. Đại tướng Đoàn Khuê - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng dự, chỉ đạo hội nghị. Tại hội nghị, 28 báo cáo đã được trình bày.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước - Tư lệnh Quân khu thay mặt Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu trình bày báo cáo và phát biểu kết luận hội nghị nêu rõ: Hội nghị sơ kết lần này tập trung đi sâu vấn đề trọng yếu mà Nghị quyết Trung ương 3 về nhiệm vụ quốc phòng an ninh xác định. Đó là vấn đề xây dựng cơ sở, xây dựng xã phường cơ sở vững mạnh an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu - nền tảng của khu vực phòng thủ, địa bàn cơ bản của thế trận lòng dân, quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại cơ sở, đưa Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị khoá VI, Nghị quyết Đại hội Đảng VII và Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương vào cuộc sống, bảo đảm cho sự ổn định về chính trị, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Có thể nói, đây là một hội nghị tập trung trí tuệ đầy đủ nhất của cả hệ thống chính trị trong Quân khu, từ Quân khu, tỉnh, huyện và xã, phường, cơ sở để bàn một vấn đề có tính chiến lược về quốc phòng an ninh. Hơn 2 năm qua, Quân khu và các tỉnh tập trung chỉ đạo xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu có nhiều nhân tố mới, đạt hiệu quả, giải quyết được nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, có những vấn đề mà thực tế ở địa phương, cơ sở chưa chủ động giải quyết được, hoặc có giải quyết nhưng hiệu quả chưa cao do sự tác động chỉ đạo của hệ thống chính trị cấp trên chưa đúng mức và sự tự thân vận động của cơ sở chưa đủ mạnh. Việc này đòi hỏi cần được nghiên cứu đúc kết sâu thêm về quan điểm, nguyên tắc, nội dung, nhất là các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu tổ chức xây dựng cơ sở xã phường trong xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Trước hết là đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở xã phường trước âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ; đồng thời chủ động đối phó với mọi tình huống phức tạp khác do kẻ thù gây ra, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh ngay tại cơ sở, gắn với xây dựng xã phường vững mạnh toàn diện, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở từng cơ sở.
Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Đoàn Khuê đánh giá: Các quân khu đều chỉ đạo xây dựng xã, phường vững mạnh, tên gọi khác nhau nhưng nội dung cơ bản thống nhất với nhau, tất cả đều hướng tới xây dựng cơ sở về mọi mặt, tạo sức mạnh đánh thắng “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, sẵn sàng đối phó các tình huống khác.
Thực hiện Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Đảng bộ Quân khu, Đảng bộ các địa phương đã tạo được sự nhất trí để thực hiện cơ chế 02 ngày càng có chiều sâu, ý nghĩa thiết thực hiệu quả. Trước tình hình phức tạp, trên địa bàn Quân khu có một số vụ việc xảy ra (ta thường gọi là điểm nóng) nhưng đã lần lượt được giải quyết, không gây biến động gì lớn. Tuy vậy, vấn đề xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu chưa được thống nhất đầy đủ cả về nhận thức và hành động.
Đại tướng nêu rõ tình hình, những quan điểm cơ bản của Nghị quyết Trung ương 3, đặc biệt Nghị quyết về quốc phòng an ninh, khẳng định cần tiếp tục xây dựng cơ sở thật vững mạnh, trong đó nêu 8 việc tập trung xây dựng làng xã an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, 6 việc cần làm khi sự việc xảy ra để Quân khu và các địa phương nghiên cứu thực hiện, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cơ sở vừa chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, vừa chuẩn bị sẵn sàng đối phó mọi tình huống.
Trong phòng chồng “diễn biến hòa bình” của địch, Quân khu 4 đã có những mặt lợi thế nhưng cũng còn có hạn chế cần nâng cao cảnh giác. Phía nam có những phức tạp khó khăn, nhưng chừng mực nào đó việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn của địch, hiểu địch rõ hơn. Phía bắc hết sức kiên cường, nhưng trước những thủ đoạn lắt léo của địch, nên phải hết sức chú ý từng vùng để thống nhất về nhận thức và hành động hiệu quả. Quân khu 4 là nguồn tiềm lực, kho người, kho của của địa bàn chiến lược lớn cả nước. Chính vì vậy, việc xây dựng cơ sở xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn Quân khu càng đặt ra cấp thiết.
Phát biểu kết thúc hội nghị, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đánh giá tổng kết tình hình chỉ đạo xây dựng cơ sở xã phường: Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là từ những năm 1981 trở đi, Quân khu tổ chức xây dựng làng xã chiến đấu với những mô hình khác nhau là làng xã chiến đấu, cụm chiến đấu liên hoàn trong pháo đài quân sự huyện trên những hướng trọng yếu và xây dựng làng xã an toàn làm chủ ở một số địa phương. Làng xã là đơn vị chiến đấu trong địa bàn tác chiến phòng thủ cấp huyện. ______________________________________________ 1. Đại biểu tỉnh, huyện dự có: Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở, Mặt trận, các đoàn thể, công an, quân sự, biên phòng, cơ quan truyền thông đại chúng. Các đơn vị chủ lực Quân khu đều có các đại biểu tham dự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #151 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2024, 02:59:53 pm » |
|
Từ khi có Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Quân khu và các địa phương triển khai xây dựng và diễn tập khu vực phòng thủ cả 3 cấp, 3 hệ thống, bước đầu rút ra kinh nghiệm là muốn xây dựng khu vực phòng thủ có hiệu quả phải đưa cơ chế 02 xuống cơ sở và xác định rõ dần xã phường chiến đấu là nền tảng khu vực phòng thủ vững chắc của tỉnh, huyện1.
Quá trình triển khai tiếp theo, nhiều địa phương đã chỉ đạo xây dựng cho đến các mạng lưới thôn, xóm, bản, khối phố (phía bắc Quân khu), cụm dân cư, địa bàn dân cư (phía nam Quân khu) gắn với mô hình kinh tế cụ thể trong bước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, làm cầu nối để các cấp ủy, chính quyền cơ sở nắm chắc, nắm và giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh tại địa bàn. Từ cơ chế 02 nhiều xã, phường, cơ sở đã diễn tập A2 huy động cả hệ thống chính trị và cả các lực lượng xã hội cùng tham gia giải quyết một số tình huống thật, một số điểm nóng theo quan điểm đúng, rút được kinh nghiệm thiết thực về phán đoán tình hình, sử dụng lực lượng, không cho kẻ địch và bọn xấu thực hiện được ý định, chủ động ngăn ngừa tình huống 1 làm cơ sở để hạn chế các tình huống 2, 3, 4 từ cơ sở, từ bên trong. Qua quá trình triển khai, có thể rút ra một số vấn đề có tính nguyên tắc để chỉ đạo xây dựng xã phường trong tình hình mới là:
1. Xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu là xây dựng và tích luỹ sức mạnh của toàn dân giữ làng giữ nước bảo vệ cơ sở - nền tảng của khu vực phòng thủ nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ngay từ cơ sở và trước hết từ cơ sở.
2. Xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu phải thực hiện xuyên suốt gắn bó chức năng xây dựng và bảo vệ, sản xuất và bảo vệ sản xuất theo đúng quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (đối phó thắng lợi 2 biện pháp chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và chiến tranh xâm lược vũ trang của địch).
3. Xây dựng toàn diện theo 5 nội dung với mối quan hệ tác động thúc đẩy nhau, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở (gốc), phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chính sách hậu phương quân đội là điều kiện, yếu tố cần thiết, xây dựng quốc phòng - an ninh là mục tiêu phải đạt, tạo ổn định về chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh vững mạnh.
4. Đặt xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trong xây dựng xã phường cơ sở vững mạnh toàn diện, thống nhất, tập trung về chính trị và quốc phòng - an ninh, bảo đảm ổn định chính trị và an ninh trật tự, không để xảy ra diễn biến phức tạp ở cơ sở.
5. Xây dựng xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu từ quan điểm quốc phòng toàn dân, toàn dân xây dựng và bảo vệ với sức mạnh tổng hợp của cả chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá tư tưởng, quốc phòng - an ninh tại cơ sở, với lực lượng tổng hợp từ trong dân và từ cơ sở, nền tảng của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, trong đó xây dựng thế trận lòng dân có ý nghĩa quyết định.
6. Quốc phòng an ninh gắn bó chặt chẽ với nhau và quốc phòng an ninh gắn với kinh tế - văn hoá - xã hội, cùng tác động lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển trên cơ sở lấy cơ sở làm địa bàn, lấy nhân dân làm chỗ dựa, quân sự, công an làm nòng cốt.
7. Xây dựng làng (bản), xã phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, điều hành tổ chức thực hiện của chính quyền, cơ quan quân sự, công an, các ngành, đoàn thể làm tham mưu phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong hệ thống chính trị, huy động lực lượng và sức mạnh toàn dân. Mục tiêu là xây dựng cơ sở vững mạnh về mọi mặt.
Những biện pháp triển khai thực hiện tiếp theo là: Phải quán triệt nghiêm túc và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 về quốc phòng - an ninh, đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục khảo sát, soát xét, đánh giá, phân loại để làm căn cứ xây dựng từng vùng, nhất là nơi xung yếu, trọng điểm; cùng cơ sở giải quyết các điểm nóng, đúc rút kinh nghiệm để phòng ngừa. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, dân quân tự vệ, dự bị động viên, dân phòng làm nòng cốt, xây dựng cốt cán trong các tầng lớp nhân dân, nắm quần chúng, xây dựng thế trận lòng dân. Tăng cường tính năng động, sáng tạo của địa phương lo cho dân, vì dân, dân bàn, giải quyết được những chính sách kịp thời; nghiên cứu vận dụng phát huy hiệu lực của Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở cấp huyện, tỉnh; coi trọng sơ kết, tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục xây dựng Quân khu vững mạnh toàn diện.
Quán triệt Nghị quyết Trung ương 3, Tỉnh ủy Hà Tĩnh ra Chỉ thị 09/CT-TU về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Tiếp đó, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình ra Nghị quyết 04/NQ (ngày 14-12-1992) về lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, phòng chống “diễn biến hòa bình” của địch. Sau hội nghị sơ kết của Quân khu, Hà Tĩnh là tỉnh đầu tiên tổ chức sơ kết 2 năm xây dựng xã, phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu (11-1992). Hội nghị nêu lên nhiều nhân tố mới, cách làm mới của các huyện Can Lộc, Hương Sơn, Công an tỉnh, Hội Cựu chiến binh tỉnh, Đồn biên phòng 751, thị trấn Hương Khê. Đặc biệt là trên cơ sở kinh nghiệm xã Thanh Lộc từ điểm nóng trở thành điểm sáng, tỉnh Hà Tĩnh đã hình thành một số cụm xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. ______________________________________________ 1. Về cơ chế của khu vực phòng thủ sau 5 năm xây dựng diễn tập khu vực phòng thủ (1988-1992) được xác định lại là: "Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý điều hành theo pháp luật, cơ quan quân sự - công an là trung tâm, cùng các ban ngành - mặt trận - đoàn thể làm tham mưu theo chức năng và tổ chức thực hiện; chỉ huy trưởng quân sự (công an) chỉ huy thống nhất các lực lượng thuộc quyền". (Sách “Tổng kết công tác chỉ huy tham mưu chiến lược trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 1975-2000”, Nxb QĐND, HN.2001, trang 102).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #152 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2024, 03:02:20 pm » |
|
Giữa tháng 11-1992, Quân khu tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm công tác động viên (1981-1991) nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm để chuyển sang phương thức động viên mới phù hợp thực tiễn đất nước. Hội nghị nêu rõ: Trong 10 năm qua, Quân khu, tỉnh, huyện và các đơn vị nhận thức rõ vị trí công tác động viên quân đội, nhất là sau khi có Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị chuyển hướng chiến lược quốc phòng, đã nhanh chóng triển khai các nội dung bảo đảm cho yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, cả trong phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ; đồng thời sẵn sàng động viên cho chiến tranh. Việc lập kế hoạch động viên - mở đầu là KHĐV-81, đăng ký quản lý phúc tra nguồn cho cả Bộ, Quân khu, các địa phương, công tác huấn luyện, thực hành diễn tập động viên được rút kinh nghiệm, bổ sung điều chỉnh, khắc phục mặt yếu tạo được chất lượng ngày càng tốt hơn. Các địa phương thực hiện có hiệu quả cơ chế 02 xây dựng được nền nếp công tác động viên sát thực tiễn.
Tuy vậy, công tác động viên còn nhiều khuyết điểm, nhất là nhận thức về ý thức, trách nhiệm của các địa phương, đơn vị có nơi còn yếu, công tác bảo đảm về chế độ chính sách, ngân sách, kinh phí chưa phù hợp.
Về phương hướng nhiệm vụ những năm tiếp theo, Hội nghị khẳng định: Tiếp tục xây dựng nhận thức trong đơn vị, địa phương về ý nghĩa có tính chiến lược cả trước mắt, lâu dài của công tác động viên quân đội, đặc biệt trong chuyển hướng chiến lược quốc phòng, tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên mạnh, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục gắn chặt 3 nhiệm vụ: tuyển quân, động viên, chính sách hậu phương; nâng cao chất lượng quản lý, huấn luyện, diễn tập động viên, trong đó đặc biệt chú trọng việc quản lý trực tiếp, thường xuyên của xã, phường, cơ quan, xí nghiệp, thực hiện tốt cơ chế 02 trong công tác động viên quân đội.
Thực hiện phương thức động viên mới, sang năm 1993, Bộ Quốc phòng tổ chức tập huấn triển khai Nghị định 22 của Hội đồng Bộ trưởng. Căn cứ thực tiễn đạt được trong những năm qua, Quân khu và các địa phương, đơn vị chủ động xây dựng một bước các đơn vị động viên tròn khâu1, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để phát triển. Trước hết, thống nhất giữa địa phương và đơn vị nhận nguồn hiệp đồng chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng lực lượng dự bị động viên. Tròn khâu là phân cấp để tổ chức xây dựng lực lượng dự bị (người và phương tiện) tạo ra sự hợp lý, cùng nhau chủ động lo, nhất là bảo đảm đúng chuyên nghiệp quân sự, bảo đảm công tác động viên được kịp thời, đầy đủ.
Triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Chỉ thị 18/QP-NV liên Bộ Quốc phòng - Nội vụ (ngày 7-11-1992) về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh bảo vệ vững chắc Đảng, chính quyền, chủ nghĩa xã hội và nhân dân2, Quân khu bổ sung kế hoạch A theo quan điểm Nghị quyết Trung ương 3, tăng cường cả hướng đông, hướng tây, trên không; kế hoạch B; điều chỉnh kế hoạch A2, nhất là ở phía nam có sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu, đáp ứng tình hình mới, sát 5 tình huống; chỉ đạo củng cố xây dựng mạng lưới phòng không nhân dân, thực hành diễn tập phòng không nhân dân, cụm phòng không nhân dân bắn máy bay bay thấp, tên lửa hành trình ở một số địa phương, đơn vị.
Quân khu chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai kế hoạch bảo vệ đường dây 500KV qua 6 tỉnh, 25 huyện trên địa bàn Quân khu. Từ thực tế tình hình các tỉnh phía nam Quân khu bị bão lụt nặng (cuối năm 1992, 4 tỉnh thiệt hại trên 140 tỷ đồng), Quân khu bổ sung kế hoạch phòng chống bão lụt của các cấp, tăng cường hiệu quả phòng, chống kịp thời khi bão lụt xảy ra.
Ngày 15-2-1993, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 58/TTg về tăng cường chỉ đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới, thể chế hoá Nghị quyết Trung ương 3 bằng văn bản pháp quy của Nhà nước. Chỉ thị xác định rõ: "Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay và là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị, đòi hỏi sự cố gắng và phối hợp đồng bộ, kiên trì của các cấp, các ngành, nhằm đạt được mục tiêu cơ bản ở cơ sở là: ổn định về chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, quốc phòng - an ninh vững chắc, có nếp sống văn minh, lành mạnh, góp phần làm thất bại chiến lược "diễn biến hoà bình" và sẵn sàng đối phó thắng lợi với các tình huống khác". Chỉ thị nêu rõ yêu cầu các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện 7 vấn đề cụ thể, 4 biện pháp xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện và quy định hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải báo cáo tình hình và kết quả của việc xây dựng cơ sở lên Thủ tướng Chính phủ3.
Chấp hành Chỉ thị 58/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Tư lệnh Quân khu ra chỉ thị gửi Bộ chỉ huy quân sự 6 tỉnh tổ chức nghiên cứu quán triệt và có kế hoạch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân triển khai thực hiện. Chỉ thị nêu rõ: Vấn đề xây dựng cơ sở, Quân khu đã sơ kết đợt 2 (9-1992) và tổ chức trong hội nghị liên tịch bàn về nhiệm vụ quốc phòng năm 1993 với chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể 6 tỉnh tại Thanh Hoá. Trong quá trình thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ cần nắm vững nội dung xây dựng chính trị, trận địa lòng dân, ổn định chính trị là mục tiêu xuyên suốt nhất. Trong xây dựng lực lượng chú ý củng cố các phân đội dân quân tự vệ nòng cốt ở xã, thôn xóm và các đơn vị dự bị động viên. Sau khi tổ chức sơ kết xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu ở xã, huyện, bổ sung các phương án phù hợp thực tế cơ sở, chú trọng đối phó các tình huống 1, 2, 3, 4. ______________________________________________ 1. Địa phương đảm nhiệm các khâu: đăng ký, quản lý, sắp xếp biên chế thành các đơn vị động viên theo chỉ tiêu nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu cơ bản về chuyên nghiệp quân sự. Về đơn vị nhận nguồn: tham gia với địa phương công tác quản lý, sắp xếp nguồn, tham gia duy trì sinh hoạt đơn vị. Riêng huấn luyện do đơn vị đảm nhiệm là chủ yếu, địa phương có thể huấn luyện một phần về bộ binh. 2. Chỉ thị 18/QP-NV nêu 7 quan điểm cơ bản và tư tưởng chỉ đạo về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. 3. Khi ra Chỉ thị 58/TTg, Chính phủ đã nghiên cứu từ những kinh nghiệm xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu của quân khu 4. Nội dung của chỉ thị phù hợp 5 nội dung xây dựng cơ sở của Quân khu. Chỉ thị bảo đảm tính pháp lý đầy đủ để các cấp chính quyền triển khai thực hiện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #153 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2024, 03:07:45 pm » |
|
Sau 3 năm theo dõi âm mưu và các loại hình hoạt động phá hoại của địch, Bộ Tổng Tham mưu kịp thời chỉ đạo bổ sung thực hiện nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ trước tình hình mới, trong đó dự kiến khả năng sớm muộn Mỹ phải bỏ cấm vận và âm mưu của Mỹ trong việc xoá bỏ cấm vận, bổ sung một số quy định về phương châm và cách xử lý các tình huống cụ thể có thể xảy ra1. Như vậy đến đây, "toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã có được một hệ thống các quan điểm cơ bản và những nhiệm vụ cụ thể về quốc phòng - an ninh, những mục tiêu trọng yếu và một số chủ trương, biện pháp lớn cần tập trung thực hiện”2.
Trước tình hình đó, Quân khu và các tỉnh tập trung công tác chính trị tư tưởng, công tác giáo dục quốc phòng, tạo chuyển biến về nhận thức đối với âm mưu thủ đoạn mới của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Mỹ bỏ cấm vận tạo cơ hội đẩy nhanh sự ổn định của ta3; Quân khu kịp thời thông tin rộng rãi trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân về tình hình, nhiệm vụ mới, và những nhận định của Trung ương, Bộ Quốc phòng giúp cho đơn vị, địa phương chủ động công tác tư tưởng, không mơ hồ ảo tưởng mà phải tăng cường cảnh giác cao hơn với những thủ đoạn mới của chủ nghĩa đế quốc. Trên cơ sở đó, kịp thời bổ sung thực hiện nghiêm kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an ninh chính trị thường xuyên; đồng thời tăng cường đề phòng hoạt động của số cực đoan phản động trong tôn giáo và thủ đoạn hoạt động liên kết với bọn phản động ở nước ngoài, chọn thời cơ chống phá ta quyết liệt4.
Cuối tháng 3 năm 1993, Thượng tướng Đào Đình Luyện - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp vào kiểm tra về công tác sẵn sàng chiến đấu của quân khu, 6 tỉnh, Sư đoàn 324, Trung đoàn 273, Sư đoàn 341, Tiểu đoàn tăng và Trung đoàn 176 Thừa Thiên - Huế, các cảng Cửa Thuận, Cửa Việt.
Qua vụ xảy ra ở chùa Linh Mụ, thành phố Huế5 (24-5-1993), Quân khu chỉ đạo các đơn vị, địa phương tăng cường biện pháp chủ động phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ mức cao hơn, nhất là nắm chắc tình hình và lực lượng, cả tại chỗ và cơ động, nắm chắc phương châm xử lý các tình huống6, chăm lo công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác dân vận, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xã phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, nhất là các vùng trọng yếu. Quân khu và tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng rút được những kinh nghiệm về sự phối hợp giữa Quân khu với tỉnh, thành phố, các ngành; phối hợp giữa Thừa Thiên - Huế với các tỉnh bạn (Quảng Trị, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi) dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Trưng ương, trên cơ sở đó bổ sung vào kế hoạch A2 của các cấp.
Quân khu và các tỉnh chỉ đạo diễn tập A2 cấp huyện, cơ sở, trong đó chú trọng diễn tập ở một số địa bàn trọng điểm như Huế, Vinh. Qua diễn tập, vai trò tham mưu của cơ quan quân sự và công an gắn bó, kịp thời bổ sung nội dung sát tình hình, tình huống hơn, vận hành của cơ chế 02 và hoạt động của hệ thống chính trị hiệu quả, góp phần ngăn ngừa, quy gọn, giải quyết được một số điểm nóng, ổn định tình hình chính trị - xã hội7. ______________________________________________ 1. Chỉ thị 49/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu. 2, 3. Nghị quyết 03/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu về phương hướng nhiệm vụ quân sự 1993. 4. Như vụ "Đông Xuân khởi nghĩa"- LH90 ngày 7-3-1993 của "Liên đảng cách mạng Việt Nam" do tên Hoàng Viết Cương cầm đầu bọn phản động lưu vong từ Mỹ về định gây rối, đánh phá các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự quan trọng hòng gây tiếng vang và kích động nhân dân biểu tình, bạo loạn chiếm đài phát thanh, truyền hình, lật đổ chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng ta đã phát hiện sớm, kịp thời dập tắt ngay trước giờ chúng hành động, bắt 42 tên, thu nhiều tang vật và tài liệu. 5. Ngày 21-5-1993, một nam thanh niên tự sát bằng xăng sau chùa Linh Mụ (Huế), được chuyển đến bệnh viện Trung ương Huế và chết. Ngày 24-5, nhân sự việc này, Thích Trí Tựu tổ chức 6 vị ở chùa Linh Mụ kéo xuống đường Lê Lợi kích động xuyên tạc ngăn cản làm ách tắc giao thông. Ta kiên trì giải thích, được nhân dân ủng hộ, bắt 9 bị can xử tội theo pháp luật. 6. Chỉ thị 58/TTg nêu rõ: "Khi có việc phức tạp xảy ra thì phải bình tĩnh, đánh giá đúng thực chất sự việc, có chủ trương, biện pháp phù hợp và kịp thời, không để kéo dài, nhưng không được nóng vội". 7. Trong năm 1993, Quân khu tổ chức diễn tập A2 thêm 29 huyện, thị, thành, 318 xã phường, trong đó có 6/6 tỉnh, 71/75 huyện thị thành, 1.212/1.757 xã phường, 54/1.427 cơ sở tự vệ đã diễn tập A2. Thanh Hoá giải quyết được một số vụ việc ở Hoằng Thịnh, Tiến Lộc; Nghệ An ở Nam Giang...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #154 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:27:18 am » |
|
2. Tập trung xây dựng lực lượng chủ lực cơ động của quân khu và các tỉnh thực sự vững mạnh toàn diện, xây dựng xã phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu thành cuộc vận động cách mạng rộng lớn.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII xác định: “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với chất lượng cao. Xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại với cơ cấu và quân số hợp lý; nâng cao sức mạnh tổng hợp và sức mạnh chiến đấu... lấy chất lượng chính trị làm chính”.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Đảng ủy Quân sự Trung ương về nhiệm vụ quân sự 5 năm (1991-1995), toàn quân tiếp tục triển khai nhiệm vụ trung tâm xây dựng, huấn luyện sát thực tế chiến đấu, sát yêu cầu nhiệm vụ, địa bàn, tổ chức biên chế, trang bị của từng đơn vị phù hợp từng đối tượng tác chiến và cách đánh truyền thống của Việt Nam với phương châm: cơ bản, thiết thực, vững chắc. Tập trung xây dựng các đơn vị cơ sở, các trung đoàn, sư đoàn vững mạnh toàn diện với 5 nội dung theo Chỉ thị 116/CT-TM (ngày 13-12-1988) và Chỉ thị 05/CT-TM (ngày 10-2-1992) của Bộ Tổng Tham mưu, Chỉ thị 69/CT-H (ngày 12-3-1991) của Tổng cục Chính trị về huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.
Quân khu đã tiến hành nhiều việc như điều chỉnh quân số, giáo dục chính trị tư tưởng, củng cố tổ chức Đảng, tập huấn cán bộ các cấp, huấn luyện bộ đội chủ lực Quân khu, địa phương, dự bị động viên, dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng, hội thi, hội thao, diễn tập, củng cố công tác trang bị kỹ thuật, chăm lo sản xuất nâng cao đời sống. Đồng thời, Quân khu cũng triển khai công tác khoa học lịch sử quân sự, kiểm tra, thanh tra, pháp chế chỉ đạo bình xét đánh giá đơn vị, cán bộ đảng viên, đoàn viên thanh niên; tổ chức thành công Đại hội Đoàn cơ sở và Đại hội Đoàn Quân khu lần thứ 4, động viên, biểu dương, cổ vũ lực lượng đoàn viên thanh niên đi đầu thực hiện nhiệm vụ trung tâm xây dựng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng tổ chức Đoàn cơ sở vững mạnh, xung kích xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện.
Trong những năm qua, Quân khu đã tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân sự địa phương, nền tảng là các xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu dần nền nếp, được sơ kết rút kinh nghiệm.
Đầu tháng 1-1993, Quân khu tổ chức hội nghị sơ kết 2 năm xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện đối với các đơn vị chủ lực, chủ yếu ở cấp đại đội, tiểu đoàn, lữ đoàn, hội nghị đánh giá những thành tích đạt được và đề ra chủ trương, biện pháp phát triển xây dựng các trung đoàn, sư đoàn mạnh theo 5 yêu cầu, xây dựng khối chủ lực của Quân khu và địa phương theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm nền tảng, bảo đảm thực sự vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao như Nghị quyết Đại hội Đảng Quân khu lần thứ V đã xác định1.
Trong 2 năm (1991-1992), thực hiện xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, các đơn vị tiến bộ khá toàn diện như Lữ đoàn 414, Lữ đoàn 16, Trung đoàn 206, Lữ đoàn 283, Trung đoàn 335 Sư đoàn 324; nhiều đơn vị trưởng thành rõ rệt trên một số mặt như Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 19, Trung đoàn 9 Sư đoàn 968, Trung đoàn 80, Trường Quân sự Quân khu, Trường Quân sự Quảng Bình, Tiểu đoàn 40 Thanh Hoá, Tiểu đoàn 41 Nghệ An, Đại đội bộ binh Quan Hoá, Đại đội bộ binh Minh Hoá, các kho vũ khí đạn K70 Nghệ An, kho Quảng Bình, KX3 thuộc Cục Hậu cần, K41, KX5, CK2 thuộc Cục Kỹ thuật Quân khu.
Hội nghị xác định mục tiêu tập trung thực hiện trong năm 1993 và các năm tiếp theo là: Trên cơ sở xây dựng được các đại đội, tiểu đoàn, phân đội cơ sở thực sự vững mạnh toàn diện có chất lượng cao làm cơ sở xây dựng trung đoàn, lữ đoàn, sư đoàn mạnh toàn diện. Xây dựng sư đoàn bao gồm cả trung đoàn có quân, trung đoàn khung thực sự vững mạnh toàn diện.
Các tỉnh phải xây dựng tiểu đoàn tỉnh, đại đội huyện, các phân đội trực thuộc tỉnh thành những tiểu đoàn, đại đội, phân đội thực sự vững mạnh toàn diện.
Hệ thống kho trạm của Quân khu, tỉnh, huyện, các đơn vị phải tiếp tục xây dựng theo kế hoạch bảo đảm vững mạnh toàn diện, an toàn tuyệt đối. Nhà trường, bệnh viện tập trung xây dựng đội ngũ khung giáo viên, nhân viên điều trị với tinh thần tất cả vì chất lượng học viên, vì sức khỏe bệnh nhân.
Các cơ quan Quân khu, tỉnh, sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, huyện (thị) phải vững mạnh toàn diện theo 5 yêu cầu vận dụng vào điều kiện cụ thể cơ quan các cấp, bảo đảm cơ quan mạnh để chỉ đạo đơn vị.
Những biện pháp cụ thể Quân khu cần tập trung xây dựng trong thời gian tới gồm:
1. Xây dựng các tổ chức Đảng, đội ngũ đảng viên gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ thực sự trong sạch vững mạnh, thực hiện nghiêm túc đạt chất lượng cao nội dung yêu cầu đổi mới chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 3, gắn chặt công tác lãnh đạo của chi bộ, Đảng bộ với nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đây là yếu tố cốt lõi nhất bảo đảm đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị.
2. Tập trung năng lực lãnh đạo, chỉ huy các cấp cho công tác huấn luyện là nhiệm vụ trung tâm thường xuyên, nâng cao năng lực chỉ huy, trình độ chiến đấu của cán bộ chỉ huy và phân đội, xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, quản lý đơn vị. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải tăng cường công tác kiểm tra chặt chẽ, kịp thời.
3. Tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo, chính quyền, nhân dân địa phương, thực hiện "quân với dân một ý chí", tham gia xây dựng xã, phường cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và qua tác động của địa phương để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. ______________________________________________ 1. Nghị quyết Đại hội Quân khu lần thứ V nêu rõ: “Trên cơ sở xây dựng lực lượng vũ trang quân khu vững mạnh về chính trị mà tập trung đầu tư xây dựng lực lượng chủ lực cơ động của Quân khu và các tỉnh thực sự vững mạnh toàn diện, cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại...".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #155 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:30:17 am » |
|
Sau một thời gian đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới, cuối tháng 6-1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết 03/NQ-TW về "một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng". Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết 79/NQ-ĐUQSTW về đổi mới và chỉnh đốn Đảng trong Đảng bộ quân đội. Cuối năm 1992, Đảng bộ Quân khu tổ chức quán triệt, tiến hành đợt tự phê bình, phê bình từ trên xuống chi bộ. Trên cơ sở đó, Đảng ủy Quân khu ra nghị quyết về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nêu rõ vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng trong xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện. Nghị quyết đánh giá, việc xây dựng Đảng bộ đã tập trung xây dựng tư tưởng, tổ chức, cán bộ, định hướng đúng về tư tưởng cho cán bộ đảng viên, quần chúng. Đại đa số cán bộ, đảng viên trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, con đường xã hội chủ nghĩa, là lực lượng nòng cốt tin cậy trong công cuộc đổi mới, thực hiện nhiệm vụ của lực lượng vũ trang quân khu.
Các đại đội chiến đấu đều có chi bộ, các bộ phận quan trọng đều có đảng viên. Sau khi tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm thực hiện Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, cơ chế lãnh đạo của Đảng trong bộ đội chủ lực và lực lượng quân sự địa phương được thiết lập, hoạt động theo quy chế thống nhất.
Tuy nhiên, trong Đảng bộ Quân khu tư tưởng trung bình chủ nghĩa; hiện tượng hữu khuynh né tránh, thiếu tính chiến đấu khá phổ biến; số tiểu đội không có đảng viên, trung đội không có tổ Đảng vẫn còn1, chưa có đại đội bộ binh nào có cấp ủy; thiếu cán bộ trung đội trưởng, đại đội phó chính trị chưa khắc phục được; hoạt động của chi bộ đang là khâu yếu nhất, thiếu chủ động sáng tạo, có 25% Bí thư chi bộ yếu cả phẩm chất, trách nhiệm2.
Nghị quyết nêu rõ phương hướng trong thời gian tới là: tập trung xây dựng các tổ Đảng, nhất là tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt nâng cao sức chiến đấu của quân đội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Các chủ trương, biện pháp chính là: xây dựng sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, khắc phục tư tưởng trung bình chủ nghĩa, tư tưởng thực dụng.
Xây dựng chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên kết hợp chặt chẽ với xây dựng đội ngũ cán bộ, trước mắt tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trung đội, đại đội, đại đội phó chính trị, trợ lý huyện, chăm lo đào tạo bồi dưỡng có trình độ toàn diện cả phẩm chất chính trị, kiến thức, năng lực chỉ huy, quản lý và năng lực tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.
Tập trung xây dựng chi bộ, cấp ủy cơ sở, đội ngũ bí thư. Điều chỉnh và tích cực phát triển đảng viên bảo đảm các đại đội có quân đều có chi bộ, các bộ phận phân tán có quần chúng đều phải có tổ Đảng hoặc đảng viên. Tăng cường mối liên hệ giữa đảng viên, tổ chức Đảng với quần chúng, chăm lo xây dựng hoạt động của các cơ sở Đoàn, Công đoàn, Phụ nữ, Hội đồng quân nhân3.
Trong thời gian này, các địa phương vừa tổ chức sơ kết xây dựng xã phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên cơ sở những nội dung đã được thống nhất tại đợt sơ kết lần 2 của Quân khu, đồng thời triển khai thực hiện Chỉ thị 58/TTg thành cuộc vận động chính trị rộng lớn trong Quân khu, tập trung mục tiêu xây dựng cơ sở chính trị, chuyển vào xây dựng thôn xóm, làng bản, khối phố, kiện toàn các phân đội nòng cốt, xây dựng nhân cốt, giữ vững ổn định chính trị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. Qua sơ kết ở 5 tỉnh (Hà Tĩnh tiến hành cuối năm 1992; Thừa Thiên - Huế chưa sơ kết cấp tỉnh); 72/75 huyện, thị, thành và nhiều xã phường, đánh giá bước đầu của các địa phương, số xã phường khá trong toàn Quân khu chiếm từ 45 - 50%, số trung bình 25 - 30%, số yếu, kém còn 10 - 20%. Thanh Hoá sơ kết 4 năm, phân loại có 70% xã phường cơ sở khi có sự việc tự giải quyết được; 24% phải hỗ trợ một phần của trên; 6% cơ sở phải dựa hoàn toàn vào trên. Thanh Hoá cũng là tỉnh mở đầu việc thực hiện việc giữ lại 30 quân nhân người dân tộc sau 2 năm tại ngũ đào tạo bồi dưỡng thêm bằng kinh phí địa phương để làm nòng cốt công tác ở vùng miền núi. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở các tỉnh đều do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy làm trưởng ban, đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm phó ban, các thành viên có: Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, quân sự, công an. Hầu hết các huyện, thị, thành đã có Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở. Song có nơi mới dừng lại ở tổ chức, chưa triển khai lực lượng xuống được nhiều cơ sở hoặc triển khai còn chậm, lúng túng, kém hiệu quả4.
Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 14-3-1993, Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Chỉ thị 37/CT-DUQSTW “Về đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội nhân dân lên một bước mới”. Chỉ thị nêu rõ: “Tập trung nâng cao trình độ chính quy về trang phục, lễ tiết tác phong quân nhân; thực hiện có nền nếp chính quy trong điều lệnh quản lý bộ đội, trước tiên là các chế độ sinh hoạt hàng ngày, các chế độ sẵn sàng chiến đấu huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, chế độ quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật”. ____________________________________________ 1. Từ năm 1986 đến 1992, tổng số đảng viên chuyển ra khỏi Đảng bộ Quân khu là 10.286, tiếp nhận vào 2.823 và kết nạp 5.723. 2. Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương tổ chức Hội nghị tổ chức toàn quân lần thứ 6 (4-1993) đánh giá công tác tổ chức trong quân đội từ 1986 đến quý I năm 1993 nêu rõ: Chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách nhận thức còn lộn xộn, thực hiện còn lúng túng, hiện tượng vừa bao biện, vừa buông trôi cùng tồn tại, nhưng buông trôi bỏ trống nhiều hơn. Có trường hợp bí thư, cấp ủy thụ động, phụ thuộc vào người chỉ huy, trở thành "vai trò bảo đảm" (sách: Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam 1944-2000, trang 849). 3. Ngày 24-5-1992, Tổng cục Chính trị ban hành quy định về “Tổ chức Hội đồng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam". 4. Báo cáo số 50/BC-QP của Bộ tư lệnh Quân khu tại Hội nghị liên tịch quốc phòng của quân khu và 6 tỉnh (1993-1994).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #156 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:34:24 am » |
|
Cuối tháng 5-1993, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu tổ chức hội nghị triển khai thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương trong toàn Quân khu, Hội nghị nêu rõ: Toàn Quân khu tập trung triển khai thống nhất kế hoạch xây dựng chính quy, chấp hành điều lệnh, rèn luyện kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh xây dựng bản chất chính trị của quân đội chính quy hoá quân đội cách mạng, tự giác, thống nhất, nghiêm túc, kiên quyết, là cơ sở trực tiếp để thúc đẩy xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện theo 5 nội dung Bộ Tổng Tham mưu đề ra. Để đạt mục tiêu đó, Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương mở một chiến dịch tập trung việc xây dựng rèn luyện điều lệnh, điều lệ, chế độ chính quy cho đội ngũ cán bộ toàn Quân khu gắn với khắc phục các mặt yếu trong Nghị quyết Đảng ủy Quân khu về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Từ các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu đến các chỉ huy, tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật của các các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, nhà trường, tỉnh, huyện... đều phải phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ huy làm chuyển biến đơn vị, địa phương. Bộ Tham mưu Quân khu, Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An, Trường Quân sự Quân khu, Sư đoàn 324, Lữ đoàn 414 là các cơ quan, đơn vị điểm của Quân khu.
Sau một thời gian đẩy mạnh các mặt xây dựng, nhiều đơn vị bước đầu đã có sự tiến bộ rõ rệt như Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 176, Trường Quân sự Quân khu, các trung đoàn 206, 335, 19, 273, 80; các lữ đoàn 414, 283, các cơ quan quân sự Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, Thanh Hoá, cơ quan Quân khu, các kho K41, KX5. Các cuộc diễn tập, tập huấn đều đạt khá, giỏi như: diễn tập tiểu đoàn bắn chiến đấu của Sư đoàn 324, đại đội bắn chiến đấu tấn công phòng ngự của Sư đoàn 341, 2 tiểu đoàn pháo binh bắn đạn thật của Lữ đoàn 16, tập huấn về tác chiến phòng ngự tiến công của Sư đoàn bộ binh trong khu vực phòng thủ ở Sư đoàn 968. Tỉnh Hà Tĩnh tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ lần đầu (từ khi chia tỉnh), cả 10/10 huyện, thị tham gia đều đạt kết quả theo các tình huống đề ra. Các đoàn đại diện cho Quân khu hội thao ở Bộ đều đạt giải cao như: Giải nhì về phòng không, giải ba về trinh sát chấm điểm lần đầu tiên. Đợt kiểm tra chính trị cán bộ cao cấp chủ trì toàn Quân khu có 85% đạt khá giỏi, nhiều đồng chí đạt kết quả cao như: Thiếu tướng Phạm Huy Chưởng, Thiếu tướng Cao Xuân Khuông, Đại tá Nguyễn Hồng Niên, Đại tá Nguyễn Duy Dĩnh, Đại tá Nguyễn Phong Phú, Đại tá Đinh Xuân Tứ, Thượng tá Doãn Yến, Trung tá Phan Sỹ Lý và tập thể Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu1. Đoàn nghệ thuật Quân khu hoàn thành chuyến đi biểu diễn đầu tiên với 46 điểm ở quần đảo Trường Sa, gặp gỡ giao lưu ca hát cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ, trong đó có nhiều đồng chí là con em quê hương Quân khu 4 đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Ngành Kỹ thuật có 44/75 huyện, thị, thành và 85 điểm có kho xây dựng đúng tiêu chuẩn lâu bền, trong đó một số địa phương đã đầu tư kinh phí lớn. Cụm kho CK2 Cục Kỹ thuật và Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An hoàn thành việc chuyển đổi vũ khí trang bị kỹ thuật đảo Mắt, đảo Ngư. Trong xây dựng cơ bản, nhiều cơ quan, đơn vị, nhất là khối quân sự địa phương làm được sở chỉ huy cao tầng của tỉnh, huyện, tạo thuận lợi đưa cơ quan vào nền nếp chính quy. Ngành Hậu cần phát triển thêm điểm đời sống ở Trung đoàn 273 Sư đoàn 341, thực hiện Chương trình 12 quân dân y kết hợp, chương trình trồng rừng tập trung và phân tán theo dự án PAM 4304 đạt nhiều kết quả2.
Về sản xuất xây dựng kinh tế, cả 3 khối tăng cường lực lượng, phương tiện thực hiện theo chỉ tiêu được giao; đồng thời tích cực tăng gia tại chỗ3. Nhờ vậy, kết quả đạt được tăng 50% so với năm 1992, với 27,3 tỷ đồng, trong đó khối thường trực đạt 5,8 tỷ, khối sản xuất hậu cần và sửa chữa quốc phòng 3,2 tỷ, khối các doanh nghiệp 18,3 tỷ, góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương. Công ty hợp tác kinh tế khai thác 8.068m3 gỗ, xuất khẩu 5.113m3, có vườn ươm 2 vạn cây thông, trồng rừng đạt hiệu quả nhất trong các đơn vị ở Lạc Xao.
Bộ tư lệnh Quân khu và các cơ quan tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm 3 năm thực hiện Chỉ thị 240/HĐBT, Chỉ thị 707 của Bộ Quốc phòng về chống tham nhũng, buôn lậu; giải quyết tồn đọng về chính sách 1984-1992 và phương hướng tiếp theo; tiếp đó đánh giá tình hình đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng; sơ kết đổi mới giáo dục chính trị và công tác thi đua cơ sở, công tác huấn luyện quân sự 3 năm; tiến hành Đại hội Công đoàn lần thứ 3; hội thao kỹ thuật toàn Quân khu và sơ kết cuộc vận động "Quản lý sử dụng xe, máy tốt, bền, an toàn, tiết kiệm” 1991-1993; giúp Bộ tổ chức Hội nghị bảo quản vũ khí đạn các đảo ven bờ đạt chất lượng tốt.
Trong huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, từ năm 1990, toàn Quân khu đã có sự điều chỉnh thích ứng với tình hình mới. Cùng với huấn luyện theo nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh xâm lược, tăng cường huấn luyện theo nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, kết hợp với chiến tranh xung đột cường độ thấp với lực lượng tại chỗ trong các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố là chính.
Cuối tháng 11-1993, Quân khu cùng các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị và Sư đoàn 968 tổ chức diễn tập phòng thủ nam Quân khu mang tên PT-93. Cuộc diễn tập lần này khác các chiến dịch phòng ngự bờ biển trước4 chủ yếu về quân sự. Nay diễn tập chiến dịch phòng ngự trong khu vực phòng thủ, theo quan điểm chiến tranh nhân dân toàn diện như Nghị quyết Trung ương 3 đề ra, kết hợp giữa phương thức tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với phương thức tác chiến của bộ đội chủ lực trong tác chiến phòng thủ Quân khu, huy động triệt để sức mạnh tổng hợp của toàn dân giải quyết 2 mục tiêu là: đánh bại, đẩy lùi tấn công xâm lược từ biển vào và vu hồi đất liền từ phía tây sang, đồng thời sẵn sàng đập tan mọi hành động bạo loạn lật đổ từ bên trong kết hợp tấn công bên ngoài.
Cuộc diễn tập diễn ra với quy mô lớn: Thừa Thiên - Huế có cả thành phố Huế, Trung đoàn 176, một tiểu đoàn dự bị động viên Hương Thủy, một tiểu đoàn của Trung đoàn 176 và các đơn vị bắn máy bay của dân quân tự vệ Huế; Quảng Trị có thị xã Đông Hà; Sư đoàn 968, trọng điểm là Trung đoàn 19. Tổng số lực lượng tham gia diễn tập gồm 350 sĩ quan, cán bộ địa phương và 600 quân tự vệ. Cuộc diễn tập được tiến hành sau khi 6 tỉnh và hầu hết các huyện, thị, thành, 80% xã, phường, cơ sở đã diễn tập thực nghiệm khu vực phòng thủ kết hợp với diễn tập A2, tỉnh Quảng Trị đã diễn tập phòng ngự đảo Cồn Cỏ. Lần này cuộc diễn tập diễn ra với yêu cầu cao hơn, mới hơn. Các lực lượng tham gia đã hoàn thành nhiệm vụ diễn tập theo các tình huống đề ra.
Kết thúc diễn tập, đồng chí Tư lệnh Quân khu đánh giá: Cuộc diễn tập này đã đạt mục đích yêu cầu trong hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt5. Cả đạo và diễn các cấp đã đi sâu một bước vào nghệ thuật tác chiến chiến dịch và công tác tham mưu chiến dịch, nắm được nguyên tắc cơ bản về nghệ thuật chiến dịch phòng ngự bờ biển theo quan điểm Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 3 tác chiến trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, tác chiến bảo vệ tại chỗ trong khu vực phòng thủ, đặc biệt là nâng một bước nhận thức về chiến tranh nhân dân, chiến đấu trong khu vực phòng thủ với nội dung mới. _____________________________________________ 1. Tháng 4-1993, Phòng Lịch sử quân sự Quân khu giải thể, còn lại một bộ phận sáp nhập vào Phòng Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quân khu. 2. Từ năm 1993-1996, các đơn vị trong Quân khu được phê duyệt 19 dự án trồng rừng với diện tích trên 3.100ha. 3. Tháng 8-1993, Tư lệnh Quân khu ra Quyết định số 366/QĐ-TL thành lập Phòng Kinh tế thực hiện chức năng tham mưu làm kinh tế 3 lực lượng, làm tổng B về mặt đối ngoại. 4. Các diễn tập trước như C81, MB83, MB84... 5. Hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế vụ mùa bị hạn rất nặng, Quảng Trị bị khô cháy trên 18.600ha lúa màu, Thừa Thiên - Huế trên 12.700ha, tiếp đó lũ lụt, mùa màng thất bát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống của nhân dân và lực lượng vũ trang.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #157 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:36:14 am » |
|
*
* * Năm 1994, tình hình kinh tế - xã hội đất nước có bước phát triển mới. Quân khu bước vào năm 1994 có nhiều thuận lợi lớn, nhưng nhiệm vụ cũng rất nặng nề đòi hỏi phải nỗ lực phấn đấu xây dựng tiến bộ, vững chắc hơn năm 1993. Tháng 1-1994, Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII) diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị nêu rõ: đất nước ta đứng trước thời cơ vận hội mới, nhưng cũng chỉ ra 4 nguy cơ: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến hoà bình” do các thế lực thù địch gây ra. Hội nghị xác định nhiệm vụ chủ yếu về quốc phòng và an ninh từ năm 1994 trở đi: Trong khi tập trung xây dựng đất nước, chúng ta phải coi trọng tăng cường quốc phòng và an ninh, chấp hành thật tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa”. “Cần quán triệt và tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ chung về quốc phòng - an ninh, nắm vững các quan điểm chỉ đạo mà Hội nghị Trung ương 3 đề ra. Tiến hành cuộc đấu tranh toàn diện lâu dài nhằm làm thất bại mọi âm mưu hành động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Tiếp đó, tháng 3-1994, Hội nghị đại biểu Đảng bộ toàn quân giữa nhiệm kỳ xác định rõ phương hướng nhiệm vụ quốc phòng 2 năm (1994-1995). Tổng Bí thư Đỗ Mười - Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương đến dự và biểu dương thành tích của quân đội 1991-1993 và xác định rõ trách nhiệm của quân đội những năm tới là xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và nhân dân. Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Đảng ủy Quân khu họp đánh giá tình hình, nêu rõ 2 năm 1994-1995 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, cũng là thời điểm chính trị quan trọng kỷ niệm những ngày lễ lớn; đồng thời xác định phương hướng nhiệm vụ quốc phòng của Quân khu và các tỉnh năm 1994 và 1994-1995 với 4 mục tiêu cụ thể, chuẩn bị cho Hội nghị Đảng bộ Quân khu giữa nhiệm kỳ. Mục tiêu cấp bách hàng đầu là trực tiếp chiến đấu phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, kết hợp chặt chẽ sẵn sàng đối phó với các tình huống khác, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương 1. Tiếp đó, Quân khu và 6 tỉnh cũng tiến hành hội nghị liên tịch triển khai thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và chuẩn bị hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ các tỉnh. Chấp hành nghiêm túc Chỉ thị 94/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu, Tư lệnh Quân khu ra Chỉ thị 46/CT-TL (ngày 30-1-1994) gửi tất cả các địa phương bổ sung nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hoà bình” trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ âm mưu thủ đoạn của đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai đã chuyển sang giai đoạn hành động trực tiếp, liên kết phối hợp trong ngoài thúc đẩy “diễn biến hoà bình” mức độ cao hơn, rộng hơn. Chúng cố gắng tìm cách dựng cớ, dựng ngọn cờ, tạo ngòi nổ ngay trên địa bàn Quân khu, trước hết là phía nam làm điểm đột phá gây rối chống đối lan rộng, khi có thời cơ kích động đẩy nhanh tới biểu tình, bãi thị, bạo loạn lật đổ, dự kiến 5 khả năng có thể xẩy ra trên địa bàn Quân khu. Chỉ thị yêu cầu các địa phương nắm vững và vận dụng đúng đắn phương châm tư tưởng chỉ đạo, hành động của lực lượng vũ trang trong từng tình huống và một số quy định trong thực hiện nhiệm vụ A2 theo đúng chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, bổ sung một số quy định về trường hợp và quyền hạn sử dụng quân đội, về quyển nổ súng, bổ sung điều chỉnh nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, địa phương. Cùng thời gian này, ở huyện Quỳnh Lưu bùng nổ vụ xung đột gay gắt giữa hai xã Quỳnh Vinh và Quỳnh Thiện. Quỳnh Vinh, Quỳnh Thiện, Quỳnh Dỵ là 3 xã được sáp nhập vào xí nghiệp Quỳnh Mai vào năm 1976, đến năm 1981 tách thành ba xã như cũ. Khi tách, các đơn vị hành chính không có hồ sơ pháp lý và chỉ quản lý theo hiện trạng sử dụng đất. Từ năm 1982, mâu thuẫn tranh chấp xảy ra, huyện, tỉnh giải quyết không dứt điểm. Những ngày cuối tháng 1-1994, một số phần tử xấu ở hai xã lợi dụng tình hình lộn xộn gây rối làm ách tắc giao thông đường số 1. Tỉnh tổ chức lực lượng công an, quân sự tiến hành giải toả, nhưng phải 6 tiếng đồng hồ mới thông đường. Lực lượng giải quyết của huyện cũng giải toả đường nối giữa hai xã, huy động dân công xã Quỳnh Hồng đến bốc dỡ những nhà làm trái phép ở nơi tranh chấp. Chiều ngày 1-2-1994, Đại tá Lê Hải Anh - Phó Tham mưu trưởng Quân khu; đồng chí Bạch Hưng Đào - Phó Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An và một số cán bộ của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh vào làm việc với Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh và một số nhân dân hai xã. Đến ngày 5 tháng 2, sự việc giữa hai xã Quỳnh Vinh và Quỳnh Thiện mới lắng dần. Rút kinh nghiệm vụ xảy ra ở hai xã thuộc huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh chỉ đạo tăng cường phối hợp giữa lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ với công an, biên phòng, các cơ quan, đoàn thể tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở chỉ đạo các cấp rà xét, đánh giá tình hình cơ sở địa phương, tổ chức phối hợp các lực lượng tập trung giải quyết, loại trừ kẻ xấu, kẻ địch lợi dụng chống phá, kiểm tra củng cố nắm chắc lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, thu hồi vũ khí, chất nổ tàng trữ trái phép. Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, các sư đoàn 324, 968, 341, Trung đoàn 176; các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng, lực lượng thông tin của Quân khu được giao nhiệm vụ bổ sung điều chỉnh kế hoạch và tổ chức hiệp đồng giữa địa phương, đơn vị theo Chỉ thị 46/CT-TL của Tư lệnh Quân khu. Bộ tư lệnh Quân khu bổ sung tổ chức hoạt động của Sở chỉ huy tiền phương tại Huế. ____________________________________________ 1. Nghị quyết số 14/NQ-ĐU của Đảng ủy Quân khu ngày 3-1-1994.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #158 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:38:46 am » |
|
Bước vào giai đoạn huấn luyện mới, các đơn vị, địa phương tập trung ba khâu trọng tâm là: tập huấn bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng giáo viên, luyện tập đội hình mẫu. Triển khai huấn luyện gắn với rèn luyện xây dựng chính quy, củng cố kỷ luật, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện1 nhằm mục tiêu chuyển biến cơ bản trong năm 1994 và thực sự vững chắc trong năm 1995.
Các cơ quan Quân khu, cơ quan quân sự tỉnh, huyện, sư đoàn, trung đoàn, nhà trường từng bước củng cố, tập trung thực hiện nghiêm túc, kiểm tra uốn nắn cụ thể đều có bước chuyển biến mới bảo đảm thực sự là cơ quan, bộ máy chính quy, thể hiện đúng bản chất chính trị của chính quy hoá, xây dựng đơn vị chủ lực theo đúng Chỉ thị 37/TVĐUQSTW, xây dựng cơ sở địa phương theo đúng Chỉ thị 58/TTg. Đây là định hướng quan trọng, kịp thời đúng đắn theo quan điểm đổi mới về chỉ đạo xây dựng cơ sở chủ lực, địa phương của Quân khu.
Sau Hội nghị quốc phòng toàn quốc (11-1993), ngày 12-3-1994, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 19/CP (do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký) về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương gồm 3 chương, 18 điểm, nêu rõ 4 nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan Chính phủ, 6 nhiệm vụ của địa phương về công tác quốc phòng, tổ chức, mối quan hệ và chế độ chính sách đối với công tác quốc phòng.
Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, các cơ quan Quân khu tổ chức quán triệt Nghị định 19/CP và chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh tham mưu đề xuất triển khai học tập, quán triệt, thực hiện ở các địa phương.
Thực hiện điều 30 chương 6 Điều lệ Đảng (khoá VII), Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân khu đánh giá 2 năm kiểm tra Đảng khối quân sự địa phương và xác định mục tiêu tiếp theo. Đảng ủy Quân khu và Tỉnh ủy các tỉnh thống nhất cao xây dựng các tổ chức Đảng theo Nghị quyết Trung ương 3, tăng cường lãnh đạo nhiệm vụ kiểm tra Đảng trong khối quân sự địa phương, phối hợp Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy, Huyện ủy kiểm tra Đảng ủy quân sự Nghệ An và 36 tổ chức Đảng ở cơ quan quân sự huyện. Đảng ủy quân sự tỉnh và Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy hai tỉnh Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế giúp Tỉnh ủy kiểm tra 5 huyện về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng địa phương. Thường vụ Đảng ủy Quân khu và Thường trực Tỉnh ủy 6 tỉnh tổ chức Hội nghị liên tịch chuyên đề về công tác kiểm tra Đảng. Kết quả có 71/76 huyện thị đã thành lập Đảng ủy quân sự thay cho Ban cán sự theo Quy định 72/TW, còn các huyện, thị: Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, thị xã Đông Hà triển khai chậm; riêng thị xã Cửa Lò mới có quyết định thành lập thị xã.
Trong hai ngày 15 và 16-3-1994, Đảng ủy Quân khu triệu tập Hội nghị đại biểu Đảng bộ Quân khu giữa nhiệm kỳ (khoá V). Thượng tướng Lê Khả Phiêu - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị tới dự chỉ đạo Hội nghị. Đồng chí Nguyễn Xuân Chí - Bí thư Đảng ủy Quân khu trình bày báo cáo kiểm điểm thực hiện công tác giữa nhiệm kỳ, quán triệt thực hiện Nghị quyết hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc, toàn quân giữa nhiệm kỳ, tiếp tục khẳng định phương hướng nhiệm vụ Đại hội Quân khu lần thứ V đề ra.
Nội dung báo cáo đánh giá: nửa đầu nhiệm kỳ Đảng ủy Quân khu đã thực hiện đổi mới trong nhiệm vụ quốc phòng, tập trung huy động đồng bộ hơn sức mạnh của địa phương, đơn vị vào nhiệm vụ quốc phòng, gắn quốc phòng - an ninh với kinh tế - xã hội đạt chất lượng trên các mặt công tác, có những mặt đi vào chiều sâu cả trong chủ lực và địa phương, cả xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân. Lực lượng vũ trang quân khu được rèn luyện thử thách, lớn mạnh thêm một bước quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mối của Đảng.
Quân khu vẫn còn một số mặt còn yếu như: bảo đảm sẵn sàng chiến đấu chưa thực sự vững chắc, tình huống phức tạp chưa loại trừ được bất ngờ. Trong đơn vị chủ lực, cơ quan, cơ sở kho tàng chưa chuyển biến rõ rệt về xây dựng đơn vị mạnh, thực chất xây dựng về chính quy của lực lượng chủ lực mới chỉ ở mức độ ban đầu. Xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu chưa đều, còn nhiều cơ sở trung bình và yếu. Công tác chính trị tư tưởng thiếu hiệu quả chiều sâu; đổi mới và chỉnh đốn Đảng chưa thật rõ; công tác cán bộ còn hạn chế, thiếu những cán bộ tham mưu chuyên sâu giỏi trên các mặt. Công tác chính sách hậu phương cán bộ còn nhiều việc phải giải quyết.
Tại hội nghị, Thượng tướng Lê Khả Phiêu phát biểu nêu rõ vấn đề tổng kết một bước việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng của Đảng bộ cấp quân khu giữa nhiệm kỳ cần xem xét, đánh giá và xác định các chủ trương, giải pháp tiếp theo. Yêu cầu trước hết là nhận thức thật đúng về vị trí đặc điểm địa bàn chiến lược của Quân khu, tính chất nhiệm vụ chính trị thực hiện 2 chức năng: vừa xây dựng chỉ huy lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, vừa làm tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện sự quản lý Nhà nước theo đường lối đổi mới của Đảng; luôn luôn nắm vững quan điểm đổi mới nền quốc phòng toàn dân thời bình, đáp ứng yêu cầu chủ động đập tan âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, đóng thời sẵn sàng đối phó với các tình huống khác, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy xây dựng kinh tế - xã hội phát triển.
Do nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội V có một số đồng chí ủy viên Đảng ủy Quân khu chuyển công tác, nghỉ hưu, hội nghị đã bầu bổ sung 4 đồng chí vào Đảng ủy Quân khu gồm: Thiếu tướng Trương Đình Thanh - Tham mưu trưởng; Thượng tá Phạm Hồng Thanh - Phó Chủ nhiệm Chính trị; Thượng tá Lê Quyết Tiến - Chủ nhiệm Hậu cần; Đại tá Nguyễn Đức Lương - Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu. ______________________________________________ 1. Chỉ thị 58 của Tổng Tham mưu trưởng và kế hoạch 193 của Tư lệnh Quận khu xác định rõ thực hiện nghiêm túc 4 nội dung: trang phục thống nhất; chấp hành đúng lễ tiết tác phong; thực hiện đúng chức trách, chế độ; quản lý tốt trang bị, quản lý tốt nội bộ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 13633
|
 |
« Trả lời #159 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2024, 11:40:18 am » |
|
Sau Hội nghị đại biểu Đảng bộ Quân khu giữa nhiệm kỳ (khoá V), Đảng ủy, Bộ tư lệnh chỉ đạo triển khai nhiều việc ở cơ sở, đi sâu vào một số chuyên đề như rút kinh nghiệm hoạt động của Đảng ủy quân sự cấp huyện tại Quảng Bình; xây dựng tổ chức Đảng trong các kho tàng của Ngành Kỹ thuật; xây dựng Đảng trong cơ quan Quân khu tại Bộ Tham mưu; rút kinh nghiệm công tác hành quân dã ngoại vận động quần chúng toàn Quân khu tại Trung đoàn 206; rút kinh nghiệm đơn vị tổ chức đời sống tốt ở Trung đoàn 273 Sư đoàn 341; hội thao thợ bảo quản và thủ kho vũ khí đạn giỏi ở CK2; hội nghị chuyên đề kho quân khí cấp huyện ở Thạch Hà - Hà Tĩnh1; hội nghị quân dân y kết hợp và biểu dương phong trào quân y 5 tốt. Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu đã soát xét, đánh giá triển khai kế hoạch xây dựng xã, phường, cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu.
Bộ tư lệnh Quân khu làm việc với các Cục, Viện Kiểm sát, Tòa án quân sự, Điều tra hình sự, Thanh tra Quốc phòng Quân khu, Ủy ban kiểm tra Đảng, bảo vệ an ninh xử lý giải quyết các vấn đề về kiến nghị, thư khiếu nại về nhà đất, giải quyết kịp thời vụ việc nội bộ ở Viện 4, buôn bán vũ khí liên quan đến địa bàn Nghệ An, xử lý súng cấp 5 ở Z12, mất súng ở Trung đoàn 654 và một số vụ buôn lậu, tham ô xăng dầu, tài chính.
Trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phòng chống “diễn biến hòa bình”, Bộ tư lệnh Quân khu thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nắm chắc tình hình diễn biến trên thế giới, nhất là âm mưu của đế quốc Mỹ bỏ cấm vận nhưng không bỏ “diễn biến hòa bình” mà càng ráo riết tập trung phá hoại quyết liệt hơn về chính trị tư tưởng, dân chủ nhân quyền, tự do hóa kinh tế... Các thế lực phản động lưu vong cấu kết thành lập “Liên minh thống nhất” thúc đẩy hoạt động của các tổ chức chống đối, tiếp tục tìm cách xâm nhập chống phá, tuyên truyền thành lập khu tự trị của người dân tộc. Chúng ngấm ngầm phát triển đạo Tin lành ở Quảng Trị, vận động lôi kéo người H’Mông tràn vào biên giới phía tây Quân khu, trong đó ở Thanh Hóa có trên 3.000 người. Tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo tập trung phối hợp đưa họ về nơi cũ nhưng một thời gian ngắn hầu hết quay lại.
Bọn phản động cực đoan đội lốt Phật giáo đẩy mạnh “Phong trào đấu tranh Phật sự giai đoạn 3”, phong chui một số đại đức, kích động nói xấu ép Ban tự trị Phật giáo Thừa Thiên - Huế từ chức. Nhóm Huyền Quang âm mưu làm giả chúc thư của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, lợi dụng lễ Đại tường của Hòa thượng để ra mắt Viện Tăng thống và Viện hóa đạo của Phật giáo Ấn Quang, nhưng ta nắm biết trước âm mưu nên đã kịp thời dập tắt được mưu đồ chính trị nguy hiểm đó.
Số cực đoan trong Thiên Chúa giáo tuyên truyền thực hiện “năm thánh hóa gia đình”, phát triển lực lượng, có nơi hình thành “đội bảo vệ nhà thờ”. Một số tên phản động ở Huế bộc lộ tư tưởng chống đối quyết liệt như Nguyễn Văn Lý soạn thảo cái gọi là “Tuyên ngôn 10 điểm” xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, chống lại Ủy ban Đoàn kết Công giáo nước ta. Ta kịp thời phát hiện, tổ chức đấu tranh làm vô hiệu hóa ý đồ thâm độc của bọn này.
Ta cũng đấu tranh kiên quyết xử lý nghiêm minh theo pháp luật số chủ mưu cái gọi là “Tăng đoàn Thừa Thiên - Huế” do Thích Thiện Hạnh cầm đầu chống phá lễ khai giảng Trường cơ bản Phật học tại chùa Bảo Quốc - phường Trường An - Huế (27-11-1994).
Ở xã Trung Lương thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), tình hình diễn biến phức tạp từ cuối 1991. Xã Trung Lương thuộc huyện Đức Thọ; khi thành lập thị xã Hồng Lĩnh, xã Trung Lương chuyển thuộc thị xã Hồng Lĩnh tháng (3-1992). Khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Kiều Thắng không được bầu vào Đảng ủy xã (sau đó có quyết định thôi chức Chủ tịch xã), số bất mãn do bị xử lý tham ô tài sản, mất chức tập hợp lôi kéo một số cán bộ, đảng viên và quần chúng xấu kiện cáo, phong tỏa địa bàn, chặn các tuyến đường ra vào xã gây tình hình rất căng thẳng. Các hoạt động của địa phương hầu như bị tê liệt, sản xuất, đời sống nhân dân địa phương bị đảo lộn, khó khăn. Từ cuối năm 1993, tình hình Trung Lương trở lại tương đối bình thường. Nhưng đến bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp cuối năm 1994, “lực lượng chống tham nhũng” do Kiều Thắng, Kiều Khoái lập ra tiếp tục hoạt động chống đối, ngăn chặn bầu cử. Trước tình hình đó, ngày 21-11-1994, các cơ quan pháp luật của địa phương đã tiến hành bắt 8 tên chủ mưu. Lãnh đạo địa phương tổ chức các đoàn công tác cùng cơ sở tuyên truyền giải thích rõ trong nhân dân về hành vi phạm pháp của số bị bắt, kiện toàn củng cố các tổ chức của xã, tiếp tục triển khai công việc, bảo đảm tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân an toàn đạt kết quả vào ngày 25-12-1994.
Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu, Ban chỉ đạo xây dựng cơ sở Quân khu và các cơ quan đánh giá, đi sâu phân tích tình hình, tính chất, nguyên nhân các sự việc diễn ra, rút kinh nghiệm về thực hiện phương châm, phương pháp xử lý, kịp thời chỉ đạo các đơn vị, địa phương.
Vấn đề được đúc rút trước hết là cả cấp trên và cơ sở phải lấy chủ động phòng ngừa là chính, hết sức chú ý nhân tố mất ổn định từ bên trong, bên trên. Những nơi xảy ra điểm nóng thường không phải kinh tế kém phát triển, việc quản lý chính trị nội bộ lỏng lẻo, nhất là tệ tham nhũng.
Vì thế, cần tập trung giải quyết tốt, không để xảy ra theo phương châm lấy chủ động phòng ngừa, ngăn ngừa là hiệu quả nhất. _______________________________________________ 1. Đến cuối tháng 5-1994, toàn Quân khu có 49/75 huyện, thị, thành sắp xếp lại kho quân khí theo kết luận của Tư lệnh Quân khu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|