Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:43:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975 - 2005)  (Đọc 76470 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #240 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:55:48 pm »


Trải qua 30 năm qua trong thời kỳ lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2005), quân và dân Quân khu 4 đã trải qua nhiều khó khăn và thử thách, đổi mới và phát triển - một địa bàn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đối với miền Trung, cả nước và Nam Đông Dương, rất nhạy cảm về chính trị, luôn luôn cảnh giác cách mạng, nhận rõ kẻ thù, hiểu rõ nhiệm vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao cho. Quân khu đã đạt những thành quả to lớn và toàn diện trong xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế và xây dựng kinh tế - quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo thế và lực mới cho đất nước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Trải qua 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân khu 4 đã có sự trưởng thành nhiều mặt. Luôn luôn kiên định về chính trị, trung thành tuyệt đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc và nhân dân, với đường lối đổi mới, kiên quyết chống đa nguyên, đa đảng, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho. Đoàn kết nội bộ, trên dưới một lòng. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu đoàn kết nhất trí cao, nêu cao trách nhiệm, kiên định vững vàng trong mọi tình huống, chấp hành triệt để mọi nhiệm vụ của cấp trên giao cho, chủ động, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ huy, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Các cơ quan Quân khu công tác tận tụy phục vụ đắc lực cho lãnh đạo và chỉ huy. Quân khu chủ động đoàn kết phối hợp chặt chẽ với Đảng bộ, chính quyền và hệ thống chính trị của các địa phương cùng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - kinh tế xã hội, xây dựng hậu phương chiến lược.

Tuy nhiên, trong lãnh đạo, chỉ huy còn một số sơ hở, chưa nhạy bén, chủ động giáo dục giữ vững và phát huy bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam, của lực lượng vũ trang Quân khu, để xảy ra hiện tượng tiêu cực (lơ là mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu, vô kỷ luật, xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng, vi phạm pháp luật...). Đoàn kết nội bộ ở một số đơn vị giảm sút kéo dài. Có thời kỳ phải tập trung nhiều chăm lo cho các đơn vị chủ lực cơ động thực hiện nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế nên công tác quân sự địa phương và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương có phần chưa coi trọng đúng mức. Đời sống cán bộ, chiến sĩ, hậu phương cán bộ (từ 1990 trở về trước) cũng chưa thật coi trọng. Trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật kinh tế và khoa học quản lý kinh tế còn bất cập so với nhiệm vụ tham gia làm kinh tế của Quân khu.

Ngoài ra, việc thay đổi Tư lệnh Quân khu nhiều lần (từ năm 1976-1981 thay đổi 7 lần Tư lệnh), ảnh hưởng đến tính liên tục của lãnh đạo, chỉ huy và mối quan hệ phối hợp với địa phương. Tư lệnh kiêm Chính ủy hạn chế đến hiệu quả cả 2 chức trách, nhất là chức trách Tư lệnh.

Từ thực tiễn xây dựng hoạt động của Quân khu trong 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1. Trong thời chiến cũng như thời bình, lãnh đạo, chỉ huy cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình nhiệm vụ, vị thế địa - chính trị, vị trí chiến lược của Quân khu 4 với cả nước, như đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói năm 1979: "Quân khu 4 mạnh là cả nước mạnh, Khu 4 còn là cả nước còn", thế vững Quân khu 4 tạo thế cho cả nước và bạn Lào. Trên cơ sở đó chủ động trong xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và làm nhiệm vụ quốc tế.

2. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tăng cường công tác khoa học công nghệ, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào lĩnh vực quân sự - quốc phòng, trong tất cả các mặt hoạt động của lực lượng vũ trang quân khu, triển khai rộng rãi công nghệ thông tin, tăng hàm lượng trí tuệ trong lãnh đạo, chỉ huy các cấp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quân sự - quốc phòng.

3. Trong điều kiện nước ta xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần nghiên cứu phương pháp tiếp cận mới phù hợp trong công tác quân sự địa phương, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, đặc biệt là xây dựng và động viên lực lượng dự bị.

4. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế cần có quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trong tổng thể kế hoạch nhà nước và địa phương, tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan (quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh và các quan điểm của Đảng: gắn xây dựng kinh tế với tiến bộ xã hội, kinh tế - quốc phòng). Phát triển mạnh mẽ mô hình cụm kinh tế - quốc phòng xây dựng các khu căn cứ chiến lược phía tây Quân khu. Các doanh nghiệp phải năng động, kinh doanh có lãi, chống lãng phí, tham ô, gian lận thương mại, không vi phạm pháp luật hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế và các chỉ tiêu quốc phòng, phấn đấu xây dựng thành doanh nghiệp kiểu mẫu.

5. Chủ trương xây dựng xã, phường, cơ sở, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu mà cốt lõi là xây dựng cơ sở chính trị, "trận địa lòng dân" làm nền tảng để xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị, thành, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp thế trận an ninh nhân dân tăng cường sức mạnh phòng thủ, làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một thời kỳ lịch sử kế thừa, phát huy thành tích, kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang của dân tộc, đặc biệt là chiến tranh cách mạng 30 năm do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là thời kỳ đổi mới, sáng tạo và phát triển trong sự nghiệp quân sự - quốc phòng trên địa bàn Quân khu 4 tiếp tục ghi thêm những trang sử hào hùng mới của lực lượng vũ trang quân khu, khắc đậm bản chất và truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" trên quê hương Bác Hồ kính yêu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #241 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:56:35 pm »


Cùng với thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã nối tiếp chặng đường lịch sử 60 năm Quân khu 4 xây dựng, trưởng thành, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và thắng lợi vẻ vang, hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang quân khu.

1. Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, quyết chiến và quyết thắng, biết đánh và biết thắng, luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện được xây dựng và chiến đấu trên quê hương của Bác Hồ vĩ đại, quê hương của Xô-viết Nghệ Tĩnh anh hùng, nên đã hun đúc cho lực lượng vũ trang quân khu 4 lòng trung với Đảng, hiếu với dân, ý chí quyết chiến quyết thắng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó.

2. Tự lực tự cường, phát huy nội lực, khắc phục khó khăn, cần cù và dũng cảm, thông minh và sáng tạo, tìm mọi cách tạo ra thế mới, lực mới để giành thắng lợi trong mọi nhiệm vụ.

Xuất thân từ nhân dân lao động, xây dựng và chiến đấu trên quê hương vốn có truyền thống cần cù dũng cảm, lại ở trên mảnh đất đời sống kinh tế còn khó khăn, thời tiết khắc nghiệt, thiên tai liên tiếp, một địa bàn dễ bị chia cắt chiến lược, lực lượng vũ trang Quân khu 4 nêu cao tinh thần tự lực tự cường, phát huy nội lực, dũng cảm mưu trí, chủ động giành thắng lợi, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

3. Đoàn kết nội bộ, thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng, hiệp đồng lập công tập thể.

Xây dựng củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ chặt chẽ, bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau như ruột thịt, giữa cán bộ và chiến sĩ, cấp trên và cấp dưới thành một khối thống nhất ý chí và hành động, góp phần nâng cao sức mạnh của từng người, từng đơn vị trong chiến đấu và công tác lập công tập thể, khắc đậm nét đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" trên quê hương Bác.

4. Đoàn kết quân - dân, quân với dân một ý chí, gắn bó máu thịt với nhân dân, hậu phương - tiền tuyến đồng lòng chung sức, dốc sức chi viện tiền tuyến đánh thắng "vì cả nước, với cả nước".

Vốn sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng và chiến đấu vì dân, lực lượng vũ trang Quân khu 4 luôn luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, giữ vững quan điểm quân với dân một ý chí. Nhờ vậy, sức mạnh của lực lượng vũ trang Quân khu được phát huy cao độ, cả tiền tuyến và hậu phương đồng lòng chung sức, hậu phương Quân khu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "vì cả nước, với cả nước" giành thắng lợi.

5. Đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, luôn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Phát huy bản chất truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân khu 4 luôn luôn kết hợp giữa nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế, thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "giúp bạn là tự giúp mình", coi Đông Dương là một chiến trường, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Đặc biệt đối với bạn Lào, Quân khu 4 đã giúp đỡ ngay từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, được bạn hết lòng tin yêu, khen ngợi.

Qua thực tiễn 60 năm xây dựng và chiến đấu của Quân khu 4, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu:

1. Sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ Quân khu 4 và Đảng bộ các địa phương là nhân tố quyết định mọi thắng lợi trong xây dựng và chiến đấu. Đối với Quân khu 4, một địa bàn chiến lược, một hướng chiến lược rất quan trọng và là hậu phương chiến lược của cả nước, của Nam Đông Dương, thì vai trò và hiệu quả lãnh đạo của Đảng là hết sức quan trọng, là điều tiên quyết để giành thắng lợi. Vai trò và hiệu lực lãnh đạo của Đảng thể hiện sâu sắc ở sự nhất trí cao trong đoàn kết phối hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ Quân khu và Đảng bộ các tỉnh, nêu cao trách nhiệm cùng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - kinh tế, xã hội thời chiến cũng như thời bình. Trong mọi tình huống phải luôn luôn coi trọng củng cố kiện toàn tổ chức, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng liên tục, toàn diện. Nắm vững khâu then chốt là xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh và đội ngũ cán bộ (trước hết là đội ngũ cán bộ chủ trì) có đủ phẩm chất và năng lực, kết hợp với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng Đảng mạnh ở cấp chiến lược, chiến dịch và mạnh ở cấp chiến đấu, cấp cơ sở là bảo đảm chắc chắn cho mọi thành công.

2. Quán triệt sâu sắc, chấp hành triệt để và vận dụng sáng tạo linh hoạt đường lối chính trị, quân sự, quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng vào điều kiện cụ thể của Quân khu, của từng khu vực, từng chiến trường, sáng tạo ra cách làm, cách đánh hay giành thắng lợi. Với địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, dễ bị chia cắt chiến lược, chiến trường ác liệt, nhiệm vụ nặng nề, vừa là hậu phương và là tiền tuyến, vừa làm nhiệm vụ dân tộc, vừa làm nhiệm vụ quốc tế do đó, cần nắm vững đường lối tư tưởng quân sự của Đảng, có phương thức, phương pháp tác chiến đúng, sáng tạo, linh hoạt, phướng pháp công tác hợp lý để tạo thế chủ động trong xây dựng và chiến đấu.

Trong giai đoạn cách mạng mới, cần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, trình độ năng lực, khoa học kỹ thuật quân sự cho đội ngũ cán bộ, mở rộng dân chủ quân sự, khuyến khích phát huy sáng kiến. Xây dựng tác phong công tác tích cực, chủ động, năng động sát thực tiễn, sát cơ sở và tính quyết đoán của người chỉ huy.

3. Nắm vững quan điểm "lấy dân làm gốc", thực sự tin vào dân, dựa chắc vào dân, phát động và tổ chức nhân dân phát huy truyền thống tốt đẹp của địa phương, tham gia xây dựng, chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước; đồng thời với huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay phải ra sức thực hiện thắng lợi kế hoạch kinh tế - xã hội của Nhà nước, của địa phương, làm cho dân giàu, nước mạnh, giáo dục ý thức trách nhiệm quốc phòng toàn dân cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là lớp trẻ. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

4. Đoàn kết phối hợp chặt chẽ giữa Đảng bộ Quân khu, lực lượng vũ trang quân khu với Đảng bộ, chính quyền và hệ thống chính trị các địa phương, với lực lượng Công an nhân dân và các lực lượng chức năng khác tạo sức mạnh tổng hợp để chiến thắng và hoàn thành mọi nhiệm vụ. Kinh nghiệm này đã được kiểm nghiệm thành công trong 30 năm chiến tranh cứu nước, cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, cần bồi dưỡng những yếu tố tạo thành sức mạnh tổng hợp, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Quân khu với các địa phương, quy chế hóa, thể chế hóa mối quan hệ đó phù hợp với tình hình mới.

5. Muốn giành thắng lợi trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhất thiết phải có hậu phương chiến lược vững mạnh, gắn với hậu phương chiến lược quốc gia. Quân khu 4 là một địa bàn dài và hẹp, dễ bị chia cắt chiến lược, nên việc xây dựng hậu phương chiến lược Quân khu phải kết hợp với xây dựng hậu cứ ở các tỉnh, huyện, các chiến trường. Hướng chủ yếu là tập trung xây dựng các hậu cứ chiến lược phía tây Quân khu. Trong chiến tranh vũ khí công nghệ cao, hậu phương, tiền tuyến không rõ rệt, hình thành chiến trường "da báo", cài răng lược giữa địch và ta nơi chưa có chiến sự là hậu phương cho nơi có chiến sự. Vì vậy, ngay từ thời bình phải xây dựng tích lũy tiềm năng về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội trên cả 4 vùng đồng bằng nông thôn, ven biển, trung du miền núi, đô thị để làm tốt vai trò hậu phương, hậu cứ huy động cao nhất cho chiến tranh nếu xảy ra.

6. Với vị thế địa - chính trị đặc biệt với bạn Lào, Quân khu 4 phải sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế khi bạn yêu cầu, đặc biệt là gắn bó đối với Trung - Hạ Lào. Đó vừa là nhiệm vụ quốc tế đặc biệt, vừa là nhiệm vụ quốc gia trực tiếp và lâu dài của quân và dân Quân khu 4. Do đó, cần giáo dục và huấn luyện lực lượng vũ trang quân khu cả 3 thứ quân (nhất là các đơn vị dự kiến là quân tình nguyện, bộ đội địa phương các huyện có biên giới chung với bạn) về nhiệm vụ quốc tế, về chiến - kỹ thuật chiến đấu ở chiến trường Trung - Hạ Lào, về phong tục tập quán, pháp luật, tiếng nói của bạn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội - quốc phòng của bạn để chủ động đối phó thắng lợi với mọi tình huống.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #242 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:57:02 pm »


*

*        *

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trực tiếp là sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân khu và Đảng bộ các địa phương, sự đoàn kết hiệp đồng tác chiến của các đơn vị trong toàn quân, sự giúp đỡ, ủng hộ của quân và dân cả nước, trên mảnh đất "địa linh nhân kiệt", quê hương của Bác Hồ kính yêu, kế thừa và phát huy khí phách hào hùng của Bà Triệu, truyền thống quật khởi của Xô-viết Nghệ Tĩnh anh hùng, tinh thần chiến đấu quật cường bất khuất của Bình Trị Thiên rực lửa, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu đã cùng nhân dân các địa phương, bằng mồ hôi và xương máu của mình xây nên lịch sử oanh liệt 60 năm Quân khu 4, lập nên nhiều thành tích to lớn, nhiều chiến công vang dội, góp phần xứng đáng vào chiến thắng vĩ đại của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Lịch sử 30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói riêng, lịch sử 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân khu 4 là lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; là lịch sử đoàn kết đấu tranh của trên 9 triệu quân và dân Quân khu 4 theo quan điểm chiến tranh toàn dân, toàn diện, tinh thần tự lực cánh sinh, quyết đánh và biết đánh; đồng thời là lịch sử và kinh nghiệm về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, tiền tuyến và hậu phương, vì cả nước với cả nước; về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế; đổi mới, phát triển, năng động và sáng tạo.

Trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá những năm đầu thế kỷ XXI, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương đã khẳng định quân và dân ta phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình đó, quân và dân Quân khu 4 phải nghiêm túc quán triệt, thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng Quân khu trong thời kỳ mới; đồng thời định ra những yêu cầu mới về xây dựng Quân khu phù hợp với điều kiện địa lý miền Trung và khả năng của đất nước, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững chắc đi đôi với xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược được giao; đồng thời tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước.

Trong giai đoạn cách mạng mới, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân 6 tỉnh trên địa bàn Quân khu tiếp tục phát huy mạnh mẽ truyền thống anh hùng, quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng Quân khu vững mạnh toàn diện, nâng cao sức mạnh tổng hợp và trình độ sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó. Những thành tích to lớn và bài học kinh nghiệm quý báu trong 60 năm là cơ sở để tạo tiền đề vững chắc để quân và dân Quân khu 4 cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy mạnh mẽ, sáng tạo, làm phong phú thêm kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang của Quân khu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa những năm đầu của thế kỷ XXI.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #243 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2024, 12:58:47 pm »


PHỤ LỤC


I. CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY QUÂN KHU
(1975 - 2005)

1. Tư lệnh Quân khu

TT Họ và tên Cấp bậc Thời gian Ghi chú
1 Đàm Quang Trung (đã mất) Thượng tướng 1.1967-3.1976
2 Giáp Văn Cương (đã mất)1 Thượng tướng 4.1976-11.1976 1921-1990
3 Lê Quang Hòa (đã mất) Thượng tướng 12.1976-9.1980 1914-1993
4 Hoàng Minh Thi (đã mất) Thiếu tướng 10.1980-10.1981 1922-1981
5 Nguyễn Thế Bôn Trung tướng 10.1981-2.1982 1927
6 Hoàng Cầm Thượng tướng 2.1982-12.1986 Chủ tịch hội đồng Quân sự
7 Nguyễn Quốc Thước Trung tướng 1987-1997
8 Nguyễn Khắc Dương Trung tướng 1997-2001
9 Trương Đình Thanh (đã mất) Trung tướng 2002-1.2005
10 Đoàn Sinh Hưởng Thiếu tướng Từ 4.2005


2. Chính ủy - Phó tư lệnh về Chính trị Quân khu

TT Họ và tên Cấp bậc Thời gian Ghi chú
1 Đồng Sĩ Nguyên Trung tướng 1974-1975
2 Lê Tự Đồng Trung tướng 3.1976-11.1976 1920 Bí thư
3 Lê Quang Hòa (đã mất) Thượng tướng 12.1976-9.1980 Bí thư
4 Hoàng Minh Thi (đã mất) Thiếu tướng 10.1980-10.1981 Bí thư
5 Đặng Hòa Trung tướng 1982-1987 Phó bí thư, Phó tư lệnh về chính trị, Chủ tịch Hội đồng chính trị
6 Lê Văn Dánh (đã mất) Thiếu tướng 1988-9.1991 Bí thư, Phó tư lệnh về chính trị
7 Phạm Văn Long Trung tướng 1995-1997 Bí thư, Phó tư lệnh về chính trị
8 Phạm Hồng Minh Trung tướng 1997-2005 Bí thư, Phó tư lệnh về chính trị
9 Mai Quang Phấn Đại tá Từ 4.2005 Phó tư lệnh về chính trị
______________________________________________
1. Có quyết định của Bộ nhưng chưa về Quân khu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #244 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2024, 01:00:29 pm »


3. Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng

TT Họ và tên Cấp bậc Thời gian Ghi chú
1 Lê Thanh Thượng tướng 1974-1976
2 Nguyễn Văn Thuận (đã mất) Thượng tướng 1975-1978
3 Nguyễn Hữu Chi (đã mất) Đại tá 1979-1980
4 Nguyễn Thế Bôn Trung tướng 1980-1981
5 Lê Hữu Đức Trung tướng 1979-1983
6 Nguyễn Quốc Thước Trung tướng 1983-1987
7 Nguyễn Xuân Chí Thiếu tướng 1987-1996 Bí thư Đảng ủy
8 Võ Văn Chót Thiếu tướng 1984-1992
9 Trương Đình Thanh (đã mất) Trung tướng 1992-2001
10 Phạm Huy Chưởng Thiếu tướng 2001-2004
11 Đoàn Sinh Hưởng Thiếu tướng 2004-1.2005
12 Nguyễn Bá Tuấn (đã mất) Thiếu tướng 1.2005-2.2005
13 Nguyễn Đình Giang Đại tá Từ 4.2005 -…


4. Phó Chính ủy và Phó tư lệnh Quân khu

TT Họ và tên Cấp bậc Thời gian Ghi chú
1 Quách Sĩ Kha (đã mất) Đại tá 1970-1978
2 Trần Văn Ân Thiếu tướng 1976-1988
3 Dương Bá Nuôi Thiếu tướng 1976-1988
4 Nguyễn Sùng Lãm Trung tướng 1976-1978
5 Lê Thiết (đã mất) Đại tá 1979-1981
6 Chu Thanh Hương (đã mất) Thiếu tướng 1978-1980
7 Phạm Văn Đường Thiếu tướng 1977-1979
8 Nguyễn Đình Ước Đại tá 1979-1983 Nay Trung tuớng
9 Ngô Thanh Vân Đại tá 1980-1981
10 Nguyễn Văn Thu Thiếu tướng 1981-1983
11 Trần Trọng Trai (đã mất) Thiếu tướng 1984-1991
12 Nguyễn Trọng Dần (đã mất) Đại tá 1985-1986
13 Cao Xuân Khuông Thiếu tướng 1996-2000
14 Nguyễn Song Phi Thiếu tướng 2001-2002
15 Nguyễn Hữu Cường Thiếu tướng Từ 2004 - ...
16 Nguyễn Văn Học Đại tá Từ 2005 -...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #245 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2024, 01:01:45 pm »


II. THÀNH TÍCH CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (1975-2005)

1. Xây dựng tổ chức lực lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu

+ Tổ chức thực hiện Quyết định số 45/QĐ-LT ngày 29-3-1976 của Chủ tịch nước về việc sáp nhập Quân khu 4 với Quân khu Trị Thiên, bảo đảm đúng kế hoạch.

+ Tổ chức lực lượng bổ sung cho các quân khu, quân đoàn... và cho Bộ.

- Sư đoàn 341B, Sư đoàn 337 bộ binh, Trung đoàn 222 cao xạ bàn giao cho Binh đoàn 678.

- 2 trung đoàn của sư đoàn 316 B cho Quân khu 9, 1 tiểu đoàn, 1 đại đội công binh, cầu phà cho Quân khu 1 và Quân đoàn 3.

- 71 tiểu đoàn chiến sĩ mới cho các đơn vị phía Nam.

- Trung đoàn 2 Sư đoàn 324 bổ sung cho các đơn vị chiến đấu ở biên giới Tây Nam.

- Thành lập Sư đoàn 318, bàn giao cho Quân khu 2 Sư đoàn 313, Trung đoàn 214 cao xạ, Trung đoàn 14 cho Đặc khu Quảng Ninh, Trung đoàn 775 bổ sung cho Quân đoàn 5.

- Tổ chức Sư đoàn 356 làm nhiệm vụ ở Hoàng Liên Sơn.

- Điều Sư đoàn 359 (1.500 quân) về Binh đoàn 773 (Quân khu 5); Sư đoàn 318 Quân đoàn 65 về trực thuộc Bộ Quốc phòng làm dầu khí ở Vũng Tàu.

- Nhận tân binh, huấn luyện bàn giao 16.500 chiến sĩ mới cho các đơn vị của Bộ, trong đó có 800 nữ, 6.000 nam, cho Mặt trận 479 Campuchia.

- Bàn giao Sư đoàn 336 và Sư đoàn 365 làm cầu đường của Binh đoàn 12.

+ Xây dựng và phát triển lực lượng:

- Thành lập Bộ chỉ huy quân sự, cơ quan chỉ huy thống nhất các tỉnh, thành phố để đáp ứng yêu cầu mới sẵn sàng chiến đấu.

- Thành lập Cục Biên phòng, Cục Kinh tế.

- Sáp nhập Quân đoàn 7, Quân đoàn 65.

- Tiếp nhận các đơn vị quân tình nguyện ở Trung Hạ Lào - Binh đoàn 678 (Sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Trung đoàn 176).

- Thành lập 2 sư đoàn (441 và 442 làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới của Quân khu và Trung đoàn 853 thuộc Bình Trị Thiên).

- Thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng về việc sáp nhập các trường.

- Thành lập trung tâm xúc tiến việc làm phát triển thành Trường dạy nghề số 4.

- Thành lập Công ty 85, Công ty Thanh Sơn, Công ty Lam Hồng...

- Tổ chức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ có: 756.532 dân quân tự vệ, trong đó có 266.841 nòng cốt, 80.394 tự vệ chiến đấu.

Lực lượng tại chỗ 3.912 tiểu đội, 7.040 trung đội, 1.638 đại đội, 53 tiểu đoàn, 11 trung đoàn, lực lượng chiến đấu 67 tiểu đội, 1.600 trung đội, 203 đại đội, 60 hải đội.

Lực lượng phục vụ chiến đấu: 4.416 trung đội, 164 tiểu đội.

Có 31 vạn dân quân tự vệ sản xuất tập trung.

2. Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu

+ Tổ chức xây dựng lực lượng bổ sung cho các chiến trường (như trên).

+ Trực tiếp chỉ huy bảo đảm của Sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Trung đoàn 176 chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Ta phối hợp cùng bạn giải phóng Phu Bia (diệt 985 tên, làm bị thương 737, bắt 375 tên, giải phóng 1 vạn dân, làm chủ địa bàn rộng 2.500km, thu 2.000 súng các loại).

10 năm: Sư đoàn 324, Sư đoàn 968, Lữ đoàn 176 đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.582 tên, bắt hàng ngàn tên, thu nhiều súng các loại.

+ Tăng cường cho Lào Sư đoàn 565 và 5 tiểu đoàn của Sư đoàn 31, Trung đoàn 229, Tiểu đoàn 27 công binh làm 60km đường, sửa chữa 175km, bảo dưỡng 287km đường, Trung đoàn 245 xây dựng nông trường Bắc Hin Bun.

+ Tổ chức các đợt diễn tập C81, C89... của Quân khu với cơ quan Bộ, của Quân khu với các tỉnh, các sư đoàn, lữ đoàn... Từng bước hoàn chỉnh các phương án: A, A1, A2. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố được Bộ Quốc phòng, các tỉnh đánh giá cao.

+ Tổ chức nghiên cứu các đề tài khoa học, tổng kết như: xây dựng cơ sở xã, phường an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #246 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2024, 01:04:14 pm »


3. Xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng - an ninh

- Rà phá bom mìn, mở các chiến dịch tháo gỡ trên 3 triệu quả bom mìn, phá nổ hàng ngàn quả, giải phóng 280km2 đất đai, vườn tược.

- Làm đường sắt Thống Nhất đoạn Minh Cầm - Tiên An dài 144km, lực lượng tham gia gần 30.000 người đặt 150km đường ray, xây mới và sửa chữa 322 cầu cống các loại, sản xuất hơn 100.000m3 đá, phá gõ 29.300 quả bom, mìn...

- Huy động 68.921 công làm đường, xây dựng 28.416m2 nhà kho, 132.705m2 nhà ở; bảo quản 4.863 tấn đạn; kê, dồn dịch 1.400 tấn đạn ở các kho.

-Vận chuyển giúp bạn mùa khô 1975-1976: 117 tấn xi măng, 29,5 tấn thép; sửa chữa các sân bay: Bản Quý, Phôn Xa Vẳn, Nhom Ma Rát; giúp 185 tấn gạo, 35 ngàn tấn xăng, 3 xe tăng, 2.550 khẩu súng các loại và đạn dược xây dựng đường 48 dài 122km.

- Xây dựng khu Lâm nghiệp Nam Long Đại, thành lập công ty hợp tác kinh tế Việt - Lào, các công ty, các đoàn kinh tế - quốc phòng góp phần rất quan trọng trong việc trồng rừng cải tạo môi trường, tạo ra sản phấm phục vụ đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội, xây dựng củng cố doanh trại, đồng thời góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn trong khu vực.

- Chỉ tính trong 2 năm (1988-1989) Công ty 85 đã nộp cho ngân sách Nhà nước 62 tỷ; Đoàn kinh tế - quốc phòng 337 trồng 360ha rừng, Đoàn 92 khoanh nuôi, tái sinh 400ha, bảo vệ 2.000ha rừng ở khu Khe Sanh, Hướng Hóa.

- Các doanh nghiệp của Quân khu nộp cho ngân sách Nhà nước và Bộ Quốc phòng 150 tỷ đồng (trong 5 năm từ 1995-2000).

- Xây dựng đường Na Ngoi - Khe Kiền dài 21,5km, xây dựng 25 ngôi nhà mới cho làng An Ngãi, xã Kim Sơn bị bão lũ cuốn trôi.

- Năm 2003, khối thường trực đạt nguồn thu 16 tỷ đồng, Trường dạy nghề số 4 doanh thu dịch vụ kinh tế 3.532 triệu đồng. Khối doanh nghiệp doanh thu 327.441 triệu đồng. Bốn khu kinh tế - quốc phòng có tổng vốn ngân sách Nhà nước và Quốc phòng đầu tư 32.346 triệu đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, trồng rừng, chương trình khuyến nông, tham gia xóa đói giảm nghèo...


4. Thực hiện công tác đảng, công tác chính trị, hậu cần, kỹ thuật

- Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, phát triển hàng vạn đoàn viên ưu tú kết nạp vào Đảng (hàng năm kết nạp trên 1.200 đảng viên).

- Tổ chức học tập quán triệt nghị quyết của Đại hội Đảng, chỉ thị của các cấp giúp cán bộ, chiến sĩ có đủ bản lĩnh, kiên định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, chống các luận điểm sai trái, xây dựng lòng tin thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

- Thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động tổ chức thực hiện nghiêm túc ở cơ quan, đơn vị, xây dựng đơn vị có nền nếp chính quy, vững mạnh toàn diện. Bảo đảm an ninh chính trị trong sạch nội bộ.

- Đẩy mạnh và làm tốt công tác chính sách, quy tập hài cốt liệt sĩ, quy tập được: 11.884 mộ/24.000 mộ, xây 710 nhà bia, tiếp nhận 78.076 thương binh, bệnh binh vào các đoàn an dưỡng, chuyển về địa phương 78.054, cấp giấy chứng nhận thương binh cho 40.773 trường hợp, xây dựng 20.114 nhà tình nghĩa, trị giá 30.775 tỷ đồng; tu sửa hỗ trợ 25.969 nhà trị giá 2.665 tỷ đồng. Quyên góp 8.919 tỷ đồng và 376 tấn lương thực, thực phẩm làm quỹ đền ơn đáp nghĩa.

Tặng 33.476 sổ tiết kiệm với 9.983 tỷ đồng, 912/3.533 Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng...

- Thực hiện tốt cuộc vận động "Ngành Hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy", cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm"... bảo đảm cho lực lượng vũ trang Quân khu hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ huấn luyện, công tác.

III. KHEN THƯỞNG

- Ngày 2-3-1979 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

- Năm 1984 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất.

- Ngày 17-8-1985 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã có:

511 đơn vị thuộc 27 đầu mối trực thuộc Quân khu được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 174 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Quân khu có 7 đơn vị được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân:

+ Lữ đoàn 414 công binh.

+ Trung đoàn 206 tăng thiết giáp.

+ Công ty hợp tác kinh tế Việt - Lào.

+ Xưởng 467 - Cục Kỹ thuật.

+ Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Nghệ An.

+ Đội quy tập hài cốt liệt sĩ Thừa Thiên - Huế.

+ Lực lượng vũ trang thị xã Đông Hà, Quảng Trị.

- Có 13 đơn vị xuất sắc thuộc Quân khu được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ.

- 52 đơn vị được tặng cờ của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

- Đảng, Nhà nước Lào và Campuchia tặng nhiều phần thưởng cao quý cho các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ trong Quân khu nhiều huân chương, huy chương.

- Ngày 15-10-2001 Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (lần 2) cho lực lượng vũ trang Quân khu.


Hết!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM