Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:09:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315368 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #220 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 09:00:53 am »


VỀ CÁC CUỘC ĐÀM PHẢN BÍ MẬT

NGUYỄN ĐÌNH PHƯƠNG                

         Nguyên thành viên kiêm phiên dịch Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Paris về Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Tây Bắc Âu Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thụy Điển, kiêm nhiệm Nauy, Phần Lan, Đan Mạch và Aixơlen.

        Vừa qua, vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam, sau khi báo Tiền Phong (ra ngày 1 tháng Giêng 2003) đăng bài của X.B nhan đề "Câu chuyện của người mà Lê Đức Thọ và Kissinger đều cần... ", nhiều người bạn khuyên tôi nên viết về cuộc đàm phán bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ, vì theo họ tôi chính là một nhân chứng sống.

        Thực ra, sách báo đã viết nhiều về cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ, nhưng còn ít bài đi sâu phân tích nội dung các cuộc thương lượng bí mật, nhất là còn ít đề cập vai trò của những người trực tiếp đối thoại với Mỹ, là Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng- Trưởng đoàn Xuân Thuỷ (mà anh em trong đoàn đàm phán quen gọi thân mật là anh Sáu, anh Xuân). Vẫn biết rằng thắng lợi đàm phán là thắng lợi của đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ đi đôi với đoàn kết quốc tế, là chiến công tập thể mà công đầu thuộc về sự chỉ đạo chặt chẽ và sắc bén của Bộ Chính trị Trung ương Đảng; rằng "không ai được kể công với Đảng và nhân dân" như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã phát biểu sau ngày chiến thắng. Nhưng cũng với tinh thần thực sự cầu thị "công của ai, đến đâu, thì phải nói đến đó đúng sự thật", ta không thể không nói đến vai trò của những người đứng mũi chịu.sào trong trận chiến ngoại giao lịch sử ấy. Bởi lẽ trên bàn đàm phán với đối thủ lắm mưu nhiều kế, đại diện cho cường quốc số một trên thế giới thì việc thể hiện lập trường quan điểm của Đảng sao cho phù hợp với so sánh lực lượng hai bên, tình hình chiến trường, tình hình chính trị nước ta, nước Mỹ và thế giới, đồng thời đáp ứng được dư luận quốc tế, là điều không hề đơn giản. Trên thực tế, để có thể biến chiến thắng trên chiến trường thành thắng lợi trên bàn hội nghị, phát huy thế chính nghĩa, thế thắng của ta nhằm góp phần kéo địch xuống thang và chấm dứt chiến tranh, chấp nhận một giải pháp chính trị theo đúng tinh thần chỉ đạo từ trong nước thì vai trò của anh Sáu, anh Xuân, nhất là của anh Sáu, là quyết định.

        Với mong muốn làm sống lại phần nào những năm tháng đấu tranh gay go, căng thẳng trên bàn thương lượng và qua đó góp phần khắc hoạ chân dung những "người anh hùng" của nền ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, xin được kể lại đôi điều về cái thời oanh liệt ấy mà bản thân tôi đã trực tiếp "tai nghe, mắt thấy".

        Xin được bắt đầu câu chuyện từ thời điểm tháng Năm 1968, khi tôi được chỉ định là người phiên dịch chính cho Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (người vừa từ chiến trường ra theo lệnh của Bác Hồ) và cho Bộ trưởng Xuân Thuỷ (lúc đó là Bí thư Trung ương Đảng). Đây là một vinh dự to lớn và cũng là một nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với tôi Mặc dù đã được trang bị vốn tiếng Anh tại trường Bưởi - nhưng chủ yếu qua sách vở, ít thực hành mặc dù cũng đã kinh qua mười mấy năm công tác trong ngành ngoại giao trước khi đi Paris, từ lúc còn là thành viên Ban thi hành Hiệp định Genève 1954, nhưng đến nay tôi vẫn chưa thể hình dung nổi làm sao mình lại có thể đảm đương được nhiệm vụ phiên dịch chính trong cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ lúc đó.

        Giờ đây, tôi thật mãn nguyện khi hồi tưởng lại cái thời bản thân mình đã được là cầu nối ngôn ngữ giữa một bên là đại diện cho Hoa Kỳ, một cường quốc phương Tây với ưu thế vượt trội về sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học, công nghệ và một bên là đại diện cho Việt Nam, một nước phương Đông nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu nhưng có truyền thống văn hoá, lịch sử rất đáng tự hào. Sự khác biệt giữa hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây mà đại diện là Lê Đức Thọ và Kissinger và "cuộc chiến" giữa hai con người độc đáo này trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị Paris đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc không thể nào quên. Nếu như Kissinger, một giáo sư Đại học Harvard, được thế giới biết đến như một môn đệ của Metternich [1] hay của Machiavel [2] thì tiểu sử của Lê Đức Thọ lại giản dị hơn nhiều, giản dị như một câu chuyện dân gian phương Đông. Anh Sáu không được đào tạo qua bất cứ trường học danh tiếng nào. Trường học của anh là trường học thực tiễn, là kinh nghiệm sống chắt lọc qua những năm tháng đi theo cách mạng từ lúc còn tuổi vị thành niên trở thành nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, một nhà lãnh đạo cách mạng xuất sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính cái thần toát ra từ con người anh đã khiến đồng đội tin tưởng và đối phương phải kính nể.

        Là phiên dịch nên tôi được tham gia trực tiếp vào tất cả các cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ, kể cả công khai lẫn bí mật. Được chứng kiến những trận đấu trí, đấu lý căng thẳng, quyết liệt giữa hai bên, tôi càng khâm phục bản lĩnh, trình độ và phẩm chất của anh Sáu, anh Xuân. Các anh đã hội tụ đầy đủ những đức tính nhất thiết phải có của người đại diện Việt Nam trong đàm phán với Mỹ: kiên quyết giữ vững lập trường nguyên tắc, linh hoạt về chi tiết, quyết đoán khi cấp bách, sắc sảo trong nhận định. Đối với đối phương thì kiên trì thuyết phục, nhẫn nại lắng nghe, bình tĩnh giải thích, nhưng lúc cần cũng tỏ công phẫn và to tiếng, nhất là trong tư thế của anh Sáu. Các anh đã luôn giữ được thế chủ động và sáng tạo trong đàm phán.

        Tại Paris bên cạnh quá trình đàm phán công khai, đã diễn ra các cuộc đàm mật. Tại đàm phán công khai, tất cả các thành viên của mỗi đoàn đều có mặt. Anh Xuân thay mặt Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là người phát ngôn. Tại diễn đàn bí mật, trong giai đoạn I, về phía ta chỉ có anh Sáu, anh Xuân và một vài cố vấn cùng chuyên viên; về phía Hoa Kỳ, chỉ có A. Haniman (Trưởng đoàn Mỹ, nhà ngoại giao kỳ cựu, nổi tiếng là người thương lượng sành sỏi, đã từng làm đại diện cho Tổng thống Roosevelt làm việc với Stalin), Vance (Phó trưởng đoàn Mỹ) và vài chuyên viên. Anh Xuân là người phát ngôn trong những cuộc gặp riêng đầu tiên, đến khi anh Sáu sang Pans thì anh Sáu phát ngôn với tư cách Cố vấn đặc biệt của Đoàn Việt Nam. Sang giai đoạn II của đàm phán bí mật, thành phần Đoàn ta như giai đoạn I và anh Sáu là người trực tiếp thương thuyết trong mọi cuộc gặp riêng với Kissinger, trợ lý của Tổng thống Nixon, người được Chính phủ Hoa Kỳ đặc phái đến Paris để thúc đẩy đàm phán.
--------------------
[1] Nhà ngoại giao nổi tiếng người áo, từng chủ trì Hội nghị Viên để chia lại châu âu sau khi Napoléon thua trận.
[2]. Nhà ngoại giao, nhà văn, nhà triết học và chính trị gia nổi tiếng người Italia thế kỷ XVI, được biết đến với tác phẩm nổi tiếng Quân vương (Le Prince).

« Sửa lần cuối: 04 Tháng Ba, 2012, 09:09:14 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #221 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 09:02:35 am »

        Phải thừa nhận rằng các cuộc đàm phán bí mật luôn đóng vai trò quan trọng và có tính quyết định, vì nó thường đi vào thương lượng và giải quyết những vấn đề thực chất. Do các vấn đề được đưa ra tranh luận vô cùng phức tạp, yêu cầu của hai bên đối với từng vấn đề là trái ngược nhau, với lập trường lại hoàn toàn khác nhau, phải mặc cả với nhau trên từng chi tiết nên các cuộc đàm phán đều rất căng thẳng và kéo dài. Việc thu hẹp khoảng cách về lập trường, quan điểm, yêu cầu giữa hai bên trở nên hết sức khó khăn, thậm chí nhiều khi rất gay go và quyết liệt. Ngược lại, cũng có lúc đàm phán là để kéo dài thời gian, "che chắn" cho chiến trường, kẻo địch xuống thang từng bước. Chính vì tầm quan trọng như vậy nên thành phần tham gia các cuộc gặp riêng rất hạn chế, địa điểm cũng thường xuyên thay đổi và được giữ bí mật tuyệt đối.

        Trong các cuộc thương lượng bí mật này, ta phải chú ý từng lời, từng câu, từng chữ của đối phương, dò đoán ý đồ của họ để có cách đối đáp thích hợp. Ngôn ngữ, thái độ phải đàng hoàng, nghiêm túc, kín đáo, không được để lộ ý đồ của ta. Chính các cuộc đàm phán bí mật đã để lại trong tôi ấn tượng lâu dài về anh Sáu, anh Xuân. Dưới sự chỉ đạo sáng suất của Bộ Chính trị và sự hỗ trợ hiệu quả từ trong nước, các anh không những đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao mà còn biết vận dụng một cách khéo léo và linh hoạt những chủ trương, kế sách của ta vào từng tình huống cụ thể nhằm giành được thắng lợi ở mức cao nhất có thê được. Các anh đã thể hiện bản lĩnh của chiến sĩ cách mạng, tạo thành một "cặp" vô cùng lợi hại, phối hợp ăn ý, bổ sung cho nhau, lúc anh Xuân "cương" thì anh Sáu "nhu" và có lúc thì ngược lại, nhưng anh Sáu đa phần là "cương', mà "cương" rất đúng lúc và có lý. Chính cái uy của các anh đã khiến đối phương phải vị nể. Kissinger, trong một cuộc họp kín với hai anh, đã phải thú nhận: "Chúng tôi bất ngờ gặp phải các ông là đối phương chứ chúng tôi không lựa chọn.. Nếu chúng tôi lựa chọn thì chúng tôi lựa chọn đối phương dễ tính hơn" [3]

        Các vấn đề cốt yếu được bàn thảo trong các cuộc gặp riêng (ở giai đoạn I) đều tập trung vào việc đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc vô điều kiện và định ngày bắt đầu họp chính thức Hội nghị bốn bên. Thực chất, ném bom miền Bắc là con chủ bài của Mỹ nhằm cản trở miền Bắc tiếp tế cho miền Nam, qua đó hạn chế khả năng của nhân dân miền Nam chiến đấu chống quân xâm lược Mỹ và chế độ Sài Gòn. Vì vậy, Mỹ đòi ta phải trả giá cho việc họ chấm dứt ném bom, đặt ra nhiều điều kiện theo nguyên tắc "có đi có lại". Đây là một vấn đề hóc búa. Lúc đầu, nhiều nước bạn bè cho là ta đòi hỏi quá cao. Nhưng ta vẫn cương quyết yêu cầu Mỹ phải ngừng ném bom vô điều kiện trước khi đi vào thương lượng giải pháp và kiên trì theo đuổi mục tiêu này trong suốt giai đoạn I của cuộc đàm phán. Cuối cùng, Mỹ buộc phải rút bỏ dần các điều kiện, chỉ yêu cầu: sau khi Mỹ chấm dứt ném bom sẽ có đàm phán "nghiêm chỉnh" tìm giải pháp.cho vấn đề Việt Nam, với sự tham gia của Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

        Trong suốt quá trình tham gia đàm phán với Mỹ ở Paris, ấn tượng lớn nhất của tôi là Bộ trưởng Xuân Thuỷ lúc nào cũng xuất hiện với nụ cười rất tươi. Nhưng trong lần đối diện với Harriman tại cuộc gặp bí mật ngày 21 tháng Tám 1968, nụ cười ấy đã tắt khi anh Xuân nghe Harriman đơn phương đòi có đại diện của chính quyền Sài Gòn trong đàm phán (vào thời điểm đó, cục diện chưa thay đổi nên ta chưa tính đến việc sẽ có đại diện bốn bên trong Hội nghị Paris). Anh đã thẳng thừng bác bỏ:

- "Tôi nói thẳng để ông biết, ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chúng tôi không thừa nhận Thiệu-Kỳ".

        Sau khi Harriman có ý dọa là ".., nếu không nói chuyện nghiêm chỉnh thì chiến tranh còn tiếp tục, bom lại rơi trên đầu các ông!", anh Xuân Thuỷ đập tay xuống bàn, to tiếng:

 - "Ông dọa à, dọa ném bom trở lại à? Chúng tôi sẵn sàng chống lại!".

        Lúc ấy, anh Thọ, bình tĩnh hơn, nhẹ nhàng lên tiếng:

 - "Ông dọa bằng chiến tranh không được đâu. Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi còn lạ gì nhau".

        Tôi thật sự thán phục trước thái độ cương quyết và sự bình tĩnh ứng phó của hai anh. Tôi tự hỏi không biết lúc đó Harriman nghĩ gì, liệu ông ta và chính quyền Johnson có thật sự muốn ném bom trở lại không hay đó chỉ là con bài cuối cùng họ mang ra "nắn gân" chúng ta. Chỉ thấy ông ta ngồi lặng một lát rồi lẩm bẩm nói:

 - "Tôi rút câu nói về bom rơi trên đầu các ông...".
--------------------
[3] Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ Kissinger tạo Pans, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, ti. 362.

« Sửa lần cuối: 04 Tháng Ba, 2012, 09:10:41 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #222 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 09:12:00 am »

        Khi bàn về khoảng thời gian từ ngày Mỹ chấm dứt ném bom đến ngày bắt đầu họp phiên đầu tiên của Hội nghị bốn bên, Harriman đòi thêm bớt từng ngày, thậm chí từng giờ. Anh Sáu ca thán với chúng tôi: "Bọn này bủn xỉn quá nhỉ, việc lớn đã định rồi mà còn nèo kéo về chi tiết". Rồi lại đến lượt chính quyền Thiệu chống phá, hết đòi phải có thêm thời gian, lại đòi chỉ nói chuyện với Hà Nội hoặc đòi miền Bắc phải rút quân. Đàm phán vì thế mà kéo dài đến tận ngày 27 tháng Mười 1968. Chỉ đến ngày 31 tháng Mười 1968, khi không thể thuyết phục được Sài Gòn, Tổng thống Johnson mới ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc - quyết định đi một mình mà không có sự thống nhất của Sài Gòn. Cuộc họp bốn bên dự trù vào ngày 6 tháng Mười một 1968 đã phải lùi lại tới tận ngày 25 tháng Giêng 1969. Mãi đến sau này, khi bầu cử ở Mỹ kết thúc và đàm phán được nối lại, trong lúc tranh luận về hình thù cái bàn đàm phán, ta mới hiểu ra ý đồ dây dưa, kéo dài của chính quyền Thiệu vĩ tin Nixon sẽ đắc cử và muốn chờ ông ta lên làm Tổng thống Mỹ rồi mới tham gia nói chuyện bốn bên, hy vọng sẽ được Nixon ủng hộ nhiều hơn.

        Bước sang giai đoạn II các cuộc họp bí mật, đàm phán càng thêm căng thẳng, phức tạp vì mở rộng ra nhiều vấn đề hóc búa, khó dung hoà. Vấn đề mấu chốt được bàn đến nhiều nhất là rút quân các bên. Phía Việt Nam đòi rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Còn phía Mỹ đòi cả quân miền Bắc Việt Nam phải cùng rút với việc rút quân Mỹ và quân đồng minh. Mục tiêu cuối cùng của Mỹ là đưa được quân và tù binh về nước nhưng vẫn giữ được chính quyền Sài Gòn. Còn ta thì đòi thay chính quyền này bằng một chính phủ liên hiệp ba thành phần tán thành hoà bình, trung lập sau khi quân Mỹ và quân đồng minh được rút hết về nước họ.

        Đàm phán bí mật giai đoạn này đụng đến vấn đề dường như không thể nhân nhượng nên bên nào cũng cố giữ lập trường của mình làm cho đàm phán có nguy cơ lâm vào bế tắc. Chính vào những thời điểm khó khăn nhất mới thấy rõ được tài ứng xử của các nhà thương.thuyết Việt Nam.

        Để khai thông vấn đề, Đoàn ta đã áp dụng một chiến thuật hết sức sáng tạo và linh.hoạt: lắng nghe đối phương trình bày nhưng vẫn kiên quyết giữ lập trường của mình; dùng lý lẽ mang tính thuyết phục cao để bẻ gãy lập luận của đối phương; khi họ căng thì ta chuyển sang các vấn đề khác, rồi sau lại quay lại vấn đề ban đầu. Việc luôn biết cách làm giảm bầu không khí căng thẳng trong phòng họp mỗi khi bàn đến những vấn đề gai góc mà hai bên còn nhiều bất đồng cũng góp phần làm cho đàm phán không bị đổ vỡ. Tôi có cảm tưởng rằng trong những con người lãnh đạo của Đoàn ta mà tôi phải chăm chú theo dõi để phiên dịch ấy luôn có cái gì đó làm đối phương phải kính nể. Những luận điểm sắc bén của hai anh đã làm cho Kissinger bị thuyết phục, cuối cùng buộc phải nhân nhượng trong một loạt vấn đề đàm phán, như buộc phải chấp nhận rút quân đơn phương mà không nhắc đến sự có mặt của quân đội miền Bắc và không đòi quân miền Bắc phục viên sau hoà bình và "trở về nguyên quán"; nhất trí thành lập một cơ cấu hành chính ba thành phần là hội đồng quốc gia hoà hợp và hoà giải dân tộc; từ bỏ ý đồ dành cho chính quyền Thiệu ưu thế quyết định ở miền Nám Việt Nam; rút bớt yêu cầu để lại ở miền Nam các nhân viên dân sự phục vụ quân sự trong thời gian từ hai năm xuống 15 tháng, rồi 14 tháng, cuối cùng là 12 tháng và nhiều vấn đề khác... Có thể nói thắng lợi có ý nghĩa to lớn nhất và quan trọng nhất trong cuộc đàm phán Paris là hai bên đi đến thoả thuận quân Mỹ và quân đồng minh rút, trong khi quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới "đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Có một câu chuyện trong đàm phán bí mật khiến tôi nhớ mãi: một lần, Kissinger lặng lẽ ngậm bút chì ngồi nghe anh Sáu thuyết trình, còn tôi chăm chú lắng nghe và cố gắng chuyển tải hết ý của anh trong khi dịch. Đột nhiên, Kissinger hỏi: "Ngài Cố vấn qua Bắc Kinh và Mátxcơva chắc có nghe các bạn của Ngài thông báo về ý kiến chúng tôi trong cuộc đàm phán này?" (ám chỉ việc Nixon sang thăm Trung Quốc và Liên Xô). Trước sự khiêu khích đó, không cần suy nghĩ, anh Sáu trả lời ngay: "Chúng tôi chiến đấu chống lại quân đội của các ông trên chiến trường và cũng chính chúng tôi đã đàm phán với các ông trên bàn hội nghị. Các bạn của chúng tôi hết lòng ủng hộ chúng tôi nhưng không làm thay chúng tôi được!". Một lần khác, khi anh Sáu phê phán đề nghị rút quân mà Kissinger đưa ra là một bước lùi so với những thoả thuận mà hai bên đã đạt được từ trước, Kissinger nói: "Lê nin nói: một bước lùi, hai bước tiến. Tôi học tập Lênỉn đấy". Anh Sáu đập lại ngay: "Chủ nghĩa Lê nin phải được vận dụng linh hoạt. Còn ông thì máy móc". Chỉ một vài câu đối đáp ngắn thôi cũng đủ thấy khả năng ứng đối trôi chảy, linh hoạt và sắc sảo của anh, đó cũng chính là một trong những điều mà tôi luôn khâm phục ở anh.

        Dần dần, sau bốn năm thương lượng với nhiều phiên họp kín, mọi vấn đề đã được thoả thuận như trên Dự thảo Hiệp định ngày 20 tháng Mười 1972 giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ. Tuy hai bên đã lên kế hoạch cho thời gian ký tắt Hiệp định tại Hà Nội và dự kiến lễ ký chính thức tại Paris, vào ngày 31 tháng Mười năm đó, nhưng sau khi đã nắm chắc khả năng tái cử, Tổng thống Nixon đã lật lọng không thực hiện cam kết, với cớ là Thiệu phản đối Hiệp định và đòi sửa đổi nhiều điều khoản.

        Trong hai đợt đàm phán trở lại vào cuối năm 1972, ta cương quyết bác bỏ những đòi hỏi sửa đổi vô lý văn bản đã thoả thuận, vạch trần ý đồ chia cắt lâu dài Việt Nam của Mỹ và bác bỏ đề nghị của phía Mỹ muốn ghi vào Hiệp định "miền Bắc và miền Nam tôn trọng lãnh thổ của nhau'. Khi Kissinger nêu lại vấn đề đòi rút hết quân miền Bắc, anh Sáu bình tĩnh lập luận: "Tổng thống Nixon nói đến danh dự nước Mỹ, chúng tôi cũng có danh dự của chúng tôi. Các ông đem quân đến xâm lược nước chúng tôi, bây giờ các ông phải rút đi, lại đòi chúng tôi, những người chống xâm lược, cùng rút Nếu có như vậy trong Hiệp định thì nhân dân chúng tôi làm sao mà chịu nổi'. Có lúc, anh Sáu rất cương quyết trước thái độ tráo trở của Kissinger. Anh đã nói thẳng với Kissinger khi ông ta không chịu tuân thủ các nguyên tắc đã được thoả thuận về chính trị nội bộ miền Nam : "Về Chương IV (về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam) thì đúng là tối hậu thư”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #223 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 09:12:33 am »

        Mặc dù luôn cứng rắn trên các vấn đề thuộc về nguyên tắc, nhưng ta cũng rất mềm dẻo, linh hoạt khi xử lý từng vấn đề cụ thể. Ví dụ khi Mỹ không đòi rút quân miền Bắc thì ta không đòi giải tán chính quyền Thiệu. Đặc biệt là khi Mỹ đòi sửa Điều 1 của Dự thảo Hiệp định: "Hoa Kỳ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” lúc đầu anh Sáu không chịu. Kissinger nhăn nhó: "Thưa ông Cố vấn, nước Mỹ chưa bao giờ ký một hiệp định nào ràng buộc như vậy!". Thế là anh Sáu gợi ý ghi thêm vào cụm từ "Hoa Kỳ và các nước khác...", Kissinger thấy hợp lý nên đồng ý ngay. Hai bên cũng nhất trí thay chữ "Mỹ" bằng chữ  "nước ngoài" trong câu: Mỹ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam (Điều 9c). Khi soạn thảo tên của Hiệp định, ta cũng chấp nhận đề nghị của phía Mỹ bỏ hai chữ "xâm lược" sau chữ "chiến tranh" trong dự thảo do ta đưa ra ngày 8 tháng Mười 1972, tên chính thức của Hiệp định là: Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

        Như vậy, về thực chất, các cuộc đàm phán bí mật trong tháng Mười một và Mười hai 1972 là thương lượng lại Hiệp định đã được thoả thuận ngày 20 tháng Mười 1972. Do phía Mỹ rắp tâm muốn lật lại các điều khoản đã thoả thuận, còn ta thì kiên quyết giữ vững những nội dung đã đạt được, nên đàm phán kéo dài, dai dẳng hết giờ này sang giờ khác, rất căng thẳng và phức tạp (có những phiên họp kéo dài suốt 22 giờ đồng hồ). Nhờ chuẩn bị sẵn nhiều phương án, nên khi Kissinger đòi sửa một điểm, anh Sáu cũng đòi sửa một điểm khác, Kissinger nhượng bộ một điểm, thì anh Sáu cũng nhượng bộ một điểm khác. Cứ như là trong đầu anh đã có sẵn một loạt vấn đề có thể đổi chác được, khi cần là có thể đưa ra ngay để mặc cả, ứng phó rất nhanh với Kissinger.

Sau khi Mỹ thất bại trong hành động dùng máy bay B-52 ném bom huỷ diệt Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng Mười hai. 1972 hòng buộc ta phải chấp nhận giải pháp của Mỹ, đàm phán được nối lại và anh Sáu cũng đã quay trở lại Paris.

Ngày mồng 8 tháng Giêng 1973, trên đường đến chỗ họp tại Gif sur Yvette, anh Sáu dặn: "Hôm nay toàn Đoàn ta không thèm ra cửa đón Đoàn Mỹ như thông lệ. Mình sẽ phê phán Mỹ mạnh đấy, sẽ nói Mỹ ném bom đợt Noel là ngu xuẩn, cậu dịch câu ấy cho đúng tinh thần...". Vào buổi họp, anh Sáu làm thật. Dù đã được dặn trước và đã trực tiếp chứng kiến hàng chục lần Cố vấn "cương", nhưng chưa lần nào tôi thấy anh trút cơn thịnh nộ lên đối phương như buổi sáng hôm ấy! Lừa dối, ngu xuẩn, tráo trở, lật lọng... Thôi thì đủ cả! Kissinger chỉ biết cúi đầu nghe, không dám phản ứng gì. Mãi sau ông ta mới lắp bắp nói: " Tôi có nghe thấy những tính từ...Tôi xin không dùng những tính từ đó ở đây!". Anh Sáu, vẫn trong tư thế của người chiến thắng, đáp ngay: "Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ còn các nhà báo họ còn dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!". Mặc dù quy định nghề nghiệp buộc tôi phải dịch đúng, trung thực, khách quan, tránh bộc lộ tình cảm của mình nhưng không chắc lúc đó, tôi có thể kiềm chế nổi sự sung sướng pha chút tự hào trước thái độ quyết liệt của anh Sáu và sự chống đỡ yếu ớt của Kissinger.

        Sau nhiều năm giằng co trên bàn hội nghị, cuối cùng chúng ta đã đạt được những vấn đề thuộc về nguyên tắc, mà khó khăn, dai dẳng và phức tạp nhất là vấn đề quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam. Cùng với sự chỉ đạo, giúp đỡ từ trong nước, sự hỗ trợ của anh em trong Đoàn, bản thân anh Sáu Thọ cũng phải lao tâm khổ lực trong việc thăm dò ý tứ đối phương để tìm lập luận vừa thể hiện sự mềm mỏng, khéo léo nhưng vừa kiên quyết chứng tỏ quyết tâm của ta trong vấn đề này: "dứt khoát không có chuyện rút quân miền Bắc". Chính bản lĩnh, tài năng và ý chí của anh đã khiến Kissinger phải nhượng bộ từng bước, đến phút chót đành rút bỏ vấn đề rút quân miền Bắc, chịu đi vào thảo luận các nghị định thư và định ra thể thức ký Hiệp định để nhanh chóng kết thúc vòng đàm phán cuối cùng vào ngày 13 tháng Giêng 1973.

        Ngày 27 tháng Giêng 1973, chứng kiến đại diện của các bên ký bản Hiệp định Paris, tôi không thể nào kiềm chế nổi sự xúc động trào dâng trong lòng. Mong ước cháy bỏng của tôi và các anh em khác trong Đoàn cuối cùng cũng đã trở thành hiện thực. Tôi thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng đè lên vai mình trong suốt thời gian dài tham gia phục vụ đàm phán.

        Điều cuối cùng tôi muốn nói là người phiên dịch phải giữ vai trò trung gian trong quá trình chuyển tải ngôn ngữ, cố không để lộ tình cảm của mình ra nét mặt hay trong giọng nói. Tuy nhiên, trong khi dịch cho anh Sáu đàm phán với Kissinger, tôi không chắc mình có làm được như vậy không vì dù sao tôi cũng là người của một bên trong cuộc. Chỉ nhớ trong suốt quá trình thương lượng, tôi luôn tự hào được làm người phiên dịch cho những đại diện của Việt Nam đầy bản lĩnh và tài trí, đã khiến đối phương phải vì nể, thán phục sau các cuộc đấu lý, đấu trí tay đôi, căng thẳng, kéo dài tại cuộc đàm phán bí mật ở Paris.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #224 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 11:29:47 am »



KISSINGER ĐỐI DIỆN VỚI LÊ ĐỨC THỌ

LUU VĂN LỢI                

         Nguyên cố vấn pháp lý của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris về Việt Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.

        Cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ giữa Bộ trưởng Xuân Thuỷ với Thứ trưởng A. Harnman tại Paris bắt đầu ngày 13 tháng Năm 1968 và kết thúc ngày 1 tháng Mười một 1968 bằng việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời mở ra cuộc hội nghị bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa, để tìm một giải pháp cho vấn đề Việt Nam.

        Sau những cuộc tranh cãi về thủ tục, chủ yếu là quy định chỗ ngồi cho mỗi đoàn, ngày 25 tháng Giêng 1969, Hội nghị bốn bên khai mạc tại Trung tâm Hội nghị quốc tế đường Kléber, Paris. Tại diễn đàn này, các bên đã có thể trình bày và thảo luận các khía cạnh thực chất của giải pháp cho vấn đề Việt Nam, tại sao còn cần các cuộc gặp bí mật giữa Việt Nam và Mỹ nữa?

        Sự thật, Hội nghị tại Kléber là một diễn đàn công khai rất quan trọng đối với ta nhằm đấu tranh buộc địch xuống thang chiến tranh, đơn phương rút từng bộ phận quân Mỹ, khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ Mỹ, nội bộ nguy, mâu thuẫn Mỹ - nguy, đề cao vị trí quốc tế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế, bao gồm của cả nhân dân Mỹ đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Tuy nhiên, là diễn đàn công khai, Hội nghị bốn bên không phải là nơi bàn bạc cụ thể một giải pháp mà ta và Mỹ có thể chấp nhận được Cả phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đều thấy như vậy. Cho nên, do sự sắp xếp của Mỹ thông qua Jean Sainteny, nguyên Tổng đại diện của Pháp tại Hà Nội, ngày 4 tháng Tám 1 969, Bộ trưởng Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã nhận gặp riêng Kissinger, Cố vấn an ninh của Nhà Trắng, mở đầu một diễn đàn mới, diễn đàn bí mật giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ. Đây là một điều đặc biệt của cuộc đàm phán Paris.

        Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa diễn đàn công khai bốn bên với gặp riêng cấp cao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ. Các cuộc gặp riêng nhằm thăm dò ý đồ và lập trường giải pháp của Mỹ và lúc thời cơ đến thì đưa ra giải pháp ép Mỹ ký Hiệp định chính thức về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

        Ngày 21 tháng Hai 1970, lần đầu tiên Kissinger gặp Lê Đức Thọ. Diễn đàn này không có sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, lại ở xa giới báo chí đã tạo một môi trường thuận lợi cho hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ tự do trao đổi ý kiến. Do diễn biến của tình hình quân sự và chính trị, các cuộc đàm phán bí mật có lúc tiến hành thuận lợi, có lúc khó khăn, thậm chí có lúc bị gián đoạn, và phải kéo dài gần ba năm, từ tháng Hai 1970 đến ngày 13 tháng Giêng 1973.

        Bài này không nhằm nêu toàn bộ cuộc đàm phán đó và mối liên hệ của nó với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị, mà chỉ nêu tóm tắt những vấn đề tranh cãi và được giải quyết trong cuộc đối đầu Lê Đức Thọ - Kissinger.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #225 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 11:31:54 am »

        Vấn đề thứ nhất là phạm vi (hoặc khuôn khổ) đàm phán. Ngay khi vào đàm phán, họ đã vấp ngay vấn đề này: bàn cả vấn đề chính trị và vấn đề quân sự hay tách hai vấn đề. Hiệp định Bàn Môn Điểm chỉ giải quyết vấn đề đình chiến ở Triều Tiên mà không có giải pháp chính trị. Hội nghị Genève 1954 về Triều Tiên bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên nhưng cũng không giải quyết được vấn đề do đó cho đến nay, năm mươi năm sau vẫn chưa có hiệp định hòa bình, bán đảo Triều Tiên vẫn bị chia làm đôi. Tại Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, Trưởng đoàn đại biểu Pháp Georges Bidault đưa ra giải pháp thuần túy quân sự. Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng đưa ra một giải pháp gồm cả vấn đề chính trị và quân sự, cả vấn đề Việt Nam và vấn đề Lào - Campuchia. Hội nghị không chỉ giải quyết vấn đề đình chỉ chiến sự mà còn quy định việc tái thống nhất nước Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do tháng Bảy 1956. Nước Việt Nam đã không được thống nhất vào thời hạn đó là do sự phá hoại của chính quyền Ngô Đình Diệm theo kế hoạch của Mỹ. Vì vậy, toàn thể nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đã tiến hành cuộc kháng chiến chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Trong tình thế đó, một giải pháp hữu hiệu cho hòa bình không thể không bao gồm biện pháp chính trị và biện pháp quân sự.

        Tuy vậy, ngay khi các cuộc đàm phán bí mật bắt đầu, Kissinger đã đề nghị tách các vấn đề quân sự ra khỏi các vấn đề chính trị. Mỹ muốn giữ nguyên chính quyền Sài Gòn. Tất nhiên, Lê Đức Thọ không đồng ý và đòi bàn cả hai vấn đề. Quan điểm của Việt Nam là hai vấn đề phải được giải quyết song song. Ngày 31  tháng Năm 1971, Kissinger lại đưa ra một đề nghị gọi là "cuối cùng" gồm Bảy điểm thuần túy về quân sự, nghĩa là không đề cập các vấn đề chính trị. Ngày 26 tháng Sáu, Xuân Thủy đáp lại bằng một đề nghị Chín điểm bao gồm các vấn đề rút quân Mỹ, thả tù binh và thường dân bị giam giữ, chấm dứt ủng hộ chế độ Thiệu - Kỳ - Hương, lập ở Sài Gòn một chính quyền mới tán thành hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập để cùng Chính phủ Cách mạng lâm thời giải quyết công việc nội bộ miền Nam. Do quan điểm hai bên quá xa nhau, các cuộc đàm phán bí mật đã phải kéo dài. Trong các đợt gặp cuối năm 1971, Lê Đức Thọ kiên trì đòi loại bỏ Thiệu. Kissinger cũng phải nói tới lập một tổ chức độc lập để tổng tuyển cử Cho đến tháng Mười 1972, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ động đưa ra dự thảo Hiệp định toàn bộ bao gồm việc Mỹ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, việc ngừng bắn, rút quân Mỹ và đồng minh, trao trả tù binh và thường dân bị bắt, và có điểm điều chỉnh về các vấn đề chính trị ở miền Nam: hai bên miền Nam sẽ hiệp thương giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam, thành lập một cơ cấu chính quyền để đôn đốc thi hành Hiệp định và tổ chức tổng tuyển cử... Đó là một giải pháp hoàn chỉnh, đề cập và giải quyết cả vấn đề quân sự và vấn đề chính trị. Từ đó hai đoàn đàm phán đi vào thảo luận các điều khoản của Hiệp định và cuối cùng thỏa thuận được toàn bộ Hiệp định vào tháng Mười 1972, dù từ đó đến tháng Mười hai có những cản trở do phía Mỹ gây ra.

        Vấn đề thứ hai phải giải quyết là vấn đề rút quân Mỹ. Từ đầu cuộc chiến tranh cho đến lúc đi vào đàm phán, cả bí mật cũng như công khai, phía Mỹ luôn nói sẽ rút quân, nhưng họ nêu nguyên tắc có đi có lại tức là quân Mỹ rút thì quân miền Bắc cũng phải rút. Cho nên, đấu tranh về vấn đề này rất khó khăn, kể cả sau khi Tổng thống Nixon đơn phương tuyên bố rút quân Mỹ và công bố chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh". Trước đó, Tổng thống Johnson đã đưa sang Việt Nam 550.000 quân Mỹ với hy vọng sẽ xoay chuyển được tình thế ở miền Nam Việt Nam. Nhưng tất cả các cuộc hành quân "tìm diệt" trong hai mùa khô 1965-1966, 1966- 1967 đều thất bại. Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã làm rung chuyển Nhà Trắng và Lầu Năm góc, số thương vong của quân Mỹ ngày một tăng. Johnson đã phải tính đến chuyện "phi Mỹ hóa chiến tranh" để làm yên lòng nhân dân Mỹ. Melwin Laird, Bộ trưởng Quốc phòng trong chính quyền Nixon, sau khi điều tra cho rằng quân Sài Gòn có thể độc lập tác chiến, nếu quân Mỹ rút. Trên cơ sở kết luận đó, Nixon quyết định "Việt Nam hóa chiến tranh" và tháng Sáu 1969, tuyên bố đợt đầu rút 25.000 quân. Laird tuyên bố rằng Mỹ sẽ rút quân trong 42 tháng và để lại 200.000 quân.

        Trước đây tướng Navarre của Pháp, trước nguy cơ thất bại không thể tránh khỏi của Pháp ở Đông Dương, đã chủ trương dùng quân Bảo Đại để thay thế quân Pháp, biến cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp thành cuộc nội chiến giữa những người Việt Nam với nhau. Còn bây giờ, với chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh", Nixon muốn rút quân Mỹ để yên lòng dư luận Mỹ, giảm bớt chi phí chiến tranh nhưng vẫn giữ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu để tiếp tục chiến tranh. Âm mưu của Nhà Trắng là rút quân nhỏ giọt và không định rõ ràng ngày rút hết quân Mỹ. Phía Việt Nam nhằm vào chỗ yếu đó của Nixon để vạch trần thực chất của "Việt Nam hóa chiến tranh" và ép Mỹ tiếp tục rút quân. Khi Việt Nam đưa ra tuyên bố việc phóng thích tù binh Mỹ sẽ diễn ra đồng thời với việc rút hết quân Mỹ thì sức ép của dư luận Mỹ và thế giới trở nên ngày càng tăng. Mặc dù Việt Nam đòi Mỹ rút hết quân, nhưng đến giữa  năm 1972, khi đi vào giải pháp, Mỹ vẫn còn lại 75.000 quân để làm - - con bài mặc cả. Chỉ đến tháng Mười 1972 khi thỏa thuận toàn bộ Hiệp định, Mỹ mới nhận rút hết quân Mỹ trong vòng 60 ngày sau ngày ký Hiệp định.

        Vấn đề thứ ba là vấn đề chính quyền ở miền Nam. Đây là một trong các vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, vì cùng với vấn đề rút quân, nó phản ánh kết cục của so sánh lực lượng. Ai cũng biết chính quyền Sài Gòn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu đều do Mỹ dựng lên để thực hiện chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời đòi xóa bỏ chính quyền đó để thành lập một chính phủ liên hiệp tán thành độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập. Suốt ba năm đàm phán bí mật, Kissinger luôn lẩn tránh bàn vấn đề chính quyền ở miền Nam. Ý đồ của Mỹ là duy trì chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Còn phía Việt Nam thì kiên quyết đòi xóa bỏ chính quyền Thiệu - Kỳ - Hương và lập chính phủ hòa hợp dân tộc. Cuộc tranh cãi về vấn đề này luôn căng thẳng. Mãi đến cuối năm 1971, đầu 1972, phía Mỹ mới nhúc nhích chút đỉnh: đề nghị lập một ủy ban hỗn hợp để tổ chức bầu cử - tất nhiên bầu cử theo thể chế Sài Gòn. Đàm phán do vậy tiếp tục bế tắc.

Cho đến tháng Mười 1972, Hà Nội có một quyết sách mạnh bạo, vận dụng sách lược trên vấn đề chính trị, không đòi loại bỏ chính quyền Thiệu mà giữ nguyên trạng hai chính quyền, chỉ thỏa thuận một số nguyên tắc lớn như hai bên miền Nam sẽ hiệp thương để giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam, lập một cơ cấu chính quyền để đôn đốc và giám sát thi hành Hiệp định và tổ chức tổng tuyển cử. Do đề nghị mềm dẻo này, vấn đề chính quyền thoát khỏi bế tắc. Kissinger đề nghị gọi cơ quan này là Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc. ông ta không đồng ý từ "cơ cấu chính quyền" và từ "đôn đốc", và đề nghị thay nó bằng từ thúc đẩy (to promote). Riêng từ "đôn đốc" đã gây ra cuộc tranh cãi kéo dài. Ý của Kissinger là hạ thấp vai trò Hội đồng quốc gia xuống thành một cơ quan bầu cử. Lê Đức Thọ đồng ý bỏ "cơ cấu chính quyền", nhưng để từ "đôn đốc" trong bản tiếng Việt còn bản tiếng Anh dùng từ promote cũng được. Cuối cùng thỏa thuận sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam "thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau" (Điều 12a) "Hội đồng đôn đốc hai bên miền Nam thi hành Hiệp định này và "sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do dân chủ... " (Điều 1 2b).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #226 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 02:52:21 pm »

        Vấn đề thứ tư là vấn đề quân miền Bắc.Nguồn gốc vấn đề là thời kỳ "chiến tranh đặc biệt", chính quyền Sài Gòn đàn áp nhân dân, trả thù những người kháng chiến cũ trong các chiến dịch gọi là "tố cộng", "diệt cộng", mở các chiến dịch "bình định", gom dân vào các trại tập trung; nhân dân miền Nam vũ trang tự vệ; lúc đó chưa có quân miền Bắc vào miền Nam, mà chỉ có các binh sĩ tập kết ra Bắc năm 1954 trở về Nam để bảo vệ quê hương. Từ khi Mỹ đẩy mạnh chiến tranh cục bộ, một số quân miền Bắc đã được gửi vào để phối hợp chiến đấu với quân giải phóng. Trong gặp riêng bao giờ Kissinger cũng xoáy mạnh vấn này và ráo riết đeo bám cho đến phút chót. Trên công khai cũng như gặp riêng, phía Việt Nam luôn bác đòi hỏi này của Mỹ vì với quyền tự vệ dân tộc, người Việt Nam có quyền chiến đấu bất kỳ ở đâu trên đất nước Việt Nam. Từ tháng Năm 1969, trong Giải pháp toàn bộ Mười điểm, Việt Nam đã gạt vấn đề này bằng công thức "vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết".

        Có lúc Kissinger dùng thủ đoạn đấu dịu: phía Mỹ "không đặt vấn đề quân Mỹ và quân miền Bắc trên một cơ sở pháp lý như nhau", rằng "hai vấn đề này sẽ giải quyết bằng hai kế hoạch riêng rẽ, không liên quan đến nhau", v.v. ! Đến tháng Mười 1971, Hoa Kỳ gửi cho Việt Nam đề nghị Tám điểm, lần đầu tiên không nêu vấn đề quân miền Bắc. Cho đến khi bàn thảo hiệp định tháng Mười 1972, Kissinger không còn nói thẳng vấn đề quân miền Bắc nhưng vẫn níu kẻo: Mỹ đề nghị "sau khi ngừng bắn, hai bên trao cho nhau bản kế hoạch bố trí lực lượng, trong đó không có các đơn vị đưa vào sau ngày 25 tháng Ba 1972" (phiên họp ngày 9 tháng Mười) hoặc "có một sự di chuyển đơn phương nào đó của quân miền Bắc" (phiên họp ngày 10 tháng Mười). Cuối cùng khi bàn vấn đề giảm quân số, Kissinger lại đề nghị "số quân đã giảm phải trở về nguyên quan", ý nó quân miền Bắc phục viên về miền Bắc. Nhưng Lê Đức Thọ kiên quyết bác bỏ.

        Cuối cùng, sau năm năm đàm phán, Hiệp định Paris ghi nhận "quân Mỹ rút hết khỏi miền Nam trong vòng 60 ngày" (Điều 5), và "vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam giải quyết" (Điều 13). Như vậy, quân Mỹ rút ra, quân ta (miền Bắc) ở lại, đó là một trong những thắng lợi lớn nhất của Hiệp định Paris.

        Vấn đề thứ năm là vấn đề tù dân sự Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh nhân dân. Trong số những người bị bắt không phải chỉ có những quân nhân mà còn có những dân thường Việt Nam nữa. Hiệp định Genève 1954 về vấn đề những người bị bắt và phải trao trả cho đối phương có nói rõ ràng "những thường dân bị bắt". Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trước sau chủ trương trao trả hết tù binh Mỹ và các nước khác, kể cả thường dân bị bắt. Trong khi phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi thả tất cả những người của các bên bị bắt, quân sự cũng như dân sự, cùng với thời hạn hoàn thành việc rút quân Mỹ thì Kissinger lại tách vấn đề tù dân sự ra và nói rằng: "các nhân viên Việt Nam khác sẽ do các bên Nam Việt Nam giải quyết". ông ta nói: "Các ông đòi Sài Gòn thả 30.000 người của các ông, một khi số người đó được thả ra thì họ sẽ tham chiến chống chúng tôi". Sau đó, ông ta lại tính đổi lấy việc ghi vấn đề quân miền Bắc: "Chính quyền Sài Gòn sẽ thả một số đáng kể thường dân bị giam giữ đồng thời với việc triển khai lại một số đáng kể quân đội ở phía bắc Nam Việt Nam. Ba tháng sau đó khi ký Hiệp định, hai bên Nam Việt Nam sẽ thu xếp những hành động đồng thời tiếp theo để có thêm những thường dân bị giam giữ sẽ được thả theo một số tỷ lệ liên quan trực tiếp với số quân đội do hai bên giải ngũ”.

        Việc phóng thích những tù dân sự của Việt Nam là vấn đề có thể nói là thiêng liêng đối với Việt Nam. Lê Đức Thọ kiên quyết bác bỏ mọi công thức của Kissinger nhằm lẩn tránh vấn đề. Cuối cùng, Mỹ phải cam kết bằng một bản Hiểu biết rằng: Hoa Kỳ sẽ dùng ảnh hưởng tối đa của mình để đạt được việc trao trả nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ dùng ảnh hưởng đó để đẩy việc trao trả phần lớn người bị giam giữ nói trên trong vòng 60 ngày sau khi ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và tất cả những người bị giam giữ nới trên được trao trả hết trong vòng 90 ngày theo đúng điều khoản của Hiệp định.

        Vấn đề thứ sáu là vấn đề khu phi quân sự. Khu phi quân sự đã được thành lập từ khi Hiệp định Genève 1954 có hiệu lực. Đó là một giới tuyến tạm thời để tập kết quân đội của hai bên chứ không phải là ranh giới lãnh thổ hay chính trị giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam. Trong đàm phán Paris, hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đều đồng ý duy trì khu phi quân sự như đã quy định trong Hiệp định Genève năm 1954. Nhưng phía Việt Nam muốn duy trì tính tạm thời của giới tuyến quân sự trong khi chờ đợi thống nhất nước Việt Nam, còn Mỹ và chính quyền Sài Gòn lại coi giới tuyến quân sự là ranh giới lãnh thổ giữa hai quốc gia riêng biệt. Do đó, các cuộc trao đổi công thức về khu phi quân sự và giới tuyến quân sự kéo dài, thậm chí trở thành vấn đề tồn tại cuối cùng của cuộc đàm phán. Lê Đức Thọ đề nghị: "Hai miền tôn trọng khu phi quân sự, thỏa thuận về quy chế và định ra thể thức qua lại giới tuyến quân sự tạm thời". Kissinger đề nghị: "Hai bên tôn trọng lãnh thổ của nhau với ý đồ chia cắt lâu dài nước Việt Nam, trong việc lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt có vấn đề cho phép đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. Sau Kisinger rút câu 'tôn trọng lãnh thổ của nhau", Lê Đức Thọ sửa lại câu của mình "hai miền sẽ sớm bắt đầu thương lượng lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt". Trong các vấn đề thương lượng có vấn đề thể thức qua lại giới tuyến quân sự tạm thời, chỉ khác Mỹ là không có từ "qua lại dân sự'. Cuối cùng hai bên đồng ý công thức: "Miền Bắc và Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời".

        Vấn đề thứ bảy là vấn đề Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh. Trong cuộc gặp riêng tháng Bảy 1971, Kissinger khẳng định Mỹ không chấp nhận bồi thường và thương lượng bồi thường, chỉ có chương trình viện trợ kinh tế sau chiến tranh. Đến phiên ngày 16 tháng Tám 1971, Kissinger nói rõ hơn: Mỹ sẽ có một chương trình viện trợ năm năm cho các nước Đông Dương, sẽ kiến nghị 7,5 tỷ đôla, trong đó dành 2 đến 2,5 tỷ cho Bắc Việt Nam. Thấy chưa phải thời cơ đi vào giải pháp nên Đoàn Việt Nam chưa quan tâm bàn cụ thể. Đầu tháng Mười 1972, Kissinger hứa: "Mỹ sẽ đóng góp cho mục đích hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng lại miền Bắc Việt Nam ước lượng trị giá 3 tỷ đôla Mỹ". Trong thông điệp gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 20 tháng Mười 1972, Tổng thống Nixon viết: "Quan hệ kinh tế Hoa Kỳ - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ được thảo luận khi Tiến sĩ Kissinger vào Hà Nội".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #227 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 02:53:48 pm »

        Trong các đợt đàm phán lại tháng Mười một và Mười hai 1972, hai bên chưa bàn thêm vấn đề này. Ngày 11 tháng Giêng 1973, Lê Đức Thọ đưa ra một dự thảo nghị định thư về đóng góp của Mỹ trong đó có ghi con số 5 tỷ đôla Mỹ. Kissinger không đồng ý làm nghị định thư về vấn đề này và nói sẽ dùng hình thức công hàm. Lê Đức Thọ hiểu đây là vấn đề tế nhị và đồng ý. Kissinger nói Tổng thống Nixon sẽ gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu nguyên tắc Hoa Kỳ tham gia vào công cuộc xây dựng lại kinh tế Việt Nam sau chiến tranh phù hợp với Điều 21 của Hiệp định Paris. Kissinger đưa cho Lê Đức Thọ dự thảo công hàm của tổng thống trong đó ghi số tiền 3 tỷ đôla Mỹ trong năm năm, còn Lê Đức Thọ đòi 4,5 tỷ; hai bên mặc cả, thêm bớt, phút chót phiên họp ngày 23 tháng Giêng 1973, trước khi ký tắt mới thoả thuận số tiền mỗi năm 650 triệu, năm năm là 3,25 tỷ đôla Mỹ, viện trợ không hoàn lại Ngày 1 tháng Hai 1973, Nixon gửi công hàm chính thức cho Phạm Văn Đồng như nội dung hai bên đã thoả thuận.

        Vấn đề thứ tám là vấn đề Lào và Campuchia. Ngay từ cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ (giai đoạn hai bên), các đại diện Mỹ cũng đã nêu vấn đề này. Mặc dù trên thực tế liên minh ba nước Đông Dương là công khai, vả lại vấn đề Việt Nam gắn chặt với vấn đề Lào và Campuchia, nhưng theo lập trường của ta, Việt Nam và Mỹ không thể bàn vấn đề của hai nước này. Trong khi đang thương lượng với ta về Hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam thì nhiều lần phải Mỹ yêu cầu quân Việt Nam rút khỏi Lào và Campuchia và đòi ngừng bắn đồng thời trên toàn Đông Dương. Lê Đức Thọ khẳng định không những Việt Nam mà cả Hoa Kỳ cũng phải tôn trọng chủ quyền của hai nước đó. Khi Hiệp định Paris về Việt Nam sắp được hoàn thành thì ba phái chính trị ở Lào vẫn đang đàm phán, nhưng Lon Non và Khiêu Samphon của Campuchia lại chưa muốn đàm phán. Vì vậy, Lê Đức Thọ đã giải thích cho Kissinger rằng: Việt Nam có khó khăn với Campuchia; riêng về Lào, Việt Nam sẽ tham khảo ý kiến của phía Lào. Sau khi ta hỏi ý kiến và được bạn Lào cho biết đồng ý sẽ ký sớm Hiệp định với chính phủ của Phouma, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chính thức thông báo điều này cho Tổng thống Nixon bằng công hàm ngày 21 tháng Mười 1972. Còn về vấn đề Campuchia, trong công hàm này, ta chỉ viết: "Sau khi chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tích cực gắn mình vào việc lập lại hoà bình ở Campuchia".

        Sau này, khi đàm phán lại, về vấn đề Lào, ta đồng ý làm bản Hiểu biết theo tinh thần đã thoả thuận. Còn về vấn đề Campuchia, ta kiên quyết không bàn nữa. Trong Điều 20 Hiệp định Paris, hai bên thoả thuận ghi tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân hai nước Lào và Campuchia, trong đó có việc tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của họ. Ngày 21 tháng Hai 1973, vấn đề Lào được các bên Lào giải quyết (Hiệp định ngày 21 tháng Hai 1973).

        Vấn đề thứ chín là vấn đề cách ký Hiệp định. Trong các cuộc đàm phán thông thường, cách ký chỉ là một vấn đề kỹ thuật để ghi nhận những thỏa thuận giữa các bên liên quan. Nhưng trong vấn đề ký của các bên ở đàm phán Paris về Việt Nam thì nó lại trở thành vấn đề chính trị mà cả bốn bên đều quan tâm. Đây là một cuộc hội nghị bốn bên thuộc hai phe mà các bên của phe này với các bên của phe kia không công nhận lẫn nhau. Mỹ tuy không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao nhưng công nhận là một bên đàm phán có giá trị, một bên đàm phán chủ yếu, tất nhiên sẽ cùng ký; còn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (Chính phủ Việt Nam Cộng hoà) lại không công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và muốn gạt bỏ tên Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong các văn kiện và cách nêu tên người ký kết. Về phần mình, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời sẵn sàng ký với Chính phủ Việt Nam Cộng hòa nhưng kiên quyết không chấp nhận những điều do Hoa Kỳ và Sài Gòn nêu ra. Như vậy, không chỉ có vấn đề cách ký các văn kiện mà còn có vấn đề nêu tên các bên ký kết và tên và chức vụ những người ký kết. Lúc đầu, Kissinger đề nghị: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời mỗi bên ký vào một văn bản giống nhau hoàn toàn, còn Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ký riêng một văn bản cùng nội dung nhưng khác về Lời mở đầu "Việt Nam Cộng hòa hành động phối hợp với các bên tham gia Hội nghị Paris". Sau đó, Kissinger lại đề nghị Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản với Lời nói đầu giống về nội dung và Điều 23 đầy đủ (Điều 23 quy định Hiệp định do Bộ trưởng ngoại giao ký). Chính phủ Cách mạng lâm thời và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa mỗi bên ký dưới hình thức công hàm gia nhập (adhérence). Lê Đức Thọ không đồng ý cả hai cách và đề nghị ký ba văn bản: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ ký một văn bản; Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời mỗi bên ký một văn bản Hiệp định cùng một nội dung, nhưng sau Lê Đức Thọ lại rút lại. Đến đợt đàm phán tháng Giêng 1973, Lê Đức Thọ đề nghị hai bên ký và bốn bên ký, Kissinger không đồng ý và đề nghị lựa chọn một trong ba cách sau đây:

        - Hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký.

        - Ký bốn bên nhưng không có tên Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam Cộng hòa trong Lời mở đầu, không có chức vụ người ký.

        - Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản với Lời mở đầu và Điều 23 đầy đủ; Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời ký hai văn bản riêng, nội dung Hiệp định đầy đủ nhưng Lời mở đầu không có tên chính phủ, ký tên nhưng không có chức vụ.

        Lê Đức Thọ không đồng ý và đề nghị Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ ký tắt, còn bốn bên ký chính thức với Lời mở đầu đầy đủ có tên bốn chính phủ, người ký có nêu chức vụ Bộ trưởng ngoại giao. Phía Mỹ không chấp nhận. Sau khi Hiệp định đã hoàn thành, Lê Đức Thọ đưa ra công thức: Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Lời mở đầu và Điều 23 đầy đủ; bốn bên ký với Lời mở đầu "Các bên tham gia Hội nghị Paris" (không nêu tên bốn chính phủ, Hiệp định do bốn ngoại trưởng ký đồng thời). Dựa vào đề nghị của Lê Đức Thọ, Kissinger đưa ra đề nghị mà cuối cùng đã được thực hiện là: hai bên ký với Lời mở đầu ghi đủ tên bốn chính phủ và văn bản bốn bên ký với Lời mở đầu "Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam" (không ghi tên bốn chính phủ)..., và Điều 23 "Hiệp định này sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký". Bốn bên ký trên hai trang: một trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, một trang Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Sẽ có hai lễ ký cùng tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber; buổi sáng bốn bên ký, buổi chiều Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ ký.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #228 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 02:55:22 pm »

        Vấn đề cuối cùng là giữ hiệp định tháng Mười hay hai bên cùng sửa... Đây có thể coi là đỉnh điểm của cuộc tranh cãi. Sau khi vượt qua cuộc bầu cử và thắng cử với tỷ lệ 60,7 phần trăm số phiếu bầu, Nixon đề nghị với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một đợt họp mới để hoàn thiện Hiệp định mà chính ông ta khẳng định là đã hoàn thành. Đồng thời, bắt đầu tổ chức cầu hàng không Enhance plus (Tăng cường hơn nhất để hối hả chuyển vũ khí cho Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên họp lại ngày 20 tháng Mười một 1972. Khi đó chính quyền Sài Gòn đòi sửa 69 điểm. Mỹ cũng nêu một số điểm của họ. Điểm mới của giai đoạn này là việc Thiệu tham gia cuộc nói chuyện tuy không trực tiếp. Thái độ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là giữ vững những vấn đề về nguyên tắc và nội dung đã đạt được, đòi Mỹ không được sửa đổi các nguyên tắc và nội dung đó và sớm ký hiệp định.

        Bước vào đợt đàm phán này, Kissinger tuyên bố giữ những nguyên tắc đã được thỏa thuận trong tháng Mười. Nhưng trên thực tế Kissinger không những đòi sửa nguyên tắc này nguyên tắc nọ mà còn nêu những yêu cầu mới. Đợt đàm phán tháng Mười một giải quyết được một số vấn đề, nhưng còn lại hàng loạt vấn đề trong đó có những vấn đề quan trọng và nhạy cảm như đòi rút quân miền Bắc, tách vấn đề tù dân sự ra để chính quyền Sài Gòn giải quyết hạ thấp vai trò của Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc, v.v.. Bắt đầu đợt đàm phán tháng Mười hai, Lê Đức Thọ tuyên bố rõ ràng: "Nếu các ông muốn giữ Hiệp định như cũ thì chúng tôi cũng sẵn sàng giữ nguyên như cũ, không thay đổi một chữ. Nếu các ông không sửa một chữ nào thì chúng tôi cũng không sửa một chữ nào". Lê Đức Thọ lại nói thêm: "Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn thì bên kia sửa lớn, bên này sửa nhỏ bên kia cũng sửa nhỏ, không thể chỉ một bên sửa một bên không. Cứ như thế, sửa đi sửa lại mãi, không thể hoàn thành được. Phía Mỹ chọn cách nào chúng tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ hiệp định". Kissinger xin hoãn họp đến mùng 6 để xin chỉ thị tổng thống. Cũng trong dịp này ông nêu vấn đề từ chức. Ngày 6 tháng Mười hai, Nixon điện cho Kissinger: "Tôi nhất quyết cho rằng chúng ta không được tự dồn mình vào góc tường bằng cách nói rằng đây là đề nghị cuối cùng của chúng ta hoặc đây là cuộc họp cuối cùng của chúng ta. Hãy để một chỗ cửa ngỏ cho các cuộc họp tiếp".

        Đề nghị kiên quyết nhưng rất xây dựng của Lê Đức Thọ đã làm cho không khí đàm phán dịu đi và đến ngày 12 tháng Mười hai, chỉ còn hai vấn đề cách ký các văn kiện và vấn đề khu phi quân sự.

        Ngoài các vấn đề nói trên còn có các vấn đề cụ thể trong bốn Nghị định thư và tám Hiểu biết (Understanding). Các văn bản này đề cập một số việc về thực chất, một số việc về kỹ thuật nhưng nhìn chung đều được giải quyết nhanh chóng.

        Tóm lại, trong gần ba năm đàm phán bí mật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đã đạt được kết quả đầu tiên là thỏa thuận hoàn toàn Hiệp định tháng Mười 1972 và Tổng thống Nixon đã tuyên bố hai bên sẽ ký Hiệp định ngày 31 tháng Mười 1972. Nhưng Hoa Kỳ lại mưu tính sửa lại Hiệp định theo điều kiện của họ và dành thời gian chở 260.000 tấn vũ khí, chủ yếu là máy bay và trực thăng, trị giá gần 2 tỷ đôla Mỹ cho chính quyền Thiệu theo kế hoạch Enhance Plus để chính quyền Thiệu, chính quyền có lực lượng không quân lớn thứ tư trên thế giới, đủ sức chống lại Chính phủ Cách mạng lâm thời sau khi quân Mỹ rút hết. Nixon còn dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng theo kế hoạch Linebacker II để tăng thêm sức ép với Hà Nội. Như mọi người đều biết kế hoạch đó đã thất bại và Hiệp định Paris vẫn được ký với nội dung hầu như không thay đổi mấy so với thoả thuận tháng Mười 1972.

        Trước sự thật đó, Kissinger đã viết trong Hồi ký: "Những sửa đổi đó liệu có đủ mức quan trọng để biện minh cho sự lo âu và cay đắng trong những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến không? Đối với chúng ta chắc hẳn là không rồi, nhưng đối với Sài Gòn thì gần như chắc chắn là có, vì sự sống còn của chế độ này, nói cho cùng, chính là cái cớ của chiến tranh" [l]. Khi phải rút ra "các bài học Việt Nam" trong Giác thư gửi Tổng thống Ford, ông ta viết: "Đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử nước Mỹ, cách xa nước Mỹ nhất và ít liên quan nhất tới những mối quan tâm cấp thiết của nước ta", nhưng phải nhận: "Việt Nam là một trường hợp đặc biệt xét về mặt địa lý, sắc tộc, chính trị, quân sự và ngoại giao. Đó là điều chúng ta cần hiểu rõ và thừa nhận thay vì cố áp dụng rộng rãi những "bài học Việt Nam" như chúng ta từng làm với "bài học Munich" 'ông ta cho rằng không thể rút ra được những bài học từ Việt Nam đê áp dụng ở những nơi khác. ông ta còn phàn nàn là trong khi Mỹ dính líu vào Việt Nam, nền ngoại giao Mỹ đã "bị tổn thương" và "thường bị biến thành những nỗ lực hốt hoảng nhằm tìm kiếm công thức đem lại sự ủng hộ nhất thời và lảng tránh những khác biệt rõ ràng giữa chúng ta và Bắc Việt Nam" [1].

        Người ta thường nói Mỹ sành sỏi về ngoại giao, đây chẳng phải là lời thú nhận rõ ràng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ không chỉ thua về quân sự mà cả về ngoại giao đó sao? [1] H.Kissinger: A ra Mai son Blanche (Những năm tháng Ở Nhà Trắng), 1968-1973, tiếng Pháp, Nhà xuất bản Fayard, Paris, 1979, tr. 1524.
-----------------
[1]. H. Kissinger: Giác thư tối mật gửi Tổng thông Gerald Ford.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #229 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2012, 08:00:15 am »



THĂNG MỸ:  ĐÁNH VÀ ĐÀM

               

         Tên khác là Đặng Văn Thu, nguyên thành viên Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương, nguyên Tư lệnh Binh chủng tên lửa, nguyên Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, qua đời ngày 5/11/2002 .

        Trận "Điện Biên Phủ trên không “ - một dấu son chói lọi trong lịch sử Việt Nam đã qua gần một phần ba thế kỷ. Ôn lại chiến thắng lẫy lừng mang tầm vóc thời đại ấy, bây giờ tôi vẫn như đang rạo rực sống lại tâm trạng lo lắng, mừng vui trong hai vị trí của mình ở thời điểm lịch sử này.

        Hồi ấy, trước ngày Tổng thống Nixon mở cuộc tập kích chiến lược tôi đang vào Quân khu Bốn chỉ đạo các đơn vị của Quân chủng Phòng không - Không quân phối hợp với chiến dịch Quảng Trị lại bất ngờ được gọi gấp về công tác ở CP50. CP50 là tên gọi của một ban trực thuộc Bộ Chính trị do đồng chí Nguyễn Cơ Thạch phụ trách để giúp Bộ Chính trị nghiên cứu, theo dõi chỉ đạo hai Phái đoàn ta đàm phán ở Paris.

        Tôi nói "lại bất ngờ được gọi," bởi vì từ đầu năm 1969, tôi cũng đã bất ngờ được bí mật cử vào miền Nam tham gia Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Hội nghị Paris cho đến năm 1971 mới trở lại Quân chủng. Tới lần bất ngờ được gọi về CP50 này thì tôi đã liên tục là một cán bộ quân sự đi làm ngoại giao để rồi lần nữa lại sang Paris và vào ở trong Trại Đa-vít ngay giữa Sài Gòn trước ngày giải phóng. Bởi thế mà đã thấu hiểu khá sâu sắc chuyện "đánh và đàm." Càng thấy rõ, thấy sâu sắc hơn điều tiên quyết là: Thắng lợi trên chiến trường quyết định thắng lợi trên bàn đàm phán.

        Hệ quả này, ở Việt Nam ta trong những năm cuối cùng của cuộc chống Mỹ, cứu nước dã chứng minh rất rõ. Tổng thống L. Johnson chỉ ngồi vào bàn đàm phán với ta từ sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tấn công và nổi dậy này đã tạo bước ngoặt chiến lược lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mở ra cục diện mới "vừa dành vừa đàm. Ngày 31 tháng Ba 1968, Tổng thống Mỹ L. Johnsọn phải tuyên bố: 1) Ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2)Nhận đàm phán với Việt Nam; 3) Không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ hai.

        Đó là sự thừa nhận dầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ. Rõ ràng, với chiến thắng Tết Mậu Thân, quân và dân ta đã làm cho ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ lung lay nghiêm trọng, khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược của Mỹ.

        Sau khi bước chân vào Nhà Trắng, Nixon điều chỉnh chiến lược "Phi Mỹ hoá chiến tranh" của Johnson bằng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam. Thực chất là chuyển gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền Sài Gòn, thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt."

Cuộc đàm phán Paris, trong giai đoạn đầu, từ tháng Năm đến tháng Mười một 1968, giữa Bộ trưởng Xuân Thuỷ, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và Đại sứ A. Harriman, đại diện Tổng thống Mỹ, đi đến kết quả ngày 1 tháng Mười một 1968, Mỹ phải chấm dứt không diều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn bộ miền Bắc nước ta, và ngồi vào bàn đàm phán với đại diện của ta.

        Ngày 25 tháng Giêng 1969, Hội nghị bốn bên, gồm các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà (Sài Gòn) họp phiên chính thức đầu tiên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế tại đường Kléber ở Paris. Đoàn đàm phán Mặt trận Dân tộc Giải phóng do đồng chí Trần Bửu Kiếm dẫn đầu; phó trưởng đoàn là các đồng chí Nguyễn Thị Bình và Trần Hoài Nam. Tôi được cử làm một thành viên của Đoàn, đại diện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, lấy tên là Đặng Văn Thu.

        Buổi đầu tiên đến Paris, tôi được anh Hà Văn Lâu ra đón ở sân bay Orly. Nhận ra tôi, anh Lâu cười rạng rỡ và thốt lên: "Té ra ông Đặng Văn Thu đây à?". Tất cả các đồng chí vốn đã quen biết tôi đang ở đây đều có chung cảm giác như anh Hà Văn Lâu. Và tới khi vào Hội trường Klẻber, tướng Vĩnh Lộc trong đoàn Sài Gòn ngồi ngay trước mặt, trước đây chúng tôi cùng học với nhau ở Quốc học Huế, nhưng anh ta cũng không còn nhận ra tôi. Dưới cái tên mới, qua những năm tháng kháng chiến vẻ người già đi trước tuổi, nên an ninh Sài Gòn cũng không moi ra tung tích của tôi.

        Đầu tháng Sáu 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn. Tôi vẫn là một thành viên trong đoàn.

        Trong hai năm 1969 - 1970, tình hình đàm phán tại Paris vẫn giẫm chân tại chỗ. Mỗi tuần hai bên đến họp có tuyên bố, vẫn là "rượu cũ." Nhưng hai Đoàn của ta vẫn tìm cách vạch sâu, tố cáo được âm mưu ngoan cố kéo dài chiến tranh của Mỹ, tranh thủ cho được sự đồng tình ủng hộ của dư luận rộng rãi ở Mỹ và trên thế giới. Trong khi đó, ta và Mỹ đều ra sức giành lợi thế trên chiến trường.

Những thắng lợi lớn của ba nước Đông Dương trong hai năm 1970 - 1971 đã tạo cho cuộc kháng chiến chông Mỹ một tình thế thuận lợi mới: ta có điều kiện tiếp tục kết hợp chặt chế đấu tranh quân sự, Chính trị, ngoại giao; tiếp tục phát huy quyền làm chủ tấn công giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong năm 1972.

        Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống và Quốc hội Mỹ. Muốn thắng cử, Nixon phải "chấm dứt chiến tranh Việt Nam trước năm 1972".
 
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Ba, 2012, 10:38:34 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM