Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #300 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 10:14:41 am » |
|
Đầu hồi nhà Ban Bảo vệ còn có một bể cá cảnh, một chuồng nuôi con khỉ nhỏ. Con khỉ nghịch ra trò, nó leo trèo trên các cành khô trong chuồng rất thành thục, nhanh nhẹn. Bể cá cảnh rộng chừng bảy, tám mét vuông. Nước trong vắt, có thể nhìn thấy đáy bể. Mấy khóm bèo tây (lục bình) vươn cao lên khỏi mặt nước khoảng một gang tay, rễ bèo buông dài xuống gần chạm đáy. Đây là nơi trú ngụ lý tưởng của bầy cá. Bèo hoa dâu, bèo tấm dàn đều trên mặt nước. Tuy thế, trên mặt nước những khoảng trống không có bèo vẫn còn khá rộng rãi để bầy cá tung tăng bơi lội mà các khóm bèo tây, mảng bèo hoa dâu, bèo tấm không hạn chế việc di chuyển của chúng. Các loại bèo có trong bể còn làm giảm nhiệt độ trong nước bởi sức nóng của mặt trời. Những lúc nắng nóng gay gắt, bầy cá lủi xuống mấy khóm bèo để tránh nắng, khi thấy có người đến chúng lại bơi ra ngoe nguẩy bên thành bể, trông rất vui. Nhiều người còn nghĩ đây là một thú chơi tao nhã của nhừng người lính cách mạng. Thật vậy, sau một ngày nắng nóng gay gắt, sau mỗi buổi làm việc căng thẳng, vất vả mấy anh em thường ra đứng ngắm bầy cá bơi trong bể này. Anh Võ Đông Giang - Phó trưởng đoàn, anh Nguyễn Văn Hoàn - Trưởng tiểu ban Thủ tục và sau là Trưởng tiểu ban Trao trả thường hay đứng xem hoặc cho cá ăn, có lúc các anh đứng rất lâu... Nhìn bầy cá cảnh phần lớn là cá vàng, chỉ một vài con có màu sắc khác bơi lội tung tăng trong bể thật vui mắt, bao nỗi mệt nhọc, căng thẳng, phiền muộn sau ít phút như đã vợi hẳn, lòng người lâng lâng, nhẹ nhõm và thư thái... Anh Võ Đông Giang thường ra ngồi cắt tóc bên bể cá cảnh. Mái tóc anh thưa và mềm, rất ít sợi bạc. Tôi cắt tóc cho anh xong đã lâu, nhừng đoạn tóc còn vương trên bờ vai được phủi sạch mà anh vẫn còn ngồi đó. Anh đang nhìn cá hay ôang suy nghĩ một điều gì căng thẳng lắm. Chỉ đến khi đàn cá trong bể thấy đồng chí Lê Văn Trị đến cho ăn, chúng dồn hẳn về phía đó thì anh Giang mới đứng dậy ra về...
Anh Nguyễn Văn Hoàn cũng thường hay đến cho cá ăn. Có lần anh đứng rất lâu bên bể cá cảnh, đó là sau một cuộc họp rất căng thẳng. Chiều hôm ấy, Mỹ - ngụy hẹn đại diện của đoàn B đến họp kín tại phòng họp "bốn bên" cách trại Đa-vít hơn một cây số. Hai xe quân cảnh đến đón. Xe của đoàn ta có một nhân viên an ninh quân đội ngụy đi cùng, lái xe cũng là người của họ. Trên xe chỉ có anh Hoàn và tôi Trước khi đi anh Hoàn chỉ dặn: "Không được để chúng bắt cóc!". Tôi đã xác định từ trước, kể cả trường hợp xấu nhất, nếu cần dù có phải hy sinh, trong người tôi lúc đó có khẩu súng K59 và hai băng đạn... Chiếc xe Pho của chúng tôi đi giữa, phía trước và phía sau là xe quân cảnh. Đến phòng họp "bốn bên" (nay là phòng giao ban của C59B thuộc Bộ Tổng tham mưu trong sân bay Tân Sơn Nhất) chúng tôi xuống xe. Một đại úy ngụy đón anh Hoàn vào phòng họp. Còn lại, tôi đứng ngay ngoài cạnh cửa. Hơn một tiếng sau, cánh cửa mở, anh Hoàn ra và nói: "Ta về thôi ! ".
Ra xe, chúng tôỉ trở về vẫn "được" xe quân cảnh đưa đón như lúc đi. Tôi thấy vẻ mặt anh đăm chiêu, vầng trán vốn đã nhiều nếp nhăn tuổi tác dường như hằn sâu hơn, tôi nghĩ chắc chắn cuộc họp kín ấy không đem lại kết quả gì, rất căng thẳng (!) Thời kỳ này Mỹ - ngụy không chịu trao trả người của ta đang bị chúng giam cầm đày đoạ. Trong số họ, có cô nữ sinh Võ Thị Thắng. Chúng trắng trợn tuyên bố. "Trả những người đó cho các ông là thả hổ về rừng à?...". Chúng ngoan cố dây dưa, tìm mọi cách đánh tráo người và thay đổi địa điểm giam giữ. Chúng tra tấn, giết hại và thủ tiêu bí mật những người đồng chí, đồng đội và đồng bào yêu nước trung kiên của ta. Chúng trộn những tù hình sự, phạm binh của chúng vào lẫn với danh sách người của ta khi trao trả, chúng ném bom, bắn phá, phục kích, tập kích vào địa điểm trao trả...
Về tới trại Đa-vít, xuống xe, anh Hoàn đi thẳng về phòng nghỉ, cất chiếc cặp tài liệu, gọi là cặp tài liệu nhưng mọi thứ giấy tờ ấy đều có thể công khai nếu địch có chiếm đoạt được! Anh mặc bộ đồ pi-gia-ma màu ghi thay cho bộ quân phục và ra đứng bên bể cá. Bầy cá thấy có bóng người liền kéo nhau ra khỏi nhủng đám bèo bơi về phía anh. Những mẩu bánh quy ngon ngọt được thả xuống, bầy cá tranh nhau đớp. Mặt nước xao động, tung bọt, mấy giọt nước bắn lên thành bể... Anh nhìn đàn cá ăn một lúc, tôi thấy anh đã khác hẳn, bao ưu phiền căng thẳng biến khỏi trên khuôn mặt gầy guộc, xanh xao bởi nhiều năm sốt rét rừng hành hạ. Anh ít khi cười, nhất là sau những lần họp căng thẳng, trong cuộc đấu trí hết sức gay go với kẻ thù về việc trao trả người của ta đang bị chúng giam giữ, đoạ đày. Anh lại đến với bầy cá cảnh, cho cá ăn, vài phút sau anh đã có thể chia sẻ niềm vui đó với mọi người xung quanh...
Thế mới biết bể cá cảnh của chúng tôi đem lại nhiều giá trị bất ngờ, những phút giây thư giãn quý báu ấy giúp cho mọi người quên đi nhọc mệt, quên đi căng thẳng, hiểm nguy đang rình rập xung quanh. Bể cá cảnh còn có một ý nghĩa lớn lao mang tính nghiệp vụ của chúng tôi nữa, đó là vật thử các độc chất trong thức ăn, trong lương thực và nguồn nước rất hiệu quả. Đường nước ăn được đưa qua từ bể cá đến nhà bếp. Khi cơm và thức ăn đã chín, chuẩn bị chia trên các bàn ăn thì người "háu đói" nhất của chúng tôi xuống "xin" chị nuôi mỗi nồi, mỗi chảo một ít đem về. Lập tức người tình nguyện ăn thử, uống thử. Một chỗ dùng hoá chất thử phản ứng sinh hóa xem xét, phân tích trên phương tiện được trang bị. Còn một việc không thể quên là cho cá cảnh ăn. Hoa quả thì chú khỉ được thưởng thức. Sở dĩ sử dụng cá cảnh vì những con vật này dễ cảm nhận với các độc chất gây nguy hại đến sức khoẻ con người.
Anh Lê Văn Trị là người được giao nhiệm vụ chăm sóc bầy cá cảnh đó. Đã nhiều năm, đến nay bể cá không còn, người nuôi dưỡng cá cũng không còn, nhưng cuộc chiến đấu cam go trên trận tuyến thầm lặng ấy của những sĩ quan an ninh Quân giải phóng B2 vẫn nguyên vẹn trong tôi. Trong cuộc chiến đấu ấy có đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống trước ngày Đại thắng mùa Xuân. Tôi viết lại những dòng này để mọi người có thể hiểu thêm về những công việc thầm lặng đó, không phải ai cũng biết, cũng hiểu và sẽ thông cảm hơn vì yêu cầu của nhiệm vụ lúc đó không tiện nói ra.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #301 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 01:24:25 pm » |
|
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM VỚI CUỘC ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO QUÂN SỰ GIỮA SÀO HUYỆT ĐỊCH. Nguyễn Như Kim Nguyễn Hùng Đào Có thể nói ít có một cuộc chiến tranh nào lại có sự thu hút đặc biệt dư luận nói chung và giới báo chí nói riêng như cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, nhất là trong thời gian thực thi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam (1973 – 1975) Cả ta và đối phương đều có sự quan tâm đặc biệt đến mặt trận dư luận nhằm tranh thủ dư luận trong nước và quốc tế đối với cuộc chiến tranh cũng có thể nói là có một không hai này của thế giới. Cả ta và đối phương đều nhận rõ vai trò to lớn, tác dụng tích cực của dư luận mà một trong những kênh tạo dựng và hướng dẫn dư luận là các cơ quan thông tin đại chúng, các nhà báo đối với cuộc chiến tranh đang diễn ra rất quyết liệt ở Việt Nam. Lúc này Sài Gòn là trung tâm hội tụ đông đảo các báo hình, báo nói, báo viết…Vì lẽ đó vào thời điểm này miền Nam Việt Nam là một tiêu điểm của tình hình nóng bỏng trên thế giới, lại là nơi Mỹ buộc phải chấp nhận rút quân, công nhận quyền độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Rất nhiều hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và các tờ báo lớn của 21 nước (như: Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Úc, Canada, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Na Uy,…) với hơn một trăm phóng viên tới Sài Gòn để thông tin về sự kiện này của thế giới. Riêng Mỹ, nước gây ra cuộc chiến tranh xâm lược này có tới hai hãng thông tấn, 3 hãng truyền hình, 1 đài phát thanh và 15 tờ báo lớn (như: Washington Post, Los Angeles, Time,…) so với 33 tờ báo của 20 nước khác. Họ những tưởng rằng với cái gọi là “ưu thế” chủ nhà lại được tạo mọi thuận lợi về sinh họat, về nghiệp vụ…họ có thể tranh thủ được giới báo chí nước ngoài thông tin cá nhân cho họ. Họ đã nhầm. Đúng hơn là họ đã sai lầm và phải trả giá đắt cho sự sai lầm đó. Riêng thông tấn xã Việt Nam, cơ quan thông tin duy nhất lúc bấy giờ đảm nhận trách nhiệm nặng nề, quan trọng và cấp bách như tiếp tục chi viện sức người, sức của cho TTXGP, cử người phục vụ hội nghị Paris về Việt Nam, đặc biệt là chủ động chuẩn bị sớm đội ngũ phóng viên, kỹ thuật viên (cả phương tiện truyền tin) mà Ban lãnh đạo TTXVN dự kiến là sẽ có thời điểm tham gia vào đội quân đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Nhiệm vụ của TTXVN trong cuộc hội đàm tại Paris về Việt Nam, có ba nhóm phóng viên, biên tập hàng ngày cung cấp tin tức trong nước cho lãnh đạo phái đoàn, đồng thời gửi tin về Tổng xã TTXVN mọi họat động của hai phái Đoàn ta tại các phiên họp chính thức và sau này ở các cuộc gặp riêng đều được phóng viên TTXVN gửi từ Paris về Tổng xã để đăng vào các lọai bản tin khác nhau cung cấp cho lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu ở Hà Nội cũng như của các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương tham khảo, nghiên cứu, sử dụng rộng rãi. Trong suốt 5 năm liền (1968 – 1973) nhóm phóng viên, biên tập viên của TTXVN thay nhau sang Paris làm việc để phục vụ cho 2 phái đoàn ta, thông tin kịp thời tiến trình hội nghị, đặc biệt là thắng lợi ngoại giao tuyệt vời mà 2 đoàn ta đã kiên trì đấu tranh giành được trong suốt 5 năm tại bàn hội nghị qua toàn văn Hiệp định Paris về Việt Nam mà cả 4 bên đã ký kết. Hiệp định Paris về Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973. TTXVN lại một lần nữa “sẻ người, sẻ của” phục vụ nhiệm vụ mới này. Lãnh đạo TTXVN đã chọn một đội ngũ nhà báo, cán bộ lỹ thuật có trình độ nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, biệt phái sang Bộ Quốc phòng, biên chế thành sĩ quan báo chí để cùng với một số cơ quan thông tin đại chúng khác vào trại Đavít tổ chức thành Ban Thông tấn báo chí của Đoàn đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo 2 đoàn đại biểu quân sự CPVNDCCH và CPCMLTCHMNVN. Ban Thông tấn báo chí của ta gồm 32 người thì gần một nửa là cán bộ TTXVN hình thành 3 bộ phận chính là phóng viên tin, ảnh, kỹ thuật. Trong đó có nhà báo Nguyễn Như Kim, Nguyễn Châu Quỳ, Nguyễn Hùng Đào, Lương Mạnh, 2 phóng viên ảnh: Lâm Tấn Tài (TTXVN), Nguyễn Thanh Hùng; bộ phận kỹ thuật gồm: Kĩ sư vô tuyến Phan Đức Tam, Tiêu Văn Thành, Trương Việt Cường các kỹ thuật viên Nguyễn Đình Soan, Nguyễn Ngọc Sơn, Phạm Văn Khang và điểm báo viên Ngô Duy Phùng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #302 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 01:25:51 pm » |
|
Đội ngũ cán bộ, phóng viên, kỹ thuật này của TTXVN còn đảm nhận nhiệm vụ là chuyển hàng tấn máy móc, thiết bị kĩ thuật từ Tổng xã ở Hà Nội vào trại Đavít (Sài Gòn). Đây là máy phát tin mạnh – 500KW cùng với các thiết bị phát ảnh vô tuyến, các cột và dây ăng – ten phục vụ cho máy phát. Ngoài ra, còn một máy phát điện quay tay. Tất cả đều đóng trong các thùng gỗ với trọng tải khoảng 1,5 tấn.
Nhóm tiền trạm của TTXVN đến Sài Gòn vào chiều 28/1/1973, đối phương cản trở không để ta vào trụ sở. Đến chiều ngày 29/1/1973 ta mới vào được trại Đavít. Công việc đầu tiên và quan trọng nhất mà nhóm tiền trạm này làm ngay là lắp đặt hệ thống té-lé-típ tại trụ sở của 2 đoàn ta giữa sự phong tỏa bao vây của mạng lưới thông tin dày đặc của phía Sài Gòn. Sau thời gian lao động khẩn trương khắc phục nhiều khó khăn về kĩ thuật, nhóm chúng tôi đã lắp đặt xong hệ thống truyền thông duy nhất và khá hiện đại này. Đến tối ngày 29/1/1973 chúng tôi đã liên lạc được Tổng xã tại Hà Nội và bắt đầu phát những tin tức đầu tiên về Hà Nội. Từ đây, hệ thống truyền tin này trở thành phương tiện thông tin hiện đại của 2 đoàn ta giữa “ốc đảo” Cách mạng. Có thể nói chính quyền Sài Gòn dã tâm đưa 2 phái đoàn đóng quân tại trại Đavít nhằm âm mưu thâm độc cô lập, bao vây, bưng bít dư luận trong nước và quốc tế. Phía Sài Gòn tìm mọi thủ đoạn chèn sóng, phá sóng, gây nhiễu. Cán bộ kĩ thuật của ta đã phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật chống lại thủ đoạn trên của đối phương, bảo đảm thông tin thông suốt. Đoàn ta tìm mọi cách bảo vệ an toàn cho phương tiện thông tin này. Quá trình bảo vệ hệ thống máy móc phải luôn đề phòng khả năng đối phương tấn công trại cướp, phá máy móc, cướp tài liệu. Đã có lần chính quyền Sài Gòn cho bọn côn đồ tập trung rất đông ở cổng trụ sở của ta hò hét, hô đả đảo nhằm mục đích thăm dò thái độ đối phó của ta, để lấy cớ xông vào cướp, phá. Lãnh đạo đoàn ta sáng suốt chuẩn bị phương án đối phó rất chu đáo, rất bình tĩnh khiến bọn chúng không dám hành động gì.
Ngoài phương án, kế hoạch bảo vệ chung của đoàn, riêng chúng tôi là: Nguyễn Hùng Đào, Nguyễn Ngọc Sơn và Nguyễn Đình Soan lúc đó, chẳng ai lo sợ nếu chúng xông vào hành hung, chúng tôi sẽ bảo vệ hệ thống te-lé-típ của đoàn và lập tức hình thành 2 “tuyến phòng thủ” bảo vệ máy móc. Chúng tôi dùng dây điện, dây thép và gậy gộc chằng, buộc cả 2 tuyến cửa. Cả ba chúng tôi tập trung giữ tuyến cửa số 1. Nếu chúng phá vỡ cửa xông vào thì Sơn người to, béo, khỏe mạnh nhất chống trả và sẽ rút sau cùng vào tuyến cửa thứ hai bảo vệ. Hò hét mãi rát cổ, bỏng họng để hù dọa và rồi thấy trơ trẽn quá nên chúng tự giải tán, rút lui. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến đấu ta tổ chức đào hầm to, rộng đủ bảo vệ người và máy móc, đề phòng khi địch liều lĩnh tấn công vào trại Đavít.
Không phải chỉ có những cán bộ kĩ thuật của TTXVN mà cả lãnh đạo đoàn ta ở trại Đavít hiểu rõ hơn ai hết, rằng trong điều kiện bị bao vây, phong tỏa, hệ thống thu, phát tin, ảnh này của đoàn ta lại càng quan trọng nhờ nó ta đã phá được âm mưu cô lập, phong tỏa của đối phương, liên hệ thường xuyên với bên ngoài, chủ yếu là với Trung ương và Trung ương Cục miền Nam.
Với cương vị là sĩ quan báo chí của đoàn, các phóng viên, biên tập viên TTXVN tại đây họat động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như tham gia đi giám sát Mỹ rút quân, các cuộc trao trả nhân viên quân sự, dân sự, các cuộc họp báo thường kỳ của đoàn ta tại trại Đavít, dự thính nhiều cuộc họp cấp trưởng đoàn, điểm báo Sài Gòn, theo dõi đài phát thanh Sài Gòn, chương trình phát thanh bằng tiếng Việt của đài tiếng nói Hoa Kỳ (Mỹ), đài BBC (Anh)… Một trong những công việc mà chúng tôi làm hàng giờ, hàng ngày là điểm phần lớn các báo ở Sài Gòn, theo dõi đài phát thanh Sài Gòn… nắm bắt nhanh, kịp thời nhất dư luận Sài Gòn, phát hiện những âm mưu, thủ đoạn…của chính quyền Sài Gòn để báo cáo ngay cho lãnh đạo đoàn tại các buổi giao ban vào buổi sáng hàng ngày hoặc bất cứ lúc nào nếu thấy cần thiết.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Ba, 2012, 06:29:48 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #303 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 06:35:07 pm » |
|
Đó có lần, một số báo chính của Sài Gũn đưa tin rằng “Việt cộng” trong trại Đavít đào hầm, hào giao thông từ trong trại ra ngoài. Chúng tôi báo cáo ngay tin đó với lãnh đạo Đoàn. Vài ngày sau, chuẩn tướng trưởng đoàn Sài Gòn Phan Hòa Hiệp ngỏ ý muốn vào thăm trại Đavít, lãnh đạo Đoàn ta đồng ý. Hôm hắn vào, ta cho cán bộ hướng dẫn đi nhiều nơi để cho y biết việc phao tin ta đào hầm là bịa đặt. Hôm sau, khi điểm báo Sài Gòn, chúng tôi thấy hầu hết các báo đều đưa tin tướng Phan Hòa Hiệp thăm “Việt cộng” ở trại Đavít nhưng lại không nói gì đến việc “Việt cộng” đào hầm nữa. Thế là “Gậy lưng, đập lưng ông”. Thực tế đó đó xóa đi sự nghi ngờ, vu cáo vô căn cứ của chính quyến Sài Gũn trong việc thực thi Hiệp định. Giám sát đấu tranh buộc Mỹ rút quân đúng thời hạn, trao trả, họp cấp trưởng đoàn, họp báo thường kỳ, quan hệ với UBQT… là những hoạt động chính quan trọng, sôi động phong phú của lãnh đạo Đoàn và cũng là chủ yếu của báo chí ta ở trại Đa-vít. Các hoạt động này đã góp phần rất quan trọng vào cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận, làm cho dự luận trong nước và thế giới càng hiểu rõ hơn thiện chí của ta, thái độ ngoan cố, hành động trắng trợn vi phạm nghiêm trọng tất cả các điều khoản của Hiệp định của chính quyền Sài Gòn. Do đó, dư luận rộng rãi trên thế giới ngày càng đồng tình ủng hộ ta, cô lập đối phương. Các phóng viên ảnh cũng đã hoạt động liên tục, góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh chung này. Các phóng viên ảnh ( Lâm Tấn Tài, Nguyễn Thanh Hùng…) đã ghi lại và phát đi cho báo chí trong nước và nước ngoài những bức ảnh minh họa rất cụ thể sống động về hoạt động của Đoàn. Trong đó chúng tôi rất chú ý phát đi những bức ảnh về việc giám sát quân Mỹ và chư hầu rút về nước, về các cuộc trao trả và đặc biệt là những hình ảnh về tù chính trị, tù binh của ta phẫn nộ, đả đảo chế độ nhà tù hà khắc dã man của Mỹ ngụy, hình ảnh về sự vui mừng khi anh chị em ta được trở về với cách mạng đoàn tụ với gia đình… Chính quyền Sài Gòn một mặt điên cuồng, trắng trợn vi phạm Hiệp định nhưng lại lấp liếm tội ác lớn tiếng vu cáo phía ta vi phạm Hiệp định. Các nhà báo ở Sài Gòn, nhất là những nhà báo nước ngoài một số tuy biết phía Sài Gòn vi phạm Hiệp định nhưng vì nhiều lý do nên họ khó nói ra sự thật; một số chưa tin rằng phía ta thực sự tôn trọng ngừng bắn, số khác cho rằng cả hai phía đều vi phạm Hiệp định. Lãnh đạo Đoàn ta chủ trương đấu tranh không khoan nhượng với hành động và luận điệu xuyên tạc của đối phương nhưng bằng mọi cách tranh thủ lực lượng báo chí, nhất là giới báo chí nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Ban thông tấn báo chí của Đoàn hoạt động có hiệu quả. Ta hiểu rõ mọi động thái của Đoàn ta đối với phía Sài Gòn, với UBQT, nhất là cách giải quyết có tình, có lý những sự việc diễn ra trên khắp miền Nam Việt Nam đều được giới bảo chí theo dõi sát sao, thông tin kịp thời nên lãnh đạo Đoàn và sĩ quan báo chí của ta luôn có thái độ cư xử, tranh thủ họ một cách đúng mức. Còn chính quyền Sài Gòn thì xử sự cửa quyền, hách dịch, thô bạo và thấy dư luận không có lợi cho họ thì lập tức thực hiện biện pháp hạn chế trắng trợn như: cản trở không cho nhà báo đi dự họp báo thường kì của Đoàn ta, cắt điện thoại liên lạc của họ với Đoàn ta. Trong 8 tuần lễ liền từ 13/4 đến 1/6/1974 họ tìm cách phá không để Đoàn ta tổ chức họp báo. Họ còn có hành động trắng trợn , thô bạo xúc phạm giới báo chí nước ngoài như ngày 6/7/1973 trục xuất đại diện báo Asahi Shimbun của Nhật Bản vì đã dám nói lên sự thật: "Việt Nam Cộng Hòa còn giam giữ hàng trăm ngàn tù chính trị". Nghiêm trọng và bỉ ổi hơn là đầu năm 1975 cảnh sát Sài Gòn đã bắn chết nhà báo Pháp Paul Léandry ngay tại trước cửa văn phòng cảnh sát vì đã đưa tin không lợi cho chế độ Sài Gòn và cãi lại cảnh sát khi bị chất vấn(?).  Phan Hòa Hiệp "xem" giếng nước trong trại Đa-vít
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Ba, 2012, 09:49:56 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #304 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 06:36:53 pm » |
|
Từ thực tế đó các nhà báo nước ngoài và dư luận thế giới ngày càng thấy bộ mặt thật, ý đồ phá hoại có hệ thống và trắng trợn Hiệp định của tập đoàn bán nước Nguyễn Văn Thiệu; họ ngày càng hiểu ta hơn, đồng tình với thái độ và hành động của ta, nếu không cũng tỏ ra thông cảm. Thông tin của họ ngày càng có lợi cho ta hơn, góp phần đáng kể vào cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận của ta. Một cử chỉ đẹp đáng được ghi nhận lúc bây giờ là Ban chấp hành Hội nhà báo nước ngoài ở Sài Gòn đã xin vào trại Đa-vít chào và bày tỏ cảm tình với lãnh đạo Đoàn và gặp gỡ sĩ quan báo chí của Đoàn ta. Có trường hợp khiến Đoàn ta cảm động nhất là một nhà báo Mỹ, tranh thủ lúc giải lao tại cuộc họp báo đã đến gặp thượng tá Dương Đình Thảo (ủy viên Đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN) chủ trì cuộc họp báo, trao một hộp bánh và nói rất chân tình rằng: " Tôi biết các ông và nhân dân Việt Nam đang kỉ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi không mang hoa đến được vì sẽ bị chính quyền Sài Gòn ngăn cản và gây khó khăn cho hoạt động nghề nghiệp của tôi…" Nhiều phóng viên nước ngoài xin đi thăm vùng giải phóng đã được Đoàn ta tổ chức cho đi và khi về họ thông tin khá tốt, có lợi cho ta. Một số nhà báo hết hạn trước khi về nước tìm cách xin gặp lãnh đạo đoàn ta chào từ biệt và nói những lời tốt đẹp và sau này khi về nước chính họ là những người đưa tin, viết bình luận hướng dư luận có lợi cho ta…
Quân ta pháo kích vào sân bay Biên Hòa, đốt cháy kho xăng Nhà Bè thì các nhà báo, nhất là các nhà báo nước ngòai tới tấp gọi điện thoại hỏi sĩ quan báo chí của Đoàn ta. Vậy phải trả lời thế nào đây? Thừa nhận hay phủ nhận? Lãnh đạo Đoàn ta bàn bạc kĩ chủ trương và đã có trả lời tại cuộc họp báo rằng: Quân giải phóng đã trừng trị quân đội Sài Gòn theo lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam và không chỉ đánh trả tại chỗ mà còn giành quyền trừng trị tại các điểm xuất phát vi phạm. Thái độ của Đoàn ta về sự kiện này rất rõ ràng nên các nhà báo cũng như dư luận càng hiểu rõ ta hơn. Bị ta đánh ngày càng đau, thiệt hại ngày càng nặng Nguyễn Văn Thiệu càng lồng lộn, điên cuồng, huy động cả hải, lục, không quân ném bom, hành quân lấn chiếm đánh phá vùng giải phóng, giết hại đồng bào ta, trả đũa hai phái Đoàn ta ở trại Đa-vít, phá các cuộc họp trưởng Đoàn, cắt điện thoại, cấm không cung cấp báo chí Sài Gòn cho ta, ngăn cản các cuộc họp báo, đồng thời gào thét kêu gọi thế giới lên án ta, nhưng dư luận quốc tế không ủng hộ, ngược lại dự luận ủng hộ ta ngày càng tăng. Cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận lúc này đối phương luôn bị động đối phó, chống đỡ, ta luôn ở thế chủ động tiến công. Nếu trước đây chỉ một vài hành động quân sự nhỏ với tính chất tự vệ chính đáng của ta cũng bị báo chí của họ phê phán thì lúc này thông tin về những trận đánh của ta họ đưa tin, bình luận khá khách quan có tác dụng tuyên truyền có lợi cho ta nhiều hơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #305 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 06:38:21 pm » |
|
Tình hình trên cho ta và dư luận thế giới thấy rõ là không còn khả năng đạt được kết quả gì tích cực tại bàn hội nghị nữa, ngày 22/6/1974, Bộ ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN ra tuyên bố đình chỉ họp Ban liên hợp quân sự và sau đó, ngày 8/10/1974 Chính phủ CMLTCHMNVN ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam trong đó có việc chính thức đình chỉ mọi cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương và Tổ liên hợp quân sự bốn bên, rút khỏi diễn đàn La Celle Saint Cloud ở Pháp… Thế là từ tháng 10/1974 trở đi không còn hoạt động chung của Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương và Tổ liên hợp quân sự bốn bên và cũng không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa Đoàn ta và Đoàn Sài Gòn nữa, nhưng báo chí thì vẫn tiếp tục hoạt động. Đối phương vẫn bao vây trại Đa-vít, nhưng chúng ta không nằm yên mà vẵn tiếp tục hoạt động sôi nổi, vẫn tiếp tục quan hệ và làm việc bình thường với UBQT (hai đoàn bạn BaLan và Hung-ga-ri), với các nhà báo nước ngoài vì lúc này chính họ cũng muốn tăng cường quan hệ với Đoàn ta và với sĩ quan báo chí của ta. Chính quyền Sài Gòn bực tức, lồng lộn muốn nhổ cái gai trong mắt họ, muốn tống Đoàn ta ra khỏi Sài Gòn, nhưng không còn khả năng để làm việc đó. Họ muốn thông qua UBQT và các nhà báo nước ngoài để thăm dò thái độ, chủ trương của ta. Cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận lúc này ta vẫn ở thế chủ động. Các sĩ quan báo chí của Đoàn ta thường xuyên quan hệ với các nhà báo nước ngoài đưa tin cho họ, tranh thủ họ thông tin có lợi cho ta. Các Đoàn trong UBQT lại rất cần liên lạc với Đoàn ta để theo dõi diễn biến phức tạp của tình hình. Đặc biệt là báo chí nước ngoài coi đây là thời kì họ có cơ hội thông tin phong phú nhất, mới nhất, nóng hổi, hấp dẫn nhất về tình hình đang diễn biến hàng giờ, hàng ngày trên toàn miền Nam Việt Nam gửi về tòa soạn của họ, nên họ càng sốt sắng giữ mối quan hệ với lãnh đạo Đoàn ta và sĩ quan báo chí của Đoàn. Một nghịch lý là trước đây phía Sài Gòn luôn tìm cách ngăn cản sự tiếp xúc của Đoàn ta với báo chí, nhất là các nhà báo nước ngoài và phá các cuộc họp báo của ta, nhưng trong tháng 3 và tháng 4 năm 1975 họ lại để thông suốt điện thoại và cho các nhà báo dễ dàng vào trại Đa-vít hàng tuần, trong đó có khá nhiều "nhà báo" Sài Gòn. Các sĩ quan báo chí của ta cũng nhân cơ hội này tiếp xúc với họ, tranh thủ họ bằng nhiều cách… Chính quyền Sài Gòn cũng tận dụng mọi cơ hội, trong đó có mối quan hệ của Đoàn ta với giới báo chí để tìm hiểu ý đồ của ta, xem ta đánh đến đâu, có nối lại thương lượng nữa không; đặc biệt là có nhà báo nước ngoài hỏi thăm dò Đại tá Võ Đông Giang rằng các ông có tấn công Sài Gòn không? Đại tá Võ Đông Giang trả lời hóm hỉnh rằng: "Rất tiếc là Bộ chỉ huy của chúng tôi không có thói quen nói trước ý đồ của mình…" Với cách trả lời khéo léo này, ta vẫn tranh thủ được dự luận của giới báo chí và vẫn giữ được bí mật quân sự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #306 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 06:40:06 pm » |
|
Đặc biệt là trong những cuộc họp báo cuối cùng của Đoàn ta, phòng họp báo tuy khá rộng nhưng cuộc họp nào các nhà báo cũng đến dự rất đông với hơn 100 người trong đó mọi người nhớ mãi là cuộc họp báo cuối cùng vào ngày 26/4/1975 trùng hợp ngẫu nhiên với ngày mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đại tá Võ Đông Giang , phó trưởng đoàn CPCMLTCHMNVN, người trực tiếp phụ trách và chỉ đạo Ban Thông tấn báo chí của Đoàn (B), chủ trì cuộc họp cách 4 ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thống nhất đất nước (30/4/1975). Vào hồi 11giờ 30 ngày 30/4/1975, ngụy đã nhào, chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ, các cơ quan thông tin và bưu điện địch tan rã… Tin tức, bài vở của phóng viên nước ngoài không phát đi được. Họ nhờ hệ thống Té-lé-típ của Đoàn ta truyền tin cho họ. Sáng 01/5/1975, một phóng viên báo nước ngoài đã có sáng kiến trương trên xe một lá cờ lớn xanh đỏ có ngôi sao vàng (cờ của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) cùng với một tấm biến lớn có chữ "nhà báo" xin vào trại Đa-vít cho kì được, vừa chúc mừng ta thắng lợi, vừa nhờ Đoàn ta giúp phát tin, bài đi bằng Téles và vô tuyến điện. Một số nhà báo nước ngoài khác cũng bắt chước tiếp tục vào theo nhờ đoàn ta giúp họ chuyển tin về nước. Hoạt động báo chí lúc này thật sôi nổi, nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Tin tức, bình luận của họ phát ra nước ngoài đã góp phần đáng kể vảo việc tuyên truyền, tranh thủ dư luận thế giới đồng tình, ca ngợi chiến thắng của quân và dân ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử này. Trên mặt trân đấu tranh dư luận, nhiều cán bộ, phóng viên, biên tập viên, kĩ thuật viên có năng lực, có kinh nghiệm của TTXVN, TTXGP, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh giải phóng, các báo lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Tiền Phong… được lựa chọn vào trại Đa-vít hình thành Ban thông tấn báo chí đã giúp đắc lực cho lãnh đạo hai đoàn ta trên trận địa quan trọng này. Ban thông tấn, báo chí với 32 cán bộ, nhân viên và phương tiện truyền tin của TTXVN đưa từ Hà Nội vào thường xuyên bị phía Sài Gòn bao vây, phá sóng, gây nhiễu và phải đấu tranh trên mặt trận dư luận với cả bộ máy chiến tranh tâm lý của đối phương với hàng trăm nhà báo Sài Gòn và nước ngoài có mặt tại Sài Gòn. Nhưng trên mặt trận này chúng ta đã giành được thắng lợi ròn rã. Những tên lính Mỹ cuối cùng phải rời khỏi miền Nam Việt Nam vào ngày29/3/1973, ngụy cũng đã nhào vào lúc 11giờ 30 ngày 30/4/1975. Miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng. Vai trò của TTXVN tại trại Đa-vít đã kết thúc ngay sau chiến thắng lịch sử vang dội này. Mấy ngày sau phân xã TTXVN tại Sài Gòn chính thức được thành lập, trụ sở tại 120 Nguyễn Thị Minh Khai với đội ngũ phóng viên, biên tập viên hùng hậu từ Hà Nội vào, từ căn cứ (R) về. Đồng chí Đào Tùng từ căn cứ Tây Ninh về Sài Gòn cùng anh em phóng viên các mũi tiến quân vào Sài Gòn và từ trại Đa-vít ra, gặp nhau tại trụ sở phân xã trong niềm vui khôn tả. Các anh chỉ huy Quân đoàn 2 và sư đoàn 304 kết nghĩa cũng ghé qua Phân xã để cùng chia vui chiến thắng. Chúng tôi những thành viên của TTXVN (trong Ban Thông tấn - báo chí của Đoàn) được thành lập theo yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách hoạt động sội nổi, quên mình suốt 823 ngày đêm (từ 28/1/1973 - 30/4/1975) giữa sào huyệt quân thù và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vẻ vang mà lịch sử đã giao phó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #307 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 08:23:33 pm » |
|
HỌP BÁO Ở TÂN SƠN NHẤT HOÀNG KỲ Trên tay tôi là quyển sách "Điệp viên hoàn hảo" của tác giả Loay Berman còn nồng hăng mùi mực in sách của Nhà xuất bản thông tấn xã Việt Nam ấn hành. Nhìn tấm ảnh chân dung nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn - Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân, in trên trang bìa cuốn sách, tôi như thấy lại anh ngày nào phải sống hai mặt trong vai người phóng viên tài ba đầy uy tín của tạp chí Times cách nay đã mấy chục năm. Ngày đó, tôi là sỹ quan liên lạc của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN-ĐOÀN B) trong Ban liên hợp quân sự hai bên TW (BLHQS hai bên TW) có trụ sở tại "Trại Đa-vít" nằm gần cuối đường băng sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn). Cuối năm 1973 sau gần 11 tháng ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (Hiệp định Pa-ri) Mỹ ngụy trắng trợn phá hoại Hiệp định với hàng trăm nghìn trường hợp vi phạm. Ngay từ khi chữ ký chưa kịp ráo mực họ đã liên tiếp gây ra, càng ngày càng nghiêm trọng. Hàng ngày bộ máy tuyên truyền khổng lồ của họ ra sức gào thét: "Không nhượng đất, không liên hợp, không nói chuyện với cộng sản, không ngừng bắn và không trung lập..." chúng liên tiếp mở các cuộc tiến công, càn quét, lấn chiếm hòng: "Cắm cờ giành đất", "Tràn ngập lãnh thổ", "Bình định"... Trước thói hung hăng điên cuồng của đối phương, lực lượng vũ trang cách mạng đã kiên quyết giáng trả và gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Rạng sáng ngày 03/12/1973 kho xăng Nhà Bè của địch bị đất cháy, hàng triệu lít xăng dầu dự trữ chiến lược đã dựng lên cột lửa khổng lồ làm sáng rực một góc trời ngoại vi Sài Gòn. Đám cháy kéo dài mấy ngày đêm sau mới dập tắt được. Từ "Trại Đa-vít", chúng tôi nhìn rất rõ quầng lửa, khói phủ ngang trời. Có người vui quá nhảy lên reo to: "Trúng rồi! trúng rồi! Anh em ta đánh giỏi lắm!" mọi người đổ ra sân hướng về phía cột lửa khổng lồ ấy. Trên những chòi gác cao của địch bao quanh "Trại Đa-vít" những họng súng trọng liên đang chĩa nòng, sẵn sàng nhả đạn xuống khu vực chúng tôi ở. Những tên lính ngụy đứng trên đó, bên cạnh khẩu trọng liên, đang hằn học nhìn về phía quầng lửa Nhà Bè. Chắc chắn chúng cũng hoảng sợ như quan thấy, lo lắng cho thân phận một khi bị Quân giải phóng trừng trị!. Còn chúng tôi vẫn thản nhiên trước bao mối đe dọa đang rình rập quanh mình. Phía chân mây rạng đông đã ửng hổng. Một ngày mới của chúng tôi giữa hang ổ kẻ thù lại bắt đầu với bao công việc phải đương đầu trực diện với chúng. Mấy ngày sau, đoàn đại biểu quân sự ta tổ chức họp báo tại "Trại Đa-vít". Đến dự họp báo có các phóng viên của các hãng Thông tấn lớn trên Thế giới như: AFP, ÁP, UPI, REUTER KYODO NEW..., các báo và tạp chí khổng lồ như: WASHINGTON POST, LOS ANGELES TIMES, TIMES LONDON..., các hãng vô tuyến truyền hình: NBC, ABC, CBS, ZDF, SUSSE nvl, SUEDE nvl, NORVEGIAN RIDIO/nvI..., cùng phóng viên các tờ báo ở Sài Gòn... Trong số hàng trăm phóng viên có mặt tại buổi họp báo này, chắc chắn có người là nhân viên các cơ quan tình báo sừng sỏ trên thế giới, các cơ quan an ninh, tình báo, cảnh sát, mật vụ của Mỹ ngụy. Ngoài cổng trụ sở "Trại Đa-vít", đám "quân cảnh" ngụy hôm nay được tăng cường khá đông. Tiếng giầy da nện thình thịch trên đường Lê Văn Lộc chạy dọc bên ngoài khu vực đóng quân của ta. Có lẽ chúng muốn gây áp lực với phái đoàn ta sau đòn đánh hiểm Nhà Bè của Quân giải phóng (?). Các phóng viên đã ùa đến cổng trụ sở, mang vác lỉnh kỉnh các phương tiện hành nghề. Họ chỉ chờ cánh cổng mở ra là tràn ngay vào với vẻ háo hức thật sự. Có một phóng viên của hãng UPI bước nhanh tới trước cửa nhà hội trường nơi sẽ tổ chức họp báo, hồ hởi nắm chặt tay đồng chí Phùng Ngọc Bảo - Trung tá của đoàn B và nói: - Cú tập kích kho xăng Nhà Bè của các ông thật "xuya". Đòn đánh quá hiểm ! Anh trầm trồ khen ngợi, như thán phục sự dũng mãnh, tài trí vô song của lực lượng vũ trang cách mạng ta. Thật vậy kho xăng Nhà Bè có sức chứa hàng chục nghìn tấn xăng dầu cung cấp cho cả vùng Nam Trung bộ và Nam Bộ, chủ yếu phục vụ mục đích quân sự của Mỹ ngụy ở miền Nam Việt Nam. Nơi đây được canh phòng cẩn mật với tầng tầng lớp lớp các căn cứ quân sự địch bao bọc xung quanh nên việc Quân giải phóng tập kích thắng lợi vị trí này càng làm cho chúng vô cùng hoảng sợ, càng chứng tỏ rằng trên khắp miền Nam sẽ không có nơi nào là chỗ ẩn náu an toàn đối với bọn cướp nước và bè lũ tay sai. Chúng ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pa-ri, kiên trì bảo vệ thành quả cách mạng nhưng kẻ thù không muốn chấp nhận, chúng đã điên cuồng phá hoại Hiệp định và buộc ta phải ra tay trừng trị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #308 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 08:40:30 pm » |
|
 Kho xăng nhà bè cháy nhìn từ trại Đa-vít 6-11-1973  Trung Tướng Trần Văn Trà trong cuộc họp báo tại Đa-vít 1973  Họp báo sau vụ kho xăng Nhà Bè
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #309 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2012, 08:43:54 pm » |
|
Những phóng viên đến dự họp báo hôm nay có sáu, bảy nhà báo nữ người nước ngoài. Chị Chagnon người Mỹ, có mái tóc đen dài búi phía sau, trên khuôn mặt đẹp thường trực đôi mắt kính râm với cặp gọng to và đen. Chị Lau ra Palmer nữ phóng viên hãng truyền hình ABC rất thích làm quen, truyện trò với các nữ chiến sỹ Quân giải phóng làm nhiệm vụ trong "trại Đa-vít". Chị đội mũ cối gắn ngôi sao vàng trên nền xanh, đỏ và chụp ảnh lưu niệm cùng với các cô Chiến, Thuận, Hồng. Nhiều lần chị vào dự họp báo và bài viết của chị về thi hành Hiệp định của ta không hề tỏ ra ác ý, gay gắt, xoi mói... Câu hỏi của chị nêu ra thường chân thành, đúng đắn. Còn có một nhà báo nữ khác vào dự họp báo đã bí mật trao cho phái đoàn ta bản danh sách tù chính trị của ta hiện bị Mỹ ngụy giam giữ.
Tôi chú ý đến một nhà báo người châu á, vẻ thư sinh, mảnh mai, trên tay anh luôn có điếu thuốc lá cháy dở... Anh chuyện trò với các đồng nghiệp người nước ngoài là phóng viên của các tờ báo danh tiếng hoặc những hãng thông tấn lớn trên thế giới như BBC, UPI, NHK, AFP... Có lẽ anh rất giỏi tiếng Anh nên khi nói chuyện với các bạn đồng nghiệp tỏ ra lưu loát, tự tin, dễ hiểu. Anh ít trao đổi với những phóng viên người Việt Nam ( ! ?) Mới nhìn, ai cũng sẽ nghĩ anh làm việc cho tạp chí hoặc hãng thông tấn quốc tế nào đó nên không mấy người chú ý đến anh. Suốt buổi họp báo, anh cặm cụi ghi ghi, chép chép tưởng chừng như không bỏ sót một chi tiết nào. Anh ngồi gần cuối hội trường, xung quanh anh đều là những phóng viên nước ngoài.
Mọi người hướng lên phía bàn chủ tọa, trên bức tường có một lá cờ to nền xanh, đỏ với ngôi sao vàng chiếm một phần ba diện tích của cả bức tường. Dưới ngôi sao vàng năm cánh có chân dung của Bác Hồ kính yêu. Hai bên là chân dung chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Các máy ảnh, máy quay phim đều hướng về phía bàn chủ tọa nơi có sự bài trí rất trang trọng đó để ghi lại bằng hình ảnh cuộc họp báo đáng nhớ này...
Hôm nay, đồng chí Võ Đông Giang - Đại tá, Phó trưởng đoàn B là chủ tọa buổi họp báo. Trông anh có dáng dấp của một thấy giáo, vầng trán cao, da trắng, mình gầy, đôi mắt sáng long lanh. Anh đứng nhìn khắp lượt hội trường, ước lượng số người đến dự và tìm xem có nhà báo nào mới tới lần đầu (?). Anh mỉm cười thân mật, chào mọi người và ngồi xuống chiếc ghế giành cho chủ tọa. Hai bên anh là những trợ lý giúp việc lanh lợi, tận tụy.
Cuộc họp báo hôm nay đông hơn hẳn có lẽ vì sau khi ai sự kiến lớn: Ngày 5.11.1973, Quân giải phóng pháo kích sân bay Biên Hòa và ngày 3.12.1973 đốt cháy kho xăng Nhà Bè. Đây là cơ hội làm ăn của báo giới. Họ muốn trực tiếp gặp và nghe rõ từng nội dung trả lời phỏng vấn của người phát ngôn đoàn đại biểu quân sự của CPCMLTCHMNVN, biết được quan điểm lập trường, thái độ của cách mạng trước những hành động phá hoại Hiệp định của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Họ đến đông và rất sốt sắng với những thông tin nóng hổi nhất, giúp họ có những dự báo chính xác, phong phú với các bài bình luận sôi nổi, sắc sảo trước diễn biến đang xẩy ra từng ngày trên mảnh đất Miền Nam Việt Nam nơi được coi là trung tâm chú ý, điểm nóng của thế giới.
Các phóng viên trong nước và nước ngoài thay nhau trực tiếp nêu câu hỏi. Nhiều người viết lời phỏng vấn vào giấy gửi lên bàn chủ tọa. Các sĩ quan trợ lý sắp xếp thứ tự người đưa và tập hợp nội dung câu hỏi để khẩn trương dịch sang tiếng Việt sau đó chuyển tới đồng chí Võ Đông Giang. Anh cầm những tờ giấy đó, xem nội dung câu hỏi và lần lượt trả lời. Anh giải đáp tường tận, dõng dạc về lập trường; quan điểm trước sau như một của MTDTGPMNVN, của CPCM LTCHMNVN, của lực lượng vũ trang cách mạng luôn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định nhưng kiên quyết đánh trả những kẻ đã vi phạm.
Người phóng viên của tạp chí Times từ cuối Hội trường đang hý hoáy viết câu hỏi vào một tờ giấy, và nhờ mấy nhà báo nước ngoài ngồi gần đó chuyển giúp nội dung phỏng vấn lên bàn chủ tọa. Có lẽ ý kiến của anh trùng ý với ai đó nên chủ tọa xem qua, để sang bên cạnh và không phải trả lời cho riêng anh. Tôi thấy anh vẫn cặm cụi ghi chép...
Một nhà báo Mỹ ngồi giữa hội trường mạnh dạn đứng lên nêu câu hỏi:
- Thưa ngài đại tá, phó trưởng đoàn quân sự của CPCMLTCHMNVN, xin đại tá cho biết vụ tập kích kho xăng Nhà Bè rạng sáng ngày 03.12.1973 của Quân giải phóng, có thể gọi đó là hành động vi phạm lệnh ngừng bắn được ghi tại Điều 2, Điều 3 chương II của Hiệp định Pa-ri hay không?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|