Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:15:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315513 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #540 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2013, 05:07:03 pm »

Lời bàn thêm về lá cờ trong ngày 2/2/1973: Thực ra ta còn có ý định dùng lá cờ đó cho ngày 3/2 nữa. Song lãnh đạo đoàn họp và cho là việc lớn quan trọng hơn (tạm cất) và phải hơn 2 năm sau 1 lá cờ (tương tự) mới được treo ở vị trí cao nhất của Đa-vít! Và lần này thì ...  Grin thế này:

« Sửa lần cuối: 21 Tháng Mười, 2013, 05:13:34 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #541 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2013, 04:05:53 am »

        2.   Điểu tra tình báo, chiến tranh tâm lý được kẻ thù sử dụng khá rộng rãi bằng cả con người và kỹ thuật, cả trên diễn đàn hội nghị, trong tiếp xúc và cả ở tại nơi ăn ở, làm việc của hai Đoàn ta

        -   Những căn nhà mà họ chuẩn bị sẵn cho hai Trưởng đoàn của ta trông có vẻ khấm khá hơn các nhà khác. Nhưng các Trưởng đoàn ta không sử dụng. Bộ phận chống nghe trộm đã kiểm tra phát hiện và bóc gỡ một số máy ghi âm tinh xảo tại đây và một vài nơi khác.

        Có ưu thế về kỹ thuật thông tin, chúng phá sóng, gây nhiễu và đánh cắp bí mật qua hệ thống đó. Nhưng ta tỉnh táo ngăn chặn nên đã vô hiệu hoá được thủ đoạn này.

        -   Các loại sĩ quan ngụy bố trí ở các cấp Trưởng đoàn, Tiểu ban, các bộ phận thường liên hệ với ta kể cả những nhân viên phục vụ như lái xe, điện nước... đa số là tình báo, phản gián, tâm lý chiến hoặc được bọn tình báo Mỹ - ngụy giao nhiệm vụ cụ thể.
Dương Hiếu Nghĩa, một tên đại tá tâm lý chiến, là ủy viên phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy. Khi bị ta tiến công vạch mặt phá hoại thì Nghĩa bộc lộ: "Trong người tôi chỉ có dòng máu chống Cộng sản mà thôi".

        Trần Vĩnh Đắt, đại tá, trưởng tiểu ban trao trả của phía ngụy đã từng là giám đốc trại giam Phú Lợi và chính hắn đã tổ chức vụ đầu độc làm chết trên 1.000 người cách mạng bị giam giữ ở Phú Lợi. Trần Vĩnh Đắt cũng là một sĩ quan trong phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy.

        Phan Hoà Hiệp, một chuẩn tướng, phó đoàn ngụy, vốn là thanh niên vũ trang tay sai của Nhật, thanh niên phòng vệ đoàn, tham gia Đệ tam sư đoàn do bọn giả danh cách mạng đứng ra tố chức. Khi Pháp đánh trở lại thì lực lượng này đầu hàng giặc mà Phan Hoà Hiệp cũng nằm trong số đó.

        Các loại đại tá như Nguyễn Tử Đoá, Dương Đình Thụ, Phan Văn Tiến, các trung tá, thiếu tá như Trần Công Hầu, Đinh Công Chất, Phạm Huấn, Phan Nhật Nam... là những sĩ quan của CIA, cục an ninh quân đội ngụy, của bộ máy tâm lý chiến ngụy.

        Chúng là những tên có hận thù với cách mạng, rất ranh mãnh moi móc các tin tức bí mật và có nhiều thủ đoạn để khiêu khích, kích động và tác động tâm lý.

        -   Đáng chú ý là kẻ thù nắm hàng trăm tên đầu hàng phản bội từ hàng ngũ ta chạy sang. Chúng sử dụng số này làm nhiều việc để phá ta, trong đó có việc cung cấp những tin tức mà chúng biết về một số cán bộ, chiến sĩ trong phái đoàn ta. Chúng đặc biệt quan tâm tìm hiểu những thân nhân của các đồng chí ta mà những thân nhân đó đang sinh sống và làm việc trong vùng chúng tạm kiểm soát.

        Chúng ta đã phát hiện kẻ địch tìm hiểu được một số thân nhân của các đồng chí ta, chúng đã có kế hoạch tính toán cách sử dụng. Nhưng chúng ta đã tỉnh táo chặn tất cả các ngả đường. Đặc biệt có một trường hợp ta phát hiện ý định của địch hòng đánh sâu vào nội bộ ta. Chúng biết được Đoàn ta có một sĩ quan là anh ruột của thiếu tá ngụy Bùi Thiện Khiêm đang là sĩ quan ở binh chủng công binh nhưng được tình báo ngụy điều về phụ trách điện nước ở Trại Đa-vít.

        Ta phát hiện Khiêm có vài hiện tượng khác thường, lập tức triển khai một kế hoạch theo dõi chặt chẽ. Đúng như dự kiến, Khiêm gặp được người anh là sĩ quan ta. Và ta đã vô hiệu hoá thủ đoạn của địch sử dụng Khiêm. Đồng chí sĩ quan ta anh ruột của Khiêm chính là một mắt xích quan trọng chặn đứng tham vọng của địch, làm thất bại ý đồ đen tốì của chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #542 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2013, 02:22:44 am »

        2.   Kế hoạch tình báo hỗn hợp của các cơ quan tình báo, phản gián Mỹ - ngụy đánh phá hai Đoàn đại biểu quân sự "Bắc Việt" và "Việt cộng"

        Sau giải phóng, khai thác những tên an ninh, tình báo ngụy mà ta bắt được và những tài liệu mà ta thu được, ta biết rằng tất cả các hoạt động phá hoại hai Đoàn đại biểu quân sự ta đều nằm trong một kế hoạch tình báo hỗn hợp của địch.

        Kê hoạch này của 5 cơ quan cùng chuẩn bị và thực hiện. Đó là: Phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy, tổng nha cảnh sát ngụy, phòng 2 bộ tổng tham mưu ngụy, cục an ninh quân đội ngụy và CIA Mỹ ở Sài Gòn.

        Theo khai báo của Trần Hữu Độ - đại tá, cục phó cục an ninh quân đội ngụy và Nguyễn Văn Học - đại tá trưởng phòng phản tình báo cục an ninh quân đội ngụy, thì kế hoạch này đã được chuẩn bị trước khi ký Hiệp định Pa-ri. Kế hoạch này tập trung vào việc phá hoàn toàn các hoạt động Liên hợp quân sự của hai phái đoàn "Bắc Việt" và "Việt cộng" ỏ Trung ương đóng tại Sài Gòn.

        Chúng rắp tâm phá hoại, cản trở và làm cho tê liệt các hoạt động của Ban Liên hợp quân sự. Đồng thời, chúng âm mưu đi sâu cài cắm cơ sở trong hai Đoàn ta. có thể cố gắng lôi kéo một vài người chạy sang hàng ngũ chúng hoặc chạy sang nước thứ ba.

        Trần Hữu Độ và Nguyễn Văn Học còn khai báo, trong kế hoạch đó có dự kiến hoạt động phá hoại mạnh khi tình hình chiến trường diễn biến bất lợi cho chúng.

        Kế hoạch phá hoại mạnh đó là tổ chức việc đầu độc gây tổn thất lớn về nhân mạng; đó là tổ chức bắt cóc những nhân vật quan trọng hoặc có thể bắt cả số đông làm con tin. Trong trường hợp đặc biệt, không loại trừ việc xoá sổ cả hai Đoàn ta ở Trại Đa-vít và làm cho Trại Đa-vít trở thành bình địa.

        Kế hoạch này rất trùng hợp với mệnh lệnh ngày 28 tháng 4 năm 1973 của Cao Văn Viên, đại tướng, tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy, mà ta thu được tại văn phòng tổng tham mưu ngụy sau giải phóng.

        Đó là: 1. Bắn pháo và cối vào Trại Đa-vít; 2. Cho xe tăng và bộ binh tràn ngập; 3. Ném bom; 4. Rải chất độc hoá học với điều kiện gió không thổi về phía thành phố. Trong mệnh lệnh của Cao Văn Viên ghi rõ là khi phát hiện có tiếng súng từ Trại Đa-vít bắn sang là thực hiện ngay mệnh lệnh này mà không cần phải xin chỉ thị của bộ tống tham mưu.

        Thực chất của mệnh lệnh này là bộ tổng tham mưu ngụy cho phép các đơn vị ngụy quân có quyền tự ý hủy diệt Trại Đa-vít.

       II.   TRẠI ĐA-VÍT - MỘT BlỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI CỦA TƯ TƯỞNG TIẾN CÔNG CÁCH MẠNG, CỦA CHỦ NGHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG

        1.   Bố trí hai Đoàn đại biểu quân sự ta vào Trại Đa-vít, kẻ thù âm mưu làm tê liệt các hoạt động Liên hợp quân sự của ta và khống chế, cô lập ta. Nhưng tất cả mưu đồ đó của chúng đã bị thất bại


        Hai Đoàn đại biểu ta hiên ngang biến Trại Đa-vít thành trung tâm đấu tranh ngoại giao quân sự giữa sào huyệt địch. Chúng ta triển khai mọi hoạt động Liên hợp quân sự một cách đàng hoàng, chững chạc với tư thế của người chiến thắng.


Tiếp đoàn nghị sĩ Mỹ tháng 2/1975


Tiếp Đoàn đại biểu hội nhà báo nước ngoài 1973

        -   Hai mươi nhăm cuộc họp cấp Trưởng đoàn thời kỳ Liên hợp quân sự 4 bên, một trăm cuộc họp cấp Trưởng đoàn thời kỳ 2 bên và những cuộc họp của các Tiểu ban quân sự, Tiểu ban trao trả, Tiểu ban thủ tục, Tiểu ban triển khai, Tiểu ban thay thế vũ khí, Tổ Liên hợp quân sự 4 bên... đã được tiến hành.


Cuộc họp cấp trưởng đoàn 4 bên đầu tiên


Cuộc họp cấp trưởng đoàn 2 bên đầu tiên
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười, 2013, 03:51:27 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #543 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2013, 03:29:09 am »

        Trong tất cả các cuộc họp đó, hai Đoàn ta đã quán triệt đường lối của Đảng ta, nắm vững pháp lý của Hiệp định Pa-ri đấu tranh một cách quyết liệt, đấu tranh liên tục, đấu tranh không khoan nhượng buộc Mỹ - ngụy phải thi hành Hiệp định Pa-ri. Đồng thời, ta luôn tỉnh táo vả nhạy bén phát hiện những mưu đồ đen tối, những thủ đoạn xảo trá. những hành động vi phạm Hiệp định của địch để kịp thời lên án, vạch trần những sai trái, vi phạm đó.

        Đặc biệt, hai Đoàn ta đã tập trung đấu tranh để thực hiện cho kỳ được việc buộc quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày gắn vói việc ta trao trả hết tù binh Mỹ và kẻ thù cũng phải trao trả hết số tù binh của ta. Việc trao trả nhân viên dân sự (tù chính trị) cũng là cuộc đấu tranh hết sức căng thẳng, liên tục buộc kẻ địch cũng phải trao trả cho ta trên 5.000 cán bộ và cơ sở cách mạng của ta.


Trao trả tù binh Mỹ ở Lộc Ninh (tên nằm trên võng)

        -   Từ Tống hành dinh Trại Đa-vít này, các sĩ quan của ta đã đi hầu hết các nơi ở miền Nam Việt Nam để kiểm tra, kiểm soát tất cả các chuyến rút quân Mỹ và quân chư hầu, tất cả các chuyến trao trả người của các bên, kiểm tra các trại giam của Mỹ - ngụy, và các sĩ quan ta đã đi cùng Uỷ ban Quốc tế để điều tra các vụ quân ngụy vi phạm ngừng bắn.


Một căn lán dã chiến được dựng lên phục vụ cho việc trao trả tù binh

        Tại trụ sở Trại Đa-vít, ta đã tổ chức rất nhiều cuộc họp báo. Các đồng chí Trưởng đoàn, Phó đoàn ta nhiều lần chủ trì họp báo như đồng chí Trần Văn Trà, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, đồng chí Võ Đông Giang.


Trung tướng Trần Văn Trà chủ trì buổi họp báo tại trại Đa-vít

        Rất đông phóng viên của gần 80 hãng thông tấn báo chí, vô tuyền truyền hình, đài phát thanh, báo nước ngơài có đại diện ở Sài Gòn đến dự họp báo. Cuộc họp báo nào cùng có khá đông người đến dự. Khi tình hình chiến sự sôi động thì các nhà báo càng đến đông hơn, có khi phải tràn ra cả vỉa hè và ngoài sân.


Họp báo (19/11/1974) tại phòng chiếu phim của 2 đoàn trong trại Đa-vít, Đại tá Võ Đông Giang, phó trưởng đoàn B trả lời phỏng vấn của hãng truyền hình BBC về 1 năm thi hành hiệp định Pari về Việt Nam
   Từ phải qua trái:
              + Người ngồi giữa thứ 4 : Đại tá Võ Đông Giang
              + Người ngồi thứ        5 : Nhà báo Richard
              + Người ngồi thứ        6 : Nhà báoTony Summers

        Và có một điều đặc biệt là, kẻ thù tìm mọi cách cô lập ra ờ Trại Đa-vít bằng rất nhiều biện pháp, kể cả những biện pháp thủ đoạn hèn hạ nhất và ty tiện nhất. Nhưng chúng không thể cô lập hoàn toàn được hai Đoàn ta. Ngược lại, trong những ngày cuối cùng của chiến tranh thì đại sứ Mỹ ở Sài Gòn lại bắn tin qua Đoàn Hung-ga-ri trong Uỷ ban Quốc tê xin được gặp đồng chí Trưởng đoàn ta. Những tên chóp bu của chính quyền Sài Gòn trong những ngày hấp hốì đã cử các loại bộ trưởng, các phụ tá đặc biệt xin được đến gặp phái đoàn ta để cầu cạnh, xin xỏ và thăm dò... về ý đồ tấn công cuối cùng của chúng ta vào Sài Gòn.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười, 2013, 09:43:01 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #544 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2013, 09:42:32 am »

        2.   Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ ta là những chiến binh vững vàng, bản lĩnh chính trị được tôi luyện, có ý chí chiến đấu và ý thức cảnh giác cách mạng cao

        -   Chúng ta đã triển khai một thê trận tiến công và phòng ngừa chặt chẽ để chủ động đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù phá hoại hai Đoàn ta.

        Phát huy ưu thế chính trị tuyệt đối của những người cách mạng, phát huy tư tưởng tiến công nên bất cứ kẻ thù giở ra âm mưu, thủ đoạn gì cũng không hề làm nao núng ý chí của những con người gang thép đó.


Ảnh do ngụy chụp. Tìm thấy ở Ðặc ủy trung ương tình báo số 3, Bạch Ðằng, Sài Gòn. Các thành viên đoàn B từ Pa ri về tới Tân Sơn Nhất ngày 28-1-1973 đã bị chúng bí mật chụp.

        Cán bộ, chiến sĩ ta nhận thức rõ những sự phô trương sức mạnh cùng những hành động hung hăng côn đồ của kẻ thù chỉ càng chứng tỏ là chúng ở thế yếu, ở sự kém cỏi của kẻ thất bại. Nhiều trường hợp thực tế đã chứng minh những tên sĩ quan ngụy chủ động đến tác động tâm lý, khiêu khích, kích động lại bộc lộ hoàn toàn là sự lố bịch của chúng trước cán bộ, chiến sĩ ta. Khi bị cán bộ, chiến sĩ ta tiến công đập lại, dù ở trên bàn hội nghị cấp Trưởng đoàn, cấp Tiếu ban hay những cuộc tiếp xúc khác, thì chúng đều phải nhận lấy sự thất bại cay đắng. Chúng không dám đối diện tranh luận những vấn đề mà chính chúng đưa ra khiêu khích mà thường lảng tránh, có tên thấy trơ trẽn quá nên lủi thủi rút lui. Cũng có vài tên tỏ ra xửng cồ, mặt đỏ gay nói lại vài câu với lời lẽ của kẻ côn đồ chợ búa. Ngay ở hội nghị cấp Trưởng đoàn mà những tên Trưởng đoàn, Phó đoàn Mỹ như út-uốt và Uých-khâm, các Trưởng đoàn, Phó đoàn ngụy như Dư Quốc Đống và Phan Hoà Hiệp, khi bị chúng ta dồn vào thế bí thì bản chất của kẻ xâm lược, kẻ côn đồ của những tướng Mỹ - ngụy cũng bộc lộ ra ngay. Tên Phan Hoà Hiệp còn biểu hiện bản chất côn đồ đến mức cầm gạt tàn thuốc lá định ném vào đồng chí Võ Đông Giang và buông lời láo xược mày tao.


Đoàn từ Lộc Ninh vừa vào tới Tân Sân Nhất chúng cũng bí mật chụp. Ảnh thu được sau giải phóng.

        Những thủ đoạn mà kẻ thù dự định đánh sâu vào nội bộ ta, sự tính toán của chúng cũng khá công phu. Nhưng kết quả là không đạt được gì. Tên Nguyễn Văn Học, trưởng phòng phản tình báo của an ninh quân đội ngụv, cũng phải thú nhận như vậy.

        Một số trường hợp tìm được người thân của cán bộ, chiến sĩ ta nhưng chúng cứ mon men đụng vào là bị đánh bật ra. Một số đồng chí đã báo cáo rõ về trường hợp mà kẻ thù khêu gợi tổ chức cuộc gặp với người thân của đồng chí đó trong vùng chúng kiểm soát.

        Có đồng chí đề xuất với lãnh đạo và cơ quan nghiệp vụ về những ý kiến để ngăn chặn và đánh bại chúng nếu chúng tiếp tục thực hiện. Đây là điểm rất tuyệt vời của các đồng chí ta.

        Từ thực tiễn đấu tranh với các thủ đoạn phá hoại của địch, có thể khẳng định rằng mọi thủ đoạn bẩn thỉu và hèn hạ mà địch thực hiện trong điều kiện chúng ta ở giữa vòng vây của chúng, nhưng tất cả những thủ đoạn đó đều bị đánh bại.

        Cái mạnh nhất của chúng ta là ở chỗ toàn đội ngũ của chúng ta, từ người chỉ huy cao nhất đến từng cán bộ, chiến sĩ, nhân viên, đều rất vững vàng, tuyệt đối trung thành với cách mạng, có niềm tin là nhất định cách mạng sẽ thắng, một tập thể đã được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng tạo nên một sức mạnh kỳ diệu đủ sức đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù dù đó là những âm mưu, thủ đoạn tàn bạo, đê hèn và bỉ ổi nhất.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười, 2013, 10:09:58 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #545 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2013, 01:42:10 am »

        3.   Những ngày cuối cùng của chiến tranh, các cán bộ, chiến sĩ ở Trại Đa-vít càng biểu hiện rõ phẩm chất và hành động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng

        Từ tháng 10 năm 1974, do kẻ địch trắng trợn phá hoại Hiệp định Pa-ri nên hoạt động của Ban Liên hợp quân sự không có hiệu quả, Chính phủ ta tuyên bố đình chỉ vô thời hạn các cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự 2 bên và Tổ Liên hợp quân sự 4 bên.

        Nhưng hai Đoàn ta vẫn ở lại Trại Đa-vít. Ta vẫn giữ quan hệ với Uỷ ban Quốc tế. nhất là với hai Đoàn bạn Hung-ga-ri và Ba Lan, vẫn duy trì liên lạc với các nhà báo. vẫn tiếp tục tố cáo và lên án kẻ thù phá Hiệp định Pa-ri.


3 phóng viên Mỹ vào họp báo tại trại Đa-vít đề nghị được chụp ảnh lưu niệm với đồng chí Dương Đình Thảo và các phóng viên báo chí của ta : Nguyến Sinh (Nguyễn Ngân) báo Nhân Dân, Dương Đình Thảo người phát ngôn đoàn B, Vũ Dũng phiên dịch

        Ngụy quyền Sài Gòn rất căm tức, muốn tống hai Đoàn đại biểu quân sự ta ra khỏi Trại Đa-vít nhưng không làm gì được. Chúng càng khống chế chặt hơn, bao vây chặt hơn, ngăn cản tất cả các hoạt động của ta, nhưng làm sao mà ngăn chặn hoàn toàn được.

        Từ giữa tháng 3 đến tháng 4 năm 1975, quân ta chiến thắng dồn dập, hai Đoàn ta ở Trại Đa-vít nhìn rõ triển vọng quân ta sẽ tiến về giải phóng Sài Gòn. Việc liên lạc bằng máy bay với "hậu phương" Lộc Ninh bị cắt đứt từ đầu năm, liên lạc bằng máy bay với Hà Nội không đều. Phái đoàn ta ở giữa Sài Gòn, cấp trên không tiện phổ biến sớm về phương hướng tác chiến của ta, nhất là qua điện đài. Mọi người bàn luận sôi nổi, phán đoán tình hình và triển vọng phát triển chiến đấu. Và đặc biệt là có nhiều suy nghĩ về phái đoàn ta ở đây phải làm gì, làm như thế nào nếu quân ta tiến công Sài Gòn.

        Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Đảng ủy của hai Đoàn ta họp phân tích tình hình, dự kiến những tình huống có thể xảy ra với Đoàn ta và hạ quyết tâm là dù tình hình có diễn biến thế nào thì chúng ta cũng phải chuẩn bị mọi mặt để bám trụ, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ.

        Hai Đoàn ta ở vào vị trí mà bốn bề kẻ địch đã vây hãm rất chặt chẽ, gắt gao. Trong cơn giãy chết, kẻ địch chắc chắn sẽ không từ một thủ đoạn tàn ác nào để tiêu diệt hai Đoàn quân sự cách mạng ta.

        Các đồng chí lãnh đạo cấp trên cũng rất chú ý đến vấn đề an toàn của 300 cán bộ, chiến sĩ Trại Đa-vít.

        -   Đồng chí Lê Đức Thọ điện động viên và nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ ta giữ vững bản chất Bộ đội Cụ Hồ.

        -   Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo tổ chức sẵn sàng chiến đấu bảo toàn lực lượng và phải đề phòng kẻ địch có những hành động tàn bạo với Đoàn ta.

        -   Bộ chỉ huy Miền và Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh báo cho Đoàn ta là khi quân ta bắt đầu tiến công vảo Sài Gòn sẽ có một cánh đặc công vào Trại Đa-vít đón Đoàn ra nơi an toàn, chỉ để lại lực lượng vệ binh và một ít cán bộ. Do đó, hai Đoàn ta phải chuẩn bị sẵn sàng để thời điểm đến là đi ngay được.

        Lúc này là ngày 15 tháng 4 năm 1975.

        Do tình hình rất gấp, Đảng ủy và Ban chỉ huy hai Đoàn ta đã tổ chức họp ngay. Trong cuộc họp, Đảng ủy và Ban chỉ huy phân tích kỹ tình hình mọi mặt, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và có một số nhận định rất thống nhất là xin cấp trên cho ở lại sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tại chỗ.

        Những nội dung phân tích thống nhất như sau:

        -   Nếu rút đại bộ phận ra là một lực lượng khá đông trên 200 người, quãng đường xa 10km trong điều kiện địch bố phòng khá chặt, chúng lại đang ở tình trạng đề phòng bị ta tiến công. Như vậy rất dễ bị chúng phát hiện, ta dễ bị động và tốn thất sẽ là lớn nếu đụng địch.

        -   Nếu ở lại bám trụ chiến đấu thì ta có đủ những yếu tố cần thiết bảo đảm chiến đấu được. Tuy vũ khí của ta ít nhưng ta chuẩn bị chu đáo, ý chí chiến đấu kiên định, nhiều đồng chí dày dạn trong chiến tranh có thể chiến đấu cầm cự được một số ngày đủ để cho đại quân ta vào tiếp ứng.

        Tình thế hiện nay quân ta thắng như chẻ tre, ngụy Sài Gòn mất quân khu 1, quân khu 2, quân ngụy tan rã tràn về Sài Gòn làm cho quân ngụy tại chỗ càng mất tinh thần. Khi bị quân ta đánh thì chúng chỉ lo tháo chạy. Đơn vị nào vào đánh ta thì đâu còn tinh thần mà chấp hành mệnh lệnh của cấp trên triệt để nữa.

        -   Có một nhận định nữa là hai Đoàn bạn Hung-ga-ri và Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế đã và đang hết lòng tương trợ ta trong những ngày căng thẳng, nay ta lặng lẽ rút đi một mình thì không thể đành lòng.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Mười, 2013, 01:12:58 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #546 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2013, 01:11:33 am »

        Đề nghị xin ở lại bám trụ chiến đấu được cấp trên đồng ý.

        300 cán bộ, chiến sĩ hai Đoàn ta đã bắt tay ngay vào tổ chức sẵn sàng chiến đấu rất khẩn trương. Toàn bộ Trại Đa-vít như một công trường ngầm, rất lặng lẽ bí mật triển khai xây dựng một trận địa chiến đấu hoàn chỉnh. Ta chỉ có 30 khẩu AK và CKC cho các chiến sĩ vệ binh, còn các sĩ quan mỗi người một khẩu súng ngắn và vừa được bổ sung 2 va-ly thủ pháo chống tăng nên càng phải làm công sự vững chắc. Toàn Trại Đa-vít chia làm 7 khu vực chiến đấu, có 2 sỏ chỉ huy, có hầm quân y làm được trung phẫu thuật, hai hầm kho dự trữ lương thực, thực phẩm, có hệ thống giao thông hào ngầm từ nhà này sang nhà kia (gần 40 nhà), trong nhà có hầm trú ẩn sâu 2m có nắp đậy tránh pháo, có hệ thống điện thoại từ sở chỉ huy đến các đài quan sát và từng khu vực chiến đấu. Chỉ có 2 xà beng và một số xẻng của chiến sĩ nhưng anh em ta đã khắc phục khó khăn, sử dụng tất cả những gì sẵn có như cọc màn bằng sắt, dao găm, đĩa sắt mà nhà ăn của lính Mỹ để lại để đào và xúc đất.

        Chỉ trong khoảng 10 ngày, hai Đoàn ta đã hoàn thành trận địa chiến đấu. Thật là một kỳ công và chỉ có sức mạnh ý chí tuyệt vòi mới làm nên điều đó.

        Thấy máy bay địch dồn về sân bay Tân Sơn Nhất rất nhiều, chúng tập trung đậu gần khu Đoàn ta ở. Ban chỉ huy đoàn điện cho Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đề nghị bắn pháo mạnh vào sân bay, không vì thấy máy bay ở sát trụ sở Đoàn ta mà để mất thời cơ.

        Bức điện nói rõ: "Chúng tôi đào hầm và giữ vững vị trí chiến đấu tại đây. Đề nghị pháo binh ta cứ bắn thật mãnh liệt đừng lo cho chúng tôi ở trong này. Chúng tôi rất lấy làm vinh dự sẵn sàng nhận sự hy sinh để chiến dịch toàn thắng, để sự nghiệp cách mạng toàn thắng". (Trích Hồi ký Đại thắng mùa Xuân của Đại tướng Văn Tiến Dũng, trang 214).

        Hệ thống hầm hào vừa xong thì chiều 28 tháng 4 năm 1975, một tốp máy bay A37 (sau này được biết máy bay ta chiếm được của địch do anh em ta lái) ném mấy loạt bom trúng đội hình máy bay địch cách trụ sở Đoàn ta một bức tưòng rào, mảnh bom và đất đá bay rào rào sang khu trụ sở của hai Đoàn ta. Nhưng hai Đoàn ta đã có hầm hào nên tất cả an toàn. Đến khoảng 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, pháo ta bắn dồn dập vào sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay chìm trong khói lửa. Đoàn ta có 2 đồng chí làm nhiệm vụ hy sinh, 5 đồng chí bị thương. Từ cự ly 18 đến 20km hàng nghìn đạn pháo được bắn vào sân bay, có một số quả rơi sang Trại Đa-vít là điều khó tránh khỏi. Tuy vậy, các đồng chí lãnh đạo hai Đoàn ta chủ trương không báo cáo ngay việc Đoàn ta có người thương vong vì đạn pháo. Ta báo cáo chậm để các pháo thủ không bị ảnh hưởng tâm lý khi bắn.

        Những suy nghĩ và việc làm trên đây của hai Đoàn đại biểu quân sự ta càng chứng tỏ các cán bộ, chiến sĩ ta luôn nghĩ đến việc lớn, tất cả cho chiến thắng dù bản thân mình và đơn vị gặp hiểm nguy hoặc hy sinh cũng lấy làm vinh dự mà không hề tính toán.

        3.   Hai Đoàn đại biểu quân sự ta ở Trại Đa-vít làm nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao quân sự tổng thời gian là 2 năm, 3 tháng và 3 ngày (từ 28 tháng 1 năm 1973 đến 30 tháng 4 năm 1975)

        Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng như các nước trên thế giới, kể cả với câu chuyện huyền thoại con ngựa Thành Tơ-roa, chưa từng có trường hợp nào mà một bên đối địch lại hợp pháp cắm được một bộ phận lực lượng của mình công khai đứng chân tại trung tâm đầu não của đối phương, nơi tập trung đại diện dư luận của cộng đồng quốc tế.



        Bộ phận lực lượng ấy dõng dạc phân tích sâu sắc các ý đồ và hành động của mỗi bên, lên án những việc làm xằng bậy của đối phương, lý giải và chứng minh một cách thuyết phục cho những bước đi bắt buộc của mình để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đạo lý của dân tộc và thời đại và cuối cùng ca khúc khải hoàn với đại quân ngày chiến thắng.

        Tạo được điều kỳ diệu và độc đáo này là do đường lối đúng đắn, phương cách sáng tạo của Đảng ta, sự chỉ đạo sắc sảo của các cấp trên trực tiếp. Thành công đó còn là do bản lĩnh và sự nỗ lực vượt bậc, không ngại hy sinh gian khổ, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thành viên hai Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Mười, 2013, 01:18:56 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #547 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2013, 03:09:22 am »



Ông Huỳnh Văn Trình

HỌ ĐÃ TÌM CÁCH PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH PA-RI NGAY TỪ NGÀY ĐẦU
     
VŨ NHƯ            

        Là người từng tham gia Ban Liên hợp quân sự Việt - Pháp 1954 ở Liên khu 5 thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, tham dự các phiên đàm phán bí mật cuối cùng giữa Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ về Hiệp định Pa-ri 1973 và là Uy viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương tại Sài Gòn năm 1973-1975..., ông Huỳnh Văn Trình đã được chứng kiến sự ra đời của Hiệp định Pa-ri cũng như những hành động phá hoại các cam kết của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Dưới đây là những chia sẻ của ông về giai đoạn sau Hiệp định Pa-ri với Tạp chí Thế giới và Việt Nam, số đặc biệt nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 - 27-1-2013).

        Thưa ông, từ Pa-ri ông đã về tham gia Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương như thế nào?

       Ông Huỳnh Văn Trình: Ngày 20 tháng 1 năm 1973, một tuần trước lễ ký kết Hiệp định Pa-ri, một số thành viên trong Đoàn đàm phán như các ông Phan Hiền, Hoàng Hoa, Nguyền Khắc Huỳnh, Trần Anh Tuấn... và tôi rời Pa-ri về Hà Nội. Ngay trước lễ ký kết Hiệp định, ông Lưu Văn Lợi, Cố vấn pháp lý của Đoàn đàm phán được phân công làm Phó đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên với quân hàm Đại tá cũng rời Pa-ri về thẳng Sài Gòn đi "tiền trạm" cho Đoàn chính, có mặt ngay khi Hiệp định có hiệu lực ngày 28 tháng 1 năm 1973.

        Về đến Hà Nội ngày 23 tháng 1 năm 1973, cả nhà tôi vừa mừng đoàn tụ sau nhiều tháng xa cách, nhưng thời gian dành cho gia đình rất ngắn ngủi vì tôi còn phải gấp rút chuẩn bị tư trang, giấy tờ, tài liệu cho chuyến đi vào Sài Gòn với quân hàm Trung tá, Ủy viên Ban lãnh đạo Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương.

        Đúng 11 giờ sáng ngày 29 tháng 1 năm 1973, hai chiếc máy bay vận tải C130 của quân đội Mỹ đã rời sân bay Gia Lâm và hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất lúc 14 giò 30 phút. Sự cố đầu tiên đã xảy ra khi người của cơ quan nhập cảnh và hải quan Sài Gòn lên máy bay đề nghị toàn Đoàn phải làm thủ tục đăng ký nhập cảnh. Trưởng đoàn là Thiếu tướng Lê Quang Hoà (lúc đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) phân công anh Hoàng Hoa (Phó đoàn) và tôi thay mặt Đoàn phản đối những đòi hỏi vô lý của phía Sài Gòn vì: Thứ nhất, Nam - Bắc là một nước thống nhất, vĩ tuyến 17 chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời chứ không phải là biên giới giữa hai quốc gia, nên ta không ký giấy nhập cảnh. Thứ hai, tại Pa-ri, các bên không thoả thuận gì về việc phải làm thủ tục nhập cảnh. Thứ ba, Mỹ đưa phương tiện ra đón Đoàn ta nên Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Ngoài ra, chúng tôi cũng đề nghị được gặp Đoàn tiền trạm của ta và Uỷ ban Quốc tế để đòi ghi nhận hành động của phía Sài Gòn vi phạm Hiệp định Pa-ri.

        Tất nhiên, phía Sài Gòn không những không cho chúng tôi gặp đại diện của Đoàn tiền trạm ta hay của Uỷ ban Quốc tế mà còn "giam lỏng" cả Đoàn ta trên máy bay. Nhìn ra ngoài cửa sổ, lính dù Sài Gòn súng ống lăm lăm đã được triển khai vây chặt xung quanh. Một hệ thống đèn pha được bố trí chiếu thẳng vào máy bay suốt đêm. C130 là máy bay vận tải không có nhà vệ sinh nên phía Mỹ phải cấp tốc cử lính bê thùng lên lập toa-lét dã chiến để Đoàn ta sử dụng. Để động viên tinh thần anh em, Trưởng đoàn Lê Quang Hoà kể cho mọi người nghe về những ngày trong nhà tù thực dân Pháp ở Sơn La và những hình thức đấu tranh trong nhà tù.

        Đến trưa hôm sau, phía Sài Gòn phải chấp nhận cho Đoàn ta về Trại Đa-vít mà không phải làm thủ tục gì. Như vậy, họ đã tìm cách phá hoại Hiệp định ngay từ ngày đầu tiên.

        Khi gặp được Đoàn tiền trạm trong Trại Đa-vít mới biết Đoàn tiền trạm cũng phải trải qua một ngày đấu tranh như vậy. Tuy chúng tôi không dự kiến trước tình huống này và không liên lạc với nhau, nhưng cả hai Đoàn đều kiên quyết đấu tranh để bảo vệ Hiệp định.

        Vụ "giam lỏng" đó mới chỉ là vi phạm đầu tiên. Tiếp đó, tốì mùng 3 tháng 2 năm 1973 (cũng là đêm giao thừa Tết Nguyên đán1), khi hai Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đang liên hoan nội bộ thì quân đội Sài Gòn lại huy động xe bọc thép bao vây nơi ở và cho máy bay trực thăng quần đảo trên đầu để uy hiếp hai Đoàn ta.


Bất chấp sự uy hiếp của địch, cán bộ chiến sĩ ta vẫn tưng bừng tổ chức đón giao thừa tại trụ sở trại Đa-vít đêm 2 rạng ngày 3-2-1973
---------------------
1.  Chỗ này ông Huỳnh Văn Trình nhớ nhầm (phải là tối mùng 2 mới đúng). Thực ra đêm giao thừa phải là đêm thứ sáu ngày 2/2/1973 rạng ngày thứ bảy 3/2/1973 - chú thích của Giangtvx
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười, 2013, 07:08:35 am gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #548 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2013, 08:13:42 am »

       Vậy thách thức lớn nhất lúc đó của Đoàn là gi, thưa ông?

        Ông Huỳnh Văn Trình: Thách thức lớn nhất của hai Đoàn ta lúc đó là việc Mỹ dung túng cho phía Sài Gòn tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Pa-ri. Quân đội Sài Gòn triển khai chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ", lấn chiếm vùng giải phóng, đưa quân tấn công chiếm lại Cửa Việt, Đức Phổ..., tiến hành nhiều hoạt động quân sự ở đồng bằng Nam Bộ. Họ cũng tìm mọi cách ngăn cản, chống phá hoạt động của Ban Liên hợp quân _sự 4 bên kể cả việc tấn công, hành hung các thành viên của hai Đoàn ta. Sau đó, họ cũng không cho Ban Liên hợp quân sự 2 bên hoạt động và không bảo đảm các quyền ưu đãi, miễn trừ cho các đoàn Liên hợp quân sự. Vì thế, đến tháng 6 năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam buộc phải tuyên bố đình chỉ việc triển khai hệ thống Liên hợp quân sự 2 bên xuống địa phương. Tuy nhiên, các Đoàn ta trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên và Tổ Liên hợp quân sự 4 bên về mồ mả và người mất tích vẫn được duy trì ở Trại Đa-vít cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Để bảo vệ Hiệp định, hai Đoàn ta đã phải chịu mất mát to lớn, 9 thành viên đã hy sinh và 25 người bị thương trong khi làm nhiệm vụ.

        Vậy tại sao Việt Nam không rút Ban Liên hợp quàn sự về đế tránh nguy hiểm?

        Ông Huỳnh Văn Trình: Rút về là không tôn trọng Hiệp định, là từ bỏ cơ sở và địa vị pháp lý của Hiệp định và mắc mưu đối phương. Trong mọi tình huống, chúng ta đều muôn duy trì và bảo vệ Hiệp định. Duy trì Hiệp định là thắng lợi, là thế mạnh của chúng ta. Hiệp định không được thi hành là do chính quyền Sài Gòn phá hoại và được Mỹ dung túng.

        Chúng ta luôn giữ mối quan hệ với Uỷ ban Quốc tế để tố  cáo đối phương vi phạm Hiệp định. Ngoài ra, chúng ta cũng tìm cách thông báo với dư luận tình hình thực hiện Hiệp định và những vi phạm của đối phương qua các cuộc họp báo hàng tuần ở Trại Đa-vít do Đại tá, Phó đoàn Võ Đông Giang chủ trì.


Đại tá, Phó trưởng đoàn Võ Đông Giang (người ngồi giữa, quay lưng lại) đang trả lời phỏng vấn của các nhà báo về việc ta giải phóng tỉnh Phước Long

        Tháng 4 năm 2012, Nhà nước đã trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự ta. Ông đánh giá như thế nào về toàn bộ hoạt động của hai Đoàn?


Ông Huỳnh Văn Trình gặp gỡ và trao đổi với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trong buổi lễ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự ta

        Ông Huỳnh Văn Trình: Ngay từ khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, mặt trận ngoại giao về Hiệp định chuyển trọng tâm từ Pa-ri về Sài Gòn với thành phần đàm phán mới là 4 Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà. Một diễn đàn mới là Ban Liên hợp quân sự 4 bên và sau đó là 2 bên được mở ra. Nhiệm vụ mới là "bảo đảm phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản về quân sự của Hiệp định" và địa bàn hoạt động là trên toàn miền Nam Việt Nam.

        Cuộc chiến đấu mới, đấu tranh chính trị và pháp lý công khai giữa sào huyệt của đối phương, trong khi Mỹ vẫn còn 7 vạn quân chiếm đóng, phía Sài Gòn có hơn 1 triệu quân với lực lượng không quân đứng thứ tư trên thế giới và có ý đồ chiến lược xé bỏ Hiệp định, quyết đánh bại Cộng sản bằng quân sự, là cả một câu chuyện dài "vào hang bắt cọp" ly kỳ, độc đáo, huyền thoại về ngoại giao quân sự Việt Nam. Điểm nổi bật là chúng ta đã đứng vững tại Trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất, nơi là Tổng hành dinh của hai Đoàn ta, trong tình thế bị "bốn mặt bao vây, trên không bịt kín" theo kiểu chiến thuật "bủa lưới phóng lao", án ngữ chặt các hướng, triệt để cô lập... Nhưng các sĩ quan, chiến sĩ hai Đoàn ta đã kiên trì bám trụ suốt hơn 2 năm 3 tháng, tích cực tiến công địch trên tất cả các trận địa và đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao.

        Xin ông chia sẻ những cảm nghĩ và kỷ niệm lớn nhất của ông về cuộc đàm phán và thi hành Hiệp định Pa-ri?

        Ông Huỳnh Vần Trinh: Tôi rất nhớ phiên họp ngày 13 tháng 1 năm 1973 giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và ông Kít-xinh-giơ để hoàn tất các văn bản Hiệp định Pa-ri, phiên họp riêng cuối cùng trước khi ký kết Hiệp định. Lúc đó, tôi nghĩ đây là bước ngoặt giữa chiến tranh và hoà bình, bước ngoặt của cách mạng giải phóng dân tộc. Tôi sẽ sớm thực hiện được ước mơ trở lại miền Nam.

        Năm 1954, tôi đã tham gia Đoàn đại biểu quân đội ta trong Ban Liên hợp chiến trường Liên khu 5 theo Hiệp định Giơ-ne-vơ tại Phú Yên. Năm 1955, khi ra Bắc, tôi từng hy vọng chỉ 2 năm sau sẽ quay trở lại miền Nam, không ngờ phải chờ đợi đến gần 20 năm. Tôi cũng không bao giờ quên thời khắc được cùng đồng đội chứng kiến những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, niềm vui mừng được đón 31.500 đồng chí, đồng đội trở về từ chốn lao tù của địch. Tôi thấy vừa tự hào lại vừa vinh dự. Không bao giò tôi quên những ngày đó.

        Tuy nhiên, trong lòng tôi vẫn còn một nỗi băn khoăn, day dứt là đối với một sự kiện trọng đại như vậy mà 4 thập kỷ qua, ở ngay trên đất nước ta, không có một dấu ấn vật thể nào lưu lại cho hậu thế. Trong khi ở Pa-ri, nhờ sự giúp đỡ của nước sở tại, đã có những tấm biển lưu niệm ở một số nơi mà hai Đoàn ta đã hoạt động như Kleber, Choisy-le-Roi, Gif sur Yvette, Verriere le Buisson... Do vậy, tôi xin đề nghị lấy Trại Đa-vít -Tân Sơn Nhất làm nơi lưu niệm về Hiệp định Pa-ri ở Việt Nam. Lý do không chỉ vì nơi đó là Tổng hành dinh của hai Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ đạo hoạt động ngoại giao quân sự thi hành Hiệp định Pa-ri, mà đây cũng là mảnh đất giải phóng đầu tiên giữa Sài Gòn do có Hiệp định, cũng là nơi kết thúc Hiệp định trong ngày toàn thắng, nơi duy nhất ở Việt Nam mang đậm di tích vật thể gắn kết Hiệp định Pa-ri với cách mạng miền Nam.


Khu nhà hội trường của BLHQS 4 bên và 2 bên từ 29/1/1973 (ảnh chụp 5/2008)

        Nếu có một khu di tích như vậy thì mọi tư liệu, hiện vật, kỷ vật quý báu về Hiệp định Pa-ri sẽ được tập trung trưng bày tại đây, thu hút các nhà nghiên cứu, khách du lịch và mọi thế hệ người dân trong nước, quốc tế đến thăm, suy ngẫm về một thời chiến tranh và hoà bình đã đi vào lịch sử nước ta và nhân loại.

        Xin cảm ơn ông!
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười, 2013, 04:52:35 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #549 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2013, 02:46:26 pm »


KÝ ỨC "TRẬN ĐÁNH" LỚN 40 NĂM VỀ TRƯỚC
       
NGUYỄN SINH             

        40 năm về trước, trong một trại lính cũ kỹ, Trại Đa-vít, hai Đoàn đại biểu quân sự của ta đã phải bám trụ, chiến đấu trong 2 năm, 3 tháng và 3 ngày. Kể từ Hiệp định Pa-ri được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước nhà hoàn toàn thống nhất, đó là một "trận đánh" trường kỳ và thầm lặng.

        MỘT CUỘC ĐẤU TRÍ

        Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được bốn Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ký chính thức tại Pa-ri, Thủ đô nước Cộng hoà Pháp. Cùng ngày hôm đó, trận đánh lớn bắt đầu.

        Vai trò xung kích được giao cho hai Đoàn đại biểu quân sự: Đoàn A, thuộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Đoàn B, thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Theo Điều 10 của Hiệp định, hai Đoàn có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản về quân sự mà Hiệp định đã quy định. Hai Đoàn hoạt động trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên (từ 28-1-1973 đến 28-3-1973). Tiếp đó, trong Ban Liên hợp quân sự 2 bên (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam cộng hoà, tức chính quyền Sài Gòn). Bên cạnh đó, còn có Tổ Liên hợp quân sự 4 bên, chịu trách nhiệm phối hợp việc tìm kiếm người mất tích, hài cốt và mồ mả.

        Ký Hiệp định Pa-ri, Mỹ chấp nhận một bước lùi chiến lược, nhưng vẫn giữ âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh", dùng chính quyền và quân đội Sài Gòn áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Họ phá hoại Hiệp định để tiếp tục chiến tranh. Riêng với hai Đoàn đại biểu quân sự ta, họ có kế hoạch phá ngay từ đầu.

        TRẠI ĐA-VÍT TRỞ THÀNH PHÁO ĐÀI CÁCH MẠNG

        Là một trại lính cũ của Mỹ, nằm lọt giữa bốn bề lô cốt, ụ súng, hào sâu và hàng rào dây thép gai, kề sát đường băng sân bay Tân Sơn Nhất và khu sửa chữa máy bay. Phía bên kia là khu gia binh và trại huấn luyện lính dù. Bố trí hai Đoàn ta vào đó, đốì phương muốn cô lập, giam lỏng hai Đoàn, cản trở mọi hoạt động của ta. Sau ngày giải phóng miền Nam, qua các tài liệu của địch mà ta thu được và lời khai của một số tên đầu sỏ tình báo của quân đội Sài Gòn, ta biết địch có cả một kế hoạch phá hoại nhằm vào hai Đoàn đại biếu quân sự của ta trong Trại Đa-vít. Kế hoạch do 5 cơ quan tình báo, kể cả bộ phận CIA ở Sài Gòn, hoạch định và thực hiện. Phải đi sâu, cài cắm bằng được cơ sở của chúng trong hai Đoàn ta, lôi kéo vài người chạy theo chúng hoặc chạy sang nước thứ ba. Khi cần, chúng có thê đầu độc, bắt cóc các cán bộ quan trọng hoặc bắt cả hai Đoàn ta làm con tin. Trường hợp đặc biệt, có thể san phẳng Trại Đa-vít, xoá sổ hai Đoàn.

        Ta đã bẻ gãy mọi mưu toan ác độc của kẻ thù, biến Trại Đa-vít thành trận địa kiên cường của cách mạng giữa lòng địch. Từ đấy vang lên tiếng nói đanh thép tố cáo kẻ địch phá hoại Hiệp định Pa-ri, tiến hành chiến tranh.

        Ta liên tục giành thắng lợi nhiều mặt. Thắng lợi lớn nhất là dùng sức mạnh chính nghĩa và pháp lý của Hiệp định, buộc đội quân xâm lược Mỹ và chư hầu phải rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày. Đây là nhiệm vụ hàng đầu mà Đảng, Nhà nước và dân tộc giao phó. Phải đấu tranh với đối phương từng bước, từng việc, buộc chúng không thể phá hoại việc rút quân.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM