Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #270 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 10:01:33 pm » |
|
Giữa sân bay Tân Sơn. Nhất hôm ấy, tôi gặp anh lính Mỹ da đen O-li-vơ nét mặt hễ hả, tay nâng ngang ngực một chiếc gậy như kiểu đang chào mọi người. Nhìn kỹ tôi thấy đầu chiếc gậy gọt hình một chữ SHORT (có nghĩa là ngắn); trên thân gậy có viết một câu bằng sơn tim "Tây Ninh dưới hoả lực rốc két". O-li-vơ nói với tôi:
- Đối với hầu hết chúng tôi, sang chiến đấu ở Việt Nam là một điều bất hạnh. Ai cũng muốn sao cho thời gian mình ở Việt Nam ngắn nhất, càng ngắn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Có một người nào đó đã làm ra chiếc gậy này, người đó đã về Mỹ hay đã chết, không biết. Chiếc gậy được trao tay một người khác, rồi một người khác, cứ thế mãi cho đến tôi là người cuối cùng. Tôi hạnh phúc nhất, tôi chỉ ở Việt Nam có năm tháng rưỡi, tôi không bỏ xác lại đây. Tôi có vợ và hai con hiện ở bang Vớc-gi-ni-a, thưa ông, đáng lẽ người Mỹ không nên đến đây...
Câu chuyện với anh James Gordan, một nhân viên dân sự Mỹ 44 tuổi, quê Ở bang Pan-xin-va-ni-a, còn ngộ hơn nữa. Gordan cũng về nước trong một chuyến với Ô-li-vơ. Trông thấy chúng tôi đi qua anh ta hỏi:
- Ông có biết ông Nguyễn Ái Quốc không?
Sau một thoáng ngạc nhiên, một sỹ quan ta hỏi lại:
- Sao ông biết ông Nguyễn ái Quốc?
Gordan trả lời bằng tiếng Việt bập bẹ:
- Tôi biết mà, tôi đọc nhiều lắm!
Một sỹ quan gỡ chiếc huy hiệu Bác Hồ gài trên ngực áo đưa tặng Gordan:
- Tôi tặng anh tấm hình ông Nguyễn Ái Quốc.
Anh ta đặt chiếc túi xách xuống đất, đưa cả hai bàn tay đỡ lấy tấm huy hiệu:
- Trời ơi! Nguyễn Ái Quốc! Nguyễn Ái Quốc! Tôi cảm ơn ông quá!
Gordan sung sướng nước mắt rơm rớm. Im lặng một lúc ngắm hình Bác rồi anh ta ngước lên nói tiếp bằng tiếng Anh:
- Nguyễn Ái Quốc tượng trưng cho hoà bình toàn thế giới.
Hình như sợ chúng tôi không hiểu, anh ta chuyển sang nói tiếng Việt:
- Nguyễn Ái Quốc chiến đấu để cho nước Việt Nam không phải của người Pháp, không phải của người Nhật, không phải của người Mỹ. Việt Nam của người Việt Nam.
- Khi nghe tin ông Nguyễn ái Quốc mất cảm tưởng của ông thế nào? Một sỹ quan ta hỏi:
- Tôi khóc dữ lắm, khóc dữ lắm - Gordan nói - Hai ngày liền tôi không đi làm. Người Việt Nam làm việc cho Mỹ Ở Ba Ngòi cũng không đi làm, khóc.
Từ giã chúng tôi để lên máy bay, Gordan vừa đi vừa ngắm nhìn Bác Hồ, miệng lẩm bẫm hoài: "Nguyễn Ái Quốc! Nguyễn Ái Quốc!"
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #271 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 10:04:38 pm » |
|
Nói chuyện với Việt Cộng Lúc ấy vào khoảng ba giờ chiều. Chúng tôi đang chờ đế giám sát chuyến rút quân Mỹ cuối cùng thì thấy ở đầu bên kia đường băng có cái gì như một cuộc biểu diễn của gánh xiếc rong. Người ta căng dù, bủa dây, dựng lên hai lá cờ, một cờ Mỹ và một cờ sọc Sài Gòn, lại nghe i oe có tiếng kèn đồng. Tôi hỏi một viên đại uý Sài Gòn, anh ta trả lời: - - Bữa nay chánh phủ với đồng bào các giới đón tổng thống Việt Nam cộng hoà công du Hoa Kỳ về. Tôi biết là Thiệu đến đầu tháng 4 mới đi Mỹ, nhưng vẫn hỏi thêm: - Ông ta đi Hoa Kỳ sao mà nhanh vậy? Viên sỹ quan Sài Gòn được dịp ba hoa: - Tổng thống sang bảo Ních-xơn việc gì đó rồi về ngay lập tức thôi mà. Với lại, phương tiện của tụi tui hiện đại lắm, đi về mấy chút! Ngay lúc ấy, tôi thấy một đám người nước ngoài chạy ùa về phía chúng tôi. Họ ăn mặc đủ kiểu, một đôi người râu tóc bờm xờm, người nào cũng lỉnh kỉnh những máy ảnh, máy quay phim, máy ghi âm. Tôi biết họ là đội quân nhà báo. Người chạy đến nhanh nhất là một phóng viên của hãng vô tuyến truyền hình Mỹ CBS. Anh ta đã có dịp gặp tôi một vài lần. Tôi bắt tay anh và hỏi: - Hôm nay các bạn được đến gặp chúng tôi dễ dàng thế này cơ à? - Đâu có - anh phóng viên CBS vừa trả lời, vừa rút khăn lau mồ hôi - Họ cho tụi tôi đến chỗ kia- anh chỉ đám cờ quạt- tướng Uây-oen và tướng Cao Văn Viên đang nốc sâm banh bên đó. Thấy nhạt trò quá, tụi tôi bấm nhau: "Sang gặp Việt cộng nói chuyện đi!" Thế là kéo đến đây hết. Nào các vị nói đi! Loáng một cái, chúng tôi đã bị vây chặt vào giữa một đám đông nghịt các nhà báo. Các ống thu máy ghi âm chĩa vào tua tủa. Một sỹ quan ta nói lớn bằng tiếng Pháp: - Chào các bạn. Thế là chúng tôi bị bao vây rồi. Nhưng đây là vòng vây hoà bình. Xin cảm ơn các bạn! Câu hỏi dồn đến tới tấp, bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Một nữ phóng viên của tờ "Tạp chí kinh tế Viễn Đông" vừa chen vừa hét lên: - Hôm nọ tướng Trà ưu tiên cho phụ nữ hỏi trước, hôm nay cũng xin quý vị cho tôi hỏi trước. Một phóng viên Nhật chậm chân phải đứng ở vòng ngoài. Anh ta vừa đưa cái cần dài ống thu máy ghi âm vào vừa nói to: - Xin quý vị ưu tiên cho phóng viên láng giềng nhé! Đồng chí sỹ quan đã lần lượt trả lời từng câu hỏi. Anh nói to để át tiếng máy bay, giọng anh càng sang sảng: - Đây là một thắng lợi vô cùng to lớn của dân tộc tôi! Trên một trăm năm nay, lần đầu tiên đất nước Việt Nam sạch bóng quân xâm lược. - Ông đang nghĩ gì lúc này? - Một nhà báo Pháp hỏi. - Tôi nghĩ đến đất nước tôi, dân tộc tôi và đồng đội của tôi. Khi trên nửa triệu quân Mỹ kẻo vào, họ không hề nghĩ rằng ngày họ ra đi lại có chúng tôi đứng đây để giám sát. Chính cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ của mọi người lương thiện trên trái đất mà có thắng lợi hôm nay. Cả các bạn nữa, chúng tôi cũng xin cảm ơn các bạn đã đến đây để chia vui với chúng tôi. Bọn quân cảnh Sài Gòn mà các nhà báo phương Tây thường gọi là "ngáo ộp tí hon" hôm nay đứng im thin thít. Vài ba đứa ác ôn và tên đại uý ngụy chạy lăng xăng một lúc rồi quay ra đứng dưới cánh máy bay nhìn hằn học. Còn mấy anh lính trẻ khoái quá cứ xáp mãi vào để nghe cho rõ hơn. Lúc chia tay, một nhà báo Ý quen biết đã nắm chặt tay tôi: - Xin chúc mừng anh. Không phải trên trái đất này ai cũng có vinh dự như các anh. Một người Phi-lip-pin làm việc cho một hãng truyền hình Mỹ thì chạy đến quàng vai tôi nói khẽ: Tôi ghen với anh đấy. - Nhưng anh vui mừng với chúng tôi chứ? - Tôi hỏi. - Ô tất nhiên rồi! - Anh bóp mạnh vai tôi - Tôi ở Việt Nam đã sáu năm. Tôi biết Mỹ không thể nào thắng nỗi các anh. - Nhưng cuộc chiến đấu của chúng tôi còn... Anh bạn Phi-lip-pin không đế cho tôi nói hết, anh chỉ lên ngọn cờ sọc đang quằn quại trên nóc lô cốt trước mặt rồi chỉ xuống đất và đưa chân dẫm mạnh vào chỗ đất vừa chỉ. Sau đó anh chỉ vào quân hiệu tôi và chỉ lên nóc lô cốt. Tôi hiểu. Lá cờ bán nước giơ bẩn ấy nhất định sẽ bị dẫm xuống dưới chân và lá cờ đại nghĩa của chúng ta nhất định sẽ tung bay trên miền Nam hoàn toàn giải phóng. Không chỉ chúng ta, cả thế giới đều chung một niềm tin ấy. Họp báo chớp nhoáng bên cạnh chiếc máy bay C141 chuẩn bị cất cánh đưa những tên lính mỹ cuối cùng ra khỏi miền Nam Việt Nam
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #272 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 10:08:05 pm » |
|
16giờ 45 phút, giờ Hà Nội
- Thưa các vị, chuyến cuối cùng sắp bắt đầu.
Trung tá Slớt-ka nói với chúng tôi. Lúc ấy là 16giờ. Ba chiếc ô tô chở 95 lính Mỹ cuối cùng đến đỗ cạnh chiếc máy bay C141 năm mươi mét. Chiếc máy bay đồ sộ có phù hiệu sấm sét và chòm sao bạc tượng trưng "sức mạnh vô địch" của không lực Hoa Kỳ rất tiếc lại dùng vào việc chở quân rút ra khỏi một cuộc chiến tranh mà phía có sức mạnh vật chất ghê gớm đã thất bại. Slớt-ka đưa trình danh sách. Không đợi chúng tôi hỏi, ông ta đã nói:
- Thưa trong chuyến này vẫn là quân của MACV, có ba đại tá. Đại tá Hem-ma, đại tá O-đeo và đại tá Nân-đoóc, Tư lệnh căn cứ Tân Sơn Nhất.
Đội quân nhà báo lại quây chật chúng tôi và cánh cửa máy bay. Tất cả ống kính chĩa vào đợi ghi lấy hình ảnh về tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam.
Chúng tôi đứng thành một hàng ngang, các sỹ quan Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đeo quân hiệu sao vàng trên nền nửa đỏ, nửa xanh, đứng liền bên cạnh sỹ quan Việt Nam dân chủ cộng hoà lấp lánh quân hàm và huân chương chiến thắng.
Lính Mỹ xuống xe là cắm đầu cắm cỗ chạy vội lên máy bay. Chúng muốn thoát cho nhanh ra khỏi tầm nhìn của chúng tôi, những đại biểu của lực lượng vũ trang yêu nước đã chiến thắng.
Tên lính Mỹ đi sau rốt là tên cai Bi-li-cơ: Một sỹ quan ta bắt tay hắn, trao tặng hắn tấm mành trúc có hình chùa Một Cột, tập ảnh nói về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Hắn cầm tặng phẩm, bắt tay, mắt mở to thao láo vì kinh ngạc.
Một nhà báo phương Tây hỏi tôi:
- Tôi không hiểu. Theo tôi biết thì họ là kẻ thù của các ông. Họ đã tàn phá đất nước các ông?
- Vâng - Tôi trả lời - Đúng họ là kẻ thù của chúng tôi. Nhưng thưa ông, khoan dung độ lượng là một mặt khác trong tính cách của dân tộc Việt Nam. Cha ông chúng tôi xưa từng cấp lương thực, xe, ngựa cho bọn xâm lược đã quy hàng để chúng về nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi cũng đã có lần nói: "Nếu bọn xâm lược Mỹ chịu rút, chúng ta sẽ trải thảm đỏ cho chúng đi".
- Một khám phá mới, một khám phá mới! Dân tộc các ông thật là vĩ đại - Nhà báo hét to.
Giữa lúc ấy tôi thấy hai người ngật ngưỡng đi tới cửa máy bay, cả hai ôm nhau loạng choạng, mặt đỏ gay. Một tên bán nước đầu trọc lóc, mắt ti hí, có cái tên thêu trên ngực áo là "Ngưu", đại tá cảnh sát Sài Gòn. Tên Mỹ xâm lược là tên đại tá O-deo. Đến chân cầu thang máy bay, hai đứa ôm hôn nhau lần cuối. Nhìn bọn sỹ quan Sài Gòn đứng gần đó, tôi thấy họ đều ngoảnh mặt đi. Ô-deo bỏ lại tên Ngưu, bước lên cầu thang và mất hút vào trong. Cánh cửa máy bay sập xuống. Thế là tên lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi miền Nam. Tôi nhìn đồng hồ, đúng 16 giờ 45 phút, giờ Hà Nội. .
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #273 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2012, 06:52:02 am » |
|
Những tên lính Mỹ cuối cùng rút về nước ngày 29-3-1973 Trung tá Nguyễn Kha - người đã ghi lại cảnh những tên lính Mỹ cuối cùng về nước
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2012, 11:07:18 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #274 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2012, 06:54:39 am » |
|
Quân Nam Hàn rút khỏi miền Nam Việt Nam Nguyễn Như Kim Nguyên trưởng đoàn TTX VN tại Ban LHQS 4 bên Theo kế hoạch, 9 giờ sáng ngày 14-3-1973 các tổ sĩ quan liên lạc của bốn bên có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để đi Nha Trang chứng kiến và kiểm tra việc gần 200 sĩ quan và binh lính Nam Triều Tiên cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam như quy định của Hiệp định Paris. Tôi cùng anh Nguyễn Kha và một sĩ quan nữa, cả 3 người đều là phóng viên báo chí thuộc Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) , Xưởng phim quân đội và báo Quân đội nhân dân (QĐND). Chúng tôi là tổ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN). Sở dĩ cả ba chúng tôi đi đều là nhà báo vì ngoài nhiệm vụ kiểm tra, giám sát ra chúng tôi còn làm tin, viết bài gửi ra Hà Nội cho các cơ quan báo chí tuyên truyền về việc lính chư hầu Nam Triều Tiên cút về nước (!) Tổ sĩ quan QĐNDVN và tổ Mỹ đi cùng một máy bay, tổ sĩ quan Quân Giải phóng và tổ quân đội Sài Gòn đi một máy bay. Đây là loại máy bay UH-1 dùng cho các sỹ quan Mỹ-ngụy đi đốc trận. Máy bay nhỏ, chỉ đủ chỗ cho hai viên phi công Mỹ và 6 người ngồi dọc theo thân máy bay. Rời Tân Sơn Nhất, máy bay tăng độ cao làm mọi người ù hết cả tai! Khi đã lên đến độ cao gần 2 km rồi, máy bay bay thăng bằng với tốc độ trên dưới 300 km/giờ . Khoảng một tiếng sau máy bay hạ độ cao và khi gần đến sân bay Nha Trang nó bay rất thấp. Tôi ngó qua cửa sổ máy bay ngắm nhìn làn nước xanh trong của biển Nha Trang, bãi cát trắng tinh dọc ven biển và những chiếc canô sơn trắng đang chạy rẽ nước. Nhìn mảnh đất này, nhớ lại những bài báo đã đọc của Sài Gòn và phương Tây viết về vùng đất mà ta gọi là "Khu 6 gian lao" tôi nhớ tới các đồng nghiệp của mình suốt 3 tháng ròng hành quân bộ dọc theo dải Trường Sơn vào tới khu 5 rồi tiếp tục đi về phía Nam tới miền tây Phú Yên , Khánh Hòa để hoạt động thông tin , tuyên truyền cho khu 6 trong bão đạn, mưa bom, đói khát, bệnh tật và sốt rét… Hai máy bay hạ xuống sân bay Nha Trang trước sau một lát. Đón chúng tôi là Phạm Đình Cẩn , trung tá quân đội Sài Gòn và một sỹ quan Mỹ. Họ mời chúng tôi tới chỗ chiếc máy bay Boeing đang đậu gần đó để kiểm tra và giám sát 185 sĩ quan và binh sĩ Nam Hàn. Chúng tôi cự nự: "Tại sao không cho chúng tôi kiểm tra ở dưới sân bay trước khi lên máy bay?" Hai sĩ quan liên lạc phía bên kia giải thích: "Vì quý vị ra muộn quá, chiếc phi cơ này chỉ còn rất ít thời gian là phải rời sân bay nên xin mời các quý vị giám sát số còn lại. Bây giờ mời quý vị lên ngay máy bay kiểm tra rồi đếm tại chỗ luôn thể…" Đã thế này thì chúng tôi chỉ còn cách trèo lên máy bay, chia nhau ra mỗi người đếm một bên rồi cộng lại cho đủ 185 tên. Khi chúng tôi đi dọc các hàng ghế phỏng vấn một vài tên về đơn vị và vũ khí. Họ trả lời giống nhau và nói họ không mang vũ khí rời Việt Nam theo quy định của Hiệp định Paris (!) Như vậy đã rõ họ để lại vũ khí cho quân đội Sài Gòn (?!) Kiểm tra xong chúng tôi xuống sân bay và trao đổi với các thành viên của LHQS 4 bên ngaycạnh máy bay và ký biên bản bàn giao.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2012, 10:53:49 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #275 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2012, 11:07:32 am » |
|
Trông những binh lính Nam Hàn lúc này không còn hùng hổ như khi xưa họ kéo đến vùng đất miền Trung với những cái tên "Sư đoàn Mãnh Hổ", sư đoàn Rồng Xanh…" và chuyên sử dụng võ Karate cùng đòn phục kích để uy hiếp đối phương. Nhìn đám quân bại trận rút khỏi miền Nam Việt Nam trong tay không còn một thứ vũ khí, thay vào đó là những đồ mỹ nghệ , đồ sứ và hải sản Nha Trang mà thấy buồn cho đội quân chư hầu của Park Chung Hee. Những năm qua các đơn vị " Ngựa trắng", "Rồng xanh" , "Mãnh hổ" của chúng đã bị quân dân khu 6 đánh cho tan tác. Võ Karate của chúng không cứu được bọn xâm lược, càng về sau võ Bình Định, Phú Yên đã quật ngã Karate của Nam Hàn. Chiếc Boeing nổ máy rời đường băng sân bay Nha Trang lao ra biển Đông lúc 12 giờ trưa ngày 14-3-1973, kết thúc sự có mặt của đội quân chư hầu đánh thuê cuối cùng cho Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Trung tá Ngụy Sài Gòn Phạm Đình Cẩn mời cả bốn đoàn vào phòng khách sân bay ăn bữa trưa bằng khẩu phần ăn “C” của quân đội Mỹ. Khẩu phần đó gồm một hộp nước quả, một gói bánh cứng, một thỏi chocolate, một chiếc bánh xốp, một hộp thịt băm, pho mát, một gói thuốc lá 4 điếu, kèm theo một gói cà phê nhỏ, cùi dìa nhựa, chút cream đặt lên mặt tách cà phê và một miếng giấy lau tay. Ngoài khẩu phần “C” ra, trung tá Cẩn còn đích thân mở các lon lave và bia nhẹ rót ra cốc mời mọi người uống giải khát. Qua trò chuyện , tôi được biết Phạm Đình Cẩn lúc đó 53 tuổi, người Khánh Hòa, y khoe có họ hàng với vợ Nguyễn Văn Thiệu. Trước Cách mạng tháng 8, Cẩn làm việc tại Sở Công chính Nha Trang nên anh ta có biết các đồng chí Trần Đăng Khoa, Đặng Phúc Thông (Bộ trưởng và Thứ trưởng Giao thông công chính), biết đồng chí Nguyễn Minh Vỹ, và Nguyễn Văn Chi. Sau Cách mạng tháng 8 y tham gia Việt Minh, ít lâu sau bỏ Việt Minh theo quân đội ngụy của Pháp. Qua câu chuyện tôi có cảm giác Cẩn là một viên sỹ quan già , chán thời cuộc, cầu an không hăng hái như đám sĩ quan trẻ của Sài Gòn. Cũng qua trò chuyện với Cẩn tôi được biết trung tướng ngụy Ngô Du chuyên buôn lậu quế từ Quảng Nam về Sài Gòn, trung tướng ngụy Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh quân khu 2, phạm tội hiếp dâm nhưng được Thiệu che chở nên thoát tội. Ngồi chờ máy bay rời Nha Trang tôi viết vội đôi vần thơ ghi lại cảm xúc khi đến mảnh đất này. Nha Trang ơi, Nha Trang! Ta đến với người một ngày nắng lửa Biển xanh lao xao chạy dài ven thành phố Gió lộng tự khơi xa thổi vào Xua đám bại quân Nam Hàn lố nhố ra đi Chúng tiu ngỉu cuốn cờ về nước! Đáng kiếp lũ đánh thuê chư hầu xâm lược Đây Nha Trang! Đây Nha Trang! Từ nay sạch bóng quân thù… Những tên lính Nam hàn cuối cùng cuốn gói về nước tại sân bay Nha Trang
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2012, 10:54:49 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #276 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 09:15:49 pm » |
|
NHỮNG KỶ NIỆM VỀ TRAO TRẢ TÙ BINH
Trần Tuấn Anh (Đặng Văn Biểu) Nguyên thành viên Đoàn Đàm phán VNDCCH tại hội nghị Pari Nguyên phó Tiểu ban trao trả Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH trong Ban liên hợp quân sự 4 bên Trung ương tại Sài gòn Thời gian công tác tại Ban liên Hợp quân sự 4 bên tuy rất ngắn, nhưng với tôi là kỷ niệm rất đặc biệt. Có thể nói, nó là giai đoạn kết thúc của một quá trình khá lâu dài trong cuộc đời hoạt động của tôi có quan hệ mật thiết với "vấn đề tù binh"- một trong những vấn đề đấu tranh gay go, quyết liệt kéo dài giữa nhân dân ta với kẻ thù xâm lược. Thật vậy, tháng 6 năm 1954 chân ướt chân ráo về đến Đại đoàn 312 sau chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi được Đại Đoàn cho biết vừa nhận được điện hoả tốc của Bộ Tổng Tư lệnh điều động tôi lên ngay để nhận công tác mới. Thế là tôi được điều về hội nghị Trung Giã với nhiệm vụ làm thư ký của Đoàn đại biểu Bộ Tổng Tư lệnh tại hội nghị này và sau đó tại Uỷ ban liên hợp Trung ương. Tại đây vấn đề trao trả tù binh giữa ta và Pháp là một trong những vấn đề đấu tranh khá phức tạp. Qua cuộc đấu tranh của ta trong thời kỳ này, tôi nhận thức được rằng việc trao trả tù binh là một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa người chống xâm lược và kẻ xâm lược cùng bọn tay sai của chúng. Kinh nghiệm của thời kỳ này rất quý báu cho "bộ phận tù binh" của chúng tôi trong cuộc đấu tranh ở hội nghị Pa-ri. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tôi lần lượt được giao những nhiệm vụ có liên quan đến cuộc đấu tranh chống Mỹ. Năm 1969- 1970 tôi được cử sang Pháp tham gia đoàn đại biểu VNDCCH tại Hội nghị 4 bên. Giữa năm 1970 về nước được giao nhiệm vụ : Vụ phó Vụ Bắc Mỹ đặc trách "vấn đề tù binh"- trong đó có vấn đề giặc lái Mỹ bị bắt. Vào lúc này, cuộc đấu tranh về vấn đề tù binh diễn ra rất gay gắt giữa ta và Mỹ. Sau khi đắc cử, với bản chất hiếu chiến, Nixon đưa ra chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" mà trong đó Nixon chủ động khuấy mạnh vấn đề tù binh, cụ thể là vấn đề phi công Mỹ bị bắt giam ở miền Bắc Việt Nam. Trên bàn đàm phán chúng thực hiện chính sách "thương lượng trên thế mạnh", giữ thái độ cứng rắn, đưa ra những yêu sách vô lý- Chúng trắng trợn xuyên tạc vu cáo Việt Nam đối xử độc ác với tù binh Mỹ như tra tấn, đánh đập, không cho ăn uống đầy đủ, không cấp thuốc khi tù binh bị ốm đau, buồng giam chật chội, tối tăm mất vệ sinh v.v... Chúng nêu lên tình cảnh như là các phi công Mỹ phải sống rất đau khổ cả về thể xác và tinh thần. Ở trong nước Mỹ, Nixon phát động những phong trào "tưởng nhớ tù binh" hết sức rầm rộ- Tổ chức một phong trào viết và gửi kiến nghị cho chính phủ Việt Nam, tổ chức cho các gia đình tù binh đến gặp đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài để hỏi tin tức tù binh- Chúng xuyên tạc Việt Nam không thi hành công ước quốc tế về tù binh, đòi hỏi để các Hội chữ thập đỏ quốc tế đi kiểm tra các trại tù binh ở Việt Nam v.v... Làm những việc trên, chúng cố tạo nên hình ảnh bi thảm của tù binh Mỹ ở Việt Nam. Mưu đồ của Nixon là lợi dụng tình cảm của nhân dân Mỹ nhằm lái dư luận Mỹ vào chống Việt Nam - Nếu dư luận Mỹ hướng mạnh vào chống VN thì nhân dân Mỹ sẽ nương nhẹ, hoặc có thể bỏ qua những hành động tăng cường và mở rộng chiến tranh xâm lược của chúng ở Việt Nam và Đông Dương. Và mặt khác, chúng còn hòng gây sức ép buộc ta phải thả tù binh Mỹ không điều kiện để chúng dễ bề thực hiện "Việt Nam hoá chiến tranh", lấy được tù binh Mỹ về mà không cần có giải pháp chấm dứt chiến tranh. Trong một hai tháng đầu, nhờ vào hệ thống truyền thông hiện đại, chiến dịch xuyên tạc nhằm bôi nhọ Việt Nam và đánh lạc hướng dư luận của Nixon có phần nào đạt kết quả. Dư luận thế giới có phần băn khoăn nghi hoặc, phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh có phần lúng túng. Nhưng chiến dịch "Vì tù binh Mỹ" của Nixon dựa vào sự xuyên tạc và vu cáo nên khi sự thật được bày tỏ thì thủ đoạn đó mất tác dụng. Chính sách nhân đạo với tù binh của Việt Nam đã được thực hiện rất có hiệu quả trong nhiều thời kỳ trước đây chống quân xâm lược đông đúc hùng mạnh. Đến thời đại Hồ Chí Minh đã nâng chính sách nhân đạo này lên một tầm cao mới. Những tù binh Pháp sau khi được thả về nước thực sự trở thành lực lượng có vai trò nổi bật trong phong trào phản đối cuộc chiến tranh bẩn thỉu của thực dân Pháp ở Đông Dương.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2012, 10:55:46 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #277 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 09:16:27 pm » |
|
Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã áp dụng những biện pháp chiến tranh cực kỳ tàn bạo, đầy tội ác. Chính phủ và nhân dân Việt Nam vẫn thực hiện chính sách nhân đạo đối với các phi công Mỹ bị bắt dù họ phạm những tội ác vô cùng dã man với nhân dân Việt Nam. Mặc dù đất nước Việt Nam đang bị tàn phá khốc liệt, những thứ cần thiết phục vụ cho đời sống rất thiếu thốn nhưng Việt Nam vẫn cố gắng bảo đảm sức khỏe và đời sống mọi mặt bình thường nhất là mặt tinh thần, tình cảm cho các phi công Mỹ bị bắt.
Chúng ta chủ trương mở một đợt đấu tranh, phối hợp với phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ để vừa vạch trần sự xuyên tạc vu cáo của Nixon, vừa gắn vấn đề thả tù binh Mỹ với rút hết quân Mỹ để tăng sức ép buộc Nixon phải sớm chấm dứt chiến tranh, rút hết quân đội Mỹ về nước song song với việc ta thả tù binh.
Việt Nam sẵn sàng đón tiếp các đoàn và những nhân vật nổi tiếng đến Việt Nam tìm hiểu tình hình tù binh. Những đoàn đã đến, trong đó có đoàn phong trào hoà bình Mỹ, cựu Bộ trưởng tư pháp Mỹ Ram Sey Clard, chủ tịch hội ân xá quốc tế v v Họ vào thăm trại giam, gặp gỡ nói chuyện phỏng vấn tù binh Mỹ.
Họ đều có nhận xét tốt về chế độ giam giữ và đối xử của ta với tù binh. Họ phát biểu trong các cuộc họp báo và viết đưa tin khá rộng rãi nên những tin đó truyền đi rất nhanh.
Cũng thời điểm đó, bà Nguyễn Thị Bình trưởng đoàn đàm phán của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam tại hội nghị Pa-ri liên tiếp đưa ra những tuyên bố, những điểm nói rõ thêm mà trong đó tập trung nêu rõ:
+ Chính phủ Hoa Kỳ phải rút hết quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, phải định rõ thời hạn cho việc rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
+ Nếu chính phủ Hoa Kỳ đưa ra thời hạn rút hết quân thì các bên sẽ thoả thuận cùng một lúc về thể thức của 2 việc:
a. Việc rút hết quân Mỹ và quân phe Mỹ một cách an toàn
b. Việc thả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt trong chiến tranh (bao gồm các phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc) để tất cả số người trên có thể sớm trở về với gia đình.
Hai việc trên đây sẽ bắt đầu cùng một ngày và hoàn thành cùng một ngày.
Thế giới và ngay trong nước Mỹ bình luận rất sôi nổi về tuyên bố của bà Nguyễn Thị Bình. Dư luận báo chí nhận xét rằng "đây là cơ hội hiếm có để Nixon có lối thoát", "chưa bao giờ Mỹ lại có vẻ bất lực và trơ trụi như bây giờ", "Nixon đã trở thành tù binh của vấn đề tù binh" v.v...
Phong trào nhân dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam càng phát triển rộng rãi, mạnh mẽ.
Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, hội thảo diễn ra ở khắp nước Mỹ, có cuộc đông tới nửa triệu người đòi Nixon đáp ứng những đề nghị thiện chí của bà Nguyễn Thị Bình.
Tại thượng nghị viện Mỹ, liên tiếp trong nhiều ngày, nhiều thượng nghị sỹ đưa ra dự thảo nghị quyết đòi Nixon đưa ra thời hạn rút quân Mỹ về nước để tù binh Mỹ sớm được trở về.
Ngày 25/1/1972, dưới sức ép của dư luận Mỹ, Nixon xuất hiện trên vô tuyến truyền hình để đối phó và trịnh trọng tuyên bố, trong đó có nội dung chủ yếu là "Trong vòng 6 tháng, sau khi đã đi đến một thoả thuận:
- Chúng ta sẽ rút hết các lực lượng Mỹ và đồng minh ra khỏi Nam Việt Nam - Chúng ta sẽ trao đổi toàn bộ tù binh;
- Sẽ có ngừng bắn trên toàn Đông Dương; - Sẽ có một cuộc bầu Tổng thống ở Nam Việt Nam".
Như vậy là tuy chưa thật cụ thể, chưa đưa ra được thời điểm rút hết quân, nhưng đây là lần đầu tiên Nixon phải nói đến rút hết quân và rút trong vòng 6 tháng nhất là coi như phải chấp nhận rút quân và thả tù binh được tiến hành song song.
Để tăng thêm sức mạnh tiến công tháng 2/1972, bà Nguyễn Thị Bình lại đưa ra một tuyên bố nhan đề: "Hai vấn đề then chốt trong 7 điểm được nói rõ thêm". Trong tuyên bố này nhấn mạnh: "Chính phủ Mỹ phải đưa ra một thời hạn dứt khoát cho việc rút hết toàn bộ quân đội, cố vấn, nhân viên quân sự, vũ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và của các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không kèm theo điều kiện gì. Thời hạn dứt khoát đó cũng là thời hạn trả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt trong chiến tranh (bao gồm cả những người lái máy bay Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam)".
Thật là cụ thể, rõ ràng và dứt khoát- nó lại một lần nữa góp phần với nhân dân Mỹ đẩy mạnh phong trào phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
Chính quyền Nixon càng bị lên án, càng bị thúc ép đã buộc phải đi vào thương lượng nghiêm chỉnh. Tuy còn nhiều thủ đoạn xảo quyệt, dùng cả biện pháp quân sự mạnh B52 tập kích chiến lược, nhưng cuối cùng phải chấp nhận ký hiệp định Pa-ri, cam kết chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân và nhận được toàn bộ số tù binh Mỹ bị ta bắt trên cả 2 miền Nam-bắc.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2012, 10:57:01 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #278 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 09:18:45 pm » |
|
*
* * Trong những tuần và những ngày cuối cùng trước khi diễn ra việc ký kết hiệp định Pa-ri, việc thương lượng về nội dung điều 8 về trao trả còn diễn ra gay go, quyết liệt. Phía Mỹ nêu yêu sách là tuy việc trao trả tù binh và rút quân được bắt đầu cùng một ngày nhưng trao trả tù binh phải kết thúc trước 2 tháng so với việc rút quân Mỹ. Phía Mỹ còn thoái thác trách nhiệm của mình đối với việc trao trả nhân viên quân sự Việt Nam. Chúng ta nghiên cứu vấn đề này rất kỹ để có thể khắc phục được những trở ngại cuối cùng, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản lớn nhất của ta. Đó là Mỹ phải rút hết quân đội Mỹ trong vòng 60 ngày; Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Chúng ta muốn có 1 văn kiện ký kết về vấn đề trao trả tù binh về tù dân sự để có cơ sở pháp lý buộc cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải thực hiện, chống lại mọi hành động gây trở ngại về vấn đề nhạy cảm này. Ngày 20/11/1972 Mỹ đưa cho đoàn ta một văn kiện, trong đó chỉ nêu những điểm liên quan đến tù binh Mỹ, đòi Việt Nam phải có trách nhiệm đối với trao trả tù binh Mỹ tại Lào và Campuchia, đề cao vai trò của Uỷ ban quốc tế hạ thấp vai trò của Uỷ ban liên hợp. Ngày 14/12/1972 ta chính thức đưa cho đoàn Mỹ dự thảo nghị định thư của ta về việc trao trả tù binh, rất cụ thể, chi tiết gồm 4 chương. Qua nhiều lần bàn bạc đấu tranh, đến ngày 2/1/1973 trong cuộc họp trưởng đoàn các chuyên viên Mỹ từ chỗ không chấp nhận làm nghị định thư đã đi đến chỗ có thể làm. Nghị định thư của ta đưa ra, có những chỗ cột chặt trách nhiệm của Mỹ với vấn đề trao trả nhân viên quân sự Việt Nam, nhân viên dân sự Việt Nam và nhiều chỗ khá hấp dẫn có lợi cho tù binh Mỹ như trao trả hết, đối xử tốt với tù binh, giúp đỡ tìm kiếm tin tức những người Mỹ mất tích, bị chết v.v... Ngày 11/1/1973 Mỹ đưa cho ta một dự thảo nghị định thư gồm 5 chương, tuy có lấy nhiều điểm trong dự thảo nghị định thư của ta nhưng có 1 số điểm còn phải bàn bạc thêm. Hai đoàn chuyên viên làm việc liên tục ngày đêm, rất gay go căng thẳng và quyết liệt. Hai bên cũng đã thoả thuận được văn kiện cuối cùng của Nghị định thư về trao trả vào sáng 19/1/1973. Đó là Nghị định thư của hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam về việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ. Văn kiện này đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của 4 chính phủ tham gia cuộc hội nghị Pa-ri ký vào ngày 27 tháng 01 năm 1973. Đại diện ta và đại diện Hoa Kỳ trao đổi về thủ tục trao trả nhân viên quân sự Hoa Kỳ
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Ba, 2012, 10:58:21 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #279 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 10:58:42 pm » |
|
*
* * Nghị định thư về trao trả tù binh và tù dân sự vừa được 2 đoàn Việt Nam và Mỹ thoả thuận vào buổi sáng ngày 19/01/1973 thì đến trưa Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch gọi tôi đến và nói: "Bây giờ anh phải trở về ngay Hà Nội, cho in ngay các văn bản Hiệp định và các Nghị định thư kèm theo Hiệp định để kịp phân phối cho Việt Nam thông tấn xã, đài phát thanh, các báo chí để họ có thời gian nghiên cứu trước và viết bình luận khi Hiệp định được ký kết và công bố. Sau đó anh sẽ tham gia Ban liên hợp quân sự 4 bên ở Sài Gòn để thực hiện việc trao đổi tù binh. Anh đã tham gia trực tiếp đấu tranh về vấn đề tù binh với Mỹ nên anh nắm được những chỗ lắt léo và phức tạp của nó". Thế là các thủ tục xuất nhập cảnh được làm gấp và sáng 20/1/1973, tôi từ biệt Pa-ri trở về Việt Nam. Lòng tôi rộn ràng vui sướng vì qua những năm tháng đấu tranh quyết liệt, Hiệp định Pa-ri sắp được ký kết, ta và Mỹ đã thoả thuận về nghị định thư trong vấn đề trao trả- một trong những vấn đề trở ngại đã được giải quyết. Niềm vui của tôi được nhân lên khi thấy kết quả của công tác nghiên cứu về trao trả của "bộ phận tù binh" đã đóng góp được phần nhất định. Và tôi còn được tham gia vào Ban liên hợp quân sự 4 bên để tiến hành công tác trao trả- Nó sẽ là dịp được kiểm nghiệm trên thực tế những chủ trương biện pháp đấu tranh của ta trong vấn đề trao trả mà ta đã đưa ra tại Hội nghị Pa-ri. Đã trên 35 năm trôi qua, điều làm cho tôi ấn tượng sâu sắc là các sỹ quan của 2 tiểu ban trao trả trong 2 đoàn đại biểu quân sự của ta rất tự tin, nắm vững những điều khoản trong hiệp định và nghị định thư nên thái độ đấu tranh rất chững chạc đàng hoàng luôn ở tư thế tấn công một cách sắc sảo. Còn thái độ của sỹ quan của cả Mỹ và nguỵ là rất thụ động, số sỹ quan trao trả của Mỹ thì lúc nào cũng chăm chăm hỏi là bao giờ các ông đưa danh sách của đợt này, số lượng là bao nhiêu và lúc nào bắt đầu trao trả v.v... Sỹ quan nguỵ Sài Gòn thì né tránh, nói năng ngỗ ngược, đưa ra những đòi hỏi vô lý để làm chậm tiến độ trao trả hoặc là trắng trợn gây khó khăn ở trên bàn hội nghị, ở những cuộc đi thăm trại giam của Sài Gòn và ở những địa điểm trao trả. Suy nghĩ của tôi là do chính sách tù binh của ta rất nhân đạo, khi tiến hành trao trả thì ta trả hết không giữ lại một tù binh nào và thực hiện những điều trong Nghị định thư trao trả một cách đúng đắn, nghiêm chỉnh- Còn phía Sài gòn thì họ đã thi hành một chính sách man rợ, tra tấn, gông cùm rất vô nhân đạo mà thực tiễn trong những buổi trao trả đã phơi bày rất rõ ràng- Khi trao trả thì Nguỵ Sài gòn không chịu trả hết, tìm mọi cách dây dưa, không phổ biến nghị định thư trao trả theo quy định trong hiệp định Pa-ri. Đặc biệt 2 đoàn đại biểu quân sự của ta đã sử dụng một cách có hiệu quả cao nhất vấn đề trao trả tù binh Mỹ. Nắm rất vững điểm chính yếu là quân Mỹ và quân chư hầu phe Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 60 ngày kể từ khi ký hiệp định Pa-ri và việc trao trả những nhân viên quân sự các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày rút quân. Có thời điểm Mỹ dây dưa việc rút quân, đòi hỏi Việt Nam phải trao trả những phi công Mỹ bị bắt ở Lào thì mới rút quân đợt cuối cùng. Chính quyền Sài gòn gây nhiều cản trở trao trả những quân nhân của ta bị bắt. Nhưng con bài tù binh Mỹ đã được sử dụng để đấu tranh quyết liệt với Mỹ nên Mỹ không thể không rút quân theo thời hạn mà Hiệp định Pa-ri đã quy định, chính quyền Sài gòn phá hoại cản trở nhưng cũng phải trao trả một số đông nhân viên quân sự của ta trong thời hạn đó. Ngày 29/3/1973, khi ta trao trả những tù binh cuối cùng tại sân bay Gia Lâm- Hà Nội thì cũng là lúc mà những binh lính cuối cùng của quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam dưới sự kiểm tra kiểm soát của sỹ quan quân đội nhân dân và quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Đà Năng- Các sỹ quan của ta chứng kiến cuộc trao trả tù binh Mỹ ở Gia Lâm đã về đến Đa vít. Các sỹ quan trong bộ phận đi kiểm tra kiểm soát những tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam cũng về đến trại Đa vít. Mọi cán bộ chiến sỹ chạy ùa đến hỏi han ríu rít- Tự nhiên biến thành một cuộc họp rất vui, rất đông đúc. Cuộc họp tự nhiên hình thành này tại trụ sở của hai đoàn Đại biểu quân sự cách mạng tại trại Đa vít giữa thành phố Sài gòn thật sự là cuộc họp mừng thắng lợi quân Mỹ đã phải cút hết khỏi Việt Nam- Cuộc họp này vui lắm nghe các anh kể lại cuộc trao trả những tên tù binh Mỹ cuối cùng ở sân bay Gia Lâm và đặc biệt là những tên lính cuối cùng của Mỹ rút như thế nào ở sân bay Đà Nẵng và Tân Sơn Nhất. Thế là 2 đoàn đại biểu quân sự cách mạng được chứng kiến sự kiện lịch sử thực hiện trọn vẹn vế thứ nhất trong thơ chúc Tết của Bác Hồ xuân 1969. Một đồng chí ở Ban thông tấn báo chí có sáng kiến mở máy ghi âm nghe lại lời Bác xuân 1969 " Vì độc lập vì tự do Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào Tiến lên chiến sỹ đồng bào Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn"
Mọi người xúc động thầm hứa với Bác sẽ phấn đấu thực hiện vế thứ hai trong thơ Bác: "Đánh cho nguỵ nhào". Kể từ 115 năm nay, lần đầu tiên tính từ ngày hôm nay 29/3/1973 trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, quân đội xâm lược các đế quốc đã bị quét sạch. Hà Nội, tháng 10/2008 Trao trả trước thời hạn 20 nhân viên quân sự Hoa Kỳ trước sự chứng kiến của Ủy ban Quốc tế và đại diện Ban liên hiệp quân sự 4 bên
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|