altus
Moderator

Bài viết: 1782
|
 |
« Trả lời #320 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 08:43:46 am » |
|
việc đóng góp phải theo tỉ lệ bình đẳng giữa 4 bên ký kết nhằm thể hiện thiện chí của ta, đề cao uy tín Việt nam DCCH và Chính phủ CMLT, chống Mỹ- nguỵ dùng tài chính thao túng UBQT. Cái này thì tụi Mỹ sau này chúng có bình luận là công sản hay không cộng sản, mấy ông Châu Á chỉ được cái kẹt xỉ thì nhất nhưng tìm mọi cách để ra oai. 
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #321 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 01:11:29 pm » |
|
(Tiếp: UỶ BAN ỌUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT TRONG HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM 1973)
II - UBQT trong thi hành Hiệp định Paris (28/1/1973 - 30/4/1975)
Ngày 24/1/1973, Việt Nam DCCH và Mỹ - thay mặt các bên tham gia Hội nghị Paris - mời 4 nước tham gia thành viên UBQT.
UBQT bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực vào 0 giờ (GMT) ngày 28/1/1973, tức 8 giờ sáng 28/1/1973 (giờ Hà Nội), song song với cơ quan Liên hợp quân sự (Ban LHQS).
Các đoàn thành viên quốc gia Balan, Canada, Hungari, Indonesia đều có Trưởng đoàn cấp Đại sứ và Phó trưởng đoàn cấp Tướng. Mỗi đoàn có số lượng sĩ quan, cán bộ, nhân viên cao nhất là 290 người.
* Bước vào thi hành Hiệp định :
- Mỹ chỉ thi hành rất ngắn hạn một số điều khoản nhất định để bảo đảm được việc rút quân Mỹ, đưa tù binh Mỹ về nước; còn lại Mỹ chủ mưu, khuyến khích nguỵ Sài Gòn phá hoại toàn bộ Hiệp định, tiếp tục Việt Nam hoá chiến tranh, làm suy yếu, cô lập lực lượng cách mạng miền Nam, xoá bỏ chính phủ cách mạng lâm thời (CPKMLT), độc chiếm miền Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Nhằm mục đích đó, Mỹ-nguỵ ra sức phá hoại việc triển khai và hoạt động của các Ban LHQS là tổ chức đại diện cho các bên; ngược lại triệt để lợi dụng việc triển khai và hoạt động của UBQT rộng.khắp để bao che vi phạm, tội ác của họ, vu cáo ta, tranh thủ dư luận phục vụ mưu đồ đen tối.
- Phía Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT sẵn sàng chấp nhận cuộc đọ sức chính trị, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định để hoà bình thực sự được lập lại, hoàn thành sự nghiệp cách mạng trong hoà hợp và hoà giải dân tộc, đưa đất nước đi lên. Nhằm mục đích đó ta kiên quyết thực hiện việc triển khai và hoạt động có hiệu quả của các Ban LHQS song song và phối hợp chặt chẽ với hệ thống tổ chức của UBQT. Tuy nhiên, nếu Mỹ-nguy ngoan cố, cố tình phá hoại Hiệp định, làm cho xung đột quân sự ngày càng tăng cường độ và chiến tranh trở lại, thì ta phải tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để thắng lợi hoàn toàn.
- Các nước thành viên UBQT, do mỗi bên giới thiệu khác nhau, cũng có thái độ quan điểm khác nhau : Canada, Indonesia (thời chống cộng của Suharto), Iran (thời Quốc vương) là đồng minh của Mỹ, thân phương Tây, chống cộng, ra sức làm chỗ dựa cho Mỹ-nguy thực hiện ý đồ trong UBQT. Balan và Hungari (thành viên XHCN) luôn luôn xác định đúng đắn nghĩa vụ quốc tế bảo vệ quyên lợi của Cách mạng Việt Nam, coi đó là nguyên tắc cho hành động của mình, do đó đồng tình, ủng hộ chủ trương của ta đối với UBQT.
- Trong bối cảnh trên, quá trình đấu tranh triển khai và hoạt động của UBQT diễn ra khó khăn, căng thẳng. Tuỳ thuộc vào các yếu tố cơ bản là diễn biến chiến trường và tình hình hoạt động của Ban LHQS, có thể tổng kết về UBQT theo 3 thời kỳ sau đây :
+ Thời kỳ Ban LHQS 4 bên (28/1 - 29/3/1973) + Thời kỳ Ban LHQS 2 bên (4/1973 - 6/1974)
+ Thời kỳ chấm dứt Ban LHQS 2 bên đến tổng tấn công xuân 1975 (6/1974 - 30/4/1975).
* Thời kỳ Ban LHOS 4 bên (28/1 - 29/3/1973 : Mỹ cút - UBQT hoạt động thuận chiều.
Điểm nổi bật trong thời gian 60 ngày này là : Mỹ thi hành các điều khoản ngừng ném bom, tháo gỡ mìn ở miền Bắc, ngừng bắn ở miền Nam, trao đổi tù binh để đổi lấy việc rút được quân Mỹ, lấy tù binh Mỹ về nước. Điều cốt lõi là "Mỹ cút" đã được thực hiện. Tuy nhiên, ngay từ đầu, Mỹ cấp tốc chuyển vũ khí cho nguỵ bằng cầu hàng không "Enhance plus", lập tổ chức mới DAO (Văn phòng Tuỳ viên Quốc phòng) đưa nhân viên quân sự vào duy trì sự có mặt quân sự ở miền Nam Việt Nam.
Nguỵ Sài Gòn nỗ lực tối đa lấn chiếm đất, dành dân, đánh phá cơ sở cách mạng theo kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" từ tấn công Cửa Việt (28/1/1973), đánh chiếm Sa Huỳnh (Đức phổ - Quảng Ngãi), một số nơi khác ở miền Trung, vùng chung quanh Sài Gòn đến đồng bằng sông Cửu Long.
Ban LHQS 4 bên đi vào hoạt động ở cấp Trung ương và ở khu vực 4 (Phan Thiết) nhưng không triển khai xuống 6 khu vực khác và 26 địa phương được do địch đánh phá địa điểm hẹn đón đoàn CPCMLT, hành hung cán bộ hai đoàn ta đến nơi triển khai hoạt động, lấn chiếm vùng giải phóng. Trong khi đó, Mỹ-nguy thúc đẩy nhanh triển khai UBQT xuống các khu vực và địa phương để lợi dụng theo ý đồ của chúng, bất chấp không có mặt và sự hợp tác của Ban LHQS ở cấp tương đương.
Dù sao, trong thời gian khẩn trương của buổi ban đầu thi hành Hiệp định, nhờ có sự phối hợp-hợp tác giữa Ban LHQS và UBQT ở cấp Trung ương, nên UBQT đã cử được các Tổ kiểm soát và giám sát thông suốt một sô chuyến trao trả tù binh, một số đợt rút quân Mỹ - đặc biệt là toán quân cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam ngày 29/3/1973 đã xem xét và công nhận vụ vi phạm ngừng bắn của nguỵ Sài Gòn ở Cửa Việt. Đây là mốc son đầu tiên UBQT đạt được trong thực hiện nhiệm vụ; nhưng cũng bộc lộ sự hạn chế trong khả năng vạch ra tính chất nghiêm trọng và quy mô vi phạm Hiệp định của Mỹ nguy ngay từ đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #322 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 01:16:14 pm » |
|
* Thời kỳ Ban LHOS hai bên (4/1973 - 6/1974) :
Nguy phá toàn diện Hiệp định - sóng gió trong hoạt động UBQT. Trên chiến trường, nguỵ Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp định toàn diện, có hệ thống, rất nghiêm trọng. Chúng mở rộng tấn công quân sự, lấn chiếm vùng giải phóng, gây lại chiến tranh. Đến 10/1973, chúng đã chiếm thêm 900 ấp, đóng thêm 523 đồn bốt, dồn hơn triệu dân vào vùng chúng kiểm soát (Sách Trại Davis 823 ngày đêm - trang 99).
Ta kiên quyết đánh trả tại nơi lấn chiếm,.trừng trị nơi xuất phát và các nơi khác Từ Quảng Trị đến Tây.Nam bộ ta đã chống trả quyết liệt, chặn được hành quân bình định của địch, thu hồi và mở rộng vùng giải phóng.
Ban LHQS hai bên chỉ còn ở cấp Trung ương. Do ngụy Sài Gòn phá hoại việc triển khai các đoàn Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT xuống địa phương trong thời kỳ Ban LHQS Trung ương 4 bên, nên ta không triển khai các đoàn Chính phủ CMLT xuống các Ban LHQS 2 bên ở khu vực và địa phương nữa. Ban LHQS TƯ 2 bên trở thành diễn đàn đấu tranh gay gắt và quyết liệt tố cáo nhau vi phạm Hiệp định.
Về UBQT, nguỵ Sài Gòn mạo danh Ban LHQS 2 bên Ờ khu vực, địa phương (không có phía Chính phủ CMLT) đã lợi dụng các tổ UBQT - mà đại bộ phận đóng trong vùng chúng kiểm soát, do chúng nắm và khống chế phương tiện thông tin, vận chuyển - tăng cường gửi thư khiếu nại, ra sức thúc đẩy UBQT đi điều tra ở mức cao nhất về nhịp độ và số lượng theo yêu cầu của chúng; đồng thời viện mọi lý do về an toàn, phương tiện và sĩ quan liên lạc để ngăn cản UBQT điều tra các vi phạm do ta tố cáo. Chúng còn đặt trận địa pháo cạnh trụ sở tổ UBQT bắn vào vùng giải phóng, lợi dụng hành lang bay dùng cho UBQT vào mục đích do thám và ném bom.
Phía ta tố cáo mạnh mẽ với UBQT hành động của Mỹ tiếp tục can thiệp, dính líu quân sự ở miền Nam Việt Nam, ngụy Sài Gòn vi phạm ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh, phá hoại trao trả tù dân sự, vi phạm các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Ta đòi các cuộc điều tra của UBQT phải trên cơ sở hoạt động và hợp tác với Ban LHQS 2 bên, có sự tham gia của đại diện 2 bên, tôn trọng nguyên, tắc chủ quyền, hiệp thương nhất trí; kiên quyết chống một số thành viên UBQT điều tra đơn phương và nguỵ Sài Gòn cản trở điều tra theo yêu cầu của ta.
Thời kỳ này, UBQT chỉ làm được một việc tích cực là kiểm soát và giám.sát đợt trao trả nhân viên dân sự tháng 2,3/1974. Còn lại thì bị sa lầy về điều tra vi phạm đơn phương của Canada và Indonesia, bị Balan, Hungari và Chính phủ CMLT kiên quyết phản đối.
Canada "không coi Chính phủ CMLT là một bên có chủ quyền; cho điều tra vi phạm là nhiệm vụ chủ yếu, bao trùm của UBQT; nguyên tắc nhất trí không phải là quyền phủ quyết để bác bỏ hoạt động của các đoàn khác"; chủ động đưa ra dự thảo "Thủ tục hoạt động của UBQT" cho phép UB có quyền rộng rãi tự do đi lại, quyết định điều tra mà không tham khảo ý.kiến và sự tham gia của bên Chính phủ CMLT. Indonesia cũng coi "nguyên tắc nhất trí không thể được sử dựng để một số đoàn buộc các đoàn khác làm theo ý mình, điều tra đơn phương không trái với điều khoản Hiệp định". Với lập trường, quan điểm đó, họ tiến hành điều tra vi phạm tràn lan, đơn phương theo yêu cầu của Mỹ-ngụy, tự mình kết luận xuyên tạc, đơn phương tiết lộ thông tin, công bố kết luận cho dư luận báo chí, gây lẫn lộn giữa kẻ vi phạm và người bảo vệ Hiệp định, vu cáo ta và đổ trách nhiệm cho Balan-Hungari cản trở hoạt động của UBQI. Nghiêm trọng hơn, ngày 28/6/1973, hai sĩ quan Canada ở Tổ Xuân Lộc tự ý đi vào vùng Cam Tiêu do Chính phủ CMLT kiểm soát và bị bắt giữ, đến ngày 15/7/1973 được ta trao trả tại Xuân Lộc.
Balan-Hungan chống lại những hành động sai trái của Canada-Indonesia vì đi ngược lời văn và tinh thần Hiệp đinh Paris về UBQT.
Đoàn Chính phủ CMLT trong Ban LHQS 2 bên Trung ương không thừa nhận tính hợp pháp và giá trị của các cuộc điều tra đơn phương của Canada-Indonesia vì trái quy định nguyên tắc hoạt động UBQT và không phản ảnh khách quan nguyên nhân (kẻ gây chiến tranh) và hậu quả đánh trả, trừng trị kẻ vi phạm).
Bất lực và thất bại trong áp đặt và thực hiện mưu đồ lợi dụng UBQT bao che cho Mỹ-nguỵ, làm suy yếu lực lượng cách mạng miền Nam, tháng 6/1973, Canada quyết định rút khỏi UBQT, đến 19/7/1 973 rút hết đoàn Canada về nước.
Từ đây hoạt động UBQT bị đình trệ cho đến đầu 10/1 973, khi đoàn Iran đến thay thế Canada theo lời mời của các bên ký kết Hiệp định. Trong thời gian này, Chính phủ CMLT mời 3 đoàn Balan-Hungari-Indonesia đi thăm vùng căn cứ Lộc Ninh, thủ phủ vùng giải phóng miền Nam vào ngày 12/9/1973, để lại ấn tượng hữu nghị tốt đẹp.
Ngày 29/8/1973, đoàn tiền trạm Iran đến Sài Gòn, cuối tháng 9/1973 Đại sứ, Trưởng đoàn cùng toàn đoàn đến đầy đủ. UBQT trở lại hoạt động bình thường từ 10/1973, trọng tâm tập trung vào điều tra vi phạm do 2 bên miền Nam VN đều tăng cường gửi công hàm tố cáo đến UBQT. Ta phát huy thế chủ động tấn công với số lượng công hàm vượt xa khiếu nại của nguy Sài Gòn (924 công hàm với 18.791 vụ, so với 672 khiếu nại với 12.435 vụ của nguy).
Từ kinh nghiệm đổ vỡ trong thời kỳ Canada, hai bạn Balan-Hungari cùng 2 đoàn ta đã tiếp xúc tác động mạnh đến 2 đoàn Indonesia-Iran, đòi chấn chỉnh thủ tục hoạt động của UBQT, đòi xét khiếu nại vi phạm theo trình tự thời gian, cân bằng số lượng của hai bên, cử sĩ quan hai bên tham gia và bảo vệ an toàn, không điều tra độc lập tách khỏi Ban LHQS. Từng bước ta đã hướng UBQT hoạt động theo chiều hướng trên, nhưng trong điều kiện so sánh lực lượng trong UBQT ngang nhau, thực tế khó mà đi đến kết luận nhất trí về vi phạm của một bên nào như điển hình là vụ Lộc Tấn (nguy oanh tạc vùng giải phóng), vụ Cai Lậy (nguy vu cáo ta bắn pháo vào trường học). Tờ Times 1/1975 đã viết "Thực ra cơ cấu tổ chức UBQT chính là điều đã làm cho UBQT khó mà hoạt động thích đáng được. Tuy thế, nếu UBQT tan vỡ thì khả dĩ việc ấy sẽ là cái tát cuối cùng vào mặt Kissinger và vào Hiệp định Paris". Indonesia-Iran giảm bớt điều tra đơn phương. Iran coi việc đó "chỉ là đi tìm sự kiện", không phải là tài liệu của UBQT và không công bố ra dư luận.
Ta cũng yêu cầu UBQT giảm tổ chức và nhân viên theo điều 18c của Hiệp định; chính thức thông báo không có khả năng đóng góp tài chính cho UBQT từ 1974 vì Mỹ phá hoại Hiệp định, không thi hành điều 21 về "Hoa Kỳ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh".
Đi đôi với đấu tranh, ta tăng cường tranh thủ, tiếp xúc ngoại giao, hữu nghị và giao lưu văn nghệ-thể thao với UBQT. Chính phủ CMLT mời UBQT thăm bản doanh chính phủ ở Cam Lộ-Đông Hà-Quảng Trị từ 12 đến 14/11/1973. Chính phủ Việt Nam DCCH mời UBQT ra thăm Hà Nội và miền Bắc từ 29/1 đến 1/2/1974.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #323 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 01:28:38 pm » |
|
* Thời kỳ chấm dứt hoạt động Ban LHOS 2 bên Trung ương đến Tổng tấn công giải phóng Sài Gòn : ngụy nhào - UBQT tự giải thể (6/1974-30/4/1975).
Nguy Sài Gòn xoá bỏ Hiệp định, quyết đánh bật cộng sản, giải quyết vấn đề miền Nam bằng quân sự. Chiến trường sôi động, nóng bỏng, chiến sự lan rộng và quyết liệt tình trạng chiến tranh diễn ra khắp miền Nam.
Không thể thực hiện sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bằng biện pháp hoà bình theo Hiệp định Paris, ta không có con đường nào khác là buộc phải dùng bạo lực cách mạng để hoàn thành mục tiêu đó. Với đà đánh trả trừng trị vi phạm và chủ động tấn công, không những ta đã giành lại các vùng bị lấn chiếm, khôi phục thế đứng trước ngày ký Hiệp định (Trị Thiên - khu 5) mà còn mở thêm nhiều khu vực ở Tây Nguyên (Pleiku - Kon Tum), đánh mạnh ở Đông Nam bộ, giải phóng hành lang Nam bộ - Tây Nguyên, làm chủ một số vùng ở khu 8 (Nam Bắc đường 4), giải phóng nhiều địa bàn quan trọng ở khu 9, tiến lên giải phóng toàn tỉnh Phước Long ngày 6/1/1975. Hình thái đó tạo ra thế chiến lược to lớn để ta mở đòn chiến lược Xuân-hè 1975 : tấn công giải phóng Ban Mê Thuột (10/3/1975) và Tây Nguyên, chiến dịch giải phóng Huế-Đà Năng, và cuối cùng là trận quyết chiến chiến lược "chiến dịch HỒ Chí Minh" lịch sử (26/4-30/4/1975) hoàn toàn giải phóng miền Nam. "Nguỵ nhào.
Bối cảnh đã rõ rệt là từ 6/1974 hoạt động Ban LHQS 2 bên Trung ương đi vào bế tắc và tê liệt, không còn khả năng đạt được bất cứ kết quả tích cực nào trong đàm phán nữa.
Ngày 22/6/1974 Bộ Ngoại giao Chính phủ CMLT tuyên bố đình chỉ vô thời hạn họp Ban LHQS 2 bên Trung ương. Ngày 8/10/1974 Chính phủ CMLT ra Tuyên bố đòi Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc của miền Nam Việt Nam; đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hoà bình, hoà hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Paris; tuyên bố chính thức đình chỉ mọi cuộc họp Ban LHQS 2 bên Trung ương và Tổ LHQS 4 bên về người mất tích. Ngày 11/10/1974, chính phủ Việt Nam DCCH cũng ra Tuyên bố tương tự.
Ta chuyển mạnh từ trực diện đấu tranh với đối phương đòi thi hành Hiệp định sang đấu tranh dư luận hỗ trợ chiến trường. Với thế pháp lý, chính trị, ngoại giao mạnh, ta vẫn duy trì hai đoàn đại biểu Việt Nam DCCH và Chính phủ CMLT ở Trại Davis - Sài Gòn, giữ quan hệ bình thường với UBQT, tăng cường hoạt động với giới báo chí truyền thông, dương cao ngọn cờ chính nghĩa cách mạng, tố cáo hành động chiến tranh-phá hoại Hiệp định của Mỹ-nguỵ, tranh thủ sự thông cảm, đồng tình ủng hộ của dư luận đối với việc ta buộc phải dừng tấn công quân sự đánh trả để bảo vệ Hiệp định. Các cuộc họp báo tại Trại Davis hàng tuần với đông đảo báo chí quốc tế tham dự, việc tổ chức cho nhà báo đi thăm vùng giải phóng và thường xuyên liên lạc trực tiếp với các nhà báo... đã đem lại kết quả tích cực, tạo dư luận thuận lợi cho ta về diễn biến chiến sự ở chiến trường, kể cả khi ta tổng tấn công giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Đối với UBQT, Mỹ-nguỵ vẫn cố duy trì nguyên trạng triển khai các tổ khu vực và địa phương mặc dù bị uy hiếp về an toàn do chiến sự lan rộng và nhiều nơi không có đại biểu Balan-Hungari (đã rút do hoàn thành nhiệm vụ theo điều 18c, do bị hành hung, do Air America doạ cắt chuyến bay liên lạc, do nguỵ đặt pháo cạnh trụ sở UBQT...). âm mưu của chúng là dùng UBQT làm lá chắn ngăn chặn tấn công quân sự của ta, nhất là tấn công lớn vào Sài Gòn; vu cáo ta; khi thất thế dùng UBQT làm trung gian thương lượng cứu nguỵ khỏi sụp đổ.
Tuy nguỵ ở bước đường cùng nhưng lndonesia-Iran vẫn cố bám trụ lại các tổ UBQT khu vực và địa phương, tiếp tục đòi xét và điều tra khiếu nại để vu cáo ta, bao che cho nguỵ. Lúc này, trong số 26 tổ địa phương, có 10 tổ chỉ có Indonesia và Iran; trong 6 tổ ở biên giới, có 3 tổ chỉ có Indonesia-Iran. Mãi đến khi 2 đại uý Indonesia và Iran bị mắc kẹt ở Ban Mê Thuột sau tấn công của ta thì hai đoàn này mới lo ngại về an toàn cho nhân viên của họ, buộc phải rút dần các tổ về Sài Gòn. Hai sĩ quan nói trên được ta trao trả ở Lộc Ninh ngày 17/5/1975.
Đánh giá tình hình chung đã vượt xa khỏi tầm nhiệm vụ của UBQT, ta kiến nghị với lãnh đạo các đoàn quốc gia thành viên UBQT thực hiện phượng châm : "Nếu UBQT không làm được điều gì tốt (tức là lên án xâm lược và chiến tranh của" Mỹ-nguy) thì không nên làm điều gì xấu" (tức là kết luận vi phạm đối với hành động quân sự đánh trả của ta).
Trên tinh thần đó, ta đẩy mạnh gửi công hàm cho UBQT tố cáo hành động chiến tranh của nguỵ Sài Gòn mà không yêu cầu UBQT điều tra, chỉ nhằm tấn công về mặt dư luận.
Ta tăng cường đoàn kết phối hợp với hai bạn Balan-Hungari bằng giao ban hàng ngày, thông báo hàng tuần, tháng tại Trại Davis hay tại trụ sở đoàn bạn tại trung tâm Sài Gòn. Đặc biệt, đã tiến hành hai cuộc hội nghị cấp thứ trưởng ngoại giao 4 chính phủ Việt Nam DCCH, Chính phủ CMLT, Chính phủ Balan, Chính phủ Hungari tại Budapest 5/1974 và Hà Nội 2/1975, thống nhất đánh giá tình hình và chủ trương trong hai bước ngoặt, khi Ban LHQS 2 bên bị tê liệt và khi chiến trường chuyển từ tấn công chiến lược sang tổng tiến công kết thúc chiến tranh.
Việc ta giành toàn thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh - giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam đánh dấu sự kết thúc của UBQT. Các đoàn Indonesia, Iran đã rút hết cùng với đợt di tản hoảng loạn của Mỹ-nguỵ khỏi miền Nam. Các đoàn Balan, Hưngari còn ở lại Sài Gòn chứng kiến và chung vui mùa Xuân đại thắng của dân tộc Việt Nam mà trong đó bạn đã có sự đóng góp to lớn, kể cả xương máu của mình (2 sĩ quan Hungari đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, Phó đoàn Hungari Uranowich đã dũng cảm cởi áo chỉ cho quân cảnh nguỵ bắn vào tim mình khi tên này doạ bắn để ngăn cản ông vào trụ sở Ban LHQS ở Trại Davis). Đến ngày 7/5/1975 các bạn rời Sài Gòn về nước như những người chiến thắng, mang theo niềm thương nhớ, ngưỡng mộ và biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với tình quốc tế cao cả của họ.
UBQT đã hoạt động hơn 2 năm và tự giải thể như thế đó.
Hiệp định Paris đã kết thúc như thế đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #324 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 01:31:12 pm » |
|
III - Một vài kết luân. 1. UBQT kiểm soát và giám sát có vị trí, vai trò quan trọng trong giải pháp về mặt quốc tế của Hiệp định Paris. Đó là sự bảo đảm quốc tế về giá trị pháp lý của Hiệp định, sự công nhận quốc tế đối với các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là vị thế của Chính phủ CMLT Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Đài BBC ngày 25/9/1974 đã nói : "Chừng nào UBQT còn tồn tại thì Hiệp định Paris vẫn còn có được cơ hội thực hiện. Một khi không còn UBQT thì chẳng khác gì đóng cá vào chiếc quan tài, đem chôn vùi Hiệp định Paris". Tuy nhiên, đây là con dao hai lưỡi trong việc phán xét trước công luận thế giới thái độ thi hành Hiệp định của hai bên và điều đó phụ thuộc vào diễn biến thi hành Hiệp định và tác động của mỗi bên ký kết đối với UBQT. .2. Trong đàm phán Hiệp định Paris, ta đã đạt nội dung ký kết về UBQT rất tốt, tiến bộ và chặt chẽ hơn so với UBQT trong Hiệp định Geneve, đặc biệt về thành phần quốc gia thành viên, bộ máy tổ chức, nhiệm vụ, các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền miền Nam Việt Nam - hiệp thương nhất trí, quan hệ phụ thuộc và phối hợp giữa UBQT với Ban LHQS đại diện cho các bên ký kết Hiệp định. Trong thi hành Hiệp định, ta nắm vững, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ và thực hiện triệt để thành quả pháp lý nói trên, giữ cho UBQT hoạt động theo đúng tinh thần và lời văn của Hiệp định trong thực thi nhiệm vụ của mình, bảo đảm tính vô tư khách quan. Đài BBC ngày 25/9/1974 đã phản ảnh thực tế trên như sau : "Từ khi có thương thuyết dẫn đến Hiệp định Paris, rõ ràng là phía cộng sản muốn cho UBQT rất.nhỏ, có phạm vi hoạt động có hạn định, không được dính dấp vào các vấn đề ở miền Nam Việt Nam. Nay có được cơ hội giới hạn tầm hoạt động của UBQT vào cái vai trò mà phía cộng sản đã định lúc ban đầu, thành thử giới hạn thu hẹp vai trò UBQT rõ ràng là có lợi cho phía cộng sản, nhất là vào lúc phía cộng sản đang có những cuộc tấn công". 3. Mặc dù âm mưu Mỹ-nguỵ rất thâm độc, thái độ của các thành viên đối lập trong UBQT rất xấu, nhưng ta và các thành viên XHCN đã phối hợp đấu tranh tốt, đem lại một số kết quả tích cực. Nổi bật là : - UBQT đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát Mỹ và chư hầu rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam và một số đợt trao trả tù binh, tù dân sự. - Trong tổng số 390 cuộc điều tra UBQT đã tiến hành, UBQT đã kết luận được 5 vụ nguỵ Sài Gòn vi phạm Hiệp định : lấn chiếm Cửa Việt (28/1/1973), hành hung đoàn ta ở Huế (10/2/1973), ném bom Đức Cơ (19/2/1973), bắn pháo vào trụ sở UBQT ở Bảo Lộc (2/4/1973), bắn phá vào Núi Giai ở Tri Tôn (3/4/1973). Trong khi đó, UBQT đã không có bất cứ một kết luận vi phạm nào đối với phía ta, kể cả những vụ nguy Sài Gòn làm rùm beng vu cáo ta về việc máy bay UBQT bị rơi ở Ly Tôn, quân nguỵ rút chạy Ở Tống Lê Chân, cái gọi là "tù binh Bắc Việt”, bắn pháo vào trường học ở Cai Lậy.... - Ta đã gửi đến UBQT một số lượng công hàm áp đảo để tố cáo, vạch mặt địch phá hoại Hiệp định, đẩy mạnh chiến tranh; qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh dư luận chung, tạo thuận lợi cho hỗ trợ và phục vụ chiến trường. 4. Việc hoàn thành tốt nhiệm vụ về công tác UBQT là do các nguyên nhân thắng lợi sau đây : - Ta có sức mạnh chính nghĩa : đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ. - Ta có thế mạnh về pháp lý, ngoại giao trên cơ sở Hiệp định Paris. Nắm vững các điều khoản của Hiệp định liên quan đến UBQT, đặc biệt các nguyên tắc về hoạt động của UBQT : tôn trọng chủ quyền, hiệp thương nhất trí, quan hệ phối hợp và phụ thuộc giữa UBQT với Ban LHQS là rất quan trọng để chống lại âm mưu của Mỹ-nguỵ Sài Gòn lợi dụng UBQT và hành động "độc lập", "đơn phương" sai trái của các thành viên đối lập trong UBQT. - Kịp thời chuyển biến sự chỉ đạo công tác về UBQT theo chuyển biến chiến lược chung trên chiến trường khi tình hình đã thay đổi cơ bản : từ giai đoạn đàm phán trực tiếp đấu tranh thi hành Hiệp định sang giai đoạn đấu tranh pháp lý, ngoại giao, dư luận phối hợp và phục vụ cho tấn công vũ trang để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. - Tăng cường đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với hai thành viên XHCN Balan và Hưngari là một vấn đề nguyên tắc, là chỗ dựa cơ bản của ta để củng cố vững chắc thế cân bằng lực lượng trong UBQT, tạo thế mạnh cho cả ta và bạn đẩy lùi mọi mưu đồ lợi dụng UBQT gây hại cho ta. Đồng thời thực hiện tốt sách lược đấu tranh và tranh thủ đối với các thành viên khác trong UBQT (Canada, Indonesia và Iran thay cho Canada). Ta cần và có khả năng vận dụng sách lược này để hạn chế mặt tiêu cực, phân hoá, cô lập tuỳ theo thái độ của từng đối tượng, trong từng thời gian. Thực tế họ tham gia UBQT là do lựa chọn của Mỹ-nguy và họ đương nhiên ủng hộ cho Mỹ-nguỵ chống lại ta. Tuy nhiên do vị trí, hoàn cảnh khác nhau của mỗi nước và do thế mạnh của ta nên thái độ của họ đối với ta cũng khác nhau. Ta kiên quyết đấu tranh chống hành động xấu của họ có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời không phân biệt đối xử, duy trì quan hệ bình thường về xã giao và ngoại giao, tranh thủ hữu nghị để làm chuyền biến từng bước, tức là vừa đấu tranh, vừa tranh thủ, hai mặt này tác động đến nhau và đem lại kết quả tích cực. Ngày 26 tháng 10 năm 2008
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #325 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 05:44:33 pm » |
|
 Ông Vũ Nam Bình TÀI TRÍ NGOẠI GIAO Ở TRẠI ĐAVIT Nguyễn Hải Hiền Kỷ niệm 31 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, phóng viên báo Quốc tế đã có cuộc gặp với ông Vũ Nam Bình, thành viên đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại trại Davis, hiện là trưởng Ban liên lạc Câu lạc bộ bạn chiến đấu Ban liên hiệp quân sự trại Davis (khu vực phía Bắc) Ngay sau Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), quân và dân ta bước vào một trận tuyến mới theo phương thức đấu tranh mới: Đó là đấu tranh thi hành Hiệp định Paris. Theo thỏa thuận bốn bên, ngày 28/1/1973, hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sẽ có mặt ở Sài Gòn. Sau khi đi bằng máy bay C130 và trực thăng từ Hà Nội và Lộc Ninh vào trại Đavít nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất, các cán bộ chiến sĩ - những nhà ngoại giao của ta bắt đầu 823 ngày đêm giữa sào huyệt của kẻ thù. Đây là quãng thời gian sẽ còn được nhắc đến nhiều, bởi chính tại đây, những nhà ngoại giao mặc áo lính, với tinh thần yêu nước sâu sắc, trí thông minh, lòng dũng cảm, nhạy bén và mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” đã góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc ta. Nhớ lại những ngày gian khổ và thiếu thốn trong trại Đavít để đối phó với địch, ông Bình hé lộ “có rất nhiều chuyện lý thú đấy” Ông đã kể cho tôi nghe một chuyện “đặc biệt hay” mà ông nhớ mãi với lòng khâm phục đối với nhà ngoại giao - Đại tá Võ Đông Giang. Tại cuộc họp cấp trưởng đoàn với chính quyền Sài Gòn, đại tá Võ Đông Giang là phó trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN đi họp thay trưởng đoàn bàn về vấn đề gai góc là trao trả và chúng ta đã vạch rõ những hành vi vi phạm Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn. Ông Bình lúc đó là phó trưởng tiểu ban trao trả của Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN, nên cũng được tham gia đoàn. Khi đoàn ta vừa đến nơi, trưởng đoàn chính quyền Sài Gòn là chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp đã nêu ra một vấn đề không ăn nhập gì với những nội dung mà Hội nghị cấp trưởng đoàn đang bàn dở trong mấy phiên trước, hoàn toàn có tính khiêu khích: - Ông phó trưởng đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời mang cái tên là Võ Đông Giang, nhưng ông không phải là Võ Đông Giang, mà tên ông là Phan Bá. Ông đã từng là Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Kon Tum thời kỳ chống Pháp, sau đó ông làm vụ trưởng của Bộ Ngoại giao Bắc Việt, rồi ông đi sang làm đại sứ của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Cuba, chứ ông chưa hề ở trong quân đội ngày nào. Phan Hòa Hiệp hí hửng nói vậy tưởng là có thể áp đảo được đại tá Võ Đông Giang và sẽ làm ông lúng túng. Thế nhưng đại tá Võ Đông Giang vẫn tỏ thái độ rất bình thản. Bằng giọng nói rõ ràng, ông thủng thẳng nói với Phan Hòa Hiệp: - Chuẩn tướng đưa ra câu chuyện cũng lý thú đấy chứ. Chuẩn tướng có cần nói thêm gì không, chúng tôi sẵn sàng nghe tiếp?. Thấy đối phương im lặng, đại tá Võ Đông Giang “bồi” luôn: - Có phải ông Hiệp đưa nội dung này ra để bàn trong hội nghị hay chỉ là câu chuyện tầm phào? Câu hỏi khó này đã khiến Phan Hòa Hiệp lúng túng: - Không, không, tôi chỉ nêu vậy thôi, để ông biết chúng tôi biết rõ các ông như thế nào! Trong lúc này, một số cán bộ của đoàn ta ngồi bên đã viết mấy chữ chuyển lên cho đại tá Võ Đông Giang, đại ý đây chỉ là đòn gió. Riêng ông Vũ Nam Bình, vì nắm được rõ lai lịch của Phan Hòa Hiệp nên đã ghi vài dòng chuyển cho đồng chí Võ Đông Giang, rằng Hiệp là người Pháp, mẹ là người Việt. Cái tên Phan Hòa Hiệp là phiên âm từ Francois Hiệp. Sau cách mạng tháng 8/1945, Hiệp là lính Đệ tam sư đoàn vốn là thanh niên “phòng vệ đoàn” đây là một tổ chức thanh niên vũ trang tay sai cho phát xít Nhật. Khi Pháp đánh trở lại, sư đoàn này tan rã và đầu hàng Pháp. Hiệp cũng nằm trong số đó… Đọc xong mẩu giấy này, đại tá Võ Đông Giang hỏi lại Phan Hòa Hiệp xem có hỏi gì nữa không, nhưng Hiệp không nói gì nữa. Rất chậm rãi, ông bảo: - Đến lượt tôi phát biểu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #326 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 06:01:51 pm » |
|
Đại tá Võ Đông Giang nêu ra 3 vấn đề cho Phan Hòa Hiệp:
- Một là, ngay sau cuộc họp này đề nghị Chuẩn tướng quân đội Việt Nam Cộng hòa cách chức tất cả những tay tình báo đưa ra cái tin về lai lịch của tôi như ông vừa nói. Thứ hai, nếu ông Chuẩn tướng muốn lấy tin tức này để làm nội dung thảo luận trên diễn đàn cấp trưởng đoàn hôm nay thì tôi cũng đồng ý. Chúng ta sẽ cùng lật ngửa con bài. Chuẩn tướng biết gì về tôi cứ nói ra hết, còn tôi sẽ nói về lai lịch của Chuẩn tướng, một lai lịch không lấy gì làm đẹp đẽ. Và tôi tin rằng những người của phía các vị ngồi đây cũng không hiểu lai lịch của chính vị Chuẩn tướng của mình đâu. Thứ ba, nếu đưa tin tức làm câu chuyên tầm phào, đi đến cãi cọ nhau một cách vô bổ để lảng tránh hoặc làm mất thời gian bàn bạc việc chính yếu, thì đó chỉ là trò lố bịch. Không thể lảng tránh vấn đề mà ta cần bàn bạc, đó là vấn đề trao trả nhân viên dân sự. Đó không phải là tư cách của những nhà ngoại giao quân sự để bàn việc thực thi Hiệp định Paris mà các bên đã ký kết. Ở diễn đàn cấp trưởng đoàn này không có chỗ nào cho việc đưa ra tin tức theo kiểu đó…
Vô cùng bối rối, Phan Hòa Hiệp và các cộng sự ngồi im, đề nghị giải lao 15 phút. Trong giờ giải lao, Phan Hòa Hiệp nói với ông Võ Đông Giang:
- Đại tá phê phán tôi dữ quá. Tôi chỉ là lính đánh nhau, chỉ là võ biền thôi chứ đâu có được làm ngoại giao như đại tá.
Ông ta như nói với chính mình rằng đấu khẩu với nhà ngọai giao này là một điều dại dột! Ông Võ Đông Giang là một người có kinh nghiệm về ngoại giao, nên những ý kiến ông nêu ra trong cuộc bàn luận thường là hợp tình, hợp lý và dễ được chấp nhận. Ông Bình cho biết, chính vì ông Võ Đông Giang có kinh nghiệm nên ông hướng dẫn tỉ mỉ cho cán bộ trong đoàn cách đấu tranh, cách suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề. Trong vấn đề đấu tranh đòi trao trả nhân viên dân sự, ta gặp nhiều khó khăn. Mỹ và ngụy Sài Gòn đều rất sợ nếu những nhân viên dân sự được thả ra, họ sẽ lại tiếp tục tham gia cách mạng, họ cho rằng thả tù chính trị là “thả hổ về rừng”. Vì vậy, ông Võ Đông Giang đã bàn bạc rất kỹ với trưởng đoàn Hoàng Anh Tuấn và phó trưởng đoàn Đặng Văn Thu về cách thức đấu tranh thế nào để có thể buộc đối phương thả tù chính trị. Ông Võ Đông Giang và lãnh đạo Đoàn B đưa ra ý kiến là bàn với Tổ Liên hợp quân sự về mồ mả và mất tích của đoàn VNDCCH để phía ta trao trả cho họ một số hài cốt, làm chất xúc tác để đòi Mỹ ép chính quyền Sài Gòn. Ông đề xuất ý kiến là ta hãy nêu công khai những người đã công khai rõ ràng rồi, như Võ Thị Thắng, Huỳnh Tấn Mẫm để đấu tranh xem đối phương mưu đồ như thế nào…những người chưa công khai thì ta chưa nêu ra đề phòng kẻ thù thủ tiêu.
Trong những lúc đấu tranh gay gắt nhất cũng chính là lúc ông Võ Đông Giang bình tĩnh nhất. Trước những thái độ khiêu khích của địch, các đồng chí xung quanh thấy ông không bao giờ mắc mưu. Chủ đề chính của cuộc họp là bàn về vấn đề trao trả nhân viên dân sự, nhưng đối phương thường nêu ra hết việc này đến việc khác để lái ông theo, nhưng ông luôn tập trung cao độ, chú ý không để đối phương lảng tránh vấn đề cần bàn. Đã có lúc, ngay trong bàn đàm phán, đối phương khiêu khích bằng cách nói những điều xấc xược về cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta hoặc xưng hô bậy bạ với ông nhưng ông không nhụt chí mà trái lại, ông luôn bình tĩnh, vững vàng, phân tích một cách sâu sắc vạch trần mưu đồ xấu xa của Mỹ - ngụy và lên án chúng một cách mạnh mẽ. Chính vì thế, trong những cuộc đấu trí, khi cần phân tích về lý lẽ chặt chẽ, Đoàn rất tín nhiệm cử ông tham gia.
Dù thời gian dành cho buổi trò chuyện với phóng viên báo Quốc tế không nhiều vì đại tá Vũ Nam Bình đang bận “theo dõi phiên bế mạc Đại hội X”. nhưng ông không quên kể cho tôi nghe câu chuyện tại thời điểm trước khi quân ta tiến vào Sài Gòn. Đó là thời điểm mà các cán bộ trong trại Đavít đang tính toán về trụ bám và chiến đấu như thế nào. Đúng lúc đó, Bộ tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh cho điện báo sẽ có một lực lượng đặc công vào để đưa các đồng chí ra. Đảng ủy đoàn họp chớp nhoáng và nhận dịnh làm như vậy nếu bị lộ sẽ nguy hiểm nên xin phép được ở lại trại. “Vì không có cuốc xẻng nên chúng tôi đã lấy cọc màn đào hầm và xin được một số thủ pháo của Bộ chỉ huy Miền để sẵn sàng chống trả” – ông Bình cười tươi khi ôn lại thời điểm đáng nhớ ấy – “Sau giờ phút chiến thắng, Đoàn ta mới nhận được thông tin cho biết trên bàn làm việc của tên Cao Văn Viên - Tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy một tờ lệnh. Trước lúc bỏ chạy, hắn đã kịp ra lệnh nếu như có một tiếng súng nào ở trại Đavít bắn ra thì lập tức phải tiêu diệt. Trước đây chúng cũng có ý định bắt sống 300 người chúng tôi làm con tin rồi đấy, nhưng chúng đã không làm được gì cả…” Khi đề tặng cuốn sách trại Davis 823 ngày đêm, do ông và một số người khác tổ chức biên soạn, ông bật mí “đọc cuốn sách này sẽ biết nhiều điều lý thú”. Cảm ơn ông, tôi sẽ đọc và hy vọng có một dịp khác được “chia sẻ” với nhiều bạn đọc về cuộc sống của những con người đã không quản hy sinh, gian khổ, bền bỉ đấu tranh ngay trong vòng vây của kẻ thù ở trại Davis năm xưa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #327 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 09:45:09 pm » |
|
CÓ MỘT TRẬN TUYẾN THẦM LẶNG Nguyễn Văn Khả và Đình Quốc Kỳ Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam được đại diện bốn chính phủ ký kết tại Paris. Các thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà (CPVNDCCH - Đoàn A) và chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN - Đoàn B) trong Ban Liên hợp quân sự 4 bên (BLHQS 4 bên) đều đã sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ. Cũng như các cơ quan nghiệp vụ khác, Quân uỷ Trung ương và Quân uỷ miền Nam (B2) đã giao nhiệm vụ cho cơ quan bảo vệ quân đội khẩn trương tổ chức lực lượng cán bộ nghiệp vụ vào tham gia trong hai phái đoàn quân sự của ta tại BLHQS. Cục bảo vệ an ninh quân đội (Cục BVANQĐ) thuộc Tổng cục chính trị – QĐNDVN, cơ quan chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ, ngay từ đầu đã giành cho trận địa mới này một sự quan tâm đặc biệt. Tăng cường những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm thực tiễn như các anh Trần Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Tiên, Nguyễn Văn Bổ, … và nhiều đồng chí có nghiệp vụ chuyên sâu. Phòng bảo vệ Quân giải phóng miền Nam (B2) cử các đồng chí Vũ Nam Bình, Vương Sinh, Nguyễn Văn Ve,… trong đoàn đại biểu quân sự CPCMLTCHMNVN. Nhiều sĩ quan an ninh từ các chiến trường khẩn trương được điều động về làm nhiệm vụ. Họ từ khu V trung dũng, kiên cường đi đầu diệt Mỹ, từ Tây Nguyên bất khuất, vùng ven địa đạo Củ Chi hay đồng bằng sông nước Cửu Long… Số lượng các sĩ quan của ngành bảo vệ quân đội tham gia BLHQS khoảng hơn một trăm đồng chí. Bộ nội vụ (nay là Bộ công an) đã đặc biệt chi viện cho trận tuyến mới này một trăm bốn mươi cán bộ an ninh được tôi luyện trong cuộc đấu tranh với kẻ thù giấu mặt. Trong số đó có nhiều đồng chí là cán bộ lãnh đạo như các anh: Võ Văn Măng, Nguyễn Thanh Đức, Đỗ Hoàng Trừ, Thân Hồng Tâm, Nguyễn Hoàng (Hai An) và Nguyễn Đức Minh (tự Quyết)… Có những cán bộ an ninh vừa kết thúc nhiệm vụ ở Hội nghị Paris về thẳng hai đoàn ta ở trại Davis. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước và quân đội từ cấp cao nhất đã gặp gỡ trực tiếp, ân cần động viên những thành viên của hai đoàn trong đó có cán bộ an ninh trước lúc lên đường. Ngoài Bắc là các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Ở miền Nam là các đồng chí Phạm Hùng, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà,… Những lời dặn dò thật chân tình, mưu lược sâu sắc. Các anh đã chỉ rõ việc Mỹ ngụy phải ký kết Hiệp định Paris, đối với chúng đó là một thất bại thảm hại nhưng cũng chỉ một bước lùi chiến lược, mưu đồ của Mỹ là quyết giữ miền Nam trong quỹ đạo. Vì vậy, chúng sẽ ra sức phá hoại và không thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định, chúng phá cả trước mắt và lâu dài; Đối với hai đoàn đại biểu quân sự ta trong BLHQS sẽ là đối tượng tập trung đánh phá của chúng. Bởi lẽ, muốn phá hoại Hiệp định thì phải đánh ngay vào những thành viên thực hiện nhiệm vụ thi hành Hiệp định. Các anh căn dặn phải hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước những mưu ma, chước quỷ của kẻ địch. Thủ tướng Phạm Văn Đồng căn dặn Đoàn A trước lúc lên đường: - Các đồng chí ạ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là những kẻ xấu xa, tệ hại nhất trong những bọn bán nước từ trước đến nay. Họ không từ một thủ đoạn nào để phá hoại và cản trở công việc thi hành Hiệp định. Họ có thể giở những thủ đoạn hèn hạ vô cùng mà chúng ta không tưởng tượng nổi nữa kia. Nhưng chúng ta có chính nghĩa, có nhân dân, có chỗ dựa pháp lý, có dư luận tiến bộ trên thế giới, nhất định họ sẽ thất bại! Trung tướng Trần Văn Trà - Trưởng Đoàn B, nói chuyện với Đoàn trước lúc vào Sài Gòn: - Hôm nay là 28.01.1973, đối phương hẹn đón Đoàn ta tại sân bay Thiện Ngôn – Bắc Tây Ninh. Riêng việc này ta cũng phải cảnh giác. Chúng ta chưa tập trung ra địa điểm ấy, ta cử một tổ trinh sát ra đó theo dõi. Khi máy bay của họ đến đón, có sĩ quan của ta ra làm việc với họ. Nếu thấy thật đảm bảo thì chúng ta mới ra để đi vào Sài Gòn. Chúng ta trực tiếp chiến đấu với kẻ thù Mỹ ngụy hàng chục năm nay rồi, ta hiểu mọi mưu mô đen tối của chúng. Lần này, chúng ta vào giữa sào huyệt của chúng, chiến đấu trên một mặt trận mới. Chúng ta càng phải rất tỉnh táo, nhạy bén và bằng bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu kiên cường, nhất định chúng ta sẽ đánh bại mọi mưu đồ đen tối, mọi thủ đoạn phá hoại hết sức xảo quyệt, trắng trợn, xấu xa, bỉ ổi, ti tiện của chúng!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #328 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2012, 09:53:34 pm » |
|
Đúng như phán đoán ở trên, địch đã hèn hạ cho máy bay đến ném bom tại điểm Thiện Ngôn chỉ sau đó hơn 1 giờ…
Thật vậy, đúng với những dự báo của cơ quan nghiệp vụ, đối phương đã chuẩn bị một kế hoạch tình báo hỗn hợp toàn diện nhằm đánh vào hai phái đoàn ta trước khi ký Hiệp định Paris. Kế hoạch này được các cơ quan: Tình báo Mỹ CIA ở Sài Gòn, Tổng nha cảnh sát ngụy, Phủ đặc uỷ Trung ương tình báo, Cục an ninh quân đội ngụy và Phòng 2 Bộ tổng tham mưu quân đội ngụy cùng nhau thống nhất thực hiện.
Trước hết họ đánh giá cán bộ, chiến sĩ ta đã trải qua nhiều năm chiến đấu trên các chiến trường vô cùng ác liệt, thiếu thốn đủ bề, nay vào vùng kiểm soát của họ tiếp xúc với cơ sở vật chất và điều kiện ăn ở đỡ vất vả hơn những ngày ở vùng căn cứ, ngoài trận địa… Đây là dịp họ có thể dùng nhiều loại thủ đoạn để tác động đến anh em ta. Chúng chú trọng tìm hiểu quê quán, thân nhân, bạn bè đang ở trong vùng chúng kiểm soát để sử dụng vào kế hoạch tình báo được chuẩn bị rất kỹ từ trước. Nhưng kẻ địch cũng hiểu rằng cán bộ, chiến sĩ của ta đều đã được rèn luyện, thử thách trong lửa đạn chiến tranh, dạn dày trong gian khổ, ác liệt, một lòng một dạ trung thành với sự nghiệp cách mạng… Tuy vậy, chúng vẫn tìm mọi cách tiếp cận, tấn công nhằm khai thác những sơ hở dù là rất ít hi vọng vào một cá nhân nào đó (!). Chúng còn dự kiến có thể “phải mạnh tay hơn” dùng thủ đoạn bắt cóc, thủ tiêu khi cần thiết. Trường hợp đặc biệt chúng sẽ tiến hành đầu độc, đối với các đồng chí lãnh đạo nếu có điều kiện thì khống chế, bắt cóc, vu khống,… Trong tay đối phương có những tên đầu hàng, phản bội. Những tên này cúc cung tận tụy với chủ hòng kiếm chác được lòng tin của quan thầy Mỹ ngụy nên chúng ra sức khai báo tâng công. Một số tên khi còn là cán bộ quân đội ta, chúng biết khá rõ về một số đồng chí lãnh đạo của hai phái đoàn ta trong BLHQS. Với hàng nghìn tấm ảnh chúng đã chụp cán bộ, chiến sĩ ta khi vừa đặt chân xuống vùng chúng kiểm soát, chụp nhiều hướng và ở các cự ly, do nhiều tay chụp để cho bọn đầu hàng phản bội nhận mặt từng người… Chúng là những tên Lê Xuân Chuyên, Hà Văn Ý, Tám Hà, Đoàn Văn Hạ, Lê Duy Quyền, Mai Hoa Yến…
Đối tượng đấu tranh của ta trên trận tuyến này là những tên đối diện trực tiếp trên bàn hội nghị, trong tiếp xúc hàng ngày, bọn chúng đều có bề dày kinh nghiệm chống phá cách mạng, đàn áp nhân dân. Trong số đó có những tên tình báo, gián điệp, mật vụ tham gia BLHQS, đây là loại lính xung kích, phản động nhất, hận thù sâu sắc nhất, chúng chống phá cách mạng quyết liệt nhất và đàn áp đồng bào yêu nước không hề run tay. Điển hình như tên Dương Hiếu Nghĩa trâng tráo nói: “Trong người tôi chỉ có dòng máu chống cộng!” Tên Phan Văn Tiến – Cục trưởng cục truyền tin ngụy, không hề giấu giếm thân phận tay sai bán nước của mình, hắn lải nhải: “Hậu phương của chúng tôi là Oa-sinh tơn, chính sách của chúng tôi là chiến tranh, chia cắt đất nước là không thể tránh khỏi!…”
Đó là những tên láo xược, trắng trợn, luôn mồm hò hét chống cộng, chống lại hoà bình, hoà hợp dân tộc, ra sức phá hoại Hiệp định Paris, đi ngược lại mong muốn chính đáng của cả dân tộc. Còn có những kẻ xảo quyệt hơn, không công khai bộc lộ thái độ chống đối cách mạng, chống lại nhân dân, nhưng loại này không hề thua kém những đối tượng trên. Họ đã gần trọn đời làm tay sai, bán nước cho hết quan thầy Pháp đến Mỹ, táng tận lương tâm và gây tổn thất đáng kể cho cách mạng. Họ là ai? Nhân thân như thế nào? Có vai trò gì trong các phái đoàn của Mỹ và ngụy?… Không khó! Cơ quan an ninh của chúng ta đều nắm và biết rõ về họ! Như những tên đại tá Dương Hiếu Nghĩa, đại tá Trần Vĩnh Đắt làm việc tại Phủ đặc uỷ trung ương tình báo ngụy; tên đại tá Dương Đình Thụ là người của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA); tên thiếu tá Đinh Công Chất là sỹ quan của Cục an ninh quân đội ngụy… Bọn này khá ranh mãnh, tự khoác lên mình những tấm áo dễ lừa mị: “…là người của lực lượng thứ ba, người của bà Ngô Bá Thành; không đồng tình với thái độ chống đối của ông Thiệu; đã từng tham gia đảo chính và giết anh em Ngô Đình Diệm…”
Mỹ ngụy hy vọng với công thức “Quân lực Việt Nam Cộng hoà, đôla và vũ khí Mỹ sẽ giành thắng lợi!”. Từ âm mưu thâm độc đó những thành viên của họ tham gia BLHQS trở thành những tên lính xung kích điên cuồng chống phá việc thi hành Hiệp định. Chúng tấn công chúng ta bằng dùng phi pháo bắn phá, dùng lính phục kích các điểm hẹn đón phái đoàn của ta đến làm việc như ở Thiện Ngôn, Bảo Lộc,… Tại Bảo Lộc, địch phục kích gây thương vong cho ta: 4 hy sinh, 2 bị thương. Xung quanh trụ sở Đoàn ta, địch bố trí hàng chục vọng gác ngăn cản sự tiếp xúc của nhân dân với chúng ta. Từ những vọng gác ấy các họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào các căn nhà nơi ta đang ở, sinh hoạt và làm việc. Cứ mỗi lần có tình huống bất lợi với họ, lập tức chúng cắt điện, cắt nước, bao vây, uy hiếp, cắt các chuyến bay liên lạc hàng tuần giữa hậu phương với phái đoàn ta,… Hạn chế hoặc ngăn cản các nhà báo quốc tế đến dự họp báo, tiếp xúc với ta! Người phục vụ lái xe, sửa chữa điện nước, nhà thầu cung cấp lương thực thực phẩm,… Số người này hầu hết là nhân viên của các cơ quan an ninh, mật vụ, tình báo, cảnh sát đặc biệt ngụy…
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #329 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 09:06:55 pm » |
|
Đúng như dự đoán của ta về mưu đồ phá hoại của Mỹ ngụy đối với hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng và thực tiễn đấu tranh đã chứng minh rất chính xác là:
Đối phương đã khiêu khích vu khống, uy hiếp, đe doạ hòng tác động tư tưởng cán bộ, chiến sĩ ta, cản trở việc triển khai các mặt hoạt động của ta. Chúng gây khó khăn trong toàn bộ hoạt động của việc kiểm tra rút quân, trao trả, kiểm tra các trại giam của Mỹ ngụy, điều tra những vi phạm ngừng bắn, các cuộc họp báo của ta, các chuyến bay liên lạc giữa Sài Gòn với Hà Nội, với Lộc Ninh… Tham vọng của Mỹ ngụy khi đề ra mục tiêu đánh phá vào nội bộ hai đoàn ta, chúng tập trung vào việc cài cắm cơ sở, lôi kéo, câu nhử người chạy sang hàng ngũ của chúng hoặc tạo điều kiện cho đến một nước thứ ba. Chúng đã tính đến khả năng lợi dụng ta sơ hở tổ chức bắt cóc, đặt bẫy rồi tuyên bố công khai là “hồi chính” chạy về với “chính nghĩa quốc gia”…
Ngay từ đầu chúng đã tìm hiểu phát hiện các mối quan hệ ruột thịt, bạn bè, quê hương,… khi có điều kiện, qua thăm dò, khai thác nếu thuận lợi sẽ sử dụng mối quan hệ đó nhằm thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan tình báo giao cho, kể cả trường hợp phải khống chế buộc làm việc theo yêu cầu của chúng.
Địch sử dụng nhân viên nữ đưa vào trại Davis làm lái xe, nhà thầu tiếp phẩm cho ta. Các nhân viên này được huấn luyện kỹ, thành thạo trong giao tiếp với người khác giới, họ tiếp cận thăm hỏi thân mật, rủ rê chiến sĩ, cán bộ ta “đi chơi”. Lê Thị Na và Nguyễn Thị Tâm đều là nhân viên của cơ quan an ninh, tình báo ngụy khi tiếp cận anh em ta thường hỏi nhiều về quê quán, gia cảnh, sở thích cá nhân và cuối cùng rủ rê: “Anh lên xe chở hàng, lát nữa em đưa ra thăm chợ Bến Thành ngoài đó có nhiều hàng hoá đẹp…”
Francoies Hiệp (Phan Hoà Hiệp) chuẩn tướng, trưởng đoàn ngụy, giờ giải lao của một phiên họp cấp trưởng đoàn đã chủ động gặp một đồng chí lãnh đạo Đoàn B và nói rằng mẹ của đồng chí lãnh đạo muốn đến trại Davis thăm có được không? Địch còn cho một số tên mò về Cao Lãnh quê hương anh Bùi Thanh Khiết - Đại tá, phó Đoàn B, chúng lân la dụ dỗ cụ lên Sài Gòn thăm con. Cụ bình thản nói: “Con tôi đi theo cách mạng đánh đuổi quân xâm lược để giải phóng quê hương, các ông định mượn tay tôi lôi kéo nó rời bỏ hàng ngũ cách mạng chứ gì? Không được đâu! Nó có lý tưởng của nó, tôi làm sao biểu nó được!”
Chúng tìm thân nhân một số đồng chí ta làm nhiệm vụ trong hai phái đoàn, bố trí họ vào làm trong trại Davis nhằm tiếp cận để lôi kéo, mua chuộc.
Một số tên là bạn học cũ từ thời trước cách mạng nay gặp một đồng chí lãnh đạo đoàn B của ta đã vồn vã mời về nhà riêng, kể chuyện bạn bè, khoe khoang cuộc sống giầu sang,… cho điện thoại, địa chỉ gia đình, hẹn đưa xe đến đón, hứa chuyển thư, quà giúp đến tay người nhận…
Với những thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt trên địch đều sử dụng đánh phá vào nội bộ hai đoàn ta nhưng chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt và bị thất bại cay đắng. Mỹ ngụy đưa những đối tượng sừng sỏ có nhiều kinh nghiệm hoạt động tình báo, gián điệp vào trận tuyến này nhưng đều không đạt được kết quả. Sau ngày giải phóng tên đại tá Nguyễn Văn Học, nguyên trưởng phòng phản tình báo của Cục an ninh quân đội ngụy là một trong những kẻ cầm đầu các hoạt động phá hoại trong kế hoạch tình báo hỗn hợp với hai đoàn quân sự ta đã thốt lên:
- Chúng tôi đã gặp phải những đối thủ quá rắn, bằng nhiều cách tiếp xúc, câu nhử, lôi kéo, đặt bẫy, gây nghi ngờ… nhưng đều vô hiệu! Các sĩ quan có hạng của chúng tôi về chuyên môn này còn phải lè lưỡi lắc đầu. Hễ thò ra bài gì là bị các vị đập lại ngay, muốn tranh luận với các vị lại càng khó, không thể đấu nổi. Hiệp định Paris được ký kết và sau khi Mỹ rút hết quân là chúng tôi đã bi quan lắm rồi, nhiều người phải lo cho chính mình một hướng đi khác…
Bùi Thiện Khiêm là thiếu tá công binh ngụy nhưng khi biết trong đoàn ta có người nhà, địch đã bố trí Khiêm lo việc điện nước cho ta để được đi lại các khu vực trong trại Davis khi cần thiết và dễ dàng tiếp cận người thân. Ta cũng triển khai ngay đối sách với thủ đoạn này và chặn đứng tham vọng của đối phương, bảo vệ an toàn được nội bộ và cán bộ ta.
Một tên thiếu tá an ninh quân đội ngụy thường lân la tiếp xúc với các sĩ quan trẻ của ta, đây là đối tượng được kế hoạch tình báo Mỹ ngụy hết sức quan tâm vì chúng đánh giá lớp cán bộ này dễ tác động hơn! Có lần hắn gạ gẫm một đồng chí trung uý của ta, hắn nói:
- Bạn thấy không, bên tôi đi đâu cũng có xe cộ, máy bay rất thoải mái. Đâu có lội bộ, chui rúc trong rừng như bên ấy! Có chiêu hồi không? Sao tới giờ vẫn chưa sang với bọn này, bên tôi ăn ở sung sướng, đầy đủ, cuộc sống đủ mùi!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|