Kiên trì với khẩu hiệu "biết người biết ta, trăm trận trăm thắng". Mình xin gửi đến các bạn loạt bài phân tích về thực lực quân sự của Hải quân Trung Quốc ( nhất là hạm đội Nam Hải ) -là lực lượng có khả năng trở thành đối thủ nhất với hải quân Việt Nam trong tranh chấp biển đông tương lai.

.Nguồn của mình là các tài liệu được tổng hợp từ các bài viết trong "tạp chí quân vụ Châu Á", "tạp chí quân sự Thái Bình Dương" ...và 1 số trang web như :
http://baike.baidu.com/view/2219344.htmhttp://baike.baidu.com/view/1238831.htmBÀI PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC LỰC (ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM) CỦA TRANG BỊ VŨ KHÍ CỦA HẠM ĐỘI NAM HẢI-TRUNG QUỐC
KHU TRỤC HẠM "QUẢNG CHÂU"
A/Khu trục hạm "Quảng Châu", số hiệu 168, thuộc chủng loại 052B, cùng với khu trục hạm "Vũ Hán"-169 thuộc loại khu trục hạm tiên tiến đầu tiên do Trung Quốc tự sản xuất.
Độ giản nước 7000 tấn, động cơ Diesel , tốc độ chạy tàu <30 hải lý, 4 ống phóng tên lửa phòng không 4 nòng C-803, 2 giá phóng tên lửa phòng không nòng đơn 9M317 , 1 trụ pháo hạm nòng đơn 100mm có khả năng tàng hình (chống rada) ,2 trụ pháo tầm gần 7 nòng 30mm (tự sản xuất), 4 trụ phóng tên lửa đa chức năng 3 x 6 nòng và 1 bải đáp cho 1 trực thăng chống tàu ngầm KA-28 .
Đây là chiếc khu trục hạm thuộc loại hình thông dụng đầu tiên trong kế hoạch đóng "khu trục hạm viễn dương loại lớn" của hải quân Trung Quốc. Trước đây các chiến hạm như 112, 113, 167...do nhiều yếu tố như độ giản nước không đủ, trọng tải nhỏ hoặc còn mang năng tính thực nghiệm, vì thế không được xem là loại khu trục hạm thế hệ tiên tiến thực sự.
Giống như loại khu trục hạm (KTH) 052C , các kiểu chiến hạm 052B đều do tổng công trình sư nổi tiếng của Trung Quốc là viện sỹ Phan Kính Phù thiết kế. Theo các báo cáo của Trung Quốc,kế hoạch đóng KTH 168 được chính thức nghiên cứu vào năm 1997, năm 1999 bắt đầu định hình thiết kế, qua đó nhận được giải thưởng đặc biệt về tiến bộ khoa học kỷ thuật của chính phủ Trung Quốc vào cuối năm 1999. Đầu năm 2002, chiến hạm bắt đầu được đóng tại xưỡng đóng tàu Giang Nam, năm 2003 được hạ thủy chạy thử. Tháng 1 năm 2004, KTH 168 được chính thức đưa vào sữ dụng, và gia nhập hạm đội Nam Hải.
B/Thiết kế tổng thể :
Thiết kế của KTH 168 có mục đích chủ yếu là tạo ra 1 loại hình chiến hạm mới áp dụng các tiến bộ khoa học quân sự mới nhất và có độ tin cậy cao nhất, qua đó cung cấp 1 nền tảng cho việc nghiên cứu cải tiến và phát triển các loại hình chiến hạm mới cho hải quân Trung Quốc. Chính vì vậy, hải quân Trung Quốc thiế kế tàu dựa trên nguyên tắc 1 khu trục hạm viễn dương đa chức năng loại lớn.
*Loại hình lớn: thiết kế 1 phần không gian rộng lớn , đủ sức trang bị các loại vũ khí chiến đấu hiện đại theo yêu cầu "càng nhiều càng tốt"
*Viễn dương: đủ sức gánh vác nhiệm vụ "tiến ra biển lớn" của hải quân Trung Quốc.
*Đa chức năng: KTH 168 có thể xem là 1 chiến hạm với nhiều loại vũ khí đa dạng: phòng không, chống hạm và chống tàu ngầm. Nhưng chính vì năng lực chiến đấu tổng hợp dẫn đến việc không có ưu thế vượt trội về 1 lĩnh vực nhất định. Trên tàu được trang bị gần như đầy đủ các hệ thống vũ khí ,hệ thống điện tử loại mới do Trung Quốc tự chế tạo (mô phỏng công nghệ vũ khí tiên tiến của nước ngoài).
C/Hệ thống động cơ và thiết kế kiểu dáng:
Mục đích thiết kế của KTH này là tạo nên 1 loại hình khu truc hạm viễn dương loại lớn, điều này được thể hiện rõ nhất qua hệ thống động cơ và kiểu dáng tàu.
1-Thiết kế kiểu dáng:
KTH 168 có chiều dài khỏang 155m, rộng 20m, trọng tải tàu 6800 tấn, trọng tải tàu khi trang bị đầy đủ vũ khí là 7500 tấn .
Kiểu dáng tàu thanh thoát và hiện đại, mũi tàu được thiế kế như 1 góc nhọn , không có các chi tiết thừa và không có nhiều góc cạnh. Kiến trúc thượng tầng sữ dụng thiết kế "nhất thể hóa" ,phần đuôi có hình vây cá. Kiểu thiết kế này mang đến cho tàu khả năng giảm ma sát của gió, tăng tốc độ cho tàu, giảm lực cản của sóng biển trong một mức độ nhất định, ngoài ra còn tăng thêm khả năng chống rada của tàu. Nhưng so với các thiế kế của thập niên 80 trên thế giới, KTH 168 bộc lộ điểm yếu trong tính ổn định và sự linh hoạt qua quá trình chạy thử.
2-Hệ thống động cơ:
Động cơ chính của KTH 168 là điểm đáng lưu ý trong thiết kế tàu. Tàu sữ dụng loại "động cơ liên hợp dầu và khí" đang thịnh hành trên thế giới. Thiết kế động cơ còn có cửa sổ lọc không khí nằm tại ống khói của tuabin khí trên tàu.
Động cơ chính là kiểu (DA/DN80) theo công nghệ của Ukraina, do Trung Quốc tự chế tạo. Động cơ này được sản xuất năm 1995, chiếu dài 4.6m, nặng 16 tấn, tốc độ quay 3000-3600 vòng/phút, công suất 26680.5 ngàn Wat, hiệu suất nhiệt 36.5% . Đây là loại động cơ tiên tiến trên thế giới chỉ sau loại động cơ WR-21 của hải quân Mỹ. Nhưng vì thời gian nghiên cứu chế tạo đến 10 năm nên thời gian ứng dụng và duy tư sữa chửa động cơ vẫn chưa bằng các loại LM2500 của Mỹ.
Động cơ phụ của tàu là động cơ Diesel loại MTUV956TB90 do Trung Quốc tự nghiên cứu và sản xuất. Tính năng không bằng các loại động cơ tiên tiến của thế giới nhưng đủ để đáp ứng yêu cầu chạy tàu.
D/Tính năng tàng hình:
Bắt đầu từ hộ tống hạm cấp "Giang Vệ I " ,bộ khoa học quân sự Trung Quốc bắt đầu đưa tính năng tàng hình trở thành 1 hạng mục quan trọng cần có trong việc thiết kế các chiến hạm cho hải quân. Thiết kế của KTH 168 là kiểu thiết kế "kín", lấy mặt cong thay thế cho mặt phẳng, loại bỏ các góc cạnh, hệ thống vũ khí được bố trí bên trong, hạ thấp chiều cao của hệ thống rada phát tín hiệu. Trong việc thiết kế ống khói động cơ tàu, hải quân Trung Quốc sữ dụng hệ thống làm lạnh kín, sữ dụng tấm cách nhiệt, hệ thống tỏa nhiệt theo tầng và dùng các hệ thống đường ống đặc biệt dẫn khí thải xuống biển, qua đó giảm bớt khả năng bị phát hiện bởi các ra da hồng ngoại, tìm nhiệt. Trong vấn đề giảm âm thanh tiếng ồn, KTH được trang bị ngói lợp giảm thanh, thiết kế khoang giảm âm nhằm hạ thấp âm thanh của động cơ tàu.
Sử dụng nhiều công nghệ mới đã tăng tính năng tàng hình và không bi rada phát hiện cho tàu, nhưng vì trang bị nhiều hệ thống vũ khí theo công nghệ của Nga nên trên mặt tàu bố trí quá nhiều vũ khí ,ảnh hưởng đến khả năng chống rada của nó.
E/Hệ thống vũ khí :
1/Pháo hạm:
Chủ pháo hạm của KTH 168 là 1 trụ pháo đơn nòng 100mm do Trung Quốc sản xuất theo công nghệ của Pháp (có khả năng tàng hình).
Đối tượng công kích chủ yếu là các mục tiêu trên không và trên biển, có khả năng chống tên lửa tầm thấp và thực hiện nhiệm vu pháo kích bờ biển. Tốc độ đạn 870m /giây, độ dài của nòng 5500mm, tốc độ bắn 10-90 phát /phút, tầm bắn 6000m, trọng lượng tháp pháo 17000kg, tỷ lệ bắn trúng mục tiêu trong khỏang cách 20000m là 0.7-0.8 .
Ngoài ra KTH còn trang bị loại pháo phòng không tầm gần "hỏa thần" loại 7 nòng 30mm , kiểu dáng tương tự như 1 hệ thống pháo phòng không của Hà Lan. Hệ thống này được phát triển từ đầu thập niên 90, theo kiểu dáng hệ thống pháo phòng không AK-630 của Nga, nhưng sau đó được cải tiến lên 7 nòng ,tốc độ bắn 5800phát/phút, khả năng phản ứng nhanh, tỷ lệ trúng đạn tương đối cao.
Ngoài ra, KTH này còn trang bị máy tính tóan mục tiêu, hệ thống khống chế nhịp bắn, và lần đầu tiên đưa vào sữ dụng kỷ thuật tự động thao tác bắn. Điểm khác duy nhất so với hệ thống pháo của Hà Lan là không có năng lực tìm và khóa nhiều mục tiêu trên không. Điều này có thể được bù đắp qua khả năng giải trừ điểm ảnh mục tiêu của hệ thống rada 1/K và khả năng dò tìm điểm sáng trong thời gian 3 giây của hệ thống ODF-730.
2/Tên lửa :
*Tên lửa phòng không :
Tại tấm giáp thứ 2 trên mặt thuyền, được lắp 1 giá phóng tên lửa phòng không nòng ống kiểu Nga, đó là hệ thống " 施基利 " .
Đây là thiết kế theo kiểu dáng thập niên 80 của Nga, với hệ thống phóng tên lửa nhiều nòng, phụ trách nhiệm vụ tác chiến phòng không cho tàu và cho cả biên đội. Mục tiêu chủ yếu là máy bay ném bom, máy bay cường kích, trực thăng và các loại tên lửa chống hạm.
Tòan bộ hệ thống do 3 trụ rada phòng không , máy phát tín hiệu, đài phân tích mục tiêu, đài khống chế xạ kích, máy tính trung ương ,hệ thống tên lửa, giá phóng tạo thành tổ hợp phòng không chặt chẻ.
Hệ thống vũ khí gồm 2 giá phóng tên lửa gắn ở đầu và đuôi tàu. Hệ thống tên lửa này có phạm vi quay 360 độ, góc bắn từ 0 đến 70 độ, tốc độ xoay 90- 100 độ/phút. Hệ thống còn có thể tự động gắn tên lửa vào vị trí phóng trong thời gian 12 giây. Tên lửa có tầm bắn 40 km, tốc độ bay march 4, sữ dụng hệ thống rada định vị mục tiêu bán tự động, độ cao từ 10-3000m.
Đặc điểm của tên lửa:
- Tên lửa có bước đột phá trong công nghệ dò tìm và nhắm bắt mục tiêu, tự động sử dụng số liệu mục tiêu tử rada MP-710 để phân tích và tìm diệt mục tiêu. Như vậy đã đơn giản hóa kết cấu hệ thống và gia tăng khả n8ang dò tìm mục tiêu.
- Tên lửa sử dụng kiểu đường đạn hình vòng cung có khả năng ngăn chặn mục tiêu tầm siêu thấp.Có khả năng triệt tiêu được ảnh hưởng của các mục tiêu giả và ánh sáng phản chiếu đối với tên lửa.
- Tên lửa được sản xuất theo công nghê kết cấu mô-đun hóa, có tính linh họat trong sản xuất và lắp đặt tùy theo từng hệ thống rada dùng trong tên lửa. Nhiều nhất có thể trang bị số tên lửa với trong lượng lên đến 1500 tấn.
Nhưng điều đáng lưu ý là KTH 168 không trang bị hệ thống tên lửa phóng chiều thẳng đứng. Đây là điểm khác biệt nổi trội với KTH 170 (đã được trang bị hệ thống phóng này ).
1 điểm đáng xem xét là đằng sau giá phóng tên lửa SA-N-12 và 1 khỏang không rộng, nhưng chỉ được gắn 4 giá phóng 18 nòng loại tên lửa mồi (đánh chặn tên lửa địch ). Điều này có thể chứng minh, hải quân Trung Quốc vẫn có kế hoạch trang bị hệ thống phòng tên lửa thẳng đứng cho KTH 168.
*Tên lửa chống hạm:
Khu vực giửa phòng máy và ống khói là nơi bố trí 4 giá phóng 4 nòng loại tên lửa chống hạm và chống tàu ngầm, có khả năng phóng cùng lúc 16 tên lửa các loại. Tên lửa được dùng chủ yếu là loại C803 với tầm bắn 250km, chủ yếu đối phó các mục tiêu tầm trung.
*Tên lửa chống tàu ngầm :
Chiến hạm trang bị loại tên lửa chốn tàu ngầm "Trường Anh số 1" ,sử dụng cùng giá phóng tên lửa với loại C803.
3/Ngư lôi:
168 được gắn 2 giá phóng tên lửa 3 nòng đôi kiểu "Bách Đầu" . Đây là loại tên lửa do Trung Quốc chế tạo thập niên 80-90 , mô phỏng theo kiểu a-244S của Ý. Tên lửa có chiều dài 2.75m, bán kính 324mm, tầm bắn 15 km, tốc độ 35 hải lý, độ sâu tối đa 500m , sử dụng động cơ điện.
4/ Thủy lôi :
Phía trước KTH còn có 2 hệ thống phóng ngư lôi ,thủy lôi loại FQF-2500/12 , tầm bắn của thủy lôi là 2500m, chủ yếu chống các mụa tiêu dưới nước cự ly gần. Đây là hệ thống vũ khí chống tàu ngầm tiêu chuẩn của hải quân Trung Quốc.
5/Trực thăng :
Khu vực nhà để máy bay của KTH 168 tương đối rộng, đủ cho 1 chiếc trực thăng chống tàu ngầm K-28 hạ cánh. Ngoài ra khu vực này còn là nhà kho để nhiên liệu, thiết bị quan trắc và vũ khí khi cần thiết .
F/Thiết bị điện tử:
1/Hệ thống chỉ huy tự động hóa : Tàu trang bị hệ thống mạng C31 bao gồm : mạng nội bộ trung tâm chỉ huy và bộ chỉ huy, tốc độ đường mạng là 1Mbps đến 10 Mbps.
2/Hệ thống chỉ huy tình báo tác chiến: là loại ZKJ-5 ,sản phẩm của viện nghiên cứu 79 thuộc tập đoàn công nghiệp tàu thuyền Trung Quốc. Tốc độ đường truyền của hệ thống là 100M . Tính thực dụng, dung lượng, khả năng phân tích và độ tin cậy đã có nhiều tiến bộ so với trước đây. (nhưng trên hình thức vẫn có dáng dấp của hệ thống tác chiến IPN-10 theo công nghệ của Ý thập niên 90.
3/Hệ thống rada : rada của KTH 168 là sản phẩm Trung Quốc chế tạo theo kiểu dáng của Nga, bao gồm:
*Tổ hợp rada dẫn đường tên lửa chống hạm "Lạc Đài": là hệ thống dẫn đường tiêu chuẩn cho loại tên lửa SS-N-22 của Nga, chạy trên bức sóng D/E/F , có năng lực dò tìm mục tiêu trên biển và trên không, đường kính ăngten 3.2m , cao 4.5m , cự ly khống chế mục tiêu là 120 km. (đây cũng đang là hệ thống rada thông dụng trên các khu trục hạm của Nga).
*Rada dò tìm mục tiêu và hệ thống dẩn đường pháo phòng không : đây cũng là 1 hệ thống công nghệ của Nga với 3 trụ ăngten dò tìm mục tiêu.trên không loại "Đỉnh Bản". Hệ thống chạy trên bức sóng E/H . Đặc điểm chủ yếu là khả năng gây nhiễu điện tử mạnh, trình độ tự động hóa cao.
*Ngoài ra, trên tàu còn có 1 trụ rada cảnh báo sớm trên không tầm xa loại 517, cùng lọai với hệ thống 515 của Liên Xô thập niên 60, nhưng tính năng đã được cải tiến.
4/Rada phòng không :
Đây là kiểu rada loại "tiên phong" MR-90 ,nhiệm vụ chủ yếu là khống chế hỏa lực, chuyên giành đối phó với các tên lửa chống hạm, nhất là loại SA-N-12.
Ngoài các thiết bị trên ,KTH 168 còn có thêm các loại ra da phòng không như : hệ thống 347G( sử dụng tần sóng I ), hệ thống RM-1290, và 1 hệ thống cảm ứng quang điện GDG-755.
Hệ thống rada của KTH 168 tuy nhiều và đa chức năng , nhưng điểm yếu là không có vị trí cố định, độ chính xác trong môi trường giông bão lớn không được cao.
5/Hệ thống trắc âm dưới nước :
Dù chưa nắm được thông tin cụ thể nhưng có thể khẳng định hệ thống này sẽ dựa theo công nghệ của Nga hiện đang trang bị trên các khu trục hạm thuộc hạm đội biển Bắc .
G/Phân tích tổng hợp :
Qua cái nhìn khái quát , chúng ta có thể thấy được Trung Quốc đã sữ dụng rất nhiều công nghệ của Nga trong trang bị vũ khí và hệ thống điện tử trên tàu. Điều này mang đến cho KTH 168 nhiều tính năng chiến đấu tổng hợp, nhưng vì vậy tỷ lệ nội địa hóa cộng nghệ không cao, ảnh hưởng đến khả năng bảo mật công nghệ quân sự .