Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:41:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi  (Đọc 53998 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #10 vào lúc: 05 Tháng Chín, 2009, 03:10:00 pm »


Đội quân Lê dương của Pháp do Sắc lệnh hoàng gia của Vua Louis Philippe thành lập năm 1831, yêu cầu hình thành “một đội Lê dương gồm toàn bộ những người nước ngoài” từ nhiều quốc gia, nhiều chủng tộc. Từ khi thành lập, đội quân Lê dương đã chiến đấu trong các cuộc chiến tranh của Pháp và của nước ngoài bao gồm các cuộc chiến tranh thế giới I và II, Đông Dương, Algeria và Zaire. Gần đây hơn, các đơn vị Lê dương đã ngăn chặn các nỗ lực xâm chiếm Chad của người Libi, tham gia vào cuộc tấn công của quân đồng minh chống lại các lực lượng của Saddam Hussein trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh và cùng tham gia vào Lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hiệp quốc ở Bosnia, Campuchia và Somalia. Đội ngũ chiến binh tinh nhuệ này đã cung cấp cho nước Pháp một lực lượng tình nguyện đáng tin cậy trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương một lực lượng mà sự hi sinh của họ gần như không gây ra sự xôn xao trong nước cũng như các cuộc tấn công của công chúng và các chính trị gia vào chính sách của Chính phủ.

Cũng có nhiều lính dù người Việt trong Tiểu đoàn dù Lê dương số 1. Những tân binh người địa phương này được quyền đội mũ nồi xanh của lính Lê dương chứ không phải mũ képi màu trắng truyền thống, dù sao đi nữa họ vẫn coi họ là lính Lê dương và rất tự hào với nét độc đáo này.

Chuẩn tướng Gilles rất lo lắng cho việc tập hợp binh lính của ông trên mặt đất. Có nhiều việc phải làm trong khoảng thời gian rất ngắn nhưng sửa chữa đường băng phải được ưu tiên hàng đầu. Đường băng càng xong sớm thì đám lính dù của ông sẽ được vào vị trí và rời thung lũng lòng chảo càng sớm. Việc hình thành hệ thống phòng ngự vững chắc cũng quan trọng không kém. Gilles biết đối phương có thể di chuyển nhanh thế nào và ông ta muốn sẵn sàng chờ đón họ nếu một lúc nào đó họ xuất hiện trước các vị trí của ông.

Vị tướng này còn có nhiều mối bận tâm khác. Những gián đoạn trên hệ thống phát thanh của Việt Minh cho thấy Sư đoàn 316 Việt Minh đang di chuyển về hướng Lai Châu cách Điện Biên Phủ 70km về phía Bắc. Thủ phủ của Liên bộ tộc người Thái ẩn mình dưới một thung lũng sâu trên hai bờ sông Đà, xung quanh là những dãy núi cao. Máy bay sử dụng đường băng phải bay qua một hành lang chật hẹp giữa các đỉnh núi, với những điều kiện như vậy thì các khẩu tiểu liên của đối phương cũng có thể trở thành vũ khí phòng không hiệu quả.

Trước cuộc hành quân Castor, Gilles đã nhận được 2 chỉ thị tối mật. Chỉ thị thứ nhất vạch ra những hoạt động chính trị và hành chính được thực hiện ở Điện Biên Phủ liên quan tới các đồng minh của Pháp là người Thái trắng và Thái đen. (Danh pháp này gồm ca người Thái đỏ, bắt nguồn chính từ màu sắc quần áo của phụ nữ dân tộc). Liên bộ tộc người Thái dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Đèo Văn Long, vẫn trung thành với người Pháp, cung cấp binh lính cho Pháp để chiến đấu với Việt Minh. Chỉ thị đề cập tới thái độ trung thành của người Thái với Pháp, nhấn mạnh nhu cầu cần đối xử tốt với những người dân tộc và chu ý tới quyền hành quan trọng của Đèo Văn Long trong khu vực. Chỉ thị còn yêu cầu tuyển thêm lực lượng người dân tộc và cho rằng người Thái sẽ hoạt động như quân du kích tự trị và cơ động, nằm yên trong vùng lãnh thổ quen thuộc của họ. Chỉ thị thứ hai cho riêng Gilles, thông báo với ông ta rằng trong trường hợp Lai Châu phải sơ tán, ông ta phải nhận trách nhiệm chỉ huy các lực lượng trong Khu vực tác chiến Tây Bắc bao gồm cả các đơn vị người Thái. Cho dù có tầm quan trọng về chính trị song đều có sự thống nhất chung ở cả Hà Nội và Sài Gòn rằng sẽ phải từ bỏ vì không thể bảo vệ được Lai Châu. Phần lớn người Thái, những người cảm thấy phấn chấn trước sự xuất hiện đột ngột của người Pháp ở Điện Biên Phủ vẫn còn không quan tâm tới số phận đã được định sẵn cho thủ phủ của họ.

Tướng Gilles vẫn còn bị đeo đuổi bởi việc triển khai quân trên địa hình khó khăn của vùng Tây Bắc Việt Nam. Địa hình này rất thuận lợi cho tham mưu của Navarre khi tính tới các cuộc càn quét bắt đầu từ Điện Biên Phủ nhưng thực tế là rất ít các đơn vị của Pháp có khả năng chịu đựng và những kỹ năng chiến đấu trong rừng để đáp ứng cho những chiến dịch như vậy. Trong báo cáo về một chiến dịch trước do Navarre ký, Gilles dự đoán rằng nếu bộ binh Pháp vượt quá phạm vi yểm trợ của hoả lực pháo binh 10km sẽ bị Việt Minh đánh bại. Gilles có một lòng tin đúng mực vào đám lính dù của ông nhưng vẫn còn một chút hoài nghi rằng sự tổn thất nặng nề, sự huấn luyện vội vàng cho những binh lính thay thế ở Pháp, thiếu thời gian huấn luyện trước trận đánh sẽ làm tác động tới hiệu quả tổng thể của một số tiểu đoàn dù.

Gần 8 giờ, chiếc máy bay đã sẵn sàng cho đợt thả quân, Gilles bỏ cặp kính và cất cẩn thận vào túi áo. Lẽ ra ông ta có thể bố trí một chuyến trực thăng để bay tới thung lũng nhưng vị tướng 49 tuổi này lại quyết định nhảy dù cùng với đám lính của ông.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:32:38 am »


THẮT CHẶT CÁC NGẢ ĐƯỜNG


“Các ngả đường bừng tỉnh và chuyển động!”

Robert Blondeau GCMA


Tướng Gilles nhảy xuống tới mặt đất, gấp lại chiếc dù, nhét vào ba lô và đi bộ vào làng, chiếc ba lô đung đưa trên vai, ông còn cất cả kính và thay mũ nhảy dù bằng một chiếc mũ nồi của lính dù. Le Patron đã theo cuộc chiến giành lại khu vực thả dù “Natsha”, nhưng cho tới giờ ông ta mới có thể thực sự đánh giá được công việc chỉ huy của mình và có được cảm giác về vùng đất này. Ông có thể thấy được mức độ căng thẳng của công việc sửa chữa đường và chuẩn bị các khu phòng thủ đầu tiên của lính dù. Gilles biết rằng họ chán ghét những công việc như vậy. Giống như những lính xung kích, họ thích các hoạt động trong phạm vi tự do hoặc các cuộc xung kích bất ngờ và coi công việc đào bới không xứng với vị trí đồng minh của họ.

Ông nhìn thấy lá cờ nhỏ 3 màu trên một cái sào dài cắm trên nghĩa trang tạm thời nơi xác chết đầu tiên được chôn cất. Tiếng nổ xa của những khối bộc phá, những lớp khói đen trùm lên đã xác định được vị trí của các máy bay B-26 trực tiếp chống lại các ổ Việt Minh còn lại dưới chân đồi. Những chiếc C-119 đang đổ dây thép gai trông như thác bạc xuống khu vực thả dù và các đại đội của Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 vẫn đang nhảy xuống khu vực thả dù Natasha. Trung tá Fourcade ra đón Gilles bằng một chiếc mô tô bánh nhỏ của Mỹ và đưa ông ta tới bốt chỉ huy tác chiến xây dựng phía dưới chiếc nhà sàn của người Thái. Trung tá Langlais đã ở trong đám thương vong khi nhảy dù. Nguyền rủa vận may của mình, vì ông ta sẽ phải quay về Hà Nội ngày hôm sau với một mắt cá chân bị dập.

Bầu trời Điện Biên Phủ trở thành cơn ác mộng cho những người điều khiển chuyến bay. Những thùng hàng tiếp tế tiếp tục được thả xuống khi những chiếc C-47 thả hết Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 và quay về Hà Nội. Cho tới khi nào đường băng đi vào hoạt động, mọi thứ vẫn phải tới bằng đường thả dù hoặc rơi tự do. Dây thép gai, đạn dược, các vũ khí hạng nặng, máy phát điện, bếp ga, bộc phá, chăn màn, bao cát rỗng, bình lọc nước, thịt, rau quả tươi, nước mắm rượu, bia... mọi thứ đều được đổ dồn từ máy bay xuống đất. Trưa hôm đó một chiếc xe ủi nhỏ dành cho các công binh sửa đường băng được đưa xuống từ phía cửa sau của chiếc C-119. Nó rơi tự do xuống đất bị chệch hướng và hư hỏng. Thay vào đó là một chiếc máy đủ độ an toàn hơn được đưa đến sau 48 giờ. Những chiếc dù của Tiểu đoàn dù xung kích số 8 của Thiếu tá Pierre Tourret và của một đại đội trọng pháo lính dù Lê dương cũng đã mở tung trên khắp thung lũng trưa ngày hôm đó.

Trưa hôm sau chờ cho mưa ngớt, Tiểu đoàn dù ngụy số 5 của Quân đội quốc gia Việt Nam hay Bawouan (cái tên người Pháp đặt cho Tiểu đoàn này) cùng với các sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp do Thiếu tá Leclerc chỉ huy đã nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Bawouan - gồm các cựu chiến binh của bộ binh thuộc địa, một số cựu Việt Minh, một số tân binh - đã chứng tỏ sự lộn xộn và mâu thuẫn trong chính quyền người Việt chống cộng do Pháp điều khiển. Đêm 22 tháng 11 năm 1953 đội quân đồn trú mới thành lập có 4.560 tên.

Ngày hôm sau 2 chiếc “Beaver” cánh cao, trục đơn hạ cánh xuống đường băng hỏng do đám công binh dù bỏ lại. Những chiếc máy bay này do người Canada chế tạo rất phù hợp cho việc cất cánh và hạ cánh xuống những đường băng ngắn và gồ ghề ở Đông Dương. Chiếc Beaver đầu tiên chở toàn xe đạp, chiếc thứ 2 chở Thiếu tướng Cogny - Tư lệnh lực lượng mặt đất Bắc Bộ, tới thanh sát Điện Biên Phủ lần đầu tiên.

Cogny 49 tuổi là một lính pháo binh, cao to và dễ gây ấn tượng, sau khi trốn khỏi nhà tù của Đức năm 1941, ông tham gia kháng chiến. Ông bị Gestpo (Cảnh sát mật của Đức Quốc Xã - ND) bắt năm 1943 và đưa tới các trại giam Buchenwald và Dora. Năm 1945 ông được tự do. Ông tới Đông Dương năm 1950 với vai trò là một thành viên tham mưu của De Lattre, sau đó là chỉ huy một sư đoàn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thời gian làm việc ở vùng đồng bằng đã cho ông thấy đồng bằng với mật độ dân số đông, sản xuất chủ yếu là lúa lại gần với Hà Nội, nên là vùng trọng yếu của chiến tranh. Ông cảnh báo với Tướng Navarre về những nguy hiểm khi chuyển các đơn vị từ đồng bằng tới chiến đấu ở một nơi khác. Thái độ của Cogny đối với cuộc hành quân Castor hoàn toàn khác. Cho dù Đại tá Bastiani phản ứng với chiến dịch này nhưng Cogny vẫn thúc giục tái chiếm Điện Biên Phủ để làm điểm tập kết các “đơn vị du kích” chống Việt Minh trong vùng. Song việc tập kết quá nhiều quân về phía Tây Bắc - đặc biệt là lính dù mà ông coi là một lực lượng dự bị cơ động đáng tin cậy - đã trở thành một mối lo thường trực. Hình ảnh của Cogny gắn liền với một cái roi tre và điếu thuốc luôn trên miệng. Navarre, người mà Cogny coi là vị tướng dung hoà không khí, lại là hai kẻ trái ngược nhau không bao giờ nhìn mặt nhau, sự kiện tạo ra sự bất hoà giữa họ sẽ tiếp diễn còn dài sau chiến tranh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #12 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:34:02 am »


Những tin tức về cuộc tấn công của Pháp vào Điện Biên Phủ sớm đến được sở chỉ huy của Tướng Giáp ở vùng núi hiểm trở Bắc Cạn, nơi có núi đá vôi yểm trợ và tạo ra chỗ trú ẩn thuận lợi. Trung tâm tác chiến này cách Điện Biên Phủ 600 km về phía Đông Bắc, là một điểm tập trung các hoạt động của Ban tham mưu của Tướng Giáp khi theo dõi cuộc hành quân của Sư đoàn 316 tiến về Lai Châu và chuẩn bị mở 2 Sư đoàn khác sang hướng Lào. Các thành viên của Uỷ ban Trung ương Việt Minh, trong đó Tướng Giáp là một thành viên, gần đây đã tập trung ở một căn hàm nhỏ trong núi để thực hiện những chỉ thị của Hồ Chí Minh và kế hoạch chiến lược cho chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Uỷ ban được lệnh giải phóng Lai Châu và toàn bộ khu vực Tây Bắc: mở cuộc tấn công vào Trung Lào, ém kín một phần lực lượng chính quy và sẵn sàng chiến đấu tăng cường các cuộc tấn công du kích ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắt đầu một cuộc tấn công vào Nam Trung Bộ để bảo vệ các vùng vừa giải phóng ở các địa bàn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền bù nhìn Sài gòn.

Dự tính trước sự phản ứng của Tướng Navarre với các cuộc hành quân tới Lai Châu và Lào, Tướng Giáp đã phải giải quyết vấn đề về biên chế tổ chức lực lượng. Ông trực tiếp chỉ huy quân chủ lực đề phòng nguy cơ một cuộc tấn công của Pháp từ phía bắc vùng đồng bằng vào hậu cứ của Việt Minh. Phương án này đồng nghĩa với một cuộc đụng độ với đối phương ở vùng đồng bằng, nơi pháo binh, xe tăng và máy bay của quân Pháp có thể phát huy được tính năng và tác dụng. Phương án thứ hai là chọn một địa hình thích hợp hơn nơi có ít quân Pháp vì thế chúng sẽ phải tăng cường sức mạnh bằng cách rút các đơn vị từ vùng đồng bằng. Các vùng lãnh thổ Tây Bắc là một chiến trường lý tưởng cho các hoạt động thuộc phương án thứ 2 này. Ở đó bản làng trong rừng sâu sẽ làm giảm tính cơ động của đối phương, tạo ra khó khăn trong việc tiếp tế và làm giảm hiệu quả của đạn pháo và máy bay. Rừng rậm sẽ có tác dụng che chở cho các sư đoàn của Tướng Giáp khi các cuộc tấn công du kích tập trung vào các điểm yếu của đối phương ở đồng bằng Bắc Bộ. Tướng Giáp, Ban tham mưu và các cố vấn Trung Quốc đã chọn phương án thứ 2.

Năm 1950, theo lời đề nghị của Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông đồng ý cho một nhóm cố vấn quân sự người Trung Quốc sang miền Bắc Việt Nam. Lãnh đạo cộng sản Trung Quốc cảnh báo với Hồ Chí Minh rằng các sĩ quan ông ta gửi sang toàn là gia đình nông dân, ít học hành do vậy có thể cản trở tới yêu cầu của Việt Minh là cần những người hướng dẫn có kinh nghiệm. Tướng Vi Quốc Thanh, người tỉnh Quảng Tây là một cựu chiến binh của Vạn lý Trường chinh vượt qua biên giới vào miền Bắc Việt Nam ngày 12 tháng 8 năm 1950 với 79 sĩ quan và 250 lính. Sáng kiến tối mật này là sự khởi đầu của một chương trình gửi các trung đoàn Việt Minh sang Trung Quốc để đào tạo và tái võ trang, đưa các cố vấn người Trung Quốc vào các sở chỉ huy của các trung đoàn và tiểu đoàn Việt Minh, tiếp nhận các chuyên gia Trung Quốc như nhân viên phòng không, chuyên gia pháo binh và công binh phục vụ cho một số đơn vị Việt Minh.

Quy mô bao vây Điện Biên Phủ của quân Pháp cho Tướng Giáp thấy đây chính là những gì mà ông đang chờ đợi. Nó có thể xảy ra sớm hơn dự tính và các vấn đề còn sơ sài, tuy nhiên có tới 6 tiểu đoàn nhảy dù chứng tỏ một đợt chuyển quân chiến thuật lớn. Dù sao vẫn có một số vấn đề nảy sinh và còn tồn tại: ý đồ của đối phương là gì? Đối phương có kế hoạch ở lại không? Đối phương sẽ bảo vệ Lai Châu, sẽ đưa quân tăng cường tới hay sẽ thực hiện kế hoạch một Nà Sản khác ở Điện Biên Phủ? Chính vì thế mà một quyết định khẩn cấp phải được phê chuẩn. Tướng Giáp ra lệnh Sư đoàn 316 tấn công Lai Châu ngay, cản đường rút lui về phía Nam của quân đồn trú và ngăn chặn bất kể đội quân nào tới từ Điện Biên Phủ. Cùng lúc 3 sư đoàn khác là 308, 312 và 351 đang chuẩn bị tiến về Điện Biên Phủ. Giải thích phản ứng của mình với cuộc hành quân Castor, Tướng Giáp sau này viết: “Với chúng tôi, việc nhảy dù vào Điện Biên Phủ vẫn còn là một thời cơ thuận lợi”.

Ngày 23 tháng 11, lính dù của Gilles đẩy các đội tuần tra cấp tiểu đoàn từ Điện Biên Phủ xuống phía Bắc và phía Nam. Những đợt xuất kích vào vùng đất thù địch tỏ ra rất nguy hiểm và mệt mỏi. Lính dù phải hành quân vất vả qua vùng đất cằn cỗi, lội qua những dòng nước chảy xiết, xuyên qua khu rừng nhiệt đới um tùm, lục soát các bản làng bị bỏ không và chạy nước rút qua các vùng đất luôn thay đổi. Rừng vẫn tiềm ẩn những bí mật của nó và phục kích là mối nguy hiểm thực sự. Những con bướm trắng bay trong bóng tối, những con vắt ngo ngoe chui vào ủng tìm chỗ để hút máu. Đám lính dù luôn cảm nhận thấy mình rất dễ bị tấn công. Chỉ có những âm thanh - tiếng kêu của dụng cụ, tiếng loẹt xoẹt của đài phát thanh và tiếng nện gót của ủng - là phá tan đi sự yên lặng xung quanh. Các máy bay lượn trên đầu đám lính tuần tra như những đàn muỗi sẵn sàng hợp tác với hoả lực pháo binh và hỏa lực của máy bay B-26 để tấn công bất cứ khi nào đối phương phản ứng. Các máy bay hạng nhẹ vẫn bảo đảm nhưng lính tuần tra biết rằng sự có mặt của họ chỉ là để thí mạng.

Báo cáo từ các đội tuần tra đưa về không mấy khả quan. Tiểu đoàn của Bréchignac theo tuyến đường mòn - tuyến đường thuộc địa cũ nối cứ điểm tới Lai Châu đã vào tới vùng kháng chiến của đối phương cách không xa Điện Biên Phủ. Đây là tuyến đường được quân đồn trú ở Lai Châu và những người Thái sử dụng cho chiến dịch Pollux, mật danh của đợt rút quân sắp tới về Điện Biên Phủ. Sự áp đảo và hiếu chiến của quân chính quy Việt Minh ở phía Bắc thung lũng là một dấu hiệu chỉ rõ rằng đối phương cho dù bị thất bại trong cuộc hành quân Castor nhưng vẫn không hoảng sợ. Ngày 25 tháng 11, đã phát hiện thấy Trung đoàn 148 Việt Minh và các đơn vị của Sư đoàn 316 đang trên đường tới các đồi bao quanh, đây là một thông tin nghiêm trọng vì nó báo trước một đợt phát triển quân của Tướng Giáp trong những tháng tới. Thông tin này đặc biệt quan trọng với các sĩ quan và binh lính của GCMA (Nhóm biệt kích dù hỗn hợp); sau là GMI (Nhóm can thiệp hỗn hợp). Kế hoạch cho cuộc hành quân Castor yêu cầu quân du kích bộ tộc do người Pháp lãnh đạo, sử dụng Điện Biên Phủ như một căn cứ tác chiến và nơi ẩn náu. Kế hoạch này sẽ không thực hiện được nếu Việt Minh kiểm soát các ngả đường tới doanh trại có công sự.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #13 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:34:36 am »


GCMA luôn chứng tỏ khả năng hoạt động ở các vùng núi của họ. Người Mông, Mán, Dao, Lolo, Thái trắng, Thái đen và Thái đỏ hoạt động trên vùng đất riêng của họ, đã trở thành một mối đe doạ thường trực đối với sự xâm nhập của Việt Minh. Những trận oanh tạc, phục kích và thu thập tin tức tình báo buộc Tướng Giáp phải đưa vài tiểu đoàn giỏi của ông vào tăng cường cho nỗ lực truy quét. Việc sơ tán khỏi Nà Sản đã hoàn thành mà không phải giao tranh hay tổn thất nhờ phần lớn vào sự che chở của 3.500 người Mông do một Đại uý Pháp và một số hạ sĩ quan của Pháp chỉ huy. Người Mông với những khu làng cao trên núi có truyền thống đấu tranh và kiếm sống bằng việc buôn bán thuốc phiện. Việc bố trí cán bộ, không thể tìm thấy một trung sĩ hay hạ sĩ nào đang chỉ huy một đơn vị cấp tiểu đoàn trong quân đội Pháp.

GCMA đang chiến đấu chống lại một cuộc chiến tranh kiểu đặc biệt nên yêu cầu cần phải có một đội ngũ chiến sĩ đặc biệt. Đại uý Puy Montbrun là một trong số họ, 4 lần bị thương, 19 lần nhận huân huy chương và là một chỉ huy lúc 36 tuổi. Puy-Montbrun lãnh đạo đội biệt kích hỗn hợp trong nhiều đợt tác chiến nguy hiểm phía sau chiến tuyến của đối phương. Lẻn đi vào những đêm không trăng sao với những loại vũ khí giảm thanh, ống nhòm nhìn ban đêm, súng lục và dao chiến đấu, đội biệt kích của Puy-Montbrun phục kích các đội tuần tra của đối phương, bắt cóc hoặc tiêu diệt các cán bộ và sĩ quan chính trị Việt Minh, khi trở ra yểm trợ cho các đợt tác chiến điển hình hơn. Sự nguy hiểm của GCMA đã tạo ra sự bực tức thường xuyên cho Tướng Giáp và những người vạch kế hoạch của ông.

Trong các vùng núi, chỉ huy GCMA sống cùng với những người dân tộc để biết về ngôn ngữ, văn hoá cũng như nhiều điều khác. Họ sống nhờ vào đồ ăn của dân địa phương gồm chủ yếu là cơm nếp, đôi khi có thịt lợn hoặc thịt gà. Trong các chuyến đi dài ngày vào lãnh thổ của đối phương, rắn, khỉ, lợn rừng hoặc hươu rừng góp phần làm cho bữa ăn của họ thêm phong phú, còn đài bán dẫn nối với thế giới bên ngoài chỉ mang lại cho họ rất ít đồ tiếp viện.

Một số sĩ quan và hạ sĩ quan GCMA ở nhiều năm trong rừng, dạy cho người dân tộc các chiến thuật nhỏ và làm thế nào để sử dụng đài phát thanh và các loại vũ khí hiện đại. Họ học các kỹ thuật chiến tranh du kích cổ truyền từ những người dân tộc. Lấy phụ nữ dân tộc làm vợ (đặc biệt là con gái của một tộc trưởng) thì mối quan hệ với quân đồng minh càng được tăng cường. Binh lính của GCMA sống ở một khu tách biệt nên sốt rét, sốt dịch và bệnh lỵ là điều thường xuyên. Những vết cắt, vết xước thường bị mưng mủ nhanh hơn khi ở trong rừng, hơn nữa chăm sóc y tế không có sẵn nên những vết thương đôi khi còn gây nguy hiểm tới cả tính mạng.

Hạ sĩ Blondeau – Trưởng nhóm GCMA, nhân viên điều khiển đài phát thanh cùng với 3 chỉ huy đại đội người Thái ở khu vực Lai Châu nhắc lại người đội trưởng một cách say sưa.

Trung uý David có mối quan hệ rất tốt với Đèo Văn Long, ông là người ưa mạo hiểm, uống rượu giỏi, hút 2, 3 tẩu thuốc phiện một ngày nhưng là một người lãnh đạo thực sự được binh lính kính trọng. Ông nói được tiếng Thái và 3 tiếng dân tộc khác, không đeo quân hàm, mặc quần sóc và thường đi chân đất. Ông thường đội mũ nồi đỏ của lính dù và đó là quân trang duy nhất mà người ta có thể nhận ra chất lính ở ông.

Có lần Tướng Cogny triệu tập một cuộc họp với một số sĩ quan người Anh từ Malaysia tới thăm. David ra chào họ trong chiếc quần soóc kẻ sọc ở thắt lưng và đi chân đất. Người Anh nhìn chằm chằm vào ông ta với vẻ không tin và cuối cùng một trong số họ hỏi: “Giầy của anh đâu?”…


Đơn vị do Blondeau chỉ huy, tác chiến trên phạm vi rộng vì thế cho phép họ có điều kiện thích hợp để ứng biến.

Nhiệm vụ của chúng tôi là đưa đám người Thái trở lại Lai Châu và thành lập đội biệt kích chống Việt Minh. Tôi ở trong vùng núi 2 năm rưỡi, đó là một cuộc sống mạo hiểm, chúng tôi cảm thấy mình đang làm một điều gì đó đáng giá và có mối quan hệ rất tốt với tộc người Thái. Các mệnh lệnh đến từ sở chỉ huy Cogny ở Hà Nội và từ Đèo Văn Long, không ngày nào giống ngày nào. Chúng tôi luôn trong trạng thái động và không bao giờ ở lại đâu quá 15 ngày. Chúng tôi có nhận lương thực tiếp viện nhưng phần lớn sống như người Thái. Muối và thuốc phiện trao đổi như tiền, người Thái được trả lương bằng muối thả dù xuống.

Đó là một cuộc chiến không ranh giới. Việt Minh gọi các thành viên của GCMA là “hải tặc”. Nếu bị bắt, điều tốt nhất họ có thể mong chờ là một cái chết nhanh chóng sau cuộc chất vấn thô bạo, nhưng sự công bằng ở trong rừng lại không phải tất cả ở một phía.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:35:38 am »


Đầu năm 1953, Blondeau đóng quân ở phía Tây Bắc Điện Biên Phủ cùng với một đội biệt kích người Mông.

Chúng tôi bị tấn công, Việt Minh đã bắt mẹ của một tù nhân người Mông. Trưa hôm đó, người Mông bỏ tất cả vũ khí. Khi tôi hỏi họ tại sao họ nói: “Chúng tôi không muốn để mất vũ khí của Pháp khi giải quyết một vấn đề riêng”. Đêm hôm đó, họ ngồi quanh đống lửa, mài sắc dao, tiếng mài dao đã làm tôi thức dậy. Họ đi trước khi trời sáng, vài ngày sau trở về với 5 cái đầu của Việt Minh gói trong một mảnh vải đầy máu.

Sự trừng phạt ở các vùng núi thật nhanh chóng và không có sự trì hoãn. Blondeau giải thích: “Chúng tôi bắt được 2 tù binh Việt Minh người địa phương”, “2 đứa trẻ chừng 10 và 12 tuổi mang cơm cho họ đựng vào trong một cái túi, chúng tôi lục soát túi thấy có 1 quả lựu đạn, rồi cả 4 đều bị bắn chết tại chỗ”.

Những vụ việc như vậy rất khó tới được sở chỉ huy yên bình của Navarre ở Sài Gòn. Những người theo truyền thống quân sự với sự hiểu biết về các đợt tác chiến đặc biệt nắm giữ các vị trí trọng yếu trong quân đội Viễn chinh Pháp, còn các sĩ quan GCMA thường phải tự duy trì và tự ứng biến. Trong một lần Đại uý Puy-Montbrun thu hồi được một số súng tiểu liên Sten, vì mục đích của GCMA nên anh ta cần các bộ phận giảm thanh cho các khẩu Sten. Những bộ phận không chính quy như vậy thường không có sẵn nên Puy nói vấn đề của mình với một người bạn là M.Perier, trưởng ty cảnh sát Sài Gòn. Bộ phận giảm thanh được sản xuất tại phân xưởng sản xuất vũ khí của cảnh sát và tiếng ồn của các khẩu Sten được giảm đáng kể. Binh lính của Puy có lúc phải luồn lách nên phải sử dụng cả những chiếc nỏ. Puy nhớ lại: “Hãy tưởng tượng nếu tôi nói với sở chỉ huy tác chiến sư đoàn về điều đó!”. Puy, sau này được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó của một đơn vị trực thăng mới, cho rằng các máy bay trực thăng có vũ trang mang lại hiệu quả tốt. Nhưng người ta nói với anh ta rằng bắn từ trực thăng là không thể được và không thực tế. Puy nói: “Không một ai trong Bộ Tư lệnh tối cao của Pháp có thể nhìn xa hơn cái bút chì của tôi”.

Cũng như nhiều kế hoạch chiến đấu khác, các mệnh lệnh cụ thể cho cuộc hành quân Pollux thể hiện rõ nỗ lực tốt nhất của sở chỉ huy. Đợt rút lui 3 giai đoạn từ Lai Châu được thực hiện từ sớm ngay 15 tháng 11, khi một phân đội người Thái bắt đầu cuộc hành quân 80 km về phía Nam dọc theo tuyến đường mòn về Điện Biên Phủ ngày 24 tháng 11. Ngày hôm sau chiếc máy bay C-47 đầu tiên hạ cánh xuống đường băng khai trương tuyến đường vận tải hàng không đều đặn từ Lai Châu tới Điện Biên Phủ. Toán người Thái đi phía sau có kế hoạch thoát ra ngoài bằng đường bộ nhưng đã không may mắn. Việt Minh đã tới Lai Châu sớm hơn nhiều so với dự tính trong kế hoạch cuộc hành quân Pollux. Họ cũng có trinh sát người Thái trung thành dẫn đường qua rừng núi và một số quân chính quy của đối phương được tuyển dụng từ các bộ tộc trong rừng.

Những người theo toán quân đi sau ra khỏi Lai Châu theo từng tốp nhỏ qua vùng đất có nhiều đối phương bám trụ. Cuộc hành quân dài ngày về phía Nm là một thử thách gay go, một trò chơi trốn tìm nguy hiểm dọc theo các đường rừng chật hẹp, nơi một tiếng động của cành cây có thể phá vỡ sự yên lặng ngột ngạt và bóng tối luôn làm hiện lên những mối đe doạ bất ngờ. Còn những mối đe doạ thường xuyên là tiếng nổ khi bị phục kích hoặc tiếng kêu của những thanh đỡ khi pháo bắn đi. GCMA nhận được lệnh yểm trợ cho những người theo toán quân đi sau rút lui, nhưng họ cũng đã trở thành người bị săn tìm. Sư đoàn 316 Việt Minh đuổi theo để chặn các đường rút.

Robert Blondeau bị bắt trong một cuộc tấn công của Việt Minh, nhưng sau đó anh ta cố trốn với 2 người bị thương khác. Blondeau nhớ lại: “Chúng tôi trốn khỏi tổ tuần tra Việt Minh chừng 12 tiếng. Khi đối phương đang đuổi theo quân đồn trú Lai Châu ở hướng Nam, tôi quyết định đi thẳng về hướng Bắc. 3 người vượt rừng trong ngày không hề có nước uống và gần như chết vì khát”.

Một buổi sáng, khi Blondeau nghỉ tạm dưới một tán cây cuối đường 41, anh ta phát hiện thấy một số hoạt động ngoài mong đợi. “Toàn bộ con đường bừng tỉnh và chuyển động”. Anh ta mò mẫm tới chỗ một tiểu đoàn Việt Minh được ngụy trang rất kỹ. Tim đập mạnh, anh ta thấy bộ đội được trang bị nặng trĩu đã hết giờ nghỉ và tiếp tục hành quân về hướng Điện Biên Phủ. Mệt mỏi, đói và khát đang cào cấu 3 kẻ bỏ trốn. Họ mất nhiều nước vì bị sốt và mê sảng. Blondeau tỉnh lại vào giữa đêm và tự thấy mình đang la hét ú ớ. Cuối cùng họ tới một trạm gác của Pháp nhưng không có cờ cũng chẳng có dấu hiệu của sự sống. Họ không biết liệu trạm gác này đã bị đối phương chiếm chưa, cho tới khi một chiếc máy bay quan sát xuất hiện và thả xuống một bức thông điệp. Phấn chấn vì trạm gác này vẫn trong tay người Pháp, Blondeau dẫn những người bị thương ra khỏi rừng chạy dưới làn hoả lực của quân đồn trú đang hoang mang. Thật may, một trong 3 người bị thương là người da đen. Sự có mặt của một người châu Phi trong nhóm 3 người đã làm cho chỉ huy trạm gác nhận ra rằng anh ta đang đối mặt với các thành viên của Tập đoàn Viễn chinh Pháp và ra lệnh ngừng bắn.

Một chiếc trực thăng hạ xuống phía trên các ngọn cây để sơ tán những người bị thương tới Điện Biên Phủ, nhưng thử thách của Blondeau còn chưa kết thúc. Chiếc trực thăng rời đi để lại một vệt sáng trên bầu trời. Không muốn từ bỏ các vị trí của mình, Việt Minh cho phép những kẻ bỏ trốn chạy qua phòng tuyến và trực thăng tới lui trước khi tiến hành một đợt tấn công cỡ 2 tiểu đoàn vào trạm gác. Quân đồn trú, gồm cả Blondeau, cố thoát ra, bỏ lại trạm gác và bắt đầu chuyến đi dài ngày về phía Nam theo dấu chân của những người Việt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #15 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:36:22 am »


May mắn cho quân đồn trú, một hạ sĩ quan người Thái, trưởng nhóm biệt kích đã ở đó để dẫn họ qua rừng. Lương Văn Ùi, sĩ quan quản trị tiểu đoàn được huấn luyện như một lính dù, một lính điều khiển phát thanh và một bác sĩ, anh ta là cựu chiến binh của nhiều phái đoàn đặc biệt ở Tây Bắc Việt Nam. Người lính nhỏ bé, rắn rỏi này rất tự tin và khiêm tốn với sự sống còn của mình. Việc bỏ trốn của một đội quân giờ phụ thuộc vào các khả năng theo dấu vết và khả năng đoán trước đối phương. Anh ta đã dẫn phân đội hỗn hợp này qua rừng trong 7 ngày không ăn uống. Lương Văn Ùi giải thích: “Chúng tôi sắp chết đói”.

Lúc 11 giờ vào một buổi sáng 1 chiếc C-47 (Dokota) xuất hiện và thả hàng tiếp tế xuống cho chúng tôi. Việt Minh ở đồi cao bên cạnh thấy hàng thả xuống, họ cũng không được ăn trong nhiều ngày, và thế là một cuộc chạy đua tới khu vực thả hàng đã diễn ra và chúng tôi đã tới cùng một lúc. Chúng tôi đánh nhau để giành lấy đồ ăn, kéo, giật các thùng hàng, đấm đá nhau. Mọi người vì quá mệt và đói nên quên cả việc dùng vũ khí. Cuối cùng họ bỏ đi. Chúng tôi ăn và ngủ cả đêm hôm đó. Họ tấn công chúng tôi vào sáng hôm sau. Đó là trận phục kích đầu tiên trong 11 trận. Lương Văn Ùi lắc đầu nhớ lại cuộc ẩu đả để giành đồ ăn trên khu vực thả dù: “Tôi nói câu chuyện đó với mọi người nhưng họ không tin”.

Khi Lương Văn Ùi dẫn quân tiến về phía Nam, họ nhận thêm những người Pháp, Marốc, Algeri lang thang từ các đơn vị bị bại trận, họ đi cả ngày lẫn đêm, chống chọi với những đợt tấn công liên tiếp của đối phương. Thảm kịch tương tự cũng đang diễn ra trên các tuyến đường mòn khác nơi cũng có những đội quân đang cố gắng tới Điện Biên Phủ. Những ngày gian khổ thiếu thốn và cái chết đang chờ họ phía trước.

Ở Điện Biên Phủ, cứ điểm quân sự có phòng vệ như một con nhím đang dựng đứng những chiếc lông. Cầu hàng không từ Hà Nội đang làm nhiệm vụ. Những chiếc C-47, máy bay chở hàng Bristol 170, máy bay dân sự được trưng dụng đang nối đuôi nhau hạ cánh xuống đường băng theo sự điều khiển của radio trên một cái tháp tạm thời ở góc đường băng. Các nhân viên hàng không dùng tay kéo các thùng hàng trên các xe tải đang chờ ở đó, đưa vào máy bay để chuẩn bị cất cánh. Mặc dù không thích công việc cuốc xẻng nhưng thật đáng khen các lính dù khi họ đào và đặt thêm hàng rào thép gai. Các sĩ quan công binh giám sát công việc và thực hiện kế hoạch một cách chu đáo hơn như đào boong ke, nơi trú ẩn, các bệ hỏa lực và các hào giao thông. Họ luôn quan tâm tới số lượng gỗ để xây dựng và thời gian nhận các cung cấp vật liệu xây dựng từ Hà Nội. Các khẩu đội pháo binh thuộc địa đã tới để đặt các khẩu đại bác 105 ly vào vị trí các bao cát cách không xa đường băng.

Ngày 8 tháng 12, 3 tiểu đoàn dù của Chuẩn tướng Gilles là Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 1, số 6 và Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Lê dương 1 bắt đầu lên máy bay ra khỏi thung lũng. Bawouan 5 dự định khởi hành sau. Gilles không bằng lòng khi phải để lại Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 và Tiểu đoàn dù xung kích số 8 phía sau nhưng cuối cùng ông vẫn phải rời Điện Biên Phủ và trao nhiệm vụ chỉ huy cho người thay thế mình. Đại tá De Castries được Tướng Navarre lựa chọn tới chỉ huy cứ điểm này. Cũng như Navarre, De Castries là một sĩ quan kỵ binh, ông chiến đấu xuất sắc trong Đại chiến Thế giới II, bị quân Đức bắt và đã trốn thoát. Sau này ông chỉ huy các đơn vị pháo theo lệnh của Navarre ở Pháp và Đức. Sự bổ nhiệm đầu tiên của ông tới Đông Dương năm 1946 và 1951 đã làm ông nổi danh hơn với nghị lực và lòng dũng cảm. Các vết thương chiến đấu và các huân huy chương chứng tỏ rằng ông không phải là một nhà quân sự công tử bột. Trước khi được bổ nhiệm tới Điện Biên Phủ, De Castries đã chỉ huy một nhóm cơ động tại một khu vực nóng bỏng của vùng đồng bằng.

Đại tá De Castries tới thung lũng mang theo một cây gậy ghế, một khăn lụa mỏng và một mũ vải đỏ của trung đoàn kỵ binh Bắc Phi trước đây. Sau bài phát biểu ngắn gọn ở bốt chỉ huy, Tướng Gilles dẫn De Castries đi thăm cơ sở chỉ huy mới, chỉ cho ông ta biết địa hình, vị trí công sự và các kho chứa hàng tiếp viện. Họ không có nhiều điểm chung nhưng có một điểm chung đó là đều không thích một cuộc chiến đấu phòng ngự. Navarre chọn De Castries để thực hiện kế hoạch của mình là tấn công Việt Minh, dùng Điện Biên Phủ làm căn cứ. Ông ta còn hứa với De Castries sẽ gửi xe tăng tới làm mũi nhọn tấn công trong các đợt tác chiến cơ động. Thực tế, lính dù đang phải đổ máu (kể cả trong các cuộc tuần tra thường ngày) bên ngoài vành đai phòng thủ cho thấy sự kém hiệu lực của các kế hoạch phù phiếm. Nỗ lực lớn để cứu một đơn vị người Thái đang rút khỏi Lai Châu đã sớm có những dấu hiệu nguy hiểm.

Đại tá Langlais trở lại Điện Biên Phủ ngày 8 tháng 12 với De Castries để chỉ huy các tiểu đoàn dù chiến đấu còn lại. Ông vẫn còn bị vướng với cái mắt cá chân bị dập nhưng ông đã đề nghị các bác sĩ điều trị theo cách riêng của mình. Mặc dù đã cố gắng che dấu sự đau đớn nhưng đám nhân viên vẫn buộc ông phải trú trong núi để giảm bớt các hoạt động. Hai ngày sau khi tới Điện Biên Phủ, Langlais được lệnh tiến về phía Bắc cùng với 3 tiểu đoàn dù để cứu một đại đội người Thái bị bao vây ở Mường Pồn, cách Điện Biên Phủ 18 km về phía Bắc.

Sáng hôm sau, khi Tiểu đoàn xung kích số 8 quyết tâm thực hiện một chuyến vào rừng, chuyến đi này sẽ đưa họ tới hậu cứ của đối phương, thì Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 và Bawouan 5 bắt đầu cuộc hành quân dọc theo tuyến đường mòn. Việt Minh đang chờ sẵn ở vị trì cách trạm quan sát của Pháp khoảng 300 mét. Trung uý Roux, trung đội trưởng chưa hề nghe về một trận hoả chiến lớn đến như vậy.

Họ có nhiều súng tiểu liên như chúng tôi, hơn nữa tôi nghĩ súng của họ là loại Skodas hiệu quả cao hơn. Không có dấu hiệu của việc diễn tập. Trung đội đã đẩy lùi được Việt Minh. Chúng tôi nằm sấp xuống đất chờ trên đường mòn, tầm nhìn không quá 10 mét. Chúng tôi không biết đâu là bạn, đâu là Việt Minh. Lúc đó không thể bắn cũng không thể làm được gì. Tôi phải trấn tĩnh một số lính dù người Việt đã lên cò súng và bắn mấy phát vào bụi rậm xung quanh để lấy lại tinh thần.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:37:02 am »


Khi Việt Minh rút lui, Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 sơ tán những người bị thương và tiếp tục tiến về Mường Pồn. Sự xuất hiện của đối phương buộc tiểu đoàn phải ra khỏi tuyến đường và Langlais quyết định tiến dọc theo các ngọn núi. Đám lính dù bắt đầu một cuộc đua chống lại thời gian để cứu lấy đại đội bị bao vây. Khi Trung đội của Trung uý Roux đang vật lộn ở một sườn đồi dốc thì một nhóm nhỏ lính dù Pháp đi tuần tra trở về, họ thông báo: “Việt Minh ở ngay sau chúng ta, hãy tự bảo vệ mình”. Lại một lần nữa chứng tỏ họ là một kẻ thù ngoan cố. Tình hình khó khăn đan xen nhau, cây đổ, cỏ rậm um tùm và những rừng tre dầy đặc làm chậm thêm bước tiến của họ, nhưng Langlais vẫn tiếp tục cho lính phát rừng bằng dao rựa và các dụng cụ đào hầm để tiến lên.

Sáng 13 tháng 12, Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 tới gần Mường Pồn thì đã mệt nhoài. Khi lính dù vào làng, họ thấy làng trống không, những túp lều đang cháy âm ỉ, Việt Minh đã kéo đi, đem theo cả các xác chết, những người bị thương và các tù nhân. Ngày 14 tháng 12, Tiểu đoàn dù xung kích số 8 tới để sát nhập với tiểu đoàn này. Langlais và binh lính của ông quá thất vọng, cho tới giờ họ mới đến nơi cố gắng hết sức mà không hoàn thành nhiệm vụ.

Giờ đây, các tiểu đoàn bị cô lập phải đối mặt với một chuyến đi quay về Điện Biên Phủ. Việt Minh nhận thức rõ sự có mặt của lực lượng giải vây ở Mường Pồn, ngay lập tức tiến hành các cuộc tấn công nhằm đánh tan đội quân này. Vách đá, hẻm núi vang lên tiếng hoả lực chói tai khi lính dù chiến đấu để mở đường về phía Nam. Bawouan 5 gần như bị đánh úp. Một trận đánh giáp lá cà kết hợp với người Việt chống lại Việt Minh diễn ra ác liệt. Langlais cố gắng nhắc lại yêu cầu tới tuyệt vọng viện trợ của không quân qua chiếc trực thăng quan trắc đang bay lượn phía trên và một chuyến bay ném bom đang gầm rú phía trên những ngọn cây để rải một lớp bom napan màu vàng úa lên những kẻ tấn công. Cuộc đụng độ giữa đám lính dù người Việt và Việt Minh sát nhau tới mức Bawouan số 5 đã bị hy sinh mất mấy người trong trận ném bom rải thảm này.

Sau khi đánh mở đường lên tới đỉnh đồi Trung đội của Trung uý Roux thuộc Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 phát hiện thấy chính họ đang phải đối mặt với một đại đội mới tăng cường của đối phương. Roux báo cáo có nghe thấy tiếng chặt tre, có thể đối phương đang làm cáng để chở những người bị thương. Mặc dù anh ta muốn tin vào nhận định này nhưng Trung uý vẫn yêu cầu pháo binh phóng hoả lực vào các vị trí của đối phương. Pháo gần như nằm ngoài phạm vi trận oanh tạc theo yêu cầu bị xoá bỏ. Khi trung đội của Roux rời đồi, Việt Minh đã rời khỏi chỗ ẩn nấp cách đồi khoảng 500 mét và truy đuổi ráo riết. Tiếng chặt tre mà anh ta nghe thấy là công việc chuẩn bị cho cuộc tấn công. Roux dùng tiểu liên bắn thẳng vào làn sóng những kẻ tấn công. Anh ta nói: “Chúng tôi không phải ngắm, mỗi phát súng đều trúng mục tiêu”. Các tiểu đoàn lính dù cắt phiên nhau trông nom căn cứ và đám quân đi phía sau, cố gắng giữ cho đợt rút lui có trật tự và làm cho đối phương phải trả giá đắt cho mỗi đợt tấn công. Hai khẩu đội đại bác 105 ly hỗ trợ cho chiến dịch quay nòng về phía sau đám quân đi phía sau và nã đạn vào rừng và những quả đồi xung quanh đường mòn.

Trong giờ tạm nghỉ vị linh mục cầu nguyện vội cho những người chết mới chôn của Tiểu đoàn dù Lê dương số 1, Trung uý Roux và lính của anh ta phát hiện thấy một nhóm tù binh Lê dương ở quả đồi đối diện, họ đang bị Việt Minh dẫn đi, hai tay buộc ra sau. Đi vào ban đêm với đám quân đi phía sau qua một rừng tre, nên Roux bị mất liên lạc với sĩ quan chỉ huy phía trước anh ta. “Tôi bị ám ảnh bởi luôn nghĩ rằng chính mình sẽ chạm trán với Việt Minh khi chờ đợi ở quả đồi tiếp theo”. Vượt qua một hẻm núi cao, đám lính dù bẻ cây phát huỳnh quang thành nhiều đoạn rồi giắt chúng vào sau các gói đồ vì thế mọi người có thể nối theo nhau. Vào tới thung lũng Mường Thanh, họ dừng lại bên bờ sông để lấy mũ sắt uống nước, sau đó vượt qua 2km cánh đồng lúa và vào tới vành đai phòng thủ của Điện Biên Phủ. Sau khi được đón chào bằng rượu và bít tết, Roux trải giường gấp và lăn ra ngủ. Roux nói: “Trong giấc ngủ tôi thấy mình vẫn đang hành quân. Chuyến đi dài đêm hôm đó thực sự mệt mỏi. Trong ít giờ chúng tôi quay lại đúng chỗ mà chúng tôi đã lẩn trốn trong 2 ngày và cứ như thế hành quân tới tận khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau”.

Đại tá Langlais tập tễnh bước về Điện Biên Phủ với nét mặt tái nhợt và tức giận, và phải thừa nhận rằng lính dù của ông đã tiến quá gần tới thảm hoạ. Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 bị chết và mất tích 28 người, 24 người bị thương. Một người mà không được đào tạo trong trường quân sự ra thì đều thấy kế hoạch của Navarre là lạc quan, nhưng Tư lệnh tối cao Pháp dường như không thấy được điều đó. Những chiếc xe tăng của Đại tá De Castries đang được chuẩn bị cho chiến dịch sắp tới chứng tỏ rằng cứ điểm Điện Biên Phủ chưa bị cô lập.

Những người sống sót của đám quân đi phía sau từ Lai Châu sẽ tới thung lũng trong ít tuần tới. Ba sĩ quan Pháp, 34 hạ sĩ quan và trên 2000 người theo đám quân đi sau bắt đầu cuộc hành quân. Một sĩ quan Pháp, 9 hạ sĩ quan và 175 người theo đám quân đi sau đã tới Điện Biên Phủ an toàn. Những người còn lại của các tiểu đoàn chính quy người Thái và những người đi theo rất thất vọng. Mặc dù có những cam kết trước đây của Pháp nhưng họ vẫn buộc phải rời bỏ đất đai của mình. Một số người sống phụ thuộc phải chịu đựng cuộc hành quân khủng khiếp này nhưng toàn bộ gia đình của họ lại bị bỏ lại phía sau trong những ngôi làng không còn người bảo vệ. Nhiều người bộ tộc được báo là mất tích đã quyết định quay về rừng để cố bảo vệ vợ và con họ. Những người trốn theo Lương Văn Ùi tới tận ngày 1 tháng 1 năm 1954 mới tới được Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:37:25 am »


Việc xiết chặt vòng vây quanh Điện Biên Phủ của Tướng Giáp càng khẳng định thêm sự phụ thuộc của cứ điểm này vào nguồn cung cấp bằng đường không. Từ ngày 8 tháng 12, 4 máy bay chiến đấu F8F “Bearcat” đã có mặt trên đường băng cùng với 1 trực thăng và 6 máy bay quan sát khác. Các máy bay này đã góp phần vào sự sống còn của đám lính dù của Trung tá Langlais và sự có mặt của chúng đã làm cho mọi người có cảm giác thêm an toàn. Một số máy bay “Bearcat” khác sẽ sớm nhập vào căn cứ không quân 195. Các chỉ huy không quân ở Việt Nam không nhiệt tình với cuộc hành quân Castor ngay từ đầu, lại không được tái bảo đảm. Việc thiếu các báo cáo về thời tiết từ vùng lục địa của Trung Quốc và các bản đồ khu vực đề ngày không chính xác đã làm giảm hiệu quả tác chiến. Các đợt mưa phùn vùng Bắc Bộ thường làm chậm các chuyến bay cất cánh tới tận trưa hoặc muộn hơn nữa đã trở thành mối lo ngại. Lực lượng không quân báo cáo: “Điều kiện khí hậu ở sườn đồi bên nay của dãy núi Trường Sơn An Nam không bao giờ giống với sườn đồi phía đối diện. Hiếm khi cả hai vùng cất cánh và vùng tác chiến đều có được thời tiết tốt”. Sự thực đơn giản này cũng đủ nghiêm trọng đối với các phi cơ vận tải, nhưng nếu không có chuyến bay nào thì có thể gây ra những hậu quả bi đát hơn. Nếu các máy bay ném bom và chiến đấu không cất cánh được cần phải nhờ tới sự cứu trợ của không quân ngay.

Việc tăng cường khả năng phòng không của đối phương trở nên phiền phức hơn: Trong một báo cáo tác chiến bí mật gửi tới Paris hồi tháng 12, Tướng Henri Charles Lauzin, Tư lệnh trưởng lực lượng không quân Pháp ở Viễn Đông cho biết: “Theo dự đoán vào cuối tháng 10, số vũ khí AA của đối phương tăng lên đáng kể, vẫn giới hạn ở loại súng 20 ly, loại AA này đặc biệt chủ động và chính xác”. Một báo cáo tương tự cho biết đối phương đã đưa tới 24 máy bay chiến đấu, 4 máy bay ném bom, 16 máy bay vận tải và 9 máy bay quan sát. Lauzin chỉ ra rằng những sửa chữa theo yêu cầu đã làm mất 470 giờ bay. Tổ bay chiến thuật miền Bắc của Tướng Dechaux vốn đã bị căng ra lại còn phải đáp ứng yêu cầu cung cấp không quân ở Điện Biên Phủ, ở Bắc Lào, ở đồng bằng Bắc Bộ và phía Bắc Hà Nội. Các máy bay chiến đấu và máy bay ném bom B-26 của không quân được tăng viện là của hải quân từ hàng không mẫu hạm Arromanches đang hoạt động ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ.

Nhu cầu can thiệp vào hoạt động của Việt Minh, cắt các nguồn hàng tới Điện Biên Phủ và tấn công các đoàn công binh, dân công hoặc các phân đội lao động dân thường đang làm việc trên các tuyến đường 13 và 41 giờ đã là quá sức đối với khả năng không quân của hải quân và của lực lượng không quân Pháp. Pháp chính thức đưa tới 173 máy bay chiến đấu và gần 80 máy bay vận tải. Thực tế, hỏng hóc về cơ khí hoạt động của đối phương, sửa chữa thông thường tổn thất về người ốm đau đã làm giảm quân số lính dù tới gần một nửa. Các bác sĩ luôn trong tình trạng khẩn cấp, các nhân viên kỹ thuật có quá nhiều việc. Các phi công không phải bám đuổi nhau hoặc bay lượn trên trời thì số phận của họ còn ở phía sau. Một khu rừng rậm, đầy thách thức, với tán lá xanh xám kéo dài tới tận chân trời đã che dấu hết các mục tiêu và các khẩu đội pháo phòng không của đối phương.

Cuối tháng 12, Tư lệnh tối cao Pháp thực hiện nỗ lực cuối cùng để chứng tỏ rằng Điện Biên Phủ vẫn có thể tới được bằng đường bộ. Ngày 21 tháng 12, Trung tá Langlais và đám lính dù được lệnh chuyển về phía Tây Nam Điện Biên Phủ, qua biên giới Lào để sát nhập với một đội quân Franco - Lào ở làng Sốp Nào. Cuộc hành quân của Langlais được  gọi là “Régate” và cuộc hành quân của lực lượng khác về phía bắc gọi là “Ardèche”. Ngày 23 tháng 12, người Lào, Marốc và lính Lê dương của cuộc hành quân Ardèche và lính dù của cuộc hành quân Régate gặp nhau ở Sốp Nào. Một nhóm nhà báo đặc biệt được đi theo và đưa tin về sự sát nhập của họ. Đại tá De Castries cũng có mặt, hạ cánh ngày hôm trước trên một chuyến đi ngắn ngày ra khỏi khu rừng để kịp giúp cho máy bay liên lạc được. Chiếc camera lách cách và kêu vù vù nhưng sự thật của buổi lễ ngắn gọn thì không thể che dấu nổi.

Chuyến đi 200 km của đội quân trong cuộc hành quân Ardèche trở thành một thử thách gay go. Bị bộ đội Pathet Lào quấy nhiễu nên họ buộc phải chiến đấu trong một trận đánh quyết liệt với một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 148 Việt Minh để giành lại bản làng quan trọng Mường Khoa, những binh lính bị mệt mỏi trông giống như những người còn sống sót hơn là những người chiến thắng. Nhiều người bị sốt, thương hàn, bệnh lỵ. Brigitte Friang, một phóng viên chiến tranh trong chính phủ Pháp, một cựu thành viên kháng chiến đã nhảy dù xuống và nhập với đội quân. Thực tế, sự ốm yếu, gầy rạc của binh lính đã gợi lại cho cô về hình ảnh những người tù ở các trại tập trung Nazi trong Thế chiến II.

Mặc dù con đường chỉ có 50 km nhưng lính dù của Langlais nhận thấy cuộc hành quân qua rừng thậc khó khăn vất vả. Khi buổi lễ kết thúc, De Castries và các nhà báo bỏ đi, hai đội quân tách ra. Lính dù theo một tuyến đường khác trở về Điện Biên Phủ và liên tiếp bị đối phương theo sát. Dixie Reese, một nhà nhiếp ảnh của Phái đoàn viện trợ Mỹ ở Sài Gòn, người luôn muốn thử sức làm một phóng viên chiến tranh, đã nhập vào đội lính dù ở Sốp Nào. Xuống từ một máy bay y tế, anh ta vào rừng với bộ trang phục bảnh bao có nơ thắt cổ và đôi giầy bóng nhoáng, mang 2 chiếc camera với một cái túi đầy dụng cụ chụp ảnh và một chai rượu wisky. Cuộc hành quân 2 ngày trở về với đám lính dù buộc Reese tin rằng phải có cách gì đó dễ hơn để quan sát cuộc chiến. Đội quân phải lê bước qua hàng rào thép gai phòng thủ quanh Điện Biên Phủ vào ngày sau lễ giáng sinh.

Các sĩ quan thông tin quân đội ở Sài Gòn và Hà Nội thông báo về sự phối hợp nhịp nhàng của binh lính, giá như cuộc diễn tập này là một thắng lợi. Nhưng không một bài diễn thuyết nào khẳng định với những người lính đã từng tham gia trong cuộc hành quân Régate và Ardèche rằng sự cố gắng của họ là xứng đáng. Từ giờ trở đi, lính dù sẽ phải chiến đấu trong thung lũng của Điện Biên Phủ có các đồi bao quanh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #18 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:38:50 am »


HOẠT ĐỘNG Ở CÁC VÙNG NÚI


“Chúng ta có thể chọn thời điểm đánh hoặc nghỉ ngơi trong khi đối phương vẫn còn phái đào nơi trú ẩn, sống trong nỗi sợ hãi bị tấn công và chịu sự khổ sở trong vòng vây”

Tướng Võ Nguyên Giáp
trong cuốn Điện Biên Phủ


Tướng Giáp cho rằng mọi sự điều động quân của Pháp đã khẳng định ý đồ trụ lại ở Điện Biên Phủ của Navarre và đây là cơ hội để ta tiêu diệt một số tiểu đoàn tinh nhuệ nhất của đối phương bằng một tình thế chiến thuật phù hợp. Những con đường mòn bỗng nhiên tràn ngập các hoạt động. Âm thanh của tiếng bước chân bằng dép cao su, tiếng leng keng của kim loại va chạm vào nhau; những đoàn người phu rồng rắn qua những hẻm núi, những túp lều kiểm soát mới được dựng lên. Một số người áo quấn ngang thắt lưng, mồ hôi nhễ nhại trên cổ, những bao hàng nặng đè lên miếng đệm cao su lót tạm trên vai, các cơ bắp chân phồng lên rồi xẹp xuống theo bước đi của họ. Họ đi một mình và đi thành đoàn 2 hoặc 4 người. Một người thì vác một tấm lót pháo trên vai; 2 người thì khiêng một bánh xe, bùn lầy tới mắt cá chân... Những túp lều kiểm soát sụt xuống ướt sũng, mái tranh lợp tả tơi rủ xuống các lối vào không có cửa. Người thay phiên ngồi xổm cạnh đó, ăn cơm nắm và chờ lệnh để vác hàng. Các sĩ quan công binh Việt Minh trong bộ đồng phục bạc màu, đội mũ cối, đứng cạnh đường mòn với các cán bộ chính trị mặc bộ đồ đen của nông dân và chiếc khăn rằn quấn cổ. Những nòng đại bác 75 ly hoặc ống pháo được đặt trên những chiếc xe trượt bằng gỗ do các chú ngựa kéo đi. Những đoàn xe đạp dài, mỗi xe chở tới 200 kg gạo, rồi xe thồ chất mọi thứ từ đài phát thanh tới rau quả được đẩy dọc theo các tuyến đường mòn quanh co.

Đây là một cuộc tổng động viên và vận động theo câu nói cổ xưa của người Việt: “Khi có giặc ngoại xâm đe doạ thì bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ đều sẽ trở thành những chiến sĩ”. Đợt tiếp tế cho cuộc hành quân vào Điện Biên Phủ đã tới phía Tây Bắc Việt Nam. Gạo của vùng đồng bằng được chuyển tới bằng thuyền 3 lá, thuốc y tế được trao đổi trên thị trường đen ở Hồng Kông và Băng Cốc rồi chuyển vào Việt Nam qua các đường biên giới và đường biển, thậm chí cả các tuyến mòn bị bom đánh phá vừa sửa chữa lại. Một vị tướng người Pháp không rõ tên, viết một bản báo cáo mật về Đông Dương theo yêu cầu của Tư lệnh tối cao Viễn Đông (chịu trách nhiệm về các lực lượng Pháp ở châu Á), cho biết: “Việt Minh đã sử dụng các xe cút kít do người phu chạy bộ đẩy, ngoài ra Việt Minh còn dùng ngựa, thuyền 3 lá, xe bò và xe đạp”.

Tuyến đường cung cấp chính bắt đầu từ biên giới Trung Quốc, chạy dọc Đường 13 tới sông Hồng và có tuyến rẽ vào Đường 41 tới kho cung cấp chính của Việt Minh ở Tuần Giáo, cách Điện Biên Phủ 80 km về phía Đông Bắc. Các đường mòn nhỏ hơn cũng được sử dụng để đưa người, trang thiết bị và vật chất vào Điện Biên Phủ. Các bộ phận của Sư đoàn 308 đã chuyển về phía Nam, Sư đoàn 312 và 351 có pháo binh và công binh đi theo đang hành quân với tốc độ 30 km một ngày và nhanh hơn vào ban đêm. Khi hành quân, quân chính quy của Tướng Giáp sử dụng những đôi giầy và dép cao su rẻ tiền, đội mũ lưới và ngụy trang bằng những cành cây nhỏ. Họ mang theo các loại vũ khí cá nhân: súng tiểu liên thu được của Pháp và Trung Quốc, súng cabin của Trung Quốc hoặc của Liên Xô và các loại súng trường tự động hiện đại của Séc; những ngăn nhỏ trên ba lô hở miệng để lộ ra những trái lựu đạn dính của Trung Quốc; những túi vải gạo dài hình xúc xích đung đưa trên vai; những bi đông nước đeo ngang hông và những chiếc ca tráng men trang trí bằng cờ đỏ của Trung Quốc và của Liên Xô. Việt Minh rất chú ý tới hàng hoá của họ. Tuổi trung bình của bộ đội từ 18 đến 20. Phần lớn các sĩ quan ở vào độ tuổi giữa hoặc cuối 20. Trong giờ nghỉ giải lao, binh lính ra khỏi đường mòn đi tìm những lá cây còn xanh để ngụy trang. Bộ binh Việt Minh cũng rất chú ý tới khả năng huỷ diệt của máy bay tuần tra Pháp, họ cúi thấp đầu, chỉ để hở mỗi cái chóp mũ có ngụy trang. Nghệ thuật ngụy trang của Việt Minh đã phát triển tới trình độ cao và có phương pháp. Một sĩ quan Pháp viết trong báo cáo: “Gần tới khu vực nguy hiểm, mỗi bộ đội lại nhặt những chiếc lá cùng màu và giắt chúng vào ba lô của người đi trước”. Một sĩ quan không quân cũng phải thừa nhận kỹ năng ngụy trang tài tình của đối phương. “Trong đời làm phi công, tôi đã từng bay trên bầu trời của Marốc, Ý, Đức thậm chí là Anh, nhưng tôi chưa hề có cảm giác bay trên một vùng đất nào trống trải như bay trên vùng đất của Việt Minh đến vậy”.

Mặc dù số binh lính của Tướng Giáp là cựu chiến binh của cuộc chiến tranh rừng núi hoặc xuất thân từ các vùng núi nhưng cũng có nhiều người tới từ các thành phố hoặc vùng đồng bằng. Họ cũng phải đối mặt với những khó khăn gian khổ trong rừng nhiệt đới như những binh lính của Pháp. Trên đường hành quân, các trạm kiểm soát có cung cấp thuốc men nhưng rất chậm, sốt rét, thương hàn, bệnh lỵ và những trận sốt rừng làm sự mệt mỏi của họ nhân đôi và đã gây tổn thất nặng nề cho những người thành phố. Các sĩ quan chính trị liên tục phải kiểm tra tinh thần của binh lính, nhắc đi nhắc lại tầm quan trọng của nhiệm vụ cao cả, nhắc nhở họ về mục tiêu chính và hướng dẫn họ hát những khúc quân hành: “Trời mưa, quần áo ướt sũng nhưng không làm chúng ta nản lòng”.

Để đề phòng đến mức tối đa, Tướng Giáp đề ra các mệnh lệnh đặc biệt về vệ sinh phòng dịch rồi phân tới các đơn vị: Uống nước đun sôi, phải sử dụng tất sạch sau khi rửa chân bằng nước muối ấm. Họ sẽ được ăn cơm nóng cùng với thịt và rau ít nhất một ngày một bữa và ngủ ít nhất 6 tiếng một đêm. Tướng Giáp còn ra lệnh phải cắt tóc ngắn, móng tay cắt ngắn và quân phục thay 2 tới 3 ngày/1 lần.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #19 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2009, 09:39:44 am »


Nếu nỗ lực tiếp tế của Pháp dựa chủ yếu vào lực lượng không quân thì những chuẩn bị tấn công của Tướng Giáp phụ thuộc vào các phân đội công binh Việt Minh các đơn vị dân công lao động và một lượng lớn những người phu khuân vác. Một trong những nhiệm vụ chính của các sĩ quan công binh là lập kế hoạch và tiến hành mở rộng đường, và mở thêm nhiều tuyến đường phục vụ xe tải kéo pháo và đạn lên. Tướng Giáp chỉ huy gần 600 xe tải Molotova của Liên Xô trọng tải 2 tấn rưỡi, nhiều xe tải của Mỹ mà Trung Quốc thu được ở Triều Tiên và một số xe kéo lớn. Xe tải thu được của Mỹ không phải là trang bị duy nhất có trong tay Việt Minh vì rất nhiều pháo có nguồn gốc từ Mỹ. Nhiều đại bác 75 ly thu của quân đội quốc gia Tưởng Giới Thạch được chuyển qua cho Việt Minh từ khi mở cửa đường biên giới. Những vũ khí này đã được dùng để chống lại Pháp từ cuối năm 1950. Đại bác 105 ly thu được của Mỹ ở Triều Tiên sẽ tạo thêm sức mạnh cho hoả lực của Việt Minh.

Công binh còn có nhiệm vụ nâng cấp những chiếc cầu cũ và xây dựng những chiếc mới. Những chiếc cầu gỗ bắc qua suối che chở cho họ khỏi máy bay của Pháp. Ngọn cây được buộc với nhau bằng dây và cáp để phủ kín các tuyến đường đường mòn và cầu. Xe tải được phủ bằng cành cây, lá mới cắt. Đường rãnh của bánh xe được lấp đầy bằng lá dừa khi có xe tải đi qua. Các vị trí pháo phòng không có ngụy trang được đào vào sâu vào trong để lấp đi những chỗ khó của tuyến đường gồm những đoạn đèo chật hẹp và những đoạn có suối chảy qua. Một hệ thống cảnh báo trên không có hiệu quả nhưng còn thô sơ vì chỉ đặt các máy quan trắc lên trên cây hoặc trên các mũi đất cao. Tín hiệu có thể tràn ngập các đường mòn bằng tiếng kêu leng keng của kẻng báo động hoặc bằng những tiếng sáo lanh lảnh. Những tuyến đường chính được phân thành nhiều đoạn, mỗi đoạn được phân từ 30 đến 40 xe tải. Tuỳ thuộc vào nhiệm vụ mà người phu được cử tới các đoạn đường này như: đội khuân vác, đội sửa đường, đội cửu vạn đặc biệt, lấp các đoạn đường bị phá hỏng cho xe tải đi qua.

Các cuộc không kích của quân Pháp là mối nguy hiểm thường xuyên. Khi các chuyến bay trinh sát hoặc các tổ tuần tra GCMA báo cáo tình hình, lực lượng không quân và máy bay hải quân dùng bộc phá công suất cao, mìn sát thương, bom napan tấn công liên hồi vào các mục tiêu. Các phi công nhằm vào những đoạn đường khó sửa chữa, đặc biệt dọc theo các sườn đồi, nơi chỉ cần một hoặc hai quả bom thả xuống là có thể làm sụt lở hết đất cát. Một phái đoàn trinh sát đi chụp ảnh 2, 3 ngày sau đó, thường báo cáo là những đoạn sụt lở đã được sửa chữa đã làm cho họ hết sức bất ngờ và thất vọng. Các phi công thấy rõ sự tiến bộ vững chắc về khả năng phòng không của Việt Minh và các báo cáo vắn tắt cũng đề cập tới sự leo thang của hoả lực đối phương. Pháo phòng không 37 ly được tăng cường cho đại liên của Liên Xô thường tạo ra nhiều nguy hiểm đáng kể. Một số phi công khẳng định rằng họ bị khống chế bằng hoả lực của loại vũ khí 40 ly, vũ khí tự động và hỏa lực súng trường. Việt Minh được huấn luyện cách hướng hoả lực vào máy bay bay ở tầm thấp, học cách ngắm các mục tiêu cho phù hợp với tốc độ. Cho dù, không hiệu quả ở độ bay bình thường, song chiến thuật này cũng có thể tạo ra nguy hiểm ở những đợt ném bom và tàn phá. Nhiều đoạn đường bị tấn công liên tiếp nên thương vong trong đám dân công thường rất cao. Tuy thiếu bác sĩ lành nghề trên các đường mòn nhưng các sinh viên y khoa và những người phục vụ cũng cố gắng hết sức mình, làm việc với trang thiết bị phẫu thuật tối thiểu và lượng thuốc men rất hạn chế để lấp đầy chỗ trống.

Cán bộ chính trị tăng cường chiến dịch tuyên truyền để duy trì tinh thần binh lính. Tướng Giáp rất cẩn trọng khi nhắc tới cả lực lượng dân công trong các bức thông điệp của ông gửi tới binh lính. Mỗi dân công bị chết trong khi làm nhiệm vụ đều được ca ngợi như những người anh hùng cách mạng. Nhiều người bộ tộc không có may mắn được tham gia vào đội tiến quân của Tướng Giáp cũng được ghi tên vào cuộc chiến tranh nhân dân như những công nhân làm đường hay dân phu. Từ 35.000 dân phu hồi đầu chiến dịch đã tăng lên trên 70.000 trước khi trận đánh kết thúc, còn tính cả các đơn vị vận tải, hậu cần thì lên tới gần 300.000. Nhiệm vụ của họ là phải hoàn thành công việc tiếp tế cho lực lượng tấn công gần 47.500 người của Tướng Giáp trong chiến dịch 6 tháng trên địa hình hiểm trở vào loại nhất thế giới và dưới sự quấy nhiễu thường xuyên của đối phương. Họ đã hoàn thành việc bí mật chuyển 144 bộ phận của pháo, 36 pháo phòng không, nhiều bệ phóng 12 nòng Kachusa và đạn dược vào rừng. Tư lệnh tối cao Pháp từng tuyên bố Việt Minh không thể vận chuyển được như thế vì lý do địa hình rừng núi, thiếu đường qua lại và hậu cần đơn giản. Còn nếu điều kỳ diệu đó xảy ra thì Pháp tin rằng bất cứ pháo nào của Việt Minh xuất hiện ở Điện Biên Phủ đều sẽ bị vô hiệu hoá nhanh chóng bằng hoả lực pháo và các cuộc không kích của họ.

Từ giữa tháng 12, Việt Minh cùng với những người quan sát và lính trinh sát, nấp trong bãi cỏ cao và rừng tre trên đồi, liên tiếp giám sát vùng thung lũng. Họ thấy cầu hàng không chuyển quân tăng cường và pháo binh tới nhiều hơn, điều đó đã khẳng định ý đồ duy trì Điện Biên Phủ của Navarre. Họ còn thấy công việc phát quang đang diễn ra trên thung lũng khi quân đồn trú cắt cây và bụi rậm xung quanh các vị trí công sự. Đối với người Pháp, đó là quá trình chuẩn hoá quân sự để mở rộng phạm vi bắn và cản tầm quan sát gần của đối phương. Đối với Việt Minh, nó có nghĩa là người Pháp đang tự mò mẫm, bỏ qua sự bí mật và để lộ ra những chùm ăng ten radio cao giúp cho Việt Minh dễ dàng xác định được chính xác vị trí các đồn chỉ huy trọng yếu.

Ở thung lũng phía dưới, Đại tá De Castries tập trung vào công việc phát quang. Nhận xét của một sĩ quan trong Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn súng trường Algeri số 7 cho thấy không phải tất cả mọi người đều đồng ý với mệnh lệnh phát quang: “De Castries trong chuyến đi thăm cứ nằng nặc cho rằng mọi tán cây bụi rậm đều phải được phát quang ngay lập tức vì ở khoảng cách gần 2 km Việt Minh sẽ dễ quan sát được vị trí của toàn bộ cứ điểm và xác định được vị trí các bốt chỉ huy của tiểu đoàn, đại đội và các vị trí vũ khí của ta”. Anh ta còn đưa ra quan điểm riêng của mình về vụ việc này: “Sự lựa chọn một lính kỵ binh để bảo vệ một nhóm đào hào là không chính đáng, những ngày của mệnh lệnh đã qua rồi”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM