Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:46:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi  (Đọc 53939 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:06:25 pm »


De Castries giải thích: việc chuyển quân khỏi khu vực lầy lội sẽ ảnh hưởng tới việc chiếm lại Dominique 1 và 2. Sau đó ông ta liệt kê ra các khu vực bị ngập lụt và nói không thể lấy lại các vị trí Dominique với một lực lượng mỏng như vậy và khẳng định rằng ông ta muốn duy trì Isabelle như một căn cứ cung cấp hoả lực. Ông giải thích việc sơ tán khỏi Isabelle có nghĩa là sẽ xoá bỏ vị trí trung tâm đang dần co lại và còn là yêu cầu tiến hành một đợt tác chiến lớn để mở đường tới Isabelle và bảo vệ nó trong suốt thời gian sơ tán thương binh cùng tất cả trang thiết bị, đạn dược, pháo binh và nhân sự. Tình hình chung cho thấy không đủ xe tải và dự đoán sẽ có những thiệt hại nặng cả về người và của khi rút khỏi Isabelle. Ông kết luận: chỉ cần thả 3 tiểu đoàn dù xuống gần bản Noọng Cóng vào ngày 30 tháng 4 thì ông ta sẽ chiếm lại được các vị trí ở Dominique và có thể ở cả Anne-Marie 1 và 2, đảm bảo một khu vực thả dù an toàn và di chuyển quân đồn trú lên vùng đất cao.

Trong khi đó Bigeard vẫn phải miễn cưỡng chuẩn bị các công việc cho cuộc phản công. Ông chọn Tiểu đoàn dù Lê dương số 2 mới đến của Thiếu tá Liesenfelt để giao nhiệm vụ và chuẩn bị cho cuộc tiền trạm vào cứ điểm Huguette 1 bằng các máy bay B-26 và máy bay ném bom. Pháo binh của Pháp ở bên cạnh để phóng hoả lực nghi binh vào các cứ điểm Dominique và Anne-Marie. Bigeard rất tin tưởng vào đội Lê dương của Tiểu đoàn dù số 2 và coi họ là đơn vị dù giỏi nhất Đông Dương. Và cũng tin rằng tiểu đoàn của Liesenfelt có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thiếu ngủ và sự căng thẳng của trận đánh đã gây cho đối phương tổn thất lớn. Lúc này Bigeard quá mệt mỏi và đã lăn ra ngủ. Nhưng không được lâu, ông bị đánh thức vì nghe thấy giọng nói của De Castries kể lại cuộc phản công vào Huguette 1 thiếu mất đòn quyết định. De Castries lệnh cho Bigeard kiểm tra xem “điều gì đang diễn ra”. Mọi hành động chuẩn bị kỹ càng đã bị đổ bể. Sau chút thành công chớp nhoáng ban đầu giơ đây các đại đội của Liesenfelt đang bị cầm chân và phải chịu nhiều thương vong. Việt Minh đang tận dụng triệt để lợi thế của con đường dẫn vào cứ điểm Huguette 1. Khẩu đại liên được giấu trong đầu chiếc máy bay Curtiss đã phát hiện thấy hai đại đội địch khi họ đi ngang qua đường băng. Mặc dù khói lửa dày đặc, pháo binh của Việt Minh vẫn nã đạn về phía đám lính dù.

Bigeard nhảy vào một chiếc xe jeep, lao thẳng tới sở chỉ huy của Liesenfelt ở Huguette 2 (cứ điểm 208), thấy chỉ huy của Tiểu đoàn dù Lê dương số 2 đang ngồi cạnh chiếc radio, Bigeard hỏi mọi việc thế nào, Liesenfelt đáp lại mọi việc chắc hẳn vẫn tốt vì anh ta không thấy có báo cáo từ các đại đội. Sau đó Bigeard phát hiện ra rằng radio của Liesenfelt không bắt được sóng xa. Những bức điện từ các đơn vị bị cầm chân của Tiểu đoàn dù Lê dương số 2 đã không tới được sở chỉ huy của Liesenfelt. Bigeard tức giận, ngay lập tức đứng ra chỉ huy. Tới nay, một sĩ quan Lê dương cho rằng Bigeard đã quá nghiêm khắc với Liesenfelt cả trong và sau trận đánh. Một số khác cho rằng chỉ huy của Tiểu đoàn dù Lê dương số 2 đã có thể thấy được hoàn cảnh bi đát của đám binh lính nếu ông ta đứng trên một vị trí để quan sát đợt tác chiến này. Tuy nhiên tất cả những tranh luận đó sau này đều được rõ ràng.

Đánh giá tình hình, Bigeard khẳng định cuộc phản công hoàn toàn bị thất bại. Mục tiêu của ông ta bây giờ là cứu vãn những gì còn lại từ thảm hoạ đó. Ông lệnh cho Tiểu đoàn dù số 2 rút quân và yêu cầu pháo binh, không quân yểm trợ cho đợt rút lui. Hai đại đội kéo về đã mất 80% quân số. Trong cuộc phản công chiếm lại Huguette 1, Tiểu đoàn dù số 2 mới tới đã mất 154 người.

Nhiều năm sau khi cắt nghĩa cuộc tranh luận xung quanh những gì đã xảy ra ngày hôm đó, Bigeard viết: “Mặc dù rất mệt mỏi, tôi vẫn phải đứng ra chỉ huy đợt tác chiến. Những người lính tuyệt vời của Tiểu đoàn dù 2 đều giỏi như lính của tôi nhưng ngày hôm đó người chỉ huy của họ lại vắng mặt. Bởi vậy tôi tự thấy có trách nhiệm với sự thất bại này”.

Điện mừng của Tướng Giáp tới binh lính được lan truyền đi khắp nơi vì bộ đội đã đoàn kết giữ vững Huguette 1 và tiếp tục gây áp lực với Isabelle. Việt Minh mất 300 người và nhiều người bị thương trong trận Huguette 1. Tướng Giáp động viên binh lính thi đua “truy kích địch” tới cùng. Chính vì vậy quân đồn trú Pháp luôn phải sống trong sự sợ hãi. Ông kêu gọi: “Tất cả các xạ thủ súng máy, súng trường, pháo binh, hoả lực tiêu diệt từng tên địch ở Điện Biên Phủ”. Giống như hầu hết các mệnh lệnh, Tướng Giáp đưa ra một khẩu hiệu đơn giản và dễ nhớ: “Mỗi viên đạn một quân thù”. Binh lính thi nhau ngắm bắn chính xác và đếm từng phát súng. Sau đó ông hỏi: “Ai sẽ là người bắn giỏi nhất ở Điện Biên Phủ? Xạ thủ súng máy, súng cối hay pháo thủ? Bộ Tư lệnh đang chờ chiến công của các bạn và các đơn vị để trao tặng phần thưởng”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:08:01 pm »


SỐNG VỚI NHỮNG XÁC CHẾT


“Họ có 3000 người chống lại 80 người chúng tôi”

Đại uý Jean Lucciani,
Tiểu đoàn dù Lê dương số 1,
miêu tả cuộc tấn công ở “Huguette 4”



Trong khi Tướng Giáp đang kêu gọi mọi người hãy chiến đấu thì binh lính đang bảo vệ Điện Biên Phủ lại có chung một hy vọng rằng họ có thể rút khỏi thung lũng này mà vẫn bảo toàn tính mạng. Đây là hy vọng không thể nói ra bằng lời vì những lý do mang tính đạo đức mà họ phải tâm niệm hàng ngày. Người ta chờ đón những tin tức lạc quan như chờ đón một bao thuốc lá khan hiếm và chai rượu được dành dụm lâu ngày. Ngay cả khi những cuộc bỏ chạy hỗn loạn nhất trong trí tưởng tượng của người ta cũng có khả năng xảy ra và được nhắc đến một cách nghiêm túc trong các câu chuyện của thương binh mình đầy băng bó và lởm chởm râu tóc do lâu ngày không được cạo sửa, nằm ngổn ngang trong những giao thông hào lầy lội: Cogny cử một lực lượng tác chiến tới để chặn đứng nguồn tiếp tế của Tướng Giáp. Cuối cùng thì người Mỹ cũng quyết định can thiệp vào. Trên đầu là một đội lính dù tới từ Pháp; một đội quân cứu viện hành quân từ Lào sang trong vòng một ngày. Chỉ có những lời đồn đại là sẽ đến cuối cùng và ngày càng đúng với thực tế.

Tướng Navarre và nhân viên của ông triển khai một kế hoạch dự phòng là cử một đội quân từ Lào sang Điện Biên Phủ. Trên báo chí, cuộc hành quân có tên là “Condor” được gọi là cuộc càn quét đầy tham vọng để làm quang khu vực biên giới Tây Bắc của lực lượng Việt Minh đang chao đảo rút chạy từ một thất bại ở Điện Biên Phủ. Một ngày đầy hy vọng của tháng 12 năm 1953 và phù hợp với đường lối của cuộc hành quân mang tên “Ardèch” và “Régate”, thì các cuộc chiến mong manh đó chứng tỏ rằng khu rừng nhiệt đới có thể được coi là kẻ thù nguy hiểm như Việt Minh. Kế hoạch ban đầu kêu gọi sự tham gia của 4 tiểu đoàn từ Lào sang để dọn sạch khu vực Mường Khoa và phía Tây của sông Nậm Rốm. Sau đó những người lính này sẽ hành quân về phía Đông Bắc để sát nhập với lực lượng gồm 4 tiểu đoàn lính dù ở Nga Na Son và tiến về để chiếm khu vực đèo đá vôi, đèo dẫn tới thung lũng Mường Thanh và các đường phía Nam dẫn tới Isabelle. Thời gian trôi đi và các sự kiện ở Điện Biên Phủ đã làm thay đổi diện mạo chiến trường. Các tiểu đoàn dù và tiểu đoàn vận tải không quân cần cho một nỗ lực trên quy mô lớn như vậy không còn sẵn nữa.

Ngày 13 tháng 4, Tướng Navarre lệnh cho Đại tá Boucher de Crèvecoeur, Tư lệnh các lực lượng Pháp tại Lào thực hiện cuộc hành quân Condor. 3 tiểu đoàn người Lào (trong đó có một tiểu đoàn dù), một tiểu đoàn Lê dương và một nhóm biệt kích “Mollat” gồm người Mông và Lào dưới sự chỉ huy của Trung tá Mollat, bắt đầu cuộc hành quân dài ngày tới Điện Biên Phủ. Các nhóm biệt kích GCMA hiện đang hoạt động trong vùng, sẽ yểm trợ phía trước cho đội quân. Sau đó, đại tá - người chỉ huy 4 tiểu đoàn hy vọng kéo được lực lượng chính quy Việt Minh ra xa Điện Biên Phủ, kìm chân họ bằng các chiến thuật tấn công chớp nhoáng của lính biệt kích và quay sang phía Nam đèo đá vôi để tới Mường Nhạ. Ở đó, sau khi được tăng cường thêm 4 tiểu đoàn, anh ta sẽ bắt đầu lên đường tới Isabelle.

Kế hoạch này có quá nhiều tham vọng. Chỉ có hai tiểu đoàn lính dù là chuẩn bị sẵn sàng và họ thuộc Quân đội Quốc gia Việt Nam. Danh tiếng của họ không được đề cao vì Langlais đã từ chối không chấp nhận sự tham gia của họ tại Điện Biên Phủ. Người ta vẫn còn nghi ngờ về chất lượng của các tiểu đoàn kỵ binh người Lào thuộc Đội quân Cơ động miền Bắc. Mặc dù một số người Lào chiến đấu rất tốt trên lãnh thổ của họ, nhưng phong cách uể oải cũng như truyền thống ưa an nhàn của họ không thể đáp ứng được các yêu cầu hà khắc của một trận đánh kéo dài liên tục. Kế hoạch tiếp viện bộ binh bằng máy bay của Đại tá Thanh có vẻ lạc quan trong điều kiện có sẵn một số đường băng để máy bay có thể hạ cánh. Các vướng mắc khác đối với sự thành công là thiếu người phu và động vật để vận chuyển hàng tiếp viện và yêu cầu đầu tiên của Điện Biên Phủ là sự hỗ trợ bằng không quân cả về hàng tiếp viện và hàng chiến lược.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:09:41 pm »


Địa hình mặt đất là một vấn đề lớn. Những ngọn núi của vùng nhiệt đới và thung lũng sâu là những rào cản đầy khó khăn đòi hỏi phải có sự nỗ lực phi thường. Những cơn mưa gió mùa có thể làm tê liệt mọi sự trợ giúp bằng không quân, trong ít phút có thể biến một đường mòn dốc thành một rãnh bùn và biến những con suối nhỏ thành những dòng nước lũ chảy xiết không thể vượt qua. Sau một cơn mưa bất thình lình như trút nước là một trận nắng khủng khiếp có thể hút hết hơi ẩm của vùng đất đá vôi này và biến bùn thành bụi và phải mang theo một lượng nước khổng lồ mới cứu các đoàn quân ở đây khỏi bị khát. Tiến độ của cuộc chiến thường phụ thuộc vào tiến độ chậm chạp của đội quân đi mở đường bằng dao nhựa, một quá trình vòng vèo làm cho người ta kiệt quệ vì nóng. Giờ đây, đội quân Crèvecoeur sẽ phải đối mặt với các tiểu đoàn Việt Minh chính quy và các đơn vị địa phương không bị ảnh hưởng trong cuộc đổ máu ở thung lũng Mường Thanh và đang rất phấn chấn vì những thắng lợi của Việt Minh. Lực lượng không chính quy người dân tộc làm việc cho Việt Minh đang theo dõi người Pháp và báo cáo quân số, hướng đi và tốc độ của họ. Ngày 21 tháng 4, các đơn vị của đội quân này đang bị gián đoạn liên lạc với đối phương. Sở chỉ huy của Tướng Giáp đang theo dõi cẩn thận diễn biến của chiến dịch “Condor” và chuẩn bị cho việc ngăn chặn đoàn quân này tiến vào Điện Biên Phủ.

Trong khi lính bộ binh, công binh và pháo binh của Việt Minh tiếp tục gây áp lực lên các cứ điểm của Pháp vào ban đêm thì một số cán bộ chính trị của Tướng Giáp lại không ngừng bận rộn với một chiến dịch tuyên truyền địch vận. Làm suy yếu tinh thần của đối phương từ lâu đã được coi là một phần không thể tách rời của cuộc đấu tranh cách mạng. Giờ đây, cùng với việc co lại hàng rào phòng thủ và tiến lại gần các lực lượng đối địch, cố gắng đã được tăng lên. Các loa phóng thanh được bắc gần hàng rào thép gai của thực dân Pháp để tuyên truyền các thông điệp nhằm vào những đơn vị cụ thể và các nhóm dân tộc thiểu số. Đội quân “bù nhìn” người Việt và người Thái được thuyết phục rời bỏ các “ông chủ” Pháp của mình và cùng đồng bào mình tham gia cuộc đấu tranh giải phóng. Lính Lê dương, Marốc, Algeri rời bỏ quân ngũ hoặc bị bắt giữ đã viết thư cho đồng đội mình bằng tiếng Đức hoặc tiếng Arập để thuyết phục họ rời bỏ quân ngũ. Đâu đó nhịp điệu chậm rãi của bài hát Chant des Partisans (Bài ca du kích) vang lên từ loa phóng thanh của Việt Minh. Bài hát này xuất phát từ Phong trào kháng chiến của Pháp với nội dung đề cập tới việc nhân dân vùng dậy lật đổ kẻ áp bức bóc lột, chắc chắn là nhằm mục đích giáo dục chính trị. Tuy nhiên, nhiều sĩ quan và binh lính ở Điện Biên Phủ đã từng chiến đấu với phát xít Đức trong Phong trào kháng chiến hoặc trong thời kỳ giải phóng nước Pháp. Đối với nhiều người trong số họ, giai điệu của bài hát giúp họ nhớ lại những thời kỳ khó khăn trong quá khứ và truyền cho họ một niềm cảm hứng hơn là sự suy yếu về tinh thần.

Các chiến binh tâm lý của Pháp cũng rất bận rộn. Hàng ngàn truyền đơn được thả bằng máy bay xuống các vị trí đóng quân của Việt Minh và các tuyến đường tiếp tế. Rất nhiều phần trong nội dung của các tờ truyền đơn đó đề cập tới vai trò của Trung Quốc trong cuộc xung đột và Trung Quốc đã sử dụng Việt Minh như vết thử nghiệm để thúc đẩy quá trình biến động của chủ nghĩa đế quốc trong khu vực. Tuy việc tuyên truyền này dựa trên lịch sử, nhưng khó có thể ứng dụng được vào tình hình thực tế. Ví dụ: Một anh bộ đội xuất thân từ tầng lớp nông dân có thể không nhận thức sâu sắc về lịch sử nhưng có thể nhận ra rằng người Trung Quốc ở đó là để giúp đỡ và nhiều người trong số họ đang chia xẻ rủi ro trên chiến trường cùng với các đồng chí Việt Nam của anh ta. Anh ta cũng biết rằng vũ khí mà anh ta đang sử dụng, đồ tiếp tế giúp duy trì sự sống của anh ta và những chiếc xe chuyên chở các vật dụng đó đều của Trung Quốc. Cho nên anh ta suy nghĩ rằng: kẻ thù của kẻ thù của anh ta lại chính là bạn của anh ta.

Cán bộ chính trị Việt Minh cũng rất lo lắng tới tinh thần của quân lính. Mặc dù Tướng Giáp - không giống như người Pháp - thường xuyên luân chuyển các đơn vị ở chiến tuyến, thì một số đơn vị Việt Minh rõ ràng có khá hơn so với các đơn vị khác. Điều này có nghĩa rằng các đơn vị khá hơn này liên tục được yêu cầu làm những điều vượt trội. Họ khắc phục được hậu quả đã gây ra những tổn thất nặng nề mà những người Cộng sản gọi là “những xu hướng hữu khuynh”. Các hình thức tuyên truyền cổ động được đem ra áp dụng đối với những người hay dao động này như các bài giảng chính trị, những buổi họp tự phê bình, các buổi nói chuyện của những sĩ quan cao cấp và của những anh hùng cách mạng Việt Nam. Các băng rôn đỏ cổ động, loa đài và các bài hát tập thể cùng với những khoảng thời gian nghỉ ngơi, những tấm huy chương và lương thực đầy đủ đều là các hình thức giải quyết vấn đề. Một nhuệ khí mạnh mẽ là yếu tố cần thiết cho giai đoạn cuối của chiến dịch, vì thế nhiều gương mặt mới được tuyển mộ đã lần đầu được thử sức trên chiến trường. Chính vì vậy, Tướng Giáp chắc chắn rằng trong những gương mặt mới này có một đội ngũ cựu chiến binh dày dạn kinh nghiệm đóng vai trò là những người cố vấn cho họ.

Người Pháp đã tùng chiến đấu trên chiến trường vì trái tim và khối óc của những người dân tộc. Việc từ bỏ Lai Châu là một cú đánh vào những mối liên kết lâu đời của người Pháp với các dân Thái. Việt Minh cũng đang cố gắng để giành được sự ủng hộ của người Thái, Mông, Lôlô và Dao. Tuy nhiên, các sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp thuộc GCMA (GMI), những người vẫn đang lãnh đạo đội quân không chính quy thuộc các bộ tộc chống lại Việt Minh đã có một chỗ dựa vững chắc trong khu vực. Giống như người Trung Quốc ở Điện Biên Phủ, sự hiện hữu của họ là sự bảo đảm về mặt hỗ trợ từ bên ngoài. Thật không may cho những bộ tộc miền núi này, đây chỉ là một sự bảo đảm không có thực.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:10:17 pm »


Ngày 26 tháng 4 năm 1954, các nhà ngoại giao đang chuẩn bị cho Hội nghị Geneve để quyết định vận mệnh của Việt Nam. Hai ngày trước đó, các Ngoại trưởng của Pháp, Anh đã gặp gỡ với Ngoại trưởng Mỹ. Các ông Georges Bidault, Anthony Eden và John Foster Dulles đã xem xét lại lần cuối về khả năng tiến hành một cuộc can thiệp liên minh vào Đông Dương. Lúc đó, việc này đã trở thành một lời tuyên bố. Dulles tuyên bố rõ ràng rằng Mỹ không thể làm được việc gì nếu không có sự phê chuẩn của Quốc hội và công việc này chỉ có thể tiến hành được nếu có sự tham gia của Anh. Thực ra Quốc hội Mỹ đang theo đuổi một phi vụ lớn hơn. Ngoài sự tham gia của Anh, các nhà lập pháp đã kêu gọi sự ủng hộ từ “các quốc gia tự do của Đông Nam Á” như Philippines và khối Liên hiệp Anh. Người Mỹ cũng đang yêu cầu người Pháp phải cố gắng đem lại độc lập thực sự cho các nước liên kết của Đông Dương và cam kết không tiến hành chiến tranh. Người Pháp quyết tâm cứu lấy những gì còn có thể trong hoàn cảnh này, đã không đáp lại các đề nghị đó. Ông Phạm Văn Đồng, đại diện của Việt Minh biết rằng sự thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ có thể đem lại cho ông những lợi thế ngoại giao rõ rệt. Tuy nhiên, ông cũng cảnh giác với những mục đích của Trung Quốc và Liên Xô và sẽ không chịu áp lực của các cường quốc đồng minh đó. Mặc dù, sinh mạng của hàng ngàn người đang bị đe doạ nhưng mãi tới ngày 8 tháng 5 Hội nghị mới bắt đầu. Bị cản trở bởi các nghi thức ngoại giao và sự bất tin cẩn lẫn nhau, Hội nghị diễn ra trong bầu không khí đầy nghi hoặc và soi mói. Các cuộc họp bí mật, các bản tường thuật nửa sự thật và những cự tuyệt ngoại giao là chương trình làm việc hàng ngày vì mỗi thành viên tham gia đều muốn giành lợi thế về mình một cách không chính đáng. Trước đó, ngày 27 tháng 4, Thủ tướng Churchill đã thông báo cho Hạ nghị viện rằng nước Anh phản đối bất kỳ hành động liên minh quân sự nào tại Đông Dương. Hai ngày sau, Tổng thống Eisenhower phát biểu tại cuộc họp báo rằng Mỹ sẽ không tiến hành bất kỳ hành động đơn phương nào tại Đông Dương. Vận mệnh của quân đồn trú tại Điện Biên Phủ bây giờ tuỳ thuộc vào các vị tướng.

Các phi công thuộc đơn vị hải quân Pháp đã thực hiện công việc tiếp tế một cách xuất sắc trong đợt thử sức không thành để lấy lại cứ điểm Huguette 1. Họ cũng như các phi công CAT của Mỹ lái những chiếc máy bay C-119 đã lấy lại sự kính trọng của quân đồn trú tại Điện Biên Phủ vì sự sẵn sàng nhận lấy rủi ro về mình. Theo dõi các trận không kích của những chiếc máy bay thả bom đã trở thành một trò chơi thú vị. Những người lính bộ binh hàng ngày liều mạng với cái chết phải kinh ngạc vì sự dũng cảm đến kỳ diệu của các phi công. Khi máy bay chiến đấu gầm rú trên các vị trí pháo của đối phương, các đội quân bị bao vây phải lắc đầu ngán ngẩm và cho rằng những phi công này “chắc chắn là bị điên”.

Từ cứ điểm Eliane 2, Trung sĩ Bleyer của đội Lê dương đã theo dõi trận đánh giành lấy cứ điểm Huguette 1. Anh ta bị thương vì trúng mảnh đạn trong khi hộ tống một phân đội chở nước về Huguette mấy ngày trước. Đó là lần bị thương thứ hai. Hiện tại, anh ta nhìn thấy một chiếc Hellcat của hải quân đang dang rộng cánh trước hoả lực pháo phòng không để thực hiện một chuyến ném bom. Bleyer và lính Lê dương phải nín thở khi một chiếc máy bay lớn bắt đầu phun khói. Dù bị trúng đạn nhưng chiếc máy bay này cũng đã thả được 2 quả bom 500 pound xuống mục tiêu. Viên trung uý phi công Bernard Klotz nhận ra rằng máy bay của anh ta đã xong nhiệm vụ nên đã đẩy vòm kính buồng lái và nhảy dù xuống. Bleyer nhớ lại: “Anh ta rơi vào vùng đất chết giữa chúng tôi và Việt Minh. Gniewek, Quinard, Frocchi, Dufour và tôi tạo thành một đội biệt kích nhỏ và chúng tôi đã đưa được Klotz về nơi an toàn”. Hành động mạo hiểm của Bleyer được thể hiện bằng một câu nói khiêm tốn: “Tôi đã thu được một đầu đạn trong trận này”. Mặc dù bị đau một số dây chằng, song Trung uý Klotz vẫn tham gia cùng với các sĩ quan của lực lượng không quân để hướng dẫn liên lạc giữa không trung và mặt đất.

Hàng ngày, pháo binh của đối phương vẫn tiếp tục phóng hoả lực và nã pháo vào các vị trí phòng thủ. Như một phản xạ, lính phòng ngự chui hết vào đường hào gần nhất và cúi lom khom chỉ có cái mũ sắt bảo vệ. Không phải tất cả thương vong đều là lính chiến đấu. Robert Blondeau, lính biệt kích GCMA, hiện được điều động tới Tiểu đoàn xung kích số 8 nhớ lại: “Những cô gái Thái múa ba lê theo Đèo Văn Long được ăn ở tại một khu nhà ở Claudine. Một cô bị trúng đạn của pháo binh, chúng tôi đã phải dùng xẻng và chổi để gom xác cô ta lại và chỉ còn sót một đám tóc”.

Khi tình báo Pháp khẳng định sự có mặt của 25.000 bộ đội ở Điện Biên Phủ thì lính Lê dương đang chuẩn bị cho một buổi lễ kỷ niệm Camerone, một trận đánh nổi tiếng ngày 30 tháng 4 năm 1863. Trong trận này, một phân đội 62 lính Lê dương phải chiến đấu với 2000 lính chính quy Mêhicô ở Camerone. Sau một ngày chiến đấu dai dẳng, 5 lính Lê dương đã bị lưỡi lê của người Mêhicô đâm chết. Từ đó, làm “lễ kỷ niệm Camerone” nghĩa là phải chiến đấu đến cùng để chống lại sự chênh lệch quá lớn. Đối với lính Lê dương ở Điện Biên Phủ ý nghĩa đặc biệt đó của Camerone không hề bị mất đi. Ngày 30 tháng 4, viên sĩ quan Lê dương cấp cao đã đọc thống kê chính thức về trận đánh trên đài phát thanh. Mỗi vị trí của lính Lê dương ở Điện Biên Phủ đều tổ chức kỷ niệm ngày này theo cách riêng của họ. Thông thường, là một bữa tiệc ăn uống thịnh soạn. Còn ở Điện Biên Phủ là các khẩu phần ăn của lính và có thêm thịt rán với rượu vang. Khi lính Lê dương đang hồi tưởng về quá khứ thì Việt Minh đang đào hào tới Huguette 5 và 4 (cứ điểm 311 A và 311 B) và những chuyến thả hàng vẫn diễn ra. Suốt 4 đêm, 300 lính tình nguyện đã nhảy dù xuống thung lũng nhưng sức mạnh của các lực lượng đối phương giờ chắc chắn có lợi cho Tướng Giáp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:10:42 pm »


Suốt đêm 30 tháng 4, các bốt canh của Pháp liên tiếp báo cáo về sự gia tăng các hoạt động của đối phương. Ngày 1 tháng 5, Việt Minh tổ chức kỷ niệm ngày Lao động quốc tế bằng các cuộc diễu binh rầm rộ qua loa phóng thanh. Các đơn vị bộ binh cũng đang di chuyển vào vị trí. Nhóm quan sát thấy pháo thủ của đối phương đang chuyển các bộ phận tới vị trí mới cứ như biết rằng các xạ thủ của Pháp vừa được lệnh tích trữ những thùng đạn ít ỏi còn lại.

17 giờ, pháo binh của Việt Minh bắt đầu hoạt động. Đại bác, trọng pháo, súng không giật đều tham gia vào cơn bão hoả lực không ngớt để đổ 2 tấn thuốc nổ vào Điện Biên Phủ. Các boongke và đường hào ướt sũng bị sập đổ hoặc biến mất. Nhiều người bị chết và què cụt. Những người sống sót bị ù tai vì sự chấn động làm rung chuyển cả mặt đất phải cố thở trong mùi khét của thuốc súng và lớp khói mù mịt. Hai Sư đoàn 312 và 316 của Tướng Giáp đang chuẩn bị tấn công các vị trí đồi phía Đông của Dominique 3 và Eliane 1 trong khi Sư 308 đang tấn công vào Huguette 5. Các đơn vị tấn công cần sự động viên tinh thần nhiều hơn là cảnh tượng phá huỷ mà pháo của họ đang gây ra. Sau 3 giờ tấn công liên tiếp, hỏa lực dịu đi và bộ đội đã ùa ra khỏi các đường hào.

Toàn bộ một trung đoàn Việt Minh tấn công lăn xả vào đại đội 80 người thuộc tiểu đoàn của Bréchignac đang chiếm giữ Eliane 1. Hoả lực pháo binh của quân đồn trú đã chặn được nhiều kẻ tấn công nhưng vì quá gián đoạn và cách quãng nên không thể bẻ gãy được đợt tấn công. Vào nửa đêm, tới gần 12 người đang canh giữ vị trí và chỉ huy của họ bị thương vào đầu, Bréchignac mới đưa đại đội cuối cùng của anh ta ra. Người chỉ huy bị chết ngay sau đó nhưng các lính dù vẫn tiếp tục kháng cự tổ chức các đợt tấn công theo từng nhóm nhỏ để chống lại sự tràn vào của đối phương. Lúc 2 giờ, Eliane 1 bị thất bại. Claude Sibine của Tiểu đoàn dù kỵ binh miêu tả đêm hôm đó là đêm tồi tệ nhất của anh ta ở Điện Biên Phủ. Anh ta nhớ lại những người bị thương ở Eliane 1 ùn ùn tới vị trí của anh ta. “Họ tới suốt đêm, người Pháp và người Việt hoàn toàn bị chấn động thần kinh. Đạn 105 ly của Việt Minh đang bay tới: những đám nổ trên không, những ngòi nổ tiếp xúc, ngòi nổ chậm đã chôn vùi họ trong bùn lầy để rồi sau đó nổ tung. Chúng tôi đã sống cùng với người chết. Đó là một phần cuộc sống của chúng tôi”.

Đợt tấn công vào Dominique 3 chỉ như một sự căng thẳng. Vị trí này do một lực lượng hỗn hợp lính Algeri và người Thái canh giữ. Đề cập tới cách cư xử trước đây của các đơn vị này, sở chỉ huy Điện Biên Phủ không hề có ảo tưởng gì về việc canh giữ vị trí này. Lòng tin đối với người Algeri và người bộ tộc Thái là rất ít. Nhưng những điều kỳ diệu của trận đánh lại hay thay đổi và khó đoán trước. Dưới sự tấn công của các trung đoàn Việt Minh, lính Algeri và một ít người Thái vẫn bám chắc vị trí và chiến đấu hết sức dũng cảm. Không hy vọng gì vào việc tăng quân và thiếu sự yểm trợ của pháo binh, lính Algeri và người dân tộc bảo vệ vị trí của mình bằng các loại vũ khí tự động, lựu đạn, lưỡi lê làm cho đối phương phải trả giá đắt cho mỗi đoạn đường hào. Sau nửa đêm, lực lượng này bị hết đạn và chịu những tổn thất nặng nề. 4 giờ ngày 2 tháng 5, sau 6 giờ chiến đấu liên tiếp, Thiếu tá Maurice Chenel, chỉ huy cứ điểm đã thông báo cho trung tâm Điện Biên Phủ rằng ở Dominique 3 không còn một ai có thể đứng vững để chiến đấu. Sau đó anh ta cắt dây liên lạc với bên ngoài và phá hủy đài phát của mình.

Ở phía Tây, Sư đoàn 308 Việt Minh đã tấn công Huguette 4 và Lily - một căn cứ bổ sung sau thất bại của Huguette 1. Lính dù Lê dương ở Huguette 4 đã phản kích thành công, lính Marốc ở Lily vẫn còn duy trì chiến đấu. Một cuộc tấn công lớn sau đó đã diễn ra ở Huguette 5. Hai Trung đoàn Việt Minh tấn công cứ điểm này từ phía Bắc và phía Tây trong khi vẫn còn 1/3 số quân dự bị. Trung uý De Stabenrath bị thương ngày 17 tháng 4 đã chỉ huy Huguette 5. Trung uý hải quân Boisbouvier - bị thương 3 lần cùng với 3 hạ sĩ và 25 lính dù Lê dương đang chiếm giữ vị trí này. Với hàng nghìn bộ đội tham gia vào đợt tấn công thì một người quan sát mục tiêu có thể được tha thứ vì cho rằng công việc canh giữ này sẽ kết thúc trong ít phút. Thay vào đó, lính Lê dương đã phải canh giữ trong một tiếng rưỡi năm sau, Trung uý De Stabenrath và lính của anh ta đã phải chiến đấu với Camerone riêng của họ.

Giờ đây tất cả mọi người ở Điện Biên Phủ đều rõ rằng họ đang chứng kiến một cuộc tấn công lớn của đối phương nhằm đè bẹp các pháo đài và đưa trận đánh tới hồi kết thúc. Các đợt tấn công ban đêm đã làm mất sức mạnh của toàn bộ một tiểu đoàn quân đồn trú. Thất vọng vì các đợt tăng cường quân, Điện Biên Phủ chờ đợi đợt nhảy dù theo kế hoạch của Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 1 - đội quân dù dự bị cuối cùng của Cogny. Đêm ngày 3 tháng 5, chỉ thấy sự có mặt của một đại đội thuộc tiểu đoàn này.

Một trung đoàn và 4 tiểu đoàn đã tấn công Huguette 4 ngay sau đêm 4 tháng 5. Đại uý Jean Lucciani của Tiểu đoàn dù Lê dương số 1 chỉ huy và cùng với lực lượng hỗn hợp lính dù và lính Marốc quyết tâm kháng cự. Một lần nữa, xác chết Việt Minh chất thành đống cao ở hàng rào thép gai. Lucciani bị thương nặng vào đầu kể lại thảm kịch đêm hôm đó bằng một câu nói đơn gian: “3000 người bọn họ chống lại 80 người chúng tôi”. Lúc 3 giờ 35, De Castries và tham mưu của ông ta là những nhân chứng hiếm hoi cho sự thất bại của Huguette 4. Một bức điện trên đài phát thanh của một sĩ quan còn sống sót thông báo với Trung tâm chỉ huy rằng chỉ còn mấy người là đang chiến đấu. Sau đó người nghe đài biết anh ta chết và anh ta còn bắn vào đài phát khi Việt Minh đánh vào tới đường hào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:11:13 pm »


Lúc 9 giờ ngày 4 tháng 5, Chuẩn tướng De Castries gửi một bức điện mật cho Thiếu tướng Cogny thông báo về sự thất bại của Huguette 4 và thương vong nặng nề của đối phương. Ông ta còn cho biết những tổn thất của ông ta là nghiêm trọng và chỉ ra rằng mặc dù ông ta đã lại yêu cầu nhưng người còn lại của Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 1 vẫn không được thả xuống. Toàn bộ đoạn còn lại của bức điện, một phân tích cụ thể của tình hình đã được trích lại:

Đồ dự trữ của chúng tôi còn rất ít. Trong 15 ngày chúng bị giảm dần từng ít một. Chúng tôi không có đủ đạn để ngăn chặn các đợt tấn công hoặc hoả lực quấy nhiễu của đối phương. Rõ ràng rằng không một nỗ lực nào được thực hiện để cứu vãn tình hình. Các chuyến thả dù ban đêm phải bắt đầu lúc 20 giờ thay vì 23 giờ. Buổi sáng do sương mù lên phải có kế hoạch thả dù vào ban đêm. Tôi cần dựa hoàn toàn vào các nguồn dụ trữ với số lượng lớn. Thực tế, các đơn vị của chúng tôi không thể rời căn cứ của mình mà không chịu ảnh hưởng hỏa lực của lính bắn tỉa và của súng không giật nghĩa là ngày càng nhiều trường hợp không hồi phục lại được. Thiếu xe chở, thiếu phu khuân vác buộc tôi phải sử dụng các đơn vị còn đang rất mệt mỏi cho các mục đích hồi phục. Kết quả thật tồi tệ. Nó còn gây ra nhiều tổn thất. Tôi không thể hy vọng khôi phục lại một nửa những gì đã được thả xuống. Nhưng số lượng gửi tới cho tôi hiện tại chỉ là một phần rất nhỏ so với yêu cầu. Tình hình này không thể tiếp tục như thế. Tôi cho rằng, một lần nữa về vấn đề tuyên dương, tôi lại không có gì để động viên tinh thần binh lính của mình, những người đang phải hoàn thành công việc siêu nhân. Tôi không dám nhìn họ mà trong tay chẳng có gì.

Lời đề nghị này đã tới Hà Nội vài ngày sau khi hàng không mẫu hạm Belleau Wood tới Vịnh Bắc Bộ. Hàng không mẫu hạm này do hải quân Mỹ cho Pháp mượn và do một người Pháp lái chở các máy bay ném bom phi đội 14-F hiệu Corsair do Mỹ chế tạo. Những máy bay cánh cụp này đã chứng tỏ hiệu quả của nó trong những chuyến yểm trợ mặt đất cho Tập đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ trong Thế chiến II và trong chiến tranh Triều Tiên. Mặc dù các phi công Pháp đã quen với Corsair, song sở chỉ huy của Cogny vẫn mong chờ họ ủng hộ cho nỗ lực không quân ở Điện Biên Phủ và tạo thêm sức mạnh hiệu quả của hải quân. Điều này là không thể vì phi đội 11-F hiệu Hellcats từ hàng không mẫu hạm Arromanches đã thực hiện mọi hoạt động của hải quân trên khắp Điện Biên Phủ. Phi đội này đang phải chịu đựng sự quá tải của trận đánh. 6 trong 20 phi công đã bị chết, những người còn lại hoặc đã lao máy bay của họ xuống đất hoặc đưa chúng trở về với những thiệt hại do hoả lực phòng không gây ra. Thừa nhận sự căng thẳng về cả phi công và máy bay, tư lệnh không quân đã phải dựa cả vào phi đội này. Cho dù thế nào thì vấn đề này cũng không thể tới vào đúng lúc tồi tệ nhất được.

Ngày 3 tháng 5, các sĩ quan của phòng tham mưu của Tướng Cogny được yêu cầu chuẩn bị một kế hoạch tối mật cho nỗ lực phá vây của quân đồn trú ở Điện Biên Phủ. Sự nhạy cảm của vấn đề, hậu quả nghiêm trọng của bất kể sơ hở nào tạo ra đòi hỏi một nỗ lực an toàn đặc biệt. Kế hoạch, với một mật danh không may là cuộc chiến Albatross, cũng thể hiện đủ sự giản đơn. Những người sống sót còn khả năng phải vượt qua phòng tuyến của đối phương về hướng Đông Nam lúc nhá nhem tối, dưới sự yểm trợ của hoả lực pháo binh, không quân và súng lục của những người bị thương nặng. Những người bị thương nặng và nhân viên bệnh viện sẽ được để lại phía sau. Mỗi người chỉ mang theo vũ khí cá nhân và khẩu phần ăn trong 4 ngày. Những người bỏ trốn sẽ vượt qua rừng tới một điểm hẹn với lực lượng của Cuộc hành quân Condor gần Mường Nhạ vào khoảng ngày 20 tháng 5. Các nhóm biệt kích sẽ trợ giúp cho chiến dịch. Kế hoạch này cảnh báo lính biệt kích GCMA (GMI) không được chỉ dẫn cho quân đồn trú rút về phía các vùng có các nhóm quân du kích khác chiếm đóng ở khu vực Tây Bắc vì như thế sẽ làm cho đối phương phát hiện ra vị trí. Ngoài ra, còn phải hình thành các kho nhỏ chứa đồ dự trữ dọc tuyến đường rút lui như chứa đồ ăn, thuốc men. Những kho chứa này phải được lính biệt kích và người bộ tộc - những người có thể dẫn đường, bảo vệ.

Thời gian phá vây do Chuẩn tướng De Castries quyết định. Có một phút nghi ngờ rằng vị chỉ huy của Điện Biên Phủ sẽ là người tốt nhất để quyết định thời khắc cho nỗ lực này. Nhưng vào thời điểm này của trận đánh thì một trách nhiệm như thế lại thực sự là một Albatross. Được chỉ định chống lại đến phút cuối cùng mà không được phép nghĩ tới thất bại, De Castries giờ đây đang phải đối mặt với việc chuẩn bị cho một đợt phá vây thử nghiệm mà không làm hoảng loạn tới tinh thần của binh lính.

Đại tá De Crèvecoeur được Tướng Navarre thông báo rằng thời tiết xấu và các như cầu của Điện Biên Phủ đã làm tiêu tan các cơ hội của đội quân trong Cuộc hành quân Condor khi đang nhận quân tăng cường theo cam kết trước 8 ngày. Sau đó, Navarre để lại đợt hành quân tiếp theo cho Đại tá De Crèvecoeur. Trong một tình hình bất ổn như vậy đội quân phá vây phải ngừng lại và tiếp tục vị trí phòng thủ ở bờ Bắc của sông Nậm Rốm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:11:51 pm »


Ngày 5 tháng 5, Đại tá Langlais ở Isabelle được thông báo về kế hoạch phá vây. Quân đồn trú ở Isabelle đã phải tham gia vào trận đánh giành cứ điểm Wieme cho tới khi các cuộc phản kích phải trả giá đắt. Pháo binh Việt Minh hiện đang tập trung để hạ bệ pháo binh của Isabelle. Lalande cho rằng cuộc chiến phá vây Albatross yêu cầu quân đồn trú ở Isabelle cầm cự đủ thời gian để bảo vệ cho đợt rút lui, sau đó tạo thành một đội quân phía sau. Sức nặng để quyết định thời điểm cuối cùng đang đè nặng lên vai Lalande.

Không phải tất cả các sĩ quan tham mưu, những người thảo ra kế hoạch phá vây trong các văn phòng có trần cao của pháo đài đều tán thành với kế hoạch. Trong tiếng lách cách của máy chữ, tiếng chuông điện thoại reo và tiếng chạy vội của những người đưa điện, họ nhìn ra ngoài của sổ có vệt nước mưa dưới ánh đèn của Hà Nội và suy nghĩ về số phận của Điện Biên Phủ. Họ biết rõ những gì mà đồng đội của họ đang phải chịu đựng. Hầu hết đều đau đớn nhận thấy khoảng trống rộng lớn giữa những gì đang diễn ra trên chiến trường và những hàng chữ ngay ngắn họ vừa đánh trên trang giấy. Sự lo ngại của Đại tá Bastiani, Tham mưu trưởng của Cogny, người đã phản đối cuộc hành quân Castor hồi tháng 11 năm 1953, đã thể hiện rõ trong một chú thích ngày 3 tháng 5:

Đại tá Bastiani, Tham mưu trưởng lực vượng mặt đất miền Bắc Việt Nam cho rằng Cuộc hành quân này liên quan tới mạng sống của 8000 binh lính và danh dự của quân đội Viễn chinh, Viễn Đông.

Vấn đề thực đã không phải đối mặt là đợt phá vây từ lòng chảo Điện Biên Phủ. Đợt phá vây lần này có thể được quan niệm vừa lớn lại vừa nhỏ.

Tuy nhiên, đánh giá về sự mệt mỏi của quân đồn trú, bản chất của địa hình, và lực lượng sẵn có của đối phương, ông ta tin rằng dù trong trường hợp nào thì đợt phá vây này sẽ được biến thành một chuyến lao vào rùng rợn, một sự thất bại mà chỉ ít người trốn được.

Cho tới giờ, những lính phòng thủ của Điện Biên Phủ vẫn phủ lên người họ bằng một “thắng lợi”, họ nhận được lời tán dương của Thế giới Tự do. Chúng ta không có quyền làm ô danh thắng lợi đó.

Vì lý no đó, ông ta kiên quyết phản đối việc thực thi một kế hoạch như vậy.


Không chỉ có một mình Bastiani phản đối cuộc chiến. Nhưng bất chấp sự phản đối của Bastiani, cuộc chiến Albatross xuất hiện là niềm hy vọng cuối cùng của quân đồn trú.

Bệnh viện của Thiếu tá Grauwin giờ đã trở thành một địa ngục. Hoả lực pháo binh bắn trực tiếp vào các hầm và boongke của bệnh viện làm cho nó không thể nào sạch được mùi hôi thối của đám chất thải. Lính dù, lính Lê dương, lính Algeri, lính Marốc, Senegal, Việt Nam và Việt Minh bị thương cùng chung những chỗ ở chật chội, chân gác lên nhau. Một số người nằm trên những chiếc cáng ngoài trời, dưới mưa chờ xác chết được dọn đi. Bùn lầy của sàn bệnh viện cao tới bắp chân đã làm cản trở công việc của các y, bác sĩ. Một đống tay, chân, bàn tay bị rời ra được phủ lớp vôi giống như công việc của một số nhà điêu khắc điên loạn. Từ khi bắt đầu có gió mùa, mưa càng làm tăng độ ẩm ướt, Grauwin và nhân viên của anh ta đang phải chiến đấu với một loại bệnh dịch hoại thư. Sau này, anh phát hiện ra một hiện tượng mới: những người không bị thương tham gia mang vác hàng tiếp tế và đạn dược tới các cứ điểm đang suy sụp bị chết mà không có triệu chứng gì khác ngoài mệt mỏi - một tình huống đã tạo ra một thực tế rùng rợn với cụm từ “chết vì mệt”. Grauwin, miêu tả tình trạng những người bị thương và điều kiện quá tải không thể chấp nhận được của bệnh viện, đã cầu xin Bigeard chấm dứt sự tàn sát này. Tuy nhiên, Bigeard nói với Grauwin phải làm quen với công việc này trong khi Bigeard và lính của anh ta vẫn đang tiếp tục công việc.

Hoả lực trọng pháo thường là yếu tố quyết định trong việc phá vỡ các cuộc tấn công của đối phương và tạo sự yểm trợ cho các đơn vị của Pháp. Một số binh lính chiến đấu của Pháp đang mặc những chiếc áo giáp phòng đạn của Mỹ cung cấp. Nặng nề và khó chịu, những chiếc áo này tạo cho người ta cảm giác an toàn về tâm lý hơn là bảo vệ cơ thể. Người ta có thể đoán được bảo nhiêu cái đã rơi vào tay Việt Minh nhờ vào những thùng hàng rơi sai vị trí.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 12:12:22 pm »

Ngày 5 tháng 5, Đại uý De Bazin de Bezon, chỉ huy Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 1 đã nhảy xuống Điện Biên Phủ cùng với nhóm của sở chỉ huy và một đại đội (-). Sốt ruột vì bị chậm ở Hà Nội do thời tiết và sự xáo trộn mà tiểu đoàn của anh ta đang bị đẩy vào một trận đánh nhỏ giọt anh ta đang trong một trạng thái không lối thoát. Bigeard đã miêu tả sự có mặt của De Bazin ở bốt chỉ huy của Langlais:

De Bazin nói với chúng tôi: “Họ đưa chúng ta tới đây làm cái quái quỷ gì thế này? Mọi thứ đều mất và binh lính của tôi đã rất mệt mỏi”. Tôi trả lời - “Câm đi!” Langlais chồm lên và chửi mắng – “Chúng tôi không hỏi ý kiến của anh, nhưng anh phải chiến đấu với những người con lại của chúng tôi”. Sáng hôm đó, De Bazin bị một viên đạn sượt vào bắp đùi. Tốt nhất hãy lạc quan!

Ngày 5 tháng 5, binh lính của De Bazin nhận quyền kiểm soát các khu phòng thủ của Eliane 2 từ lính Lê dương của Tiểu đoàn số 1 Bán Lữ đoàn 13. Vì thế đám lính dù đã kế nhiệm một số vấn đề phiền phức. Trong nhiều ngày, Việt Minh đã đào đường hầm dưới Eliane 2. Công việc diễn ra thường xuyên. Lính Lê dương, những người đã nghe được tiếng nện thình thịch, tiếng cào đất hàng ngày, đã hiểu rõ rằng một sự yên lặng bất chợt có nghĩa là mìn sắp nổ. Họ không ngần ngại chuyển giao công việc cho những người kế tiếp. Giờ đây những lính dù không dễ gì trở thành những người chỉ biết nghe trong khi đang cố gắng một cách vô vọng để tìm lối vào của các công binh.

Các chi tiết của cuộc chiến Albatross đang được thảo luận ở hầm chỉ huy của De Castries. Vị tướng này đã quyết định ở lại Điện Biên Phủ với những người bị thương. Langlais, Bigeard và những người chỉ huy chiến đấu khác phải vượt qua chiến tuyến của Việt Minh và tiến thẳng sang Lào với sự dẫn đường của một số lính dù. 50 km về phía Đông Nam, đội quân Crèvecoeur vẫn đang trong vị trí. Đó là một sự chờ đợi căng thẳng. Các nhóm biệt kích báo cáo sự đụng độ với đối phương và các tin tức về các hoạt động của Việt Minh với quy mô lớn trên hướng tiến của họ ngày càng tăng. Để đánh lạc hướng Việt Minh nghe trộm sóng phát, cuộc chiến phá vây đã được làm lễ đặt lại tên là cuộc chiến Ariège và Cuộc hành quân Condor đã đi vào lịch sử.

Trong khi bộ phận tham mưu của De Castries đang chuẩn bị cho kế hoạch phá vây Cogny nhận được một bản báo cáo tối mật 4 trang từ Trung tá Levain, sĩ quan tình báo của ông ta, báo cáo dự đoán trước phản ứng của đối phương với kế hoạch phá vây và phân tích các biện pháp đối phó.

Levain chỉ ra rằng việc phá huỷ các khẩu canon, cối và xe tăng trước khi tiến hành phá vây sẽ kéo theo sự tập trung của các lực lượng Việt Minh quanh Điện Biên Phủ và cũng sẽ làm cho quân đồn trú không có phương tiện tự vệ nếu cuộc phá vây không thành. Trong trường hợp đó, Việt Minh sẽ có lợi từ ưu thế về hoả lực cộng với sự quen biết địa hình, điều kiện thể trạng và tinh thần. Levain thận trọng cho rằng nếu việc rút lui không được điều khiển tốt thì binh lính sẽ tràn qua hàng rào thép gai và có thể sẽ nhanh chóng chuyển thành bại. Trong trường hợp đó, Việt Minh sẽ sớm đưa ra chiến dịch tuyên truyền bằng việc sử dụng những binh lính bị bắt để làm to chuyện. Levain còn cảnh báo nếu có một số sĩ quan cao cấp trong đám người trốn chạy, Việt Minh sẽ công bố rằng những sĩ quan này đã bỏ rơi binh lính của mình và họ sẽ được phía Việt Minh tin tưởng. Ông ta còn nhấn mạnh rằng báo chí Pháp sẽ được thông báo chi tiết về những gì đã diễn ra và sẽ “đưa tin về câu chuyện ấy không chút thiện ý”. Trung tá nhớ lại chủ nghĩa anh hùng mà quân đồn trú đã thể hiện cho tới giờ và kết luận “Sẽ thật đau lòng khi chứng kiến một thắng lợi quân sự như thế bị ô danh bằng một sự kiện đáng buồn như vậy”. Nhưng sự phân tích thẳng thắn của Levain đã tới quá muộn. Thiếu tướng Cogny đã khẳng định lại rằng De Castries sẽ ra quyết định cuối cùng về cuộc chiến Albatross. Sau đó bức điện tương tự đã tới Điện Biên Phủ xoa dịu vấn đề bằng cách nói rằng giá trị của cuộc kháng cự trường kỳ tại chỗ vẫn còn là nhiệm vụ vinh quang của De Castries.

Tướng Giáp viết:

Những dấu hiệu rõ ràng buộc chúng ta phải tin rằng bằng bất cứ giá nào đối phương đều muốn phá vây và mở đường rút lui... Chúng ta sẽ theo sát những kế hoạch và sự chuẩn bị của đối phương, giao cho các đơn vị chiếm giữ các phòng tuyến phía Tây, kiểm soát chặt chẽ mọi tuyến đường và đường mòn nối Điện Biên Phủ với đường biên giới Lào - Việt Nam.

Ngày 6 tháng 5, gần 3000 bính lính chiến đấu vẫn đang đi lại trên các tuyến đường. Họ mệt mỏi vì thiếu lương thực. Họ thực hiện những gì mà các cựu chiến binh Mỹ đã làm trong các cuộc hành quân bình định trong Thế chiến II được gọi là “cái nhìn 457 mét”, một cài nhìn căm thù, tập trung vào các phòng tuyến của đối phương. Ở Điện Biên Phủ, cái nhìn tương tự đã giảm xuống còn 9 hoặc 15 mét. Họ nhúng mũ xuống dòng nước sông bị ô nhiễm, bốc mùi để chống lại cơn buồn ngủ nặng trĩu đầu. Mặc cho điều kiện cơ thể kém và những gian khổ triền miên, họ vẫn chiến đấu với lòng kiên cường. Lúc hoàng hôn, họ lặng lẽ nhìn 91 binh lính của Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 1 được thả xuống các vị trí. Những lính dù này sẽ là đợt tăng cường quân cuối cùng tới Điện Biên Phủ.

Ngày 6 tháng 5 cũng là ngày được chứng kiến cái chết của một huyền thoại James. B. Mc Govern - một trong những phi công CAT điều khiển các chuyến bay C-119 chở hàng tiếp viện tới Điện Biên Phủ. Người phi công này rất nổi tiếng ở Viễn Đông vì những chiến công bay của anh, anh còn có tài về ăn uống vì thế cái tên của anh đã rất quen thuộc với những nữ tiếp tấn quán bay từ Đài Loan tới Sài Gòn. Trước Điện Biên Phủ, người ta thường thấy anh ta diễn thuyết ở các bàn ăn trong một nhà hàng ở Hồng Kông, ngồi xung quanh là những nhân viên kỹ thuật CAT, những nhân viên CIA và nhiều nhân vật khác. Từ khi lái những chuyến bay tiếp viện dưới làn hoả lực, anh ta thường mắng chửi một số phi công Pháp vì tính do dự và không hiệu quả khi tấn công lại các khẩu đội pháo phòng không của Việt Minh.

Sáng ngày 6 tháng 5, bầu trời Điện Biên Phủ sáng trong và có rất nhiều máy bay. Máy bay chiến đấu ném bom và vận tải đang tận dụng cơ hội thời tiết đẹp để tấn công Việt Minh và phân phát các thùng hàng được thả xuống. Mc Govern đang lái một chuyến bay chở đầy đạn. Khi anh ta bắt đầu thả hàng, chiếc C-119 rung lên vì trúng phải một quả đạn phòng không 37 ly và một trong 2 động cơ bị chết. Phát thứ hai làm chiếc máy bay vận tải quay tròn và lao thẳng xuống đất cạnh phòng tuyến của Việt Minh, 6 tấn đạn nổ tung tạo ra một cột khói khổng lồ. Ngày 7 tháng 5, một bức điện từ Hội đồng tư vấn của Mỹ ở Hà Nội thông báo với Bộ ngoại giao rằng đoàn đại biểu của Pháp cho biết “một chiếc C-119 bị hỏa lực phía Nam của Điện Biên Phủ bắn rơi ngày hôm qua. Toàn bộ nhân viên trên máy bay gồm cả 2 phi công CAT người Mỹ (không biết tên) và 2 người Pháp đã thiệt mạng”. Mc Govern và Wallace Buford (phi công phụ) sẽ là những người Mỹ duy nhất chết ở Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:03:04 pm »


KHÔNG CÓ CỜ TRẮNG


“… Tôi không nghĩ rằng thế giới tự do này phải xoá bỏ Đông Dương”.

Tổng thống Dwight D. Eisenhower



Một tiếng động bất ngờ vang lên dữ dội làm người ta hoảng loạn tinh thần. Tiếng động ấy tắt ngấm khi có những tiếng nổ phát ra. Trong vòng vài giây tiếng động ấy lại tiếp diễn và một loạt bom kế tiếp nhau rơi xuống các khu phòng thủ của Điện Biên Phủ. Cuối trưa ngày 6 tháng 5, Việt Minh đã không che giấu kế hoạch “Stalin Organ” của họ. Những bệ phóng rốc két Kachusa 12 nòng làm người ta phải kinh ngạc, đó là những vũ khí được Liên Xô sử dụng có hiệu quả để chống lại quân Đức trong Thế chiến II, những cỗ máy tử thần mà các cựu chiến binh Wehrmacht của chiến tuyến miền đông còn bị ám ảnh trong những cơn ác mộng.

Binh nhất Blondeau nhớ lại: “Kinh nghiệm tồi tệ nhất của tôi ở Điện Biên Phủ là loạt bom đầu tiên từ “Stalin Organ”. Nó như một chuyến tàu vụt qua. Những quả rốc két rơi xuống sở chỉ huy”. Những tên lửa có sức công phá lớn này lao vào không trung, gây thêm nhiều thương vong, phá huỷ hoàn toàn các công sự bằng đất, làm nổ tung những kho trữ đạn và làm mất phương hướng của lính canh phòng còn lại ở Điện Biên Phủ. Không được sự trợ giúp của các khẩu đội rốc két mới đến, pháo binh của Việt Minh đã tham gia vào đợt tấn công ồ ạt. Màn trình diễn kế hoạch “Giai đoạn 3” của Tướng Giáp đã bắt đầu: Chiếm cứ điểm cuối cùng phía Đông và các căn cứ mới hình thành, giảm bớt phạm vi và không gian của đối phương, gây áp lực lớn lên cứ điểm trung tâm, tiến hành một cuộc tổng tấn công và tiêu diệt hoàn toàn đối phương.

Sáng sớm hôm đó, quân đồn trú của Điện Biên Phủ nhận ra rằng thời gian của họ đã hết. Pháo binh ở vị trí trọng yếu thiếu đạn tới mức 7 khẩu đại bác 105 ly còn lại không tới 1.000 viên đạn. Các chỉ huy cứ điểm được cảnh báo rằng không có quân tăng cường để đẩy lui các đợt tấn công mới và binh lính trong các hầm hào vẫn bị thiếu đạn, lựu đạn. Đúng là mọi việc không thể tồi tệ hơn. Hiện tại, đang cố tìm kiếm chỗ trú ẩn vì một cơn bão đột ngột, những người lính mới biết rằng họ đã bị sai lầm.

Sau 2 giờ bắn pháo và hoa tiễn, Việt Minh bắt đầu tấn công. Bộ đội tiến lên phía trước theo các nhóm lớn cùng với những tiếng hô “tiến lên!”, “mau lên!” của các cán bộ và sĩ quan. Đầu tiên họ tấn công vị trí then chốt của Eliane 2. Ở đó, Đại uý Jean Pouget triệu tập đủ pháo binh để ngăn chặn cuộc tấn công có khoảng 200 quân của đối phương không tính tới những người phân tán quanh cứ điểm. Sau đó đến lượt Claudine 5. Một cuộc phản công của lính bắn tỉa Lê dương đã đẩy lui được đoàn quân đối phương đang tràn tới. Lính canh giữ Eliane 2 báo cáo công việc đào đất dưới vị trí của họ tạm ngừng lại. Cuộc tấn công giờ đã trở thành cuộc tổng tấn công. Một nhóm nhỏ người Việt sống sót từ Bawouan 5 đang ngăn chặn một trung đoàn bộ đội tiến vào Eliane 4 và những người còn lại của tiểu đoàn Bigeard đang phải chịu áp lực lớn ở Eliane 10. Langlais và Bigeard đang cố hết sức để giải quyết những vấn đề xáo trộn nguồn nhân lực còn lại và chống đỡ lại sức mạnh dữ dội của đối phương. Các trung đội và đại đội bị tàn sát đang cố gắng để tới được các cứ điểm. Chỉ còn một nhóm pháo binh là đang chiến đấu ở Isabelle.

Lúc 23 giờ, 2 tấn thuốc nổ chôn dưới Eliane 2 phát nổ, làm rung chuyển mặt đất. Đi cùng với nó là các loại vũ khí trang thiết bị, các bộ phận cơ thể con người, đất đá và hàng đống rác thải. Toàn bộ đại đội từ Tiểu đoàn dù Thuộc địa số 1 dường như biến mất cùng tiếng nổ. 5 người sống sót tiếp tục kháng cự, phóng thẳng hoả lực về phía đối phương đang tiến lên. Chờ đợi một số quân tăng cường như đã được hứa, Đại uý Pouget cùng với đám lính còn lại của mình thực hiện đợt phản công để đẩy đối phương tới bờ vực của các hố bom. Rạng sáng, còn có 30 người ở Eliane 2, Pouget cố gắng bắt liên lạc để xem điều gì đã xảy ra với đám quân xin tăng cường và xin phép được lập tức rút về Eliane 3 (cứ điểm A3). Cuối cùng anh ta đã gặp Michel Vadot ở sở chỉ huy của De Castries và được biết số quân tăng cường mà anh ta yêu cầu đã bị điều động tới vị trí khác. Vadot không đồng ý với yêu cầu rút quân của Pouget. Anh ta nói với Pouget: “Rốt cuộc, là một lính dù anh phải chiến đấu tới hơi thở cuối cùng... hoặc ít ra cho tới tận sáng mai”.

Pouget trả lời: Tôi hiểu. Sau khi thông báo với Vadot rằng anh ta sẽ phá huỷ máy thu của mình, Pouget nhận được một thông điệp của Việt Minh cho biết họ đã nghe được cuộc nói chuyện của anh ta. Một giọng nói bằng tiếng Pháp nói anh ta khoan hãy phá huỷ để nghe một chương trình hoà nhạc có nói tới Chủ tịch Hồ Chí Minh. Pouget tức giận ném chiếc máy thu vào lửa để kết thúc chương trình hoà nhạc không hề mong muốn. Sau khi ném quả lựu đạn cuối cùng, anh ta bị ngã xuống bất tỉnh vì một tiếng nổ gây chấn động và bị bắt. 2 trung sĩ đang điều khiển một súng máy hạng nặng ở Eliane 2 đã phải chiến đấu tới khi mệt lả.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:03:41 pm »


Bi kịch tương tự như thế đã diễn ra trên toàn pháo đài. Dưới đây là một đoạn trong phần báo cáo tình hình của văn phòng Cogny:

Điện Biên Phủ - Đêm ngày 6-7 tháng 5

22h15

Pháo 105 ly, 75 ly và cối oanh tạc dữ dội toàn bộ cứ điểm, đặc biệt là Eliane, khu vực pháo binh và bốt chỉ huy.

Hoả lực tăng cường quấy nhiễu ở Isabelle (3 súng bị hỏng, ngừng hoạt động)

Việt Minh tấn công vào toàn bộ phía đông của Điện Biên Phủ.

24h00

Đạn hết, còn lại 500 viên của pháo 120 ly.

Tình hình ở Eliane 2 hỗn độn

Claudine 5 (cứ điểm 310 - Nà Noọng) bị tấn công

Juno bị tấn công

Pháo binh    - Ở Điện Biên Phủ: 7 thẩu 105 ly vẫn đang hoạt động

- Ở Isabelle: 1 khẩu còn hoạt động

2h00

Đạn: đạn cho cối 120 ly thiếu

Một số đơn vị vẫn chiếm giữ Eliane 2 và một phần của Eliane 10

Claudine cần phải được sơ tán - một lực lượng chặt đánh đang chiếm giữ các đường hào gần hàng rào thép gai

Pháo binh ở Isabelle và Điện Biên Phủ mất tác dụng

Cố gắng chặn đứng các hoạt động ở Eliane 10

4h00

Tình hình không có gì thay đổi

Chiến đấu giáp lá cà bên trong Eliane 2 và 10

Pháo binh quấy nhiễu Điện Biên Phủ và Isabelle

Các dấu hiệu chỉ ra Việt Minh lại thực hiện các đợt tấn công vào phía đông của Điện Biên Phủ

6h00

Eliane 2 thất thủ lúc 4h00. Các đơn vị cuối cùng không được cung cấp đạn pháo

Chuẩn bị cuộc phản công vào Eliane

Tóm tắt tình hình lúc rạng đông

Eliane 2, Claudine 5 thất bại

Chiến đấu tiếp tục diễn ra ở Eline 10

Việt Minh bị đuổi khỏi Eliane 4 nơi họ tự thiết lập căn cứ

Triển khai phản công để chiếm lại Eliane 2

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM