Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:16:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66595 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2009, 10:10:49 pm »


Tuyên bố ngày 8 tháng 12 năm 1943

Ngày 8/12/1943, nhân kỷ niệm lần thứ hai ngày xảy ra cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, chính phủ Alger (CFLN - Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp) công bố một bản thông cáo chính phủ về Đông Dương. Bản thông cáo khẳng định những điểm chính sau đây:

“Mưu đồ chiến tranh và xâm lược do Nhật Bản tiến hành nhằm đặt nền thống trị của họ lên những vùng tự do của Viễn Đông và Thái Bình Dương, năm 1940 đã đổ ập xuống Đông Dương Thiếu viện trợ từ bên ngoài..., Đông Dương buộc lòng phải chịu đựng các yêu sách của kẻ thù....Trước hành vi xâm chiếm và bạo lực đó, nước Pháp tự do đã không hề chịu cúi đầu. Ngày 8/12/1941, Ủy ban dân tộc Pháp tuyên bố ở trong tình trạng chiến tranh với Nhật sau ngày Nhật tấn công vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbour). Nước Pháp trịnh trọng bác bỏ mọi hành vi và mọi nhượng bộ đã được ký kết bất chấp các quyền và lợi ích của nó. Đoàn kết chặt chẽ với Liên hiệp quốc, nước Pháp sẽ tiếp tục chiến đấu bên cạnh Liên hiệp quốc cho đến ngày kẻ xâm lược thất bại và toàn bộ lãnh thổ Đông Dương được giải phóng.

“Đồng thời với việc luôn luôn ghi nhớ thái độ cao thượng và trung thực của các vị Quốc vương đương trị của Đông Dương, nước Pháp cũng sẽ ghi tạc mãi mãi thái độ kiên cường và thẳng thắng của các dân tộc Đông Dương, cuộc kháng chiến mà họ đã tiến hành bên cạnh chúng ta chống Nhật Bản và Thái Lan, cũng như tấm lòng thủy chung gắn bó của họ đối với cộng đồng Pháp. Với các dân tộc đã biết cùng một lúc biểu hiện tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm chính trị của mình, nước Pháp thỏa thuận ban hành, trong nội bộ khối cộng đồng Pháp, một quy chế chính trị mới theo đó, trong khuôn khổ của tổ chức liên bang, những quyền tự do của các nước trong Liên bang sẽ được nới rộng và khẳng định; tính chất tự do rộng rãi của các tổ chức sẽ được nổi bật mà không hề mất đi dấu hiệu của nền văn minh và truyền thống Đông Dương; những người Đông Dương có thể đi vào bất cứ công việc làm nào và chức vụ nào của Nhà nước.

“Phù hợp với sự cải cách quy chế chính trị ấy, sẽ có một cuộc cải cách quy chế kinh tế của cả Liên bang - cuộc cải cách này đặt trên cơ sở chế độ hải quan và thuế khóa tự trị, đảm bảo sự phồn vinh và góp phần vào sự phồn vinh của các nước láng giềng.

“Quan hệ hữu nghị và láng giềng tốt với Trung Hoa và sự phát triển những quan hệ tinh thần và kinh tế của chúng ta cuối cùng cũng sẽ hứa hẹn cho Đông Dương, trong cái vai trò sẽ trở thành của nó, một tương lai vững chắc và thịnh vượng.

“Nước Pháp mong muốn theo đuổi bằng sự liên kết tự do và thân mật với các dân tộc Đông Dương, sứ mệnh mà nó phải gánh vác trong vùng Thái Bình Dương là như vậy”
(5).

Gần như ngay lập tức sau đó, DFLN Alger đã gửi qua con đường Trung Quốc những chỉ thị cho mạng lưới quân sự kháng chiến tại Hà Nội. Nhưng trong bức thư ngày 29/2/1944 gửi tướng Mordant, chỉ huy tối cao quân đội Đông Dương, De Gaulle đã xử sự như thể Đông Dương cũng giống như nước Pháp chính quốc chỉ cách không bao xa những căn cứ Đồng minh và đầy dẫy những con người yêu nước (6). Những người theo phái De Gaulle, cũng như những người theo Chính phủ Vichy, tưởng đâu có thể đặt niềm tin tưởng trọn vẹn vào “sự trung thành của người dân Đông Dương”.

Vậy là cái điểm quán triệt trong toàn bộ các dự kiến “trở lại” Đông Dương, “khôi phục” chủ quyền, các quyền, toàn vẹn đất đai hay toàn vẹn đế quốc Pháp - chính là cái tư tưởng “Nước Pháp là Trung tâm” tuyệt đối, ít nhiều không thích hợp với bối cảnh châu Á. Vụ thuộc địa ở Alger làm việc về Đông Dương với những viên “quan cai trị dân sự” và các sĩ quan “quân đội thuộc địa”, đúng hệt cái mà sáu mươi năm qua, từng là chính sách “châu Á” của nước Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2009, 10:13:51 pm »


Một quan niệm đế quốc tự do

Thực ra, cái chính sách trong vùng ấy của Pháp xuất phát từ một quan niệm kỳ cục về thực tế và từ sự máy móc chính trị tại Đông Dương. Cái bề ngoài hào nhoáng, đôi khi dễ đãi và ít nhiều có tính chất lãng mạn được giới thiệu với dư luận Pháp và với dư luận thế giới, cả với giới trẻ Pháp nữa, che giấu một thực tế khác xa; thực tế đó từ nửa thế kỷ nay, chỉ duy nhất những nhà quan sát nào vừa có ý thức lịch sử vừa có một chút tối thiểu tinh thần độ lượng và văn hóa, có can đảm và cả lòng kiên trì để tìm kiếm bên ngoài những hình ảnh Epinal1 của sự tuyên truyền thực dân và của chủ nghĩa vọng ngoại, mới phát hiện ra được.

Và trước hết, phải chăng cũng nên tự đặt một câu hỏi về giá trị của quan niệm đế quốc của nước Pháp? Kể từ cuộc cách mạng 1848 (có thể ngay từ cuộc cách mạng 1789) nước Pháp đã hoàn toàn chấp nhận, không một hạn chế nào, cái quan niệm mang tính tư tưởng hệ về một Đế quốc kiểu La Mã và theo tinh thần chỉ dụ Caracalla2. Trong cái ảo tưởng đó, nước Pháp đã thông báo với thế giới “những quyền con người và quyền công dân”, có một sứ mệnh vừa là giải phóng vừa là khai hóa văn minh. Nó là Tự do, theo định nghĩa. Kết quả là một khi hòa nhập vào đế quốc Pháp rồi, một dân tộc không thể nào có lý do chính đáng để mong muốn tách ra khỏi đế quốc, đòi hỏi độc lập dân tộc, bởi vì độc lập sẽ làm cho dân tộc ấy lại rơi vào “những bóng tối của bên ngoài”. Nó chỉ có thể tiến bộ bên trong hệ thống Pháp, ngày càng có nhiều tự do cá nhân, nhiều quyền chính trị, nhiều văn hóa và cuộc sống sung túc hơn. Mỗi cá nhân chỉ còn có thể ước vọng trở thành công dân sung mãn của cộng đồng chính trị Pháp - biểu hiện cao nhất của nền văn minh nhân loại, “Tân La Mã”.

Trong khuôn khổ ấy, sự “giải phóng” chỉ liên quan đến những cá nhân, hoặc những tập thể địa phương cơ sở (xã, tỉnh) mà loại trừ các dân tộc hoặc các quốc gia ra ngoài. Đối với các dân tộc, (người ta thường dùng chữ “các dân cư”) thì người ta chỉ có thể nghĩ tới một sự mở rộng “các quyền tự do” (dân chủ) và một sự “kết hợp” (với cái gì? quyền lực ư?) lại còn “trong những giới hạn sẽ quy định”. Kết quả là, trái với những sự kiện đã xảy ra tại Ấn Độ với người Anh, hoặc tại Philippines với người Mỹ, không có một triển vọng thay đổi hoặc diễn biến chính trị nào ở nước tự trị hoặc khối Liên hiệp... được mở ra tại Đông Dương: ở đây chưa bao giờ đặt ra vấn đề chế độ tự trị hoặc chỉ “quyền tự quyết chính trị” cho người Việt Nam hoặc cho người Campuchia cả. Nhiều lắm là khi cần thì cho họ tham gia vào việc hành chính của Pháp ở các nước Đông Dương và ban cho chính phủ này một ít quyền tự trị hải quan.

Nước Pháp không quy định một thời hạn nào cho “sứ mệnh khai hóa văn minh” của nó và người Annam có thể nếu không có chuyện gì đáng kể xảy ra, chịu đựng cái “sứ mệnh” đó suốt một nghìn năm như họ đã chịu đựng “sứ mệnh khai hóa văn minh” của Trung Hoa ngày xưa đối với họ vậy. Người ta đòi hỏi người Annam phải tin tưởng (một cách mù quáng) vào nước Pháp bởi vì nước Pháp, theo định nghĩa, là chính sự độ lượng, sự trật tự và sự tiến bộ, và người ta chỉ có thể ngưỡng mộ nước Pháp hơn tất cả các nước khác, có nghĩa là đi với Pháp mãi mãi.

Cũng dễ hiểu rằng, với một quan niệm như vậy, người Pháp rất ít chuẩn bị (và ít sẵn sàng) chờ đón những cuộc đổi thay... nhất là đổi thay chính trị.


Liên bang Đông Dương

Đông Dương trong các lãnh thổ của đế quốc là một lãnh thổ trên đó chính quyền Pháp được thiết lập bằng những hiệp ước ký với những quốc gia dân tộc có một lịch sử lâu đời. Các vua chúa địa phương (Campuchia, Annam, Luang Prabang) đã nhận nền bảo hộ của Pháp, thường là sau khi đã phải cắt nhượng cho Pháp một phần lãnh thổ của họ. Đó là trường hợp của nước Annam đã phải bỏ, đầu tiên là Nam Kỳ (1862-1867), rồi đến ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng (1888). Cái việc vì lý do hành chính và tài chính mà Pháp đã sát nhập, không thèm hỏi ý kiến họ, tất cả các “nước” ấy lại với nhau (thuộc địa và bảo hộ) trong một “Liên bang Đông Dương” đã góp phần tạo nên giữa một bên là dư luận Pháp và một bên là các vua chúa cùng nhân dân Đông Dương, một bức màn ngăn cách. Ở Pháp, người ta quen chỉ nói đến Đông Dương mà không tìm hiểu cái từ ấy che đậy nội dung gì. Nếu như về mặt pháp lý, những hiệp ước ký kết những năm 1863, 1874, 1884 và 1893, với các nước được bảo bộ vẫn là cơ sở những quan hệ của họ với nước Pháp thì những truyền thống và những nguyện vọng của mỗi dân tộc đó vẫn giữ một tính chất đặc thù. Cuộc triển lãm thuộc địa năm 1931 đã chứng minh điều đó. Đặc biệt người ta không thể không biết rằng người Annam - như người ta thường gọi họ lúc bấy giờ - chiếm đa số tuyệt đối trong dân cư Đông Dương, rằng họ thông minh, cương nghị và chăm chỉ làm việc; thừa kế một lịch sử lâu dài, thành viên một nền văn minh căn bản mang dấu ấn của ảnh hưởng Trung Quốc, thật khó mà nghĩ rằng họ có thể chịu khuôn mình mãi mãi trong cái gông của một Liên bang Đông Dương nằm dưới sự thống trị của một dân tộc da trắng ở cách xa họ 10.000 km. Đó chỉ là cái lương tri thông thường.

Hơn nữa, mặc dù những lời lẽ tuyên truyền che giấu sự thật, cũng không nên quên rằng, nếu như nước Pháp đã dùng ngoại giao để đặt nền đô hộ của nó một cách hòa bình lên Campuchia và các vương quốc Lào (cứu các nước này khỏi sự thôn tính của nước Xiêm), thì chính là bằng bạo lực và duy nhất bằng bạo lực mà nước Pháp đế quốc và cộng hòa cuối cùng đã chinh phục Việt Nam. Và để đạt tới, nó đã phải tiến hành hai cuộc chiến lâu dài và đẫm máu trước tiên là ở miền Nam (1859-1867), rồi sau ở miền Trung và miền Bắc (1882-1895).

Kết thúc hai cuộc chiến tranh được tiến hành với những phương tiện hiện đại hơn hẳn so với những phương tiện của cuộc kháng chiến dân tộc, Việt Nam đã bị bẻ gãy: nó bị chia cắt làm ba phần gần như tương đương với ba miền lớn của nó (kỳ), người Pháp gọi là Cochinchine (Nam Kỳ) - thiết lập thành thuộc địa Pháp năm 1864, Tonkin (Bắc Kỳ) - về lý thuyết là xứ bảo hộ, thực tế là thuộc địa và Annam (Trung Kỳ), miền đất nghèo nhất, đặt dưới chế độ bảo hộ. Ông vua chính thống đã bị truất ngôi và sau khi bị bắt năm 1888 thì bị đi đày tại Algérie. Tầng lớp lãnh đạo, tức tầng lớp sĩ phu, thì bị chiến tranh và đàn áp tàn sát hàng loạt; đồng ruộng bị phá tan hoang. Nhưng dân chúng không hề mất tinh thần và những người yêu nước không bao giờ buông hy vọng; họ chờ đợi một thời cơ thuận tiện để giành lại tự do và khôi phục độc lập đất nước.

Một thời gian dài lo ngại - do chiến tranh du kích kéo dài - cuối cùng người Pháp tự trấn an và nhận xét rằng người Việt Nam đã hết khả năng thực hiện một cuộc nổi dậy nguy hiểm. Trung thành với quan niệm họ tự tạo cho mình về đế quốc và về sứ mệnh khai hóa văn minh của nó, nước Pháp ngay trước cuộc thế giới chiến tranh 1914-1918 đã “chọn” cái phương châm “không biết đến chủ nghĩa dân tộc”. Nó chỉ muốn nhìn thấy phong trào chống đối chính quyền của nó là một sự “phiến động bài Pháp” của những phần tử lạc hậu, lạc đường hoặc có tính chất lật đổ mà cuối cùng - theo như người ta nghĩ - sẽ trở lại “biết điều” mà thôi.
_____________________________________
1. Epinal, một thành phố của Pháp, nổi tiếng về sản xuất tranh ảnh, thảm... (ND).
2. Hoàng đế La Mã (trị vì từ 211-217) lên ngôi sau khi đã giết anh là Géta. Triều đại ông ta là một loạt những tội ác và hành động điên cuồng. Ông ta đã giết trên 20.000 người và cuối cùng bị ám sát theo lệnh của Tổng trấn Pháp đình Macrin. Macrin giết Caracalla xong lên ngôi hoàng đế - (LND).

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2009, 10:14:55 pm »


Quyền lực bị tước đoạt

Cái chế độ do người Pháp thiết lập nên, từ cuối thế kỷ XIX trong thực tế sáu mươi năm, chỉ là một chế độ độc tài quan liêu. Một nền cai trị toàn quyền của Pháp, có sự giúp đỡ của những trợ lý địa phương thường là kém cỏi và thông đồng với bọn thực dân châu Âu, đã khởi sự và tiến hành một công cuộc khai thác phục vụ trước hết cho lợi ích người Pháp tại chính quốc cũng như tại địa phương, và cho người Hoa cộng sự của họ. Nó tạo nên một cơ sở vật chất tương đối đáng kể (cảng, thành phố, đường giao thông, bệnh viện...) với những nguồn thu từ thuế khóa ấn định theo mức độ của nhu cầu nhưng là một gánh nặng đè lên vai những người dân Đông Dương phải trả thuế. Một số thuế đặt ra cực kỳ trái với lợi ích của quần chúng nhân dân. Trên đất nước 18 triệu dân ấy, chỉ có khoảng 10.000 người châu Âu chiếm giữ hết mọi cương vị lãnh đạo và cả những chức vụ quản lý thông thường, đồng thời liên hệ với các tầng lớp Hoa kiều kiểm soát toàn bộ đời sống kinh tế.

Ngay cả ở những nước bảo hộ, bộ máy cai trị Pháp cũng không cộng tác với các nhà chức trách truyền thống, mà ra lệnh cho họ. Nó rất tự tin, nó quyết định một mình. Bất cứ một sự chống đối nào cũng đều bị trừng phạt, bất cứ một sự sai sót nào cũng đều bị khiển trách.

Độc chiếm toàn bộ quyền lực chính trị, quân sự, kinh tế, người Pháp rất sợ hãi và căm ghét những sự phê bình. Trong cái kim tự tháp quyền lực, họ chỉ chấp nhận những người “Đông Dương” và nhất là người Việt Nam với tư cách là những quan lại nô lệ, những thầy giáo dễ bảo và những viên thư ký không có tính cách với dân chúng cũng như với những “phần tử ưu tú” trong nhân dân, họ từ chối quyền tự do ngôn luận, quyền lập hội, quyền hội họp và cả quyền tự do đi lại nữa. Họ đặt cả cuộc sống xã hội dưới một sự kiểm duyệt đến nghẹt thở, cấm mọi hoạt động chính trị và công đoàn. Những “hội đồng” địa phương - thành lập giữa những năm 1911-1918, do cuộc bầu cử hạn chế của một nhóm vài nghìn cử tri chọn lọc - chỉ là những hội đồng tư vấn, với một nhiệm vụ duy nhất là biểu quyết một ngân sách đã được chính phủ dự toán sẵn.

Đông Dương từ một nửa thế kỷ nay, là xứ sở của giới cai trị, giới kinh doanh (Ngân hàng Đông Dương...) và khách hàng của họ nhưng không phải là người Đông Dương. Một vực thẳm ngăn cách chính quyền với xã hội bản xứ. Một chế độ cảnh sát chính trị luôn luôn cảnh giác, có mặt khắp mọi nơi và có tác dụng đáng sợ (Sở Mật thám) khép chặt dân chúng Việt Nam trong khuôn khổ sự tuân phục... và im lặng. Báo chí bản xứ bị kiểm duyệt gắt gao. Biểu lộ một ý định đả kích nhỏ nào là lập tức bị tình nghi. Mà sự tố giác nơi nào cũng có và trong cái đất nước nghèo nàn này bọn chỉ điểm đông vô kể. Sở Mật thám truy nã tất cả những cái gì họ gọi là phiến động bài Pháp. Trong lĩnh vực này, ngay từ buổi đầu (những năm 1862...) những người đối lập hay chống đối, hoặc cả những người không cùng ý kiến đều bị bắt giam, bị kết án khổ sai, tù đày và cả án tử hình.

Rõ ràng là khi họ kinh sợ mọi sự biểu thị tinh thần yêu nước đến mức độ ấy, người Pháp không thể nào bước xa được trên con đường “dân chủ” ở Đông Dương. Các hội đồng địa phương không được quyền đề xuất một nguyện vọng nhỏ nào về chính trị. Tất cả những người “lãnh đạo” bản xứ, dù họ có thuộc hay không thuộc tầng lớp tư sản phương Tây hoặc các giới truyền thống chủ nghĩa... đều đã được Chính phủ Pháp áp đặt hoặc lựa chọn. Không một biểu hiện yêu nước nào được cho phép. Suốt trong tám mươi năm, tại Đông Dương, không hề có một cuộc bầu cử tự do nào với sự tham gia của những người đại diện chân chính của dư luận Việt Nam, của các “Đảng phái chính trị” càng không có. Trừ một vài trăm vị chức sắc ra, người Việt Nam không bao giờ được phép lập những đảng phái chính trị thật sự hoặc những công đoàn có khả năng khai thông cho các nguyện vọng của quần chúng và tạo dần nên cái cơ sở cho một chế độ dân chủ.

Chỉ đơn giản là xã hội thuộc địa không sẵn sàng chia sẻ quyền hành. Nó đã dập tắt ngay từ đầu hoặc rất nhanh chóng mọi ý đồ cải cách, những yêu cầu xây dựng hiến pháp do Bùi Quang Chiêu nhân danh giới tư sản Nam Kỳ đệ trình lên (1923), cũng như những yêu cầu liên quan đến vấn đề tôn trọng nhân cách Việt Nam và tinh thần bảo hộ do nhà trí thức thân Pháp Phạm Quỳnh đề xuất vào những năm 1924-1930. Không một hiến pháp nào được soạn thảo cho các nước Việt Nam cũng như cho Campuchia. Quyền hạn các hội đồng không hề được mở rộng, thể thức bầu cử không hề được sửa đổi, chế độ báo chí lập hội không hề được tự do. Những quyền “tự do dân chủ” chỉ dành cho các “công dân”, có nghĩa là cho một nhóm nhỏ 5.000 công chức và 10.000 thực dân đã chiếm đoạt quyền bính, cùng với con số vài ba nghìn người Annam theo quốc tịch Pháp. Vậy là chỉ non hai chục ngàn người làm thành cái xã hội thuộc địa và không chấp nhận bất cứ một hành vi nào chống lại quyền lực ấy.

Vấn đề không phải duy nhất là một vấn đề dân tộc. Mà có lẽ là một vấn đề mang tính chất xã hội nhiều hơn. Nghèo đói là tình trạng phổ biến; và mức sống quá thấp, đặc biệt ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam; ở đây mật độ dân số quá cao dẫn tới nguy cơ xảy ra nạn đói hàng năm hoặc ít ra là nạn thiếu ăn. Sự thiếu hụt về lương thực, thực phẩm càng trở nên nghiêm trọng do quan hệ giữa địa chủ và những nông dân cày rẽ cấy mướn hoặc giữa nông dân và bọn cho vay lãi. Chuyện nợ nần ở chốn nông thôn thật là khủng khiếp. Ngoài những gì được lọt vào quỹ đạo người Âu ra, còn lại thì tình trạng kinh tế suy đốn đã thành lệ, vì người ta quá nghèo... Nhưng trong các giới “tân tiến”, giới hành chính và giới công nghiệp và thương mại, sự bất bình đảng đặt ra một vấn đề có tính chất chính trị - tâm lý hơn là kinh tế. Sự chênh lệch lương bổng trong các cơ quan hành chính và các hãng kinh doanh, sự phân biệt màu da mà có thể chỉ nuôi dưỡng thêm những nỗi hận thù.

Sự hạn chế khả năng có việc làm và các quyền lợi được mở ra cho một lớp trẻ có học thức, chưa kể những điều kiện làm việc của những công nhân công trường, hầm mỏ đồn điền... tất cả những cái đó sẽ tạo nên một loạt những hình thức tước đoạt mới, nhất là đối với những thế hệ trẻ, thế hệ 18-25 tuổi sau những năm 1924-1925.

Vậy nhưng những sự đền bù còn lâu mới gọi là “đáng kể”. Những tiến bộ đạt được tại Đông Dương, trong lĩnh vực y tế và giáo dục thì có thể so sánh được với những điều người ta thấy tại các nước thuộc địa khác ở châu Á, nhưng vẫn bị hạn chế. Năm 1937, sau 60 năm dưới chế độ thống trị của Pháp, chỉ có 10% số trẻ em đến tuổi đi học được học hành, gần 90% dân số vẫn là mù chữ; và trung bình cứ ba đứa trẻ sinh ra thì 1 đứa chết trước 1 tuổi. Nhưng mà việc phê phán chính sách của nhà nước về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội đều bị nghiêm cấm đối với người Đông Dương. Những đồn điền cao su xanh tốt, những tiến bộ trong việc buôn bán gạo và xuất khẩu cao su hay than đá, những ngôi nhà đồ sộ dùng làm cơ quan công cộng ở các thành phố lớn Đông Dương, những công trình kỹ thuật táo bạo ven đường sắt và đường ô tô, sự phát triển của hệ thống y tế hoặc học đường, sự phồn vinh bên ngoài mà từ 1935, sau sáu năm kinh tế khủng hoảng, đã lại xuất hiện... tất cả những cái đó có mang một ý nghĩa thiết thực hay không khi mà, như lời của Phạm Quỳnh, thượng thư đầu triều của chính phủ nhà vua Annam đã nói, “người Annam chẳng khác nào là những người nước ngoài ngay trên đất nước họ”? (7).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2009, 10:16:03 pm »

Chống đối ư? Không, cách mạng!

Khoảng những năm 1892-1895, dân tộc Việt Nam đã phải chấm dứt mọi cuộc kháng chiến vũ trang chống bọn xâm lược và chịu nhẫn nhục chờ đợi “những sự kiện mới”.

Từ đầu thế kỷ này, Chính phủ Pháp với những lực lượng trật tự của nó đã nhờ một tinh thần cảnh giác không ngừng ngăn cản không cho những hoạt động chống Pháp đạt tới những mức độ nguy hiểm. Trong ba mươi năm, từ 1897-1927, cuộc kháng chiến chống chính quyền thực dân chỉ còn là công việc của những nhóm lẻ tẻ, những cụm con con, những thanh niên trai tráng dũng cảm, độ lượng, lý tưởng, có khi hứng khởi, xuất thân trước hết từ những gia đình trí thức truyền thống, rồi theo nhịp độ tiến dần, từ những môi trường hỗn hợp (nông dân, nhà buôn, thợ thủ công, giáo viên hoặc thư ký hành chính v.v...). Bị Sở Mật thám theo dõi, tất cả hoặc hầu hết họ đều đã bị bắt giam hoặc bị vô hiệu hóa, hoặc nữa bị cưỡng bức thuyết phục bằng những biện pháp khác nhau từ bỏ mọi hoạt động chính trị hay ít ra là chấm dứt phản kháng. Lời hứa của Chính phủ Pháp sẽ cho con cái các gia đình tư sản, được dạy dỗ theo kiểu phương Tây, vào làm việc ở các cơ cấu hành chính hoặc kinh tế, đã có tác dụng làm cho người ta kiên nhẫn đợi chờ... Bản thân chế độ quân chủ cũng bị tước hết quyền lực chính trị, mặc dầu một ông vua trẻ, Duy Tân, năm 1916, đã phản kháng mãnh liệt tại Huế. Duy Tân lập tức bị truất ngôi và đày sang đảo La Réunion. Bảo Đại, ông vua cuối cùng một ngày kia sẽ nói: “Quyền hành duy nhất của Trẫm là phong sắc cho các vị thành hoàng làng xã”(8 ).

Không khí chính trị bắt đầu thay đổi vào những năm 1926-1927 sau khi những mộng đẹp nẩy sinh từ thắng lợi của cánh tả trong các cuộc tuyển cử ở Pháp tháng 5/1924, bị vỡ. Mặc dù một nhân vật cánh tả, Alexandre Varenne, được cử làm toàn quyền Đông Dương, sự đổi mới cũng chỉ biểu hiện ở vài cải cách không đáng kể về chi tiết. Những quyền tự do cơ bản (báo chí, hộp họp, lập đoàn, đi lại, bầu cử...) vẫn bị từ chối đối với người Việt Nam. Việc theo dõi của mật thám và cảnh sát không một chút nào buông lỏng. Mọi khả năng sửa đổi chính trị từ đây hầu như bị đóng cửa. Không có bóng dáng một cải cách nào sâu sắc; không một triển vọng đổi thay nào bằng con đường nghị trường hoặc bằng con đường nào khác, đã thuyết phục đại bộ phận thanh niên Việt Nam xác định rằng: dưới chế độ thuộc địa, đất nước Việt Nam và bản thân tuổi trẻ Việt Nam cũng sẽ không có một tương lai nào; rằng chế độ thuộc địa tự thân nó không có khả năng cách tân, chỉ có thể thay đổi bằng bạo lực. Vậy là cái ý niệm Cách mạng và cách mạng quyết liệt đã thâm nhập vào ý thức người Việt Nam từ giữa thập niên 20. Và nó sẽ không bao giờ ra khỏi nữa. Tình thế chỉ có thể dẫn tới một sự bùng nổ. Vấn đề là biết nó sẽ nổ ra lúc nào và như thế nào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2009, 09:47:16 pm »


-II-
MỘT CHÍNH QUYỀN MONG MANH, NHỮNG KẺ KẾ THỪA SỐT RUỘT
(2/1930 - 9/3/1945)


Bản chất chính quyền thuộc địa Pháp khiến cho không một đảng phái quốc dân nào có thể tham gia đời sống chính trị hoặc có một hoạt động hợp pháp tại Đông Dương. Vì vậy mà những lực lượng chống đối đã phát triển trong bí mật, với nhiều khó khăn lớn. Hai lực lượng chính được xác định là Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ) - một đảng quốc dân, ra đời năm 1927 do một giáo viên, Nguyễn Thái Học, sáng lập theo khuôn mẫu một chính đảng Trung Quốc và đảng Cộng sản. Đảng này xuất thân từ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập tại Quảng Đông năm 1925. Sau khi tham gia vào đảng Cộng sản Pháp, ông sang Mạc Tư Khoa năm 1923. Từ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, năm 1930, Đảng Cộng sản (CSĐ) ra đời; trước là Đảng Cộng sản Việt Nam rồi sau là Đảng Cộng sản Đông Dương (PCI). Ngay năm đầu tiên, Đảng đã tập hợp được những người mà tên tuổi sẽ được nhiều người biết đến: Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Đặng Xuân Khu.

Hai Đảng bắt đầu hoạt động từ 1930: VNQDĐ mưu toan thực hiện cuộc khởi nghĩa của các đơn vị lính khố đỏ tại Yên Bái. Đảng Cộng sản thì huy động quần chúng nông dân đang bị nạn đói đe dọa, thành lập tại một vài huyện cái mà người ta sẽ gọi là “những Sôviết Annam”. Các cuộc đàn áp hết sức đã man. Có hàng trăm cuộc bắt bớ. Các trại giam, các nhà tù khổ sai (1) đều chật ních. Nguyễn Thái Học bị bắt và lên máy chém ngày 12/6/1931. Về phía mình, Nguyễn Ái Quốc cũng bị người Anh bắt tại Hồng Kông ngày 6/6/1931, và sẽ bí mật rời khỏi Hồng Kông trong năm 1933 trước khi bị coi là đã chết năm 1934. Trong ba năm, những vụ án các nhà cách mạng trẻ đã thành trò cười cho dư luận. Nhưng rồi chính phủ đã thắng trên toàn tuyến. Trật tự lại trở về trên đất Đông Dương. Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa lúc này là Paul Reynaud, đã thực hiện một chuyến đi nghiên cứu vào mùa thu 1931 (năm Triển lãm thuộc địa tại Vincennes) và đã có thể xác nhận là tình hình đã hoàn toàn trở lại ổn định.

Tuy nhiên ông bộ trưởng cũng kết luận về sự cần thiết phải có một vài cải cách chính trị (2) và đặc biệt phải đổi mới chế độ bảo hộ ở Annam. Tháng 9/1932, ông vua trẻ Bảo Đại trở về nước và được đăng quang một cách long trọng. Quả thực, điều đó có mở đường cho một vài cải cách bề mặt. Nhưng quan thượng thư Bộ lại mà nhà Vua đã chọn nhằm thực hiện những cải cách ấy cho đến nơi đến chốn, là Ngô Đình Diệm, một ông quan trẻ thanh liêm, bỗng từ chức một cách đột ngột, gây một tiếng vang lớn. Rõ ràng là chế độ hiện hành không thể phù hợp với bất cứ một thay đổi nào.

Một số người Pháp sáng suốt linh cảm được những điều nguy hiểm mà chính sách đàn áp hoặc sự mù quáng kia sắp sửa gây nên.

Một trong những luật sư bào chữa cho các bị cáo cộng sản tại vụ xử án ở Sài Gòn - luật sư Cancellieri - đã nêu lên hồi tháng 5/1933: “Nếu các người muốn tránh khỏi một sự bùng nổ thì hãy ban bố các quyền tự do, hãy lập những chính đảng, hãy tổ chức những công đoàn (các người vẫn nắm họ trong tay mà!). Nếu các người nhất định đàn áp bằng mọi giá thì cách mạng sẽ nổ ra dữ dội” (3).

Bình luận về tình hình và vụ xử án, André Malraux lúc đó có viết trong tờ Tuần báo Marianne ngày 11/10/1933: “Khó quan niệm nổi một người Annam dũng cảm là một cái gì khác ngoài một con người cách mạng?”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2009, 09:48:55 pm »


Đảng Cộng sản
người làm chủ phong trào hoạt động bí mật

Sự kiện “mới mẻ” là việc xâm nhập của Chủ nghĩa cộng sản vào chính trị ở Đông Dương. Sự có mặt tại Quảng Đông của những cán bộ Quốc tế cộng sản, sự phát triển của Đảng Cộng sản Trung Quốc, rồi sự thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (PCI) đã tạo nên một tâm lý mới trong xã hội thuộc địa. Từ 1920, chính quyền và bọn thực dân không ngừng lặp đi lặp lại rằng Mạc Tư Khoa và Quốc Tế Cộng sản, thông qua những điệp viên tay sai của họ, đang tìm cách xúi giục các thuộc địa nổi dậy chống lại nước Pháp và như vậy làm yếu phương Tây đi như Lénine đã dặn bảo. Vậy là những người cộng sản được liệt vào hàng những kẻ thù chính của chế độ thực dân, điều này không khỏi có tác dụng thu hút về họ tất cả những người lâu nay tự thấy không biết dựa vào đâu để chống với “chế độ thực dân Pháp”. Những cuộc đàn áp mà đối tượng là Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ có tác dụng làm tăng thêm uy tín của Đảng dưới con mắt của nhiều thanh niên. Cuộc đàn áp ấy và cái cách mà Đảng đã đối phó, cái cách mà Đảng đã dùng để nắm chắc trong tay cả quần chúng tù nhân, thông qua các cán bộ của Đảng, đã khiến cho, từ 1933, Đảng Cộng sản đã trở thành người làm chủ của phong trào hoạt động bí mật, vị lãnh tụ thực sự của phe chống đối và là lực lượng chính trị bản xứ quan trọng nhất về tiềm năng của cả đất nước. Đó là điều sẽ mang lại những hậu quả vô cùng lớn lao cho tương lai.

Người Pháp cố gieo rắc trong dân chúng sự kinh sợ đối với chủ nghĩa cộng sản, họ nhắc đi nhắc lại rằng “không có nước Pháp, chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng”. Nhưng luận điệu này chỉ tác động đến tầng lớp tư sản hoặc đặc quyền đặc lợi thôi, chứ không mảy may tác động gì đến quần chúng nông dân. Càng tìm cách thuyết phục họ rằng nếu không có chính quyền thuộc địa thì duy nhất chỉ còn có chủ nghĩa cộng sản, họ càng củng cố thêm trong ý thức quần chúng nông dân niềm tin ở sự chiến thắng tương lai của chủ nghĩa cộng sản. Thực tế là Chính phủ Pháp, bằng lối tuyên truyền ngu ngốc đó đã “trải giường” cho chủ nghĩa cộng sản.

Một vài hoạt động chính trị đã có thể phát triển trong vùng được gọi về mặt pháp lý là “thuộc địa Pháp” (tức Nam Kỳ và ba “nhượng địa”), ở đó các công dân Pháp, kể cả những người được chuyển sang quốc tịch Pháp, được hưởng khá nhiều quyền, chẳng hạn quyền ngôn luận, hội họp và bầu cử. Sài Gòn có dịp trở thành cái sân khấu cạnh tranh giữa những người Việt Nam cánh tả và cánh hữu, trong đó những người Trotskystes đóng một vai trò quan trọng. Trong các xứ “bảo hộ”, tình hình có khác. Từ tháng 7/1936, sau thắng lợi của Mặt trận Bình dân trong tổng tuyển cử, luôn luôn trong những khu vực ấy và mặc dầu vẫn cần nói đến chuyện độc lập, chuyện mở rộng các quyền tự do dân chủ, được bổ sung bằng một lệnh ân xá (4), đã đưa lại cho một số hình thức - kể cả hình thức tôn giáo - của chủ nghĩa quốc gia cái khả năng được phát biểu công khai và người ta thấy những đảng viên cộng sản, trở thành hợp pháp, hoạt động hết sức mình để thành lập một “Mặt trận dân chủ Đông Dương” với sự tham gia của những người Pháp dân chủ và tiến bộ. Nhưng đến tháng 9/1939 thì mọi sự lại đổ vỡ, sau hiệp định Đức - Xôviết, với một lệnh mới cấm mọi hoạt động cộng sản và sự rút lui hoàn toàn của họ một lần nữa vào phong trào bí mật.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2009, 09:50:16 pm »


Sự mong manh về quyền lực của Pháp

Chế độ thuộc địa chỉ mở ra có vài cái nút xả hơi không đáng kể cho những nguyện vọng chính trị và xã hội của nhân dân Việt Nam. Người ta thấy rõ rằng, rất lâu trước chiến tranh thế giới thứ hai, nền độc lập - mục tiêu của tất cả mọi đảng phái quốc gia không trừ đảng phái nào - chỉ có thể giành lại được bằng một sự bùng nổ, một cuộc khủng hoảng có tính chất cách mạng. Hệ thống thuộc địa không dành một chỗ cỏn con nào cho một quá trình diễn biến hòa bình đáng gọi bằng cái tên đó. Bất chấp những thành tựu đáng kể của Chính phủ Pháp (nhất là trong lĩnh vực công chính và công trình đô thị), một vực thẳm thực sự đã tồn tại giữa nhân dân Việt Nam và chính quyền Pháp và người ta chỉ có thể kết luận là do sự quá mong manh của chính quyền này.

Dĩ nhiên trong những năm 1938-1939, chưa có một lực lượng nào có thể làm cho nó bị lung lay hoặc bị lật đổ từ bên trong. Nhưng vì thiếu hẳn một nền tảng nhân dân hoặc dân chủ nên nó có thể bị lật đổ bởi một sự bất ổn quốc tế, một cuộc khủng hoảng hoặc một cuộc chiến tranh bên ngoài mà một cường quốc khác nào đó như Trung Quốc, Nhật Bản, Đức có thể khai thác và lợi dụng trên đất Đông Dương. Vì nước Pháp tưởng mình sẽ vĩnh viễn là ông chủ của đất nước này, nên đã không nghĩ đến chuyện đào tạo một lớp người bản xứ có khả năng kế tiếp mình và nắm quyền quản lý hành chính cũng như kinh tế, nên rõ ràng là trong trường hợp khủng hoảng nghiêm trọng những người kế tục họ chỉ có thể là những phần tử quốc gia chủ nghĩa thân Nhật, thân Trung Quốc, hoặc những người cộng sản. Tất cả đều chống Pháp. Tất cả đều chỉ đợi chờ một cơ hội thuận lợi để ra khỏi vòng bí mật và với sự ủng hộ của ngoại bang, lật đổ quyền thuộc địa.

Thất bại của Pháp tháng 6/1940, tại châu Âu, dường như có tạo được những điều kiện cho một sự thay đổi. Nhưng người ta đã thấy Tokyo chọn một thái độ - ít nhất cũng là tạrn thời - tôn trọng chủ quyền của Pháp trên đất Đông Dương; và thế là những người cộng sản đã hoàn toàn thất bại trong cuộc nổi dậy ở miền Nam, mà họ tưởng có thể phát động từ tháng 11/1940.

Tuy cuộc nổi dậy đã bị đàn áp rất nặng nề này đã khiến cho người ta suy nghĩ, nhưng mọi người vẫn tin là không bao giờ nó có thể tái diễn một lần nữa. Chính phủ Decoux lại còn tăng cường thêm công tác kiểm tra của cảnh sát. Nhiều và khéo đến nỗi suốt trong gần năm năm, cái bề ngoài có vẻ vững vàng của chính quyền Pháp đối với lãnh thổ Đông Dương ấy đã có thể tạm thời che giấu được sự mong manh của một chính quyền đang mặt đối mặt với một nước Nhật Bản đầy sinh lực, và gây cho người Pháp một sự đánh giá sai về lực lượng so sánh và cũng duy trì được một số ảo tưởng về tương lai Đông Dương sau chiến thắng của Đồng minh. Ngay cả ở Alger, dường như người ta không hiểu rằng ở Đông Á, ngày mai đây sẽ không còn cái gì có thể giống như trước ngày người Nhật tới.

Ủy ban Alger biết khi công bố bản “Tuyên ngôn của chính phủ” ngày 8/12/1943, rằng Washington rất dè dặt về vấn đề duy trì một chính quyền Pháp tại Đông Dương (ai cũng rõ những tư tưởng và ý đồ của tổng thống Roosevelt (5)) và rằng người Trung Quốc đã tổ chức những người Quốc dân đảng Việt Nam làm tay sai cho họ hoặc nằm trong vòng ảnh hưởng của họ và như vậy gieo rắc nhiều hoài nghi về thái độ của họ nếu có ngày nào đó Đông Dương lại bị lôi cuốn vào chiến tranh. Mặt khác, những người cộng sản Việt Nam lui vào bí mật năm 1939, đã tập họp lại thành một bộ phận ở Hoa Nam, ở sát biên giới Đông Dương và tháng 5/1941 đã lập nên một Mặt trận độc lập Đồng minh (Việt Minh) (6).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2009, 09:53:52 pm »

Việt Minh gửi một tín hiệu

Tháng 5/1944, Ủy ban Alger tìm hiểu, với một sự quan tâm rất lớn về một bức công hàm mà lãnh sự Pháp tại Côn Minh, Royère đã gửi cho ông đại sứ của Ủy ban Alger tại Trùng Khánh, tướng Pechkoff. Bức công hàm ấy có nội dung như thế này:

“Thứ bảy vừa qua 29/4, tôi có tiếp hai người Annam tên là Phạm Biết Tế và Lê Đức Linh1; họ đã đề nghị được gặp tôi với tư cách là phái viên của “Mặt trận Độc lập Đông Dương” mà họ sẽ là những người đại diện Trung Quốc.

“Tôi đã trao đổi ý kiến với hai người Đông Dương ấy trong khoảng một giờ đồng hồ. Họ đã phát biểu với tôi những lời tuyên bố mà nội dung có thể tóm tắt như sau:

“1. Mặt trận Độc lập Đông Dương (mà trong công hàm tôi sẽ viết tắt là LII, tập hợp tất cả các đảng phái có xu hướng dân tộc và dân chủ hiện tồn tại trên lãnh thổ Liên bang và vì thế đại diện cho tuyệt đại đa số nhân dân Đông Dương, đã có dịp tìm hiểu bản tuyên bố của CFLN (Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp) liên quan đến quy chế của Đông Dương sau này, công bố tại Alger ngày 8/12/1943. Những người lãnh đạo của LII, đã có lần gửi thư cho những người Pháp tự do ở Đông Dương, đã quyết định một cách thích đáng sẽ gửi sang Trung Quốc hai đại biểu để liên hệ với các đại diện của Alger tại đó nhằm đi đến một thỏa thuận, nếu có thể, về những vấn đề Đông Dương.

“2. Mặt trận Độc lập Đông Dương (LII) theo đuổi hai mục đích cơ bản: - Dân chủ hóa Đông Dương ngay sau ngày giải phóng - và khôi phục nền độc lập của nó trong tương lai gần nhất.

“Với những nguyện vọng như vậy, Mặt trận Độc lập Đông Dương (LII) không thể nào nói chuyện này với người Nhật – mà kinh nghiệm đã chứng tỏ những ý đồ thật của họ là gì - hoặc với chính phủ thân Phát xít của Đô đốc Decoux - mặc dù mới đây chính phủ này có thực hiện một vài cải cách trên lĩnh vực xã hội. Trái lại, những người lãnh đạo Mặt trận Độc lập Đông Dương (LII) cho rằng cái hay nhất và lợi nhất cho sự nghiệp chung của nước Pháp và Đông Dương lúc này là ngay từ bây giờ có những cuộc tiếp xúc với CFLN, thông qua những cuộc tiếp xúc ấy mà tiến tới một sự thỏa hiệp Pháp - Đông Dương.

“3. Ủy ban chỉ đạo của LII hy vọng rằng CFLN sẽ vui lòng nghiên cứu một chương trình dân chủ hóa Đông Dương để thực hiện ngay sau khi lãnh thổ này được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của Nhật. Về nền độc lập của đất nước (Đông Dương), Ủy ban thấy rằng vấn đề phức tạp hơn nhiều và công việc trao trả đó nếu thực hiện ngay sẽ vấp phải những khó khăn rất nhiều và quan trọng. Vậy nên Ủy ban đó - mặc dù không quên rằng mục đích chủ yếu của nó là đảm bảo nền độc lập Đông Dương - sẵn sàng thảo luận và chấp nhận tạm thời tất cả mọi công thức chính trị rộng rãi lấy nguyện vọng của dân tộc Đông Dương làm căn cứ.

“4. Xét thấy rằng những cải cách đó chỉ có thể thực hiện được sau ngày giải phóng Liên bang Đông Dương, LII sẵn sàng ngay từ bây giờ cộng tác với CFLN ở bên trong cũng như ở bên ngoài Đông Dương, trong cuộc đấu tranh của nó chống Nhật. Sự hợp tác này có thể tiến hành trên mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực quân sự, vì Mặt trận đã đào tạo và huấn luyện được những nhóm du kích và có thể càng ngày càng có thêm nhiều nhóm như vậy.

“5. Những người lãnh đạo của LII luôn luôn theo sát tình hình quốc tế và thấy rõ rằng một số nước ngoài có ý đồ giành một vị trí lợi thế trong những cuộc hội nghị sẽ họp, sau khi chiến tranh chấm dứt, để bàn về những vấn đề liên quan đến các đế quốc thuộc địa. Thừa biết một số trong các nước đó có những ý đồ đất đai hoặc những ý đồ khác về Đông Dương, những người lãnh đạo LII mong muốn người Pháp và người Đông Dương cùng đứng vào một mặt trận chung và đề xuất một chương trình chính trị và xã hội có thể tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các cường quốc dân chủ”.

“Cuối cùng, các vị khách của tôi đã hàm ý cho tôi hiểu, một cách kín đáo nhưng rành rọt, rằng tuy Mặt trận nhiệt tình mong muốn để đi đến một thỏa thuận với CFLN, nó sẽ không ngần ngại đặt vấn đề với đại diện các nước liên hiệp khác trong trường hợp mà Alger khước từ hợp tác.

“Trong câu trả lời, tôi đã nhấn mạnh cho các vị khách đối thoại của tôi thấy lời tuyên bố của CFLN về vấn đề Đông Dương chứng minh rõ ràng nước Pháp mới đặc biệt quan tâm đến các vấn đề thuộc địa, và những người lãnh đạo ở Alger - mà khuynh hướng tự do đã bao lần bộc lộ - chắc chắc sẽ sẵn sàng nghiên cứu với tinh thần hiểu biết và có thiện ý nhất tất cả những đề nghị hợp lý xuất phát từ những tổ chức đại diện thực sự cho quần chúng nhân dân Đông Dương. Mặc dầu cá nhân tôi rất hứng thú về những ý kiến vừa được nghe - tôi đã tuyên bố sau đó - “Tôi không phải người có quyền quyết định hoặc có quyền bảo đảm gì về cái lập trường mà CFLN có thể có trước những đề nghị bước đầu của LII. Tuy nhiên tôi sẽ không quên báo cáo lại với tướng Pechkoff đại sứ Pháp tại Trùng Khánh, về nội dung cuộc hội đàm của chúng ta”.

“Tôi nói thêm rằng tôi thấy cần báo cho các vị khách của tôi ngay bây giờ rằng các nhà chức trách Pháp, khi xem xét những lời tuyên bố của họ (LII), sẽ không quên rằng họ vừa mới bị Việt Nam Quốc dân đảng (Đảng cách mạng Việt Nam tại Trung Hoa tự do) lên án gay gắt và ngoài ra họ sẽ tự hỏi xem LII có phải là đại diện đích thực cho đại đa số nhân dân Đông Dương chứ không phải chỉ là đại diện cho một bộ phận có ít nhiều quan trọng. Để kết thúc, tôi đã thông báo cho các ông Phạm Biết Tế và Lê Đức Linh rằng nếu sẽ còn phải có những cuộc hội đàm mới, thì họ cần nói rõ thêm - và điều này sẽ rất bổ ích:

a) LII nhận thấy có thể cộng tác với CFLN trên những lĩnh vực nào và trong chừng mực nào; b) Chương trình cùng nguyện vọng chính trị và xã hội của LII như thế nào?

“Ngài có thể thấy rằng tôi đã để cánh cửa ngỏ cho những cuộc hội đàm mới và nhất thời, cho những cuộc thương thuyết về việc thực hiện một vài điểm trong chương trình cộng tác do các đại diện của LII đề xuất, mà không để cho CFLN bị ràng buộc chút gì. Quả thực, tôi đã thấy được là chúng ta cần thận trọng trong tất cả mọi vấn đề có liên quan đến quan hệ của chúng ta với người Annam. Trong trường hợp trước mắt, chúng ta có thể đang liên quan hoặc với những tay chân của VNQDĐ hay cả của QDĐ Trung Hoa, hoặc nữa với những đại biểu của một đảng phái An Nam chỉ đại diện cho một nhóm rất nhỏ nào đó của nhân dân Đông Dương. Cho nên, về phần liên quan đến tôi, tôi đã chỉ thị cho ông Ramoin phải tìm đến những khu vực người Annam mà ông ta có khả năng đến được, để điều tra về các ông Phạm Biết Tế và Lê Đức Linh. Có thể về phía phòng Đại diện, họ sẽ thấy cần thiết phải yêu cầu ông Siguret hỏi Hà Nội những chỉ dẫn về những điểm dưới đây, không cần chi tiết nào khác: 1. Tầm quan trọng thực tế của LII. 2. LII tập hợp những đảng phái nào? 3. Những người lãnh đạo LII là ai?

“Trong lúc chờ đợi kết quả của cuộc điều tra này, Ngài có thể có thời giờ nghiên cứu nên tiếp nhận những đề nghị của LII đến chừng mực nào, nếu như, đây là điều chính tôi đang tin tưởng, cái Hội ấy quả là đại diện cho một lực lượng đáng chú ý
(7).

Ký tên: J. ROYÈRE”

Bức thư đó của Royère đã được chuyển đi lập tức cho Pechkoff ở Alger và từ ngày 16/6/1944 Ủy viên phụ trách thuộc địa René Pleven đòi hỏi thêm những chỉ dẫn khác về “Mặt trận”; còn chủ nhiệm các vấn đề chính trị Henri Laurentie thì chỉ ra rằng nhiệm vụ cấp bách nhất là phải tìm hiểu đến mức tối đa về những đảng phái chính trị bản xứ hiện đang tồn tại ở Đông Dương (8 ). Vậy nhưng, Royère đã thừa nhận ngày 11/7/1944 khi người ta chất vấn ông: “Chúng tôi chẳng nhận được một chỉ dẫn nào về Mặt trận cả”(9).
_____________________________________
1. Thực ra là Phạm Viết Tư, tổng bí thư Mặt trận
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2009, 09:57:35 pm »


Sự thay đổi của Đảng Cộng sản Đông Dương

Đã có “diều gì đó” xảy đến cho Việt Minh. Một đại hội do Quốc dân Đảng Trung Hoa tổ chức nhằm áp đặt sự kiểm soát của họ đối với tất cả những người quốc dân đảng Việt Nam, đã diễn ra tại Liễu Châu vào tháng 4/1944 và đã bắt buộc Việt Nam phải chịu những điều kiện Trung Hoa. Người ta có thể hình dung được, sau điều “bức chế” đó, Việt Minh (tức LII) đã thấy nếu tiếp xúc với người Pháp (Royère) để thăm dò thái độ họ và để xem có thể có cách nào đối phó với việc kiểm soát của Trung Hoa thì sẽ là điều bổ ích.

Có khả năng là sự tiếp xúc này đã bị mật thám Trung Hoa phát hiện cho phe quốc gia đối địch với Việt Minh (VNQDĐ và Đồng minh1, phe này lập tức tố cáo Việt Minh có thiện ý với người Pháp. Những người cộng sản Việt Nam lại phải lập tức cứng rắn lên để chứng tỏ họ vẫn là những chiến sĩ chân chính của nền độc lập dân tộc. Do đó mà họ rải truyền đơn đề ngày 4/6/1944: “Vì nền độc lập trọn vẹn của Đông Dương”.

“Vậy là những người Pháp đang đấu tranh chống sự chiếm đóng của Đức lại đòi duy trì sự thống trị của chính họ lên các dân tộc khác! Chúng tôi, những người Cộng sản Đông Dương, chúng tôi phản đối một cách quyết liệt nhất sự thiếu thủy chung bất hợp lý của Ủy ban Alger. Trong khi vận động thành lập một mặt trận chống Phát xít rộng rãi ở Đông Dương, chúng tôi muốn tự giải phóng mình và giải phóng cho cả những người nước ngoài chống phát xít khỏi ách quân phiệt và phát xít Nhật Bản. Nhưng nói rằng như vậy là chúng tôi hy sinh độc lập dân tộc của chúng tôi cho sự thống trị của phe De Gaulle hoặc phe nào khác, thì đó là một điều ngụy biện hoàn toàn.

“Ủy ban giải phóng Alger đã nhầm khi nghĩ rằng các dân tộc Đông Dương tự bằng lòng với những lời nịnh nọt tâng bốc, cam kết, hứa hẹn. Tương lai đất nước chúng tôi là do bàn tay chúng tôi sắp đặt chuẩn bị. Tự do của chúng tôi, chúng tôi muốn nó phải hoàn toàn...

“Những người thuộc phe phái De Gaulle hy vọng sẽ giải quyết gọn vấn đề với sự can thiệp của lực lượng Đồng minh. Nhưng những cường quốc đồng minh vừa tuyên bố tại Téhéran rằng họ là những lực lượng giải phóng không có quyền áp đặt bất cứ một ách thống trị nào lên cổ các dân tộc khác dù cho cái ách ấy có được “nhân đạo hóa” và được giảm nhẹ đi bởi những người theo phái De Gaulle!”
(10).

Nhìn bề ngoài thì dường như tờ truyền đơn nhằm phản ứng lại bản tuyên bố ngày 8/12/1943 của Pháp. Tuy nhiên, công việc của Ủy ban Alger trở thành minh bạch hơn trong khi diễn ra trận Normandie - Trong bức điện ngày 16/6/1944 gửi tướng Pechkoff, ông Pleven đã xác định rõ ràng những điều kiện để mở cuộc đàm phán có thể diễn ra với các đảng phái Đông Dương. Các đảng phái này phải:

“1. Chống lại một cách công khai mọi thứ độc lập Annam hoặc Campuchia do người Nhật “ban” cho. [...] Phải ghi rõ là mọi vấn đề Đông Dương chỉ có thể được thảo luận với Pháp.

2. Tham gia cụ thể vào cuộc kháng chiến nội địa”
.(11).

Những quan niệm chính trị của Alger vẫn thiếu mạnh dạn. Nếu như trong khuôn khổ châu Phi những khuyến cáo của Brazzaville có tỏ ra mạnh dạn đôi chút, thì tại châu Á trường hợp không phải như vậy.

Trong chỉ thị của ông ta, quả thực Laurentie có nói là “SA [cơ quan hành động - DGER (cơ quan tổng chỉ đạo nghiên cứu và tìm tòi) - vừa mới được thành lập ở Ấn Độ] sẽ có thể và phải tiếp xúc với đại diện những đảng phái ấy, nhưng phải hết sức thận trọng trong lời lẽ mà các nhân viên của nó bắt buộc phải nói lên” (12). Laurentie còn nói thêm rằng điều quan tâm lớn nhất của Ủy ban Alger là mang ra thực thi “một chương trình xã hội và kinh tế đầy sức sống, trong khi một quy chế dân chủ được ban hành rộng rãi sẽ đưa lại cho các đảng phái chính trị sức mạnh và sức cố kết và buộc chúng ta phải uốn mình theo những đòi hỏi của một chế độ đại nghị... trong các cuộc đối thoại có thể diễn ra. Một điểm cơ bản sẽ dùng làm cột mốc, là Đông Dương sẽ được hưởng một nền tự trị rộng rãi nhất, nhưng nền tự trị ấy sẽ thực hiện trong khuôn khổ một Liên hiệp Pháp thống nhất tất cả các nước thuộc Pháp lại với nhau trên nguyên tắc bình đẳng”.

Vậy là giờ đây, khi “nước mẹ” đang sắp sửa được giải phóng, vấn đề đặt ra là phải chuẩn bị chờ đón cái thời điểm quyết định và trước tiên là đảm bảo quyền lực của “nước Pháp tự do” được tồn tại trên đất Đông Dương bằng cách đưa ông toàn quyền gia nhập vào khối liên hiệp và nắm lấy quyền kiểm soát quân đội và chính phủ. Tư lệnh tối cao quân đội Đông Dương, tướng Mordant, đã được thông báo qua bức thư ngày 29/2/1944 (tới tay người nhận rất chậm trễ) về những quan niệm của Alger. Chỉ cần gửi cho ông ta những chỉ thị cụ thể của chính phủ (CFLN) và nhận được từ phía toàn quyền Decoux (người của Chính phủ Vichy) và là người chịu trách nhiệm về toàn bộ lãnh thổ (Đông Dương) hoặc là một sự buông lỏng (bí mật) hoặc ít nhất là một bề ngoài như vậy. Đây là mục tiêu của chuyến công cán của F. De Langlade (ngày 5-22/7/1944). Langlade nhảy dù xuống Bắc Kỳ, sẽ có thể tìm hiểu và “đo trọng tải” Mordant (Mordant sẽ được cử làm tổng đại diện của “Ủy ban Hành động vì Đông Dương” (13) ngày 3/9), nhưng sẽ không có thể gặp được Decoux. Lúc này, Decoux ý thức được rất rõ mối nguy cơ lớn mà tình thế mới có thể đem lại cho ông. Nếu Nhật Bảu lâu nay vẫn tôn trọng chủ quyền của Pháp ở Đông Dương là vì có những thỏa thuận ký với Vichy năm 1940-1941 và vì quan hệ giữa hai bên được ổn định nhờ những thỏa thuận đó. Nhưng nay thì nước Pháp của Vichy đang sụp đổ, thống chế Péteain đã sang Đức, Paris sắp sửa vào tay De Gaulle lúc này đã tuyên chiến với Nhật. Đông Dương từ đây không thể được Nhật nhân nhượng nữa trừ khi nó giữ lập trường “tự trị” đối với chính quyền mới của Pháp, nói cách khác là nếu về phía Pháp không có một “Chính phủ thống nhất” (14).
______________________________________
1. Tức Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Quốc và Việt Cách) – LND.)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2009, 09:59:34 pm »


Bức “thông điệp tay ba”
(30/8/1944)

Ngày 24/8, Decoux công bố và thực thi một đạo luật bí mật ký ngày 18/2/1943 ban cho ông những quyền hạn đặc biệt trong trường hợp bị đứt liên lạc điện tín với chính quốc. Vài hôm sau đó, ngày 30/8, ông đã gửi qua con đường bí mật cho chính phủ Paris một bức thông diệp có các đại sứ của Vichy tại Tokyo và tại Nam Kinh (hai ông Cosme và Margerie) tiếp ký - vì lý do đó mà bức thông điệp được gọi là “thông điệp tay ba”. Nội dung chủ yếu của nó là:

“Trái với cái ý nghĩ được phổ biến rộng ra quá nhiều lần, chủ quyền của nước Pháp trên xứ thuộc địa này vẫn được giữ gìn trọn vẹn... Chính phủ Pháp (ở đây) vẫn tuyệt đối tự do. ... Các chính sách của Pháp tại Trung Quốc và Đông Dương đều phụ thuộc lẫn nhau. Nhờ có bốn năm cố gắng không ngừng và hiệp thương giữa Hà Nội, Bắc Kinh và Tokyo, cái cơ bản của lập trường chúng ta, của chủ quyền chúng ta, của uy tín chúng ta và của sự nghiệp văn minh khai hóa của chúng ta đã được bảo vệ. Vậy sẽ là trái với quyền lợi của Pháp nếu như nước Pháp giữ một lập trường không thân thiện, thậm chí chiến tranh đối với Nhật Bản. Ngược lại, điều quan trọng là nước Pháp và Đông Dương cần phải duy trì lập trường trung lập, có như vậy chúng ta mới hy vọng đạt tới ngày kết thúc chiến tranh mà không bị thiệt hại gì nặng nề. Chúng tôi nhấn mạnh thêm rằng những dân cư Đông Dương được bảo hộ rất trung thực và biết ơn đối với nước Pháp chủ yếu là vì hòa bình được duy trì, họ sẽ không hiểu và không ủng hộ một đường lối chính trị khác đâu. Bất cứ một sự thay đổi quyền hành nào, dù tạm thời chăng nữa, cũng sẽ đe dọa gây nên những trở ngại lớn cho việc khôi phục chủ quyền của nước Pháp và cá biệt ở Bắc Bộ trong trường hợp mà Trung Quốc can thiệp vào.

“Theo trật tự suy nghĩ ấy, vấn đề cực kỳ quan trọng hiện nay là chính phủ mới của nước Pháp phải xét đến những nguy cơ sẽ xảy ra nếu có bất cứ một cuộc tấn công nào vào Đông Dương. Cuộc tấn công ấy sẽ khơi dậy, đây là điều chắc chắn, cái nguyên tắc phòng thủ chung đã được chính phủ của Thống chế công nhận từ tháng 7/1941 nhằm giữ vững chính quyền của Pháp và bảo vệ chính sự tồn tại của quân đội Đông Dương của chúng ta”.


Sau khi nhấn mạnh rằng “Đô đốc Decoux, cho đến khi có lệnh mới, chỉ tự coi mình duy nhất như người quản lý những lợi ích thường trực của nước Pháp”, bức thông điệp, bằng một yêu cầu bí mật tuyệt đối, kết luận:

“Tóm lại, điều kiện cần thiết và đầy đủ để cho chủ quyền của Pháp ở Đông Dương và những lợi ích của Pháp tại Viễn Dông được vẹn toàn cho đến ngày kết thúc chiến tranh dường như là thế này: Chính phủ mới của Pháp hãy khuyến cáo Đồng minh đừng mở bất cứ một cuộc tấn công quân sự nào vào Đông Dương và bản thân nó hãy tránh mọi sáng kiến ngoại giao hoặc quân sự có thể xô đẩy Nhật Bản vào tâm trạng nghi kỵ đối với người Pháp”(15).

Ký tên: DECOUX, MARGERIE, COSME
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM