Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:56:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66729 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:40:41 pm »


Thị trường Trung Quốc


Để xúc tiến nhanh cuộc điều đình, d’Argenlieu đã gửi qua Trùng Khánh cố vấn ngoại giao của mình là Clarac. Clarac trên đường đi ghé lại Hà Nội và ngày 26, 27/1, tại đây (có Pignon cùng đi) Clarac có hai cuộc hội đàm cơ bản với người đứng đầu công việc hành chính trung ương của Trung Quốc tại Bắc Đông Dương, tướng Chao Pei-chang, và phụ tá của ông ta, đại diện của Wai Kiao Pou, Ling Chi-han. Người ta thấy ngay rằng thái độ của Chính phủ trung ương Trung Quốc đối với Pháp là một thái độ tích cực, khác với thái độ của Lư Hán, sử dụng binh lính Vân Nam để thực hiện chính sách riêng của ông ta. Qua những cuộc hội đàm này (theo d’Argenlieu) thì thấy rằng Chính phủ trung ương Trung Quốc mong muốn trở lại Bắc Kỳ trước rồi sau là cả Đông Dương, với một ý định quả quyết, rằng Trung Quốc rất lo ngại cái tai họa cộng sản lan tràn khắp Nam Á.

“Rõ ràng họ mong muốn thấy ông Hồ Chí Minh và Việt Minh biến khỏi sân khấu chính trị và hành chính của Bắc Kỳ; nhưng để thực hiện việc đó, họ không thể trông cậy vào hai đảng Việt Nam đang “Trung Hoa hóa” ấy. Bây giờ làm sao có thể dựa vào những kẻ cầm đầu bất lực như vậy để chống lại ông Hồ Chí Minh cho nổi?”

Cũng dễ dàng nhận thấy rằng đối với Trung Quốc, chỉ có Pháp mới có thể thực hiện được chiến dịch này. Chẳng lẽ Pháp không làm được tại Hà Nội cái việc họ đã làm thành công tại Phnôm Pênh với Tạm ước 7/1 sao? Nhưng “Chính phủ Trùng Khánh sợ hơn nữa là, khi quân họ rút đi (ngày đó không xa nữa), nhân dân bản xứ và các đảng phái thân Trung Quốc sẽ coi việc rút quân đó như một hành vi phản bội và phản ứng quyết liệt chống lại những đồng bào của họ” (27)

Bản báo cáo của Pignon về những cuộc hội đàm này (đề ngày 28/1) rất sáng sủa:

“Trong giờ phút này, 28/1, hình như Chính phủ Trung Quốc, qua những đại diện có thẩm quyền hơn cả của họ, đang đề nghị với chúng ta, lần cuối cùng, sẽ thành lập một chính phủ có thể cả họ cả chúng ta đều chấp nhận được, tức một chính phủ nếu không phải là chống cộng sản thì ít ra cũng là phi cộng sản. Chính phủ ấy trước con mắt Trung Quốc phải đảm bảo có tính chất rộng rãi cần thiết, đầy đủ. Họ sẽ buộc chính phủ đó ký kết với chúng ta và tạo mọi dễ dàng cho quân chúng ta đến thay thế quân của họ”.
 
Pignon đánh giá đề nghị này là hay, đáng lưu ý; nó sẽ đưa chân quân đội chúng ta dễ dàng và không có xung đột đổ máu, đến phía bắc vĩ tuyến 16. Ông ta nhấn mạnh rằng với sự giúp đỡ của quân đội Trung Quốc, VNQDĐ đang loại trừ Việt Minh khỏi các tỉnh miền Bắc Bắc Kỳ. Nhưng ông ta báo trước:

“Vậy là chính phủ tương lai đứng về logic mà nói, sẽ là một chính phủ thân Trung Quốc. VNQDĐ không đủ về nhân sự sẽ kêu gọi phái thân Nhật là Đại Việt cung cấp người vào chính phủ mới này, và người Pháp chúng ta sẽ đồng ý song song với họ để loại trừ ông Hồ Chí Minh và Đảng Việt Minh”.

Pignon lúc này tự vấn mình về sự chân thực của Trung Quốc và về những nguy cơ có thể xảy đến với cái có thể gọi chính xác là “một cuộc mà cả lừa phỉnh” ấy, rồi kết luận:

“Hình như chúng ta không thể công khai đứng lên chống lại mưu đồ của Trung Quốc được, mà trái lại phải tìm cách ký kết, và ký kết nhanh chóng với họ dù có chịu một vài hy sinh, tại Trùng Khánh.

“Trên bình diện địa phương, trong lúc vẫn cứ phải tiếp tục ra mặt lịch sự trước mặt kẻ đối thoại với chúng ta, nếu chúng ta góp phần làm cho Việt Minh - mà chúng ta không nên để mất liên hệ - tan rã thì e là điều thiếu khôn ngoan. Vừa cố gắng để có một chỗ đứng trong cả hai đảng mạnh, chúng ta vừa phải tìm kiếm thành lập một đảng phái thứ ba mà cả phía Trung Quốc và phía Việt Minh đều chấp nhận được và chúng ta thì có thể tác động đến. Nhưng trên mảnh đất Việt Nam, chúng ta không được phép tham gia một cách thụ động vào cái mưu đồ của Trung Quốc đang ngày càng bộc lộ rõ nét...
(28 )

Cùng ngày hôm ấy, 28/1, tại Nhà hát thành phố Hà Nội, có một cuộc họp của nhiều nhà lãnh đạo Việt Minh. Một diễn giả đã tuyên bố rằng:

“Nước Pháp là nước dân chủ sớm nhất thế giới, cho nên tin tưởng vào nước Pháp là phải lẽ và nên tìm một điểm gặp gỡ với Pháp. Chính Pháp là nước mà Việt Nam có thể chờ đợi nhiều sự giúp đỡ và thông cảm hơn cả” (29)

Sau khi đọc bản báo cáo của Pignon - có lẽ được chuyển đến ngày 6/2 - d’Argenlieu phát biểu quan điểm của mình: cần phải ký kết nhanh chóng với Trung Quốc về vấn đề thay quân và những vấn đề còn lại (bằng một hiệp định ngoại giao thỏa đáng) và “ký kết một thỏa hiệp ít ra là sơ bộ với Chính phủ Hà Nội”. Còn đề nghị của Trung Quốc sẽ thành lập một chính phủ “nếu không phải là chống cộng sản thì ít ra phải không cộng sản”, nhưng thực chất là một chính phủ bao gồm những “phần tử quốc gia chủ nghĩa Việt Nam Hán hóa tận gốc và thù địch chúng ta, thì về mọi mặt không thể nào chấp nhận. Nhiệm vụ của tôi - ông đô đốc nói - là giải quyết công chuyện đó giữa Việt Nam và Pháp” (30).

Có thể rằng chủ định của ông đô đốc, như sau này P. Isoart (31) gợi ý, là lợi dụng bản hiệp định với Trung Quốc để đưa quân Pháp vào Bắc Kỳ, rồi sau đó mới “điều đình” với chính phủ Hà Nội “trên lập trường thế mạnh”...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:41:16 pm »


Tại Hà Nội, theo Sainteny và Pignon thì thái độ của ông Hồ Chí Minh ngày càng dung hòa. Ngày 2/2, ông Hồ đến bệnh viện Lanessan (bệnh viện Việt Đức ngày nay) gặp những người Pháp bị thương và nói với họ những câu thăm hỏi ân cần1. Ngày 8, ông Hồ tiếp tướng Salan từ Trùng Khánh sang để cảm ơn ông về “cử chỉ lịch sự” qua việc ông đến thăm bệnh viện. Theo Salan, ông Hồ đã đáp lại:

“Tôi là một người bạn trung thành của nước Pháp. Đây là ngày Tết, và tôi rất vui mừng được nhân dịp này bày tỏ mối cảm kích của tôi với nước ông... Vả lại, ông hãy tin tôi, đại bộ phận những người dân Đông Dương không phải là những người bài Pháp. Nhưng đáng tiếc là những sự việc ở miền Nam và thái độ của các ông đối với chúng tôi ngày càng khơi lên một cái hố sâu giữa các ông với chúng tôi”.

Salan nói với ông rằng sẽ là điều vinh dự cho ông nếu ông để cho quân Pháp đổ bộ lên yên ổn rồi lập lại trật tự và an ninh ở đây. Ông Hồ trả lời:

“Tôi không thể làm như vậy mà không trở thành phản bội Tổ quốc tôi. Pháp là một dân tộc lớn. Chúng tôi yêu nước Pháp, nhưng chúng tôi không muốn sống nô lệ. Người ta nói với tôi về một nước Pháp mới, nước Pháp ấy hãy cho chúng tôi thấy sự đổi mới của nó. Chữ “độc lập” với tôi không quan trọng. Cái quan trọng là nội dung của nó. Chúng tôi muốn sống tự do. Dĩ nhiên chúng tôi muốn có nhiều cuộc trao đổi kinh tế, những quan hệ văn hóa rộng hơn, những cán bộ, kỹ thuật viên Pháp trong mọi lĩnh vực, nhưng chúng tôi muốn làm chủ nhà mình”.

Ông Hồ cho rằng bản tuyên bố ngày 24/3 đã bị “lạc hậu từ lâu rồi”, và ông trách rằng trong lúc điều đình về Việt Nam với Trung Quốc, nước Pháp không đề nghị “một điều gì thực chất” với chính phủ của ông cả, ông nói vậy.

Salan nói với ông rằng chắc chắn hai bên sẽ có thể thỏa thuận được với nhau nếu Chính phủ cách mạng Việt Nam không cản trở gì tới việc đổ bộ của quân Pháp, đã gần tới ngày. Bị tác động trông thấy trước cái tin này, ông Hồ nhắc lại rằng ông không muốn phản bội Tổ quốc ông, rằng ông sẽ không thể “ngăn cản được cuộc đổ bộ của quân Pháp”, nhưng mà “máu sẽ chảy và sẽ là điều bất hạnh. Tôi không muốn chuyện đó, nhưng rồi sẽ có những phụ nữ và trẻ con Pháp bị giết. Đáng tiếc, nhưng tôi sẽ không thể nào ngăn cản nổi. Đó sẽ là sự phản ứng của những con người không muốn bị xích xiềng trói buộc”...

Salan nói với ông về phe chống đối. “Đúng - ông Hồ đáp - và họ chê trách tôi yêu nước Pháp. Họ vẽ hình tôi lên báo chí của họ đang khoác vai một phụ nữ Pháp”.

Salan nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ làm tròn phận sự của mình theo quyết định của hội nghị Potsdam; ông Hồ đáp: “Tôi nghĩ thế, nhưng tôi giữ vững ý kiến rằng dù cả thế giới có chống lại chúng tôi đi nữa thì chúng tôi cũng không thể chấp nhận trở thành những người nô lệ. Pháp là đất nước của tự do. Nước Pháp mới hãy để cái tự do ấy lại cho chúng tôi!” (32)

Ngày 9, Salan báo cho Sainteny và Pignon biết về những cuộc điều đình ở Trùng Khánh và bảo họ khẩn trương tiến hành điều đình với ông Hồ Chí Minh. Ngày 10, ít hôm trước khi ông ta đi Sài Gòn, Salan tiếp Caput. Caput vừa gặp ông Hồ Chí Minh hôm trước. Ông Hồ rất lo lắng về cái tin quân Pháp sắp đổ bộ. Ông muốn tuyệt đối tránh mọi sự đụng độ với “quân đội của nước Pháp mới”. Ông yêu cầu chúng ta “thông cảm cho ông”. Nguyện vọng của ông là “cho phép đất nước ông, cho phép đàn ông và đàn bà toàn nước Việt Nam được sống như những người công dân tự do”. Caput yêu cầu Salan ủng hộ cái “nguyện vọng rất tự nhiên đó” và tác động với Sài Gòn, với những người có thẩm quyền. Ngày 10, Salan trở lại Sài Gòn.

Ngay từ ngày 11, trước mặt Leclerc, ông ta báo cáo lại với d’Argenlieu về tất cả các cuộc điều đình của ông tại Trùng Khánh, cuộc hội đàm với ông Hồ Chí Minh và những lời Caput đã nói với ông. D’Argenlieu nói: phải dùng ngoại giao với Trung Quốc, nhưng ông Hồ tuyệt đối phải hiểu rằng Pháp có nhiệm vụ phải trở lại Bắc Kỳ. Salan nhấn mạnh về trạng thái tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về sự ủng hộ gần như hoàn toàn của nhân dân Việt Nam đối với đường lối chính trị của ông, về việc ông Hồ chấp nhận cho quân đội chúng ta trở lại với điều kiện là “Pháp để cho nhân dân ông được tự do”. Và hôm sau, lúc từ biệt d’Argenlieu, Salan còn nhắc lại với d’Argenlieu lần nữa rằng, muốn đạt tới thành công, phải quyết định đi những bước mạo hiểm cả về ngoại giao cũng như chính trị (32).
_______________________________________
1. Trong một bài diễn văn đọc tại Huế ngày 4/2, ông Giáp có nói: “Hồ Chủ tịch được toàn dân hoàn toàn ủng hộ, nhưng nếu ngày mai Người điều đình với Pháp trên những nền tảng khác ngoài độc lập thì lập tức Người sẽ bị lật đổ ngay”. (Báo quyết chiến, Huế, 5/2/1946).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2009, 05:41:54 pm »


Phương hướng của D’Argenlieu


Trái với suy nghĩ của Salan, d’Argenlieu đã hành động một cách tích cực. Hôm sau, ngày 12, ông ta gửi cho Sainteny - ngày 6, Sainteny có hỏi d’Argenlieu cho biết ông ta được phép giải quyết công việc đến mức độ nào - những chỉ thị chỉ rõ phương hướng của ông:

“Sau khi xem xét những báo cáo mới nhất của Hà Nội và căn cứ vào những cuộc trao đổi ý kiến của tôi với tướng Salan, tôi thấy các dữ kiện của vấn đề chính trị ở Bắc Kỳ có ý nghĩa như sau: 

“1. Yếu tố Trung Quốc vẫn tiếp tục đè nặng lên việc giải quyết mối bất đồng giữa người Pháp và người Việt Nam của Việt Minh. Chúng ta biết rằng: tại trung ương cũng như ở vòng ngoại vi các nhà đương cục Trung Quốc mong rnuốn có một hiệp định Pháp - Việt trước khi họ rút quân. Họ sợ một đợt sóng đột khởi của cộng sản chạm vào khía cạnh xung yếu nhất trong đường lối chính trị hiện nay của Trùng Khánh. Vậy Hồ Chí Minh không phải là nhân vật mà họ ưa thích. Nhà đương cục Trung Quốc cũng lo ngại sẽ có thể có những sự trừng phạt trả đũa cửa các tầng lớp nhân dân bị áp bức năm tháng trời nay đối với những người thuộc quốc tịch Trung Quốc.

“2. Nhân vật ấy, tức ông Hồ Chí Minh - mặc dù gặp nhiều khó khăn trở ngại, đã ngày càng được khẳng định là một chính khách có đủ phẩm chất và vững vàng trước mắt các tầng lớp nhân dân Việt Nam, và những người Việt Minh ly khai. Nếu không có yếu tố Trung Quốc chen vào thì không còn nghi ngờ gì nữa: chính là phải điều đình với ông Hồ để đi đến một sự chấp nhận.

“3. Kết luận của tôi là phải đi theo phương hướng đó. Quả như vậy, về những sự phản đối thuộc phạm trù tư tưởng được nhắc lại trên đây, có thể trả lời Trung Quốc như sau: ...”.


Ở đây ông đô đốc gợi ý cụ thể: Chính các người duy trì liên hệ với nhân vật đó (ông Hồ Chí Minh - LND). Chúng tôi sẽ làm như các người. Trong chừng mực mà với tư cách là những người đồng minh tốt, các người tạo sự dễ dàng cho chúng tôi trở lại, thì cái lo ngại “cộng sản thâm nhập” của các người sẽ được giảm bớt đi thôi, vì rằng nước Pháp không muốn thấy mọc lên ở Bắc Kỳ một chính phủ mác-xít. Nguyện vọng của chúng tôi là duy trì lại trong Chính phủ Hà Nội những khuynh hướng khác không bị nghi là có ác tâm với Trung Quốc. Sau nữa, nếu các người đồng ý và không nhúng tay vào công việc nội bộ của chúng tôi, thì các người hãy nói những lời khuyên đứng đắn với kẻ thù của chúng ta...

“4. Cuối cùng, tôi gửi kèm theo đây hai tài liệu: tài liệu thứ nhất, dưới hình thức một giác thư, chỉ rõ ông có thể đi đến chừng mực nào trong việc tìm kiếm một hiệp định cơ bản với ông Hồ Chí Minh. Tài liệu thứ hai, mà ông sẽ đọc kỹ và giữ hoàn toàn bí mật, sẽ chỉ được trao cho người nhận nó sau khi đã cầm trong tay bức điện của tôi mang nội dung sau đây: “Yêu cầu trao thư cá nhân cho đương sự” (33).

Bức giác thư ngày 12/2 có nội dung như sau:

“I - Chính phủ Cộng hòa Pháp mong muốn có một sự thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam tại Hà Nội trên nền tảng dưới đây:

1. Chính phủ Hà Nội không muốn cắt đứt quan hệ với Pháp, cũng không muốn phủ nhận những quyền và lợi chính đáng của Pháp tại Đông Dương.

2. Chính phủ Cộng hòa về phía mình ghê tởm việc dùng thế mạnh quân sự của mình để bảo vệ những quyền và lợi cũng như sự an ninh của những người dân Pháp ở đây.

3. Chính phủ Cộng hòa mong muốn thỏa mãn những nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam và tuyên bố rằng Chính phủ Hà Nội và cái chính quyền mà nhân dân tuân phục đó phải được tự do và làm chủ trên đất nước mình.

4. Chính phủ đó tự nguyện kêu gọi tới nước Pháp và được nước Pháp giúp đỡ cho mình cố vấn và nhân viên kỹ thuật trên bình diện chính phủ cũng như trên bình diện quản lý. Pháp đề cử người và nhận sự đồng ý của Chính phủ Hà Nội.

5. Chính phủ Hà Nội tham gia cùng với Pháp vào công cuộc tổ chức của Liên bang về những vấn đề có liên quan đến quyền đại diện ngoại giao, tài chính, kinh tế, luật pháp lao động và an ninh của Đông Dương.

6. Chính phủ Hà Nội bảo đảm cho những người Pháp cư trú trên lãnh thổ mình được thực hiện một quyền tư pháp riêng.

“II - Nếu nước Pháp sẵn sàng đàm phán chính thức và ngay từ bây giờ với Chính phủ Việt Nam tại Hà Nội, Pháp sẽ không độc đoán xác định lập trường của mình trên nguyên tắc nước Việt Nam thống nhất cả ba kỳ về mặt lãnh thổ cũng như chính trị. Pháp sẽ nhân danh tự do dành cho Nam Kỳ cái quyền nói lên tiếng nói của mình lúc cần.

“Pháp càng không thừa nhận cho Chính phủ Hà Nội cái quyền được phát biểu ý kiến thay cho toàn thể Đông Dương.

“Việc dùng chữ “độc Lập” đã bị hạn chế, không phải vì nước Pháp tuyệt đối ghê tởm chữ đó, mà nó nghĩ rằng vấn đề tìm kiếm một từ ngữ thích hợp sẽ rất dễ dàng sau khi đã trình bày cụ thể như trên đây. “Làm chủ tại nhà mình, được tự do” là những từ ngữ không mang hai ý nghĩa, không thể hiểu lầm chút nao: “Độc lập, Self – government” nói lên rất cụ thể cái điều nó muốn nói. Những từ ấy không có từ tương hợp thật chính xác trong tiếng Pháp.

“Nếu chính phủ ghê tởm chuyện dùng vũ lực bảo vệ các quyền lợi của mình trên đất Đông Dương, điều ấy có nghĩa là chính phủ muốn làm tất cả để tránh dùng vũ lực, nhưng nó lại bị ràng buộc bởi những nhiệm vụ quốc tế phải thay chân quân đội Trung Quốc và đưa quân của nó vào Bắc Đông Dương như chính phủ Trung Quốc đã bị ràng buộc bởi các hiệp định Potsdam”


Ngay từ ngày 11, d’Argenlieu đã giải quyết xong những điều kiện cho Leclerc tạm giữ quyền Cao ủy thay ông ta. Leclerc sẽ phải theo dõi tiến trình cuộc đàm phán Sainteny - Hồ Chí Minh tại Hà Nội và báo cáo về Paris cho ông đô đốc. Do một trục trặc kỹ thuật, máy bay chở d’Argenlieu mãi đến tối ngày 17/2 mới về đến được Paris.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 10:19:46 pm »


-VI-
MỘT SỰ UỐN NẮN DIỆU KỲ: HIỆP ĐỊNH 6/3/1946
(14/2 - 18/3/1946)


Ông đô đốc vừa đi, Leclerc chủ động tiến hành ngay công việc. Trong buổi tối ngày 13/2, ông ta ăn cơm tối với Salan và nói với Salan rằng: căn cứ vào những tin tức nhận được từ Hà Nội, ông ta thấy cần phải ngay hôm sau nhắc nhở Paris về sự cần kíp phải có một quyết định chính trị. Ông ta gửi bức điện sau đây:

“Những tin tức cuối cùng nhận được từ Hà Nội khẳng định rằng người Việt Nam càng ngày càng sẵn sàng hoặc nhượng bộ nếu họ được thỏa mãn về chữ “độc lập” hoặc lại lao vào một cuộc chiến tranh kiểu như cuộc kháng chiến của Pháp vừa qua và có thể kéo dài nhiều năm, ngăn cản thực hiện các ý đồ chính trị và hành chính có giá trị và giảm mất uy tín của quân đội Pháp vừa mới được củng cố lại hôm nay. Tôi cho rằng đây là cơ hội tốt nhất để chúng ta ra một bản tuyên bố theo hướng đó. Quả như vậy, cách đây bốn tháng mà nhượng bộ đúng là một sự đầu hàng và một lời thú nhận bất lực. Nhưng giờ đây chúng ta đã củng cố lại chủ quyền và sức mạnh của Pháp, ổn định lại trật tự ở Nam Kỳ, Campuchia và một phần ở Lào và ở Trung Kỳ và chúng ta sắp sửa vào cửa ngõ Bắc Kỳ, tràn trề sức sống. Chúng ta có thể với tư thế hoàn toàn làm chủ và với một cái giá rẻ nhất nói chuyện với người Việt Nam và nhân nhượng nhau.

“Người Việt Nam chấp nhận dưới từ “độc lập” cái điều là chúng ta đề xuất dưới từ “autonomie” - tự trị. Quyền độc lập ấy sẽ được trao trả theo hạn trong nội bộ Liên hiệp Pháp và không phải chỉ cho Trung Kỳ, Bắc Kỳ mà cả Nam Kỳ, Lào và Campuchia. Tôi nghĩ rằng chỉ cần nêu từ ấy lên là cái phần lớn của vấn đề đã được giải quyết. Người Việt Nam sẽ cứu vãn được thể diện của mình mà uy tín và ảnh hưởng của chúng ta cũng chẳng bị giảm sút chút nào. Trên bình diện quốc tế, với sự thực hiện khẩn trương công việc bình định, chúng ta sẽ cung cấp một bằng chứng về lòng mong muốn tiến bộ của chúng ta trong lĩnh vực chính trị thuộc địa và tránh được khỏi phải trình bày vấn đề Đông Dương trước Đại Hội đồng Liêu Hiệp Quốc. Nếu người Việt Nam từ chối tức là lập trường quốc tế của chúng ta là không ai có thể chê trách được.

“Để kết luận, tôi cho rằng chính bây giờ đây, trước khi quân ta đổ bộ vào Bắc Kỳ, là thời điểm thuận lợi nhất cho sự ra đời của một bản Tuyên bố của chính phủ cụ thể và có nói đến từ “độc lập”
(1)

Ngay từ khi trở lại Hà Nội, ngày 14, Salan báo cho Sainteny biết sự việc. Trong lúc ông ta đi thông báo cho Lư Hán, ngày 16, rằng quân đội Pháp sẽ thực hiện cuộc đổ bộ vào đầu tháng 3, thì về phần mình Sainteny đến gặp ông Hồ Chí Minh, cũng vào ngày 16 và tiến hành cùng với ông Hồ một cuộc hội đàm quan trọng đến nỗi hôm sau ông ta phải đáp máy bay đi Sài Gòn. Leclerc nhận biết ngay là trong cuộc hội đàm này, Sainteny đã thực hiện được một điểm đột phá thật sự và ngay tối hôm đó điện sang Paris một bản điện “tối mật” cho đô đốc d’Argenlieu và tướng Juin như sau:

“Sainteny đã từ Hà Nội vào và trình bày vấn đề dưới đây: Ngày 16, ông ta đã gặp ông Hồ Chí Minh và tiến hành một cuộc hội đàm rất lâu và có tính chất quyết định; sau đó ông Hồ Chí Minh tuyên bố đồng ý điều đình theo những quy ước chính tiếp theo:

1. Chính phủ Pháp thừa nhận cho Việt Nam nguyên tắc một self government - chính phủ tự trị - nhưng đặt ra cho sự thừa nhận đó những điều kiện nêu lên sau đây: Việt Nam sẽ nằm trong Liên hiệp Pháp, sẽ tiếp nhận những cố vấn và nhân viên kỹ thuật Pháp, sẽ bảo đảm cho Pháp được duy trì và cả phát triển những lợi thế kinh tế của họ, sẽ chấp nhận một lập trường chung trên bình diện văn hóa, sẽ yêu cầu quân đội Pháp thay thế không chậm trễ quân đội Trung Quốc tại Bắc Kỳ.

2. Vậy ông Hồ Chí Minh yêu cầu được nhận một cách khẩn trương, qua trung gian ông Sainteny, một bức điện chứa đựng những điều cơ bản làm nền tảng cho bản hiệp định nói trên. Ông Hồ Chí Minh đã hứa sẽ chấp nhận ngay lập tức.

3. Saillteny cũng có báo cho tướng Lư Hán biết đặc biệt để chuẩn bị sẵn sàng và ủng hộ hành động của Pháp bù vào sự thừa nhận của chúng ta.

4. Ngoài bản tường trình đó ra, Sainteny nói rõ những điểm dưới đây:

    a) Ông Hồ Chí Minh thôi hẳn không dùng từ “độc lập” nữa.

    b) Từ Self - government đã được bản thân ông Hồ lựa chọn, theo đề nghị của Sainteny, hơn là từ ngữ “tự do chính phủ” và “tự do trong khối Liên hiệp Pháp”.

    c) Ông Hồ Chí Minh chấp nhận Việt Nam gia nhập Liên bang Đông Dương

    d) Ông Hồ Chí Minh dường như từ bỏ ý định về quyền đại diện tại Liên Hiệp Quốc.

    e) Sainteny đã đặt ra nguyên tắc: Nam Kỳ sẽ tự mình quyết định lấy lập trường của mình trong tương lai.

5. Ông Hồ Chí Minh mong muốn Pháp ra ngay bản tuyên bố để cho phép ông trả lời nhanh chóng. Nếu không, ông sợ sẽ bị tràn ngập vì bao nhiêu chuyện, nào phe đối lập trong nước, nào hoạt động của Trung Quốc.

6. Tôi hoàn toàn nhất trí với Sainteny và Longeaux, mà nhận xét rằng việc cơ bản hàng đầu là phải có ngay một bản tuyên bố của Paris. Thực vậy, lời tuyên bố ấy của ông Hồ Chí Minh củng cố thêm cái cảm tưởng của chúng ta rằng về phía Chính phủ Pháp đã đến lúc nên đưa ra những đề nghị cụ thể bí mật; càng nên làm ngay vì có một cái lợi đáng kể là không cần phải nhắc tới từ “độc lập” nữa. Tất cả chúng ta hãy cầu mong chính phủ không bỏ lỡ một cơ hội như vậy. Nhận được thư phúc đáp của Ngài, tôi sẽ gửi người đưa tin sang, mang đầy đủ mọi tin tức, chỉ dẫn và chi tiết bổ sung. Ngoài ra, tôi xin báo cáo Ngài biết rằng ông Hồ Chí Minh, lần đầu tiên mong muốn cuộc hội dàm giữa ông với Sainteny được giữ bí mật. Trong trường hợp này, cần phải có những biện pháp thích hợp.

7. Tôi xin nhắc lại rằng điều cơ yếu số một giờ đây là phải gửi ngay những đề nghị bí mật của Chính phủ Pháp sang, nếu không thời cơ có thể mất đi.

8. Yêu cầu chuyển ngay tức khắc cho người nhận, dù là ban đêm. Gửi biên lai tiếp nhận.
(2)

Ký tên: LECLERC”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 10:21:01 pm »


Paris chuẩn y


Ngày 20, tại lâu đài Matignon, Hội đồng Liên bộ về Đông Dương họp. Chương trình nghị sự đã được điều chỉnh, thêm vào một mục mới là nghiên cứu trả lời của Cao ủy nhân danh Chính phủ Pháp về một hiệp định “với Chính phủ Việt Nam tại Hà Nội”.

Trong trích yếu của bản nghị quyết đó, người ta đọc thấy như sau:

“1. Ủy ban duyệt y dự thảo bức điện của Cao ủy gửi cho ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội.

“2. Ủy ban đồng ý với bản dự thảo bức điện trong đó Vụ ngoại giao quy định những điểm cuối cùng liên quan đến hiệp định Pháp - Trung.

“3. Ủy ban đồng ý với Cao ủy về chương trình đưa quân đội Pháp vào thay thế quân đội Trung Quốc... (3)

Trong bức diện gửi Sainteny, d’Argenlieu nêu rõ:

* Phần thứ nhất

“Qua cuộc hội đàm của ông ngày 16/2 với Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể rút ra nhận định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẵn sàng ký kết trên những cơ sở sau đây:

Thứ nhất: Chính phủ Cộng hòa Pháp thừa nhận cho Việt Nam có quyền thành lập một chính phủ tự trị (Self - Government) trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.

Thứ hai: Đáp ứng nguyện vọng của Chính phủ Việt Nam đã được trình bày với Pháp, nước Pháp sẽ cung cấp những cố vấn và nhân viên mỹ thuật cần thiết cho Việt Nam trên bình diện chính phủ cũng như trên bình diện hành chính.

Thứ ba: Nước Việt Nam bảo đảm với nước Pháp quyền được duy trì và phát triển nếu có thể những ưu thế thuộc lĩnh vực kinh tế mà Pháp đã tạo dựng được trên đất nước Việt Nam.

Thứ tư: Việt Nam cũng sẽ có một lập trường tương tự về lĩnh vục văn hóa.

Thứ năm: Nam Kỳ sẽ được tự do tự mình định đoạt lấy chỗ đứng tương lai của nó đối với Việt Nam.

Thứ sáu.: Chính phủ Hà Nội tuyên bố sẵn sàng tiếp đón một cách hữu nghị quân đội Pháp khi nó đến thay chân cho quân đội Trung Quốc, theo đúng các thỏa thuận quốc tế.

“Được sự ủy nhiệm của Chính phủ Cộng hòa, ông Cao ủy Pháp tại Đông Dương sẵn sàng đứng tên mình ký kết một ban hiệp định trên những cơ sở đó; theo văn bản của hiệp định này, Chính phủ Hà Nội sẽ hết sức giúp đỡ quân đội Pháp về vấn đề ăn ở và dùng uy tín của mình để ngăn chặn những chuyện bất trắc có thể xảy ra.

Hiệp định này sẽ có hiệu lực tức thời. Thể thức của nó là những nguyên tắc cơ bản của một hiệp ước mới sẽ được hai bên cộng tác thảo ra.

Tôi yêu cầu ông đề nghị với Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định với ông bằng văn bản viết, sự chấp thuận của mình. Nếu mọi sự đều ổn thỏa, thì văn bản bức điện trên đây và lời chấp thuận của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể công bố cùng một lúc vào một ngày sẽ quy định cho ông gần đây.


* Phần thứ hai (dành riêng cho Sainteny)

“Vì cũng quan tâm như ông cho việc đàm phán đi đến kết quả không chậm trễ nữa, cho nên tôi chỉ nhắc lại trong bức điện của tôi, không bổ sung điều gì cụ thể, những điều khoản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thỏa thuận. Tuy nhiên, tôi lưu ý ông về mấy điểm dưới đây:

Thứ nhất: Việc sát nhập Việt Nam vào Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chấp thuận, đặc biệt có bao hàm cái ý nghĩa là nước Pháp sẽ đại diện cho Việt Nam tại nước ngoài và chịu trách nhiệm bảo vệ cho quyền lợi Pháp và nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Vả lại tôi cũng đã có ý định đề nghị với Chính phủ Pháp cử vào một số phái đoàn ngoại giao Pháp tại Viễn Đông những đại diện của Đông Dương có nhiệm vụ cộng tác tại chỗ để giải quyết những vấn đề liên quan đến Đông Dương.

Thứ hai: Nếu nước Pháp chấp nhận ký kết chính thức với Hà Nội, nó sẽ không vì thế mà tự ý xác định lập trường của mình theo nguyên tắc Việt Nam thống nhất cả ba kỳ lại thành một đơn vị lãnh thổ và chính trị duy nhất. Cái điều kiện cụ thể đặt ra trong phần đầu bức điện liên quan đến vấn đề Nam Kỳ không bao hàm ý nghĩa rằng chúng ta dứt khoát thừa nhận sự hợp nhất Trung Kỳ với Bắc Kỳ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ thừa nhận là trái với nguyên tắc dân chủ nếu chấp thuận một giải pháp về điểm này mà không để cho nhân dân miền đó (Nam Kỳ) được bày tỏ ý kiến nguyện vọng của mình một cách hoàn toàn tự do và hoàn toàn độc lập
(4).

Ký tên: D’ARGENLIEU”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 10:21:36 pm »


Ở đó - người ta lại nói đến Bảo Đại


Cùng lúc với bức điện ấy gửi Sainteny ở Hà Nội, d’Argenlieu điện cho Leclerc rằng “mọi cuộc tiếp xúc tại đây và những thông tin nhận được từ Trùng Khánh và Hà Nội đã tạo ra một không khí thuận lợi, cho nên Chính phủ đã thông qua “chương trình H” (tức cuộc đổ bộ lên Bắc Kỳ). Vì vậy “ông có thể chuyển qua khâu thi hành” (5). Leclerc nhận bức điện ngày 22. Lập tức Leclerc ra những mệnh lệnh cần thiết và viết cho Sainteny:

“Ông sẽ đọc được trong thư này văn bản bức điện nhận được từ Paris (hình như đài Reuter đã nói đến bức điện này, theo lối ngoại giao nơi công cộng!) Vậy tôi hy vọng rằng ông sẽ có đủ mọi yếu tố để yêu cầu ông Hồ Chí Minh viết cho một văn bản chấp thuận.

“Những điều kiện cuối cùng đã được ghi vào phần điện văn gửi riêng cho ông, theo tôi, không nên nêu lên, sợ làm hỏng kết quả bao nhiêu công sức của chúng ta.

“Ngoài ra tôi đã nhận được sự đồng ý của Paris để đưa quân đội chúng ta sang Bắc Kỳ vào ngày J như đã quy định; điều đó càng có tác dụng khẳng định những suy nghĩ của tôi. Quả thực là cùng với việc ngưng chiến, cần phải làm cho chữ ký của ông Hồ Chí Minh được mọi người đánh giá như một thắng lợi của nước Pháp. Để đạt được điều này, chỉ có một biện pháp: phải được đặt lại vị trí cũ của nó ở Bắc Kỳ những lá cờ của Pháp, các nhà chức trách của Pháp và quân đội Pháp. Vậy là ông còn phải nghiên cứu cùng với tướng Salan, ông Hồ Chí Minh và “sau cùng” là những người Trung Quốc, những biện pháp cần thực hiện để tránh mọi bất trắc. Vấn đề chính là làm sao không có quân đội Việt Minh trên con đường chúng ta từ Hải Phòng đến Hà Nội và giữa hai thành phố đó. Hãy yêu cầu họ tập lại trong các doanh trại hoặc bên ngoài các con đường chúng ta sẽ đi.

“Ông Hồ Chí Minh cần ra lệnh cho những toán quân nào của ông còn đang hoạt động chống lại chúng ta hãy ngừng bắn. Như vậy sẽ cho phép chúng ta xúc tiến cuộc đàm phán một cách tích cực hơn, theo ý tôi thì buộc họ phải tập trung quân đội Việt Nam lại là một công việc khó khăn phức tạp. Nhưng một sự phiên chế lại thì rất nên, bằng cách làm cho họ thấy khả năng một mặt là được quân đội Pháp tiếp tế cho nếu được và mặt khác để sau này gia nhập vào quân đội Liên bang. Dĩ nhiên hãy hứa sẽ thực hiện mọi cuộc ân xá tùy ý ông muốn, trừ những ca đặc biệt...

“Còn người Trung Quốc thì sao? Ông sẽ hỏi tôi như vậy. Tôi hy vọng rằng ông đã ít nhiều vận động thuyết phục Lư Hán rồi. Dù cuộc đàm phán ở trong tình trạng nào đi nữa thì tôi vẫn ra đúng hạn đã dự tính trước.

“Tôi định trước hết là đến Hải Phòng. Hãy cho tôi biết, để đánh dấu sự kiện mới, có nên đến thẳng Hà Nội?...”
(6)

Trong lúc này tại Hà Nội, cái tin có cuộc hội đàm Hồ Chí Minh - Sainteny đã lọt ra ngoài. Trước hết là ông Hồ Chí Minh đã vấp phải một sự phản ứng mãnh liệt trong nội bộ Tổng Bộ Việt Minh (Ban chấp hành Việt Minh); đối với Việt Minh thì đàm phán với Pháp có nghĩa là đầu hàng. Ngoài ra, các phe phái đối lập hoành hành. VNQDĐ và bạn hữu của họ tiến công mãnh liệt cái “Chính phủ của những tên phản bội” nhằm đòi hỏi một chính phủ liên hiệp và kháng chiến mà đứng đầu là Vĩnh Thụy (Bảo Đại). Họ triệu tập một cuộc biểu tình lớn ngày 19/2 nhằm đòi cho Bảo Đại lên cầm quyền.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 10:27:18 pm »


Một cuộc mặc cả khó khăn


Chỉ có hai sự kiện xảy ra. Một mặt, Sainteny đã thông báo cho ông Hồ biết Paris đã chấp nhận và tướng Leclerc mong ước được thấy quân đội Pháp được tiếp đón tại Hà Nội bởi một Chính phủ Việt Nam Liên hiệp đại diện mọi khuynh hướng chính trị trong nước và, nếu có thể, sẵn sàng thực hiện và tôn trọng những điều đã cam kết. Mặt khác, Bộ tham mưu Trung Quốc đòi hỏi phải thành lập ngay trong một thời hạn tối thiểu chính phủ Liên hiệp của Việt Nam, trong đó những đảng phái thân Trung Quốc sẽ có một ảnh hưởng quyết định. Ông Hồ đã thấy đó là một cơ hội tốt nếu không phải để kết hợp họ vào những quyết định sắp sửa xảy ra thì ít nhất cũng là để bắt họ hứng lấy trách nhiệm. Ngày 24/2, giữa những nghi thức long trọng, thỏa hiệp đã được ký kết giữa Việt Minh, đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng và Đồng Minh Hội. Việc thành lập Chính phủ “chính thức” Liên hiệp và Kháng chiến đã được quyết định và các đảng chia nhau các bộ. Quốc hội được triệu tập họp ngày 3/3: Tân chính phủ sẽ ra mắt Quốc hội. Ngày 25/2, ông Hồ thông báo cho Sainteny biết quyết định trên và ngày 26 công bố một bản thông cáo về cuộc gặp gỡ giữa hai bên, nói cho công chúng biết rằng:

…

“Hồ Chủ tịch đã nhắc lại rằng lập trường của Việt Nam là “độc lập và hợp tác” và Ngài Sainteny đã cho biết là nước Pháp đồng ý thừa nhận cái quyền của Việt Nam có một chính phủ, một quốc hội, một quân đội và một nền tài chính riêng trong lòng của Liên hiệp Pháp. Hai bên đối thoại đã trao đổi quan điểm về vấn đề đại diện của Việt Nam ở nước ngoài. Hai bên nhất trí thừa nhận sự cần thiết phải tạo ra một không khí hòa hoãn và hòa hợp thuận lợi cho việc mở những cuộc điều đình có khả năng đi đến kết quả. Điều kiện thứ hai cho việc điều đình mở đầu là thực hiện ngay tức thời cuộc ngưng chiến trên mọi mặt trận” (8 )

Trên thực tế, ông Hồ Chí Minh, giờ đây đang củng cố về mặt nội vụ và yên tâm về sự giúp đỡ của Trung Quốc, bắt đầu tiến hành cùng với Sainteny một cuộc “mặc cả” hết sức gay go.

Cùng lúc này, một bộ phận khác của cánh tay sắt đang đối lập Pháp với Trung Quốc. Hiệp ước Pháp - Trung sắp sửa đạt kết quả tại Trùng Khánh. Tuy vậy, Paris có chỉ rõ rằng điều được thỏa thuận giờ đây về vấn đề lãnh ngoại, về con đường sắt Vân Nam, về quy chế người Hoa ở Đông Dương, quyền quá cảnh Bắc Kỳ v.v... đã bị cắt lại khi Trùng Khánh chấp nhận hiệp ước về việc quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Quốc tại Bắc Đông Dương. Vì khó khăn vẫn còn và tình thế ngày càng cấp bách, Leclerc đã phái đi Trùng Khánh, ngày 22/2, một trong những cộng tác viên thân tín nhất của mình là đại tá Repiton - Preneuf nhằm xúc tiến công việc.

Ngày 27/2 vào buổi chiều, đô đốc d’Argenlieu trở lại Sài Gòn. Leclerc khẳng định với d’Argenlieu rằng chiến dịch H (Bến Tre) đã được phát động: hạm đội đã bắt đầu đi ra Bắc với các lực lượng đổ bộ gồm: tập đoàn quân Massu của 2e DB và 9e DIC của tướng Valluy. Nó sẽ đến ngoài khơi Hải Phòng vào lúc rạng ngày 5/3 (9).

Chẳng bao lâu người ta được tin là hiệp ước Trung - Pháp đã được ký kết ngày 28/2 tại Trùng Khánh (10). Vậy là cái thời điểm quyết định đang đến gần. Hiệp ước có ghi là việc thay thế quân đội Trung Quốc bằng quân đội Pháp sẽ diễn ra giữa ngày 1 và 15/3 và phải hoàn tất chậm nhất là ngày 31/3. Một thỏa thuận tham mưu sẽ quy định thể thức của việc thay quân.

Tại Hà Nội, Sainteny giờ dây ngày ngày tiếp tục hội đàm với ông Hồ Chí Minh. Cuộc hội đàm tỏ ra khó khăn. Ông Hồ từ chối không chấp nhận việc quân đội Pháp đến Hà Nội, cuộc thay quân Pháp vào quân Trung Quốc mà không có giới hạn thời gian. Ông khẳng định Nam Bộ là của Việt Nam, là bộ phận máu thịt của Việt Nam. Các đảng phái Việt Nam đều nhất trí về điểm này và người ta không thể chấp nhận bất cứ một điều gì hàm ý tách rời miền Nam. Từng giờ từng ngày qua đi mà không sao thực hiện được hiệp định, một hiệp định mà vì những lý do khác nhau cả Pháp lẫn Trung Quốc đều tha thiết trông chờ.

Trên bình diện chính sách nội trị, ông Hồ Chí Minh đã thành công trong cuộc vận động của mình. Ngày 2/3, Chính phủ Liên hiệp và Kháng chiến được thành lập và ra mắt Quốc hội; Quốc hội đã chuẩn y. Ông Hồ Chí Minh vẫn giữ chức Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần phó Chủ tịch, nhưng Vũ Hồng Khanh, lãnh tụ VNQDĐ trở thành đặc phái viên Hội đồng Bộ trưởng. Chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lọt khỏi tay ông Hồ đã vào tay một đảng viên VNQDĐ, Nguyễn Tường Tam (tức nhà văn Nhất Linh - LND). Còn Bộ Quốc phòng được trao vào tay một người “không đảng phái”, Phan Anh, thực tế rất gần gũi với Việt Minh. Vĩnh Thụy (Bảo Đại) vẫn là “Cố vấn tối cao”.

Hà Nội vẫn căng thẳng. Người ta biết cuộc đàm phán với Pháp đã đi đến một vấn đề mấu chốt, nhưng kẻ thì mong một tạm ước, người thì tính đến một cuộc kháng chiến không nhân nhượng. Tiếng đồn một cuộc đổ bộ của quân Pháp đang sắp sửa xảy ra và cần phải chuẩn bị đối phó. Nhưng người ta hỏi nhau: thái độ người Trung Quốc sẽ như thế nào? Một bộ phận có uy tín trong Bộ Tham mưu Trung Quốc tại Hà Nội khuyến khích kháng chiến, triệt để ủng hộ phe quốc gia đối lập đang tố cáo sự mềm yếu của Việt Minh.

Trong lúc này, những cuộc tiếp xúc ngoại giao và quân sự được tăng cường một cách sôi động giữa Trung Quốc và Pháp. Phía người Pháp, tất cả đều đã được chuẩn bị đầy đủ trước cho cuộc đổ bộ ngày 5/3 tại Hải Phòng và Hòn Gai trên Vịnh Hạ Long. Nhưng trước ngày đó, Bộ Tham mưu Trung Quốc phải trao cho các chỉ huy quân địa phương những mệnh lệnh cần thiết để cuộc thay quân được diễn biến một cách hòa bình và để tổ chức cuộc “chung sống” của hai quân đội. Leclerc đã đến trên một chiếc tuần dương hạm ngoài khơi Hải Phòng, thì có tin ngày 4/3, các chỉ huy quân Trung Quốc tại các địa phương vẫn chưa nhận được mệnh lệnh gì cho nên họ sẽ chống cự lại cuộc đổ bộ đã dự kiến. Về phía Trung Quốc, ở cấp cao nhất, người ta viện lý không thể nào để cho quân Pháp đổ bộ vào được khi họ chưa có một hiệp nghị với Chính phủ Việt Nam. Mà ông Hồ Chí Minh vẫn chống lại sự thúc ép của Sainteny.

Trong khi tướng Salan, chỉ huy lực lượng quân sự Pháp tại Bắc Đông Dương, nhấn mạnh nhằm mục đích cho các tướng tá Trung Quốc hiểu về trách nhiệm mà họ sẽ phải chịu trong cuộc xung đột có thể xảy ra trong phút giây giữa Pháp và Trung Quốc nếu bằng cách này hoặc cách khác họ không chịu ra các mệnh lệnh thích đáng và đã được thỏa mãn chiều ngày 4/3 (11). Đại tá Lecomte, trong Ban tham mưu Leclerc, phải đến Hải Phòng để giải quyết với Bộ chỉ huy Trung Quốc vấn đề thể thức của việc đổ bộ, bỗng nhận được tin, trưa ngày 5/3, quân đội Trung Quốc đã thay đổi ý kiến. Ông ta vội biên cho Sainteny bức thư dưới đây:

“Sau hiệp định mà khó khăn lắm chúng ta mới đạt được đêm nay, quân Trung Quốc vừa mới rút lui ý kiến của họ. Họ vừa nhận được một bức điện của Trùng Khánh khiến họ không chấp nhận cuộc đổ bộ vào ngày 6/3.

“Nguồn gốc sự thay đối thái độ này là Trung Quốc sợ xảy ra cuộc chiến tranh giữa chúng ta với Việt Nam
1.

“Vì chúng ta hiện nay đứng về phía vật chất mà nói không còn có thể nào thay đổi kế hoạch được nữa, chúng ta có nguy cơ sẽ vấp phải những chuyện đổ máu với quân Trung Quốc và những hậu quả quốc tế mà sự kiện đó đưa lại.

“Hy vọng duy nhất mà chúng ta có được để thay đổi thái độ của Trung Quốc là thông báo cho họ biết việc ký kết một hiệp nghị giữa chúng ta với Chính phủ Việt Nam.

“Trước tình hình nghiêm trọng và quy mô rộng lớn của cuộc xung đột có thể xảy ra, tôi khẩn khoản yêu cầu ông, nhân danh tướng Leclerc là người đã ủy quyền cho tôi nói lại điều này với ông, là ông hãy làm bất cứ cái gì thuộc thẩm quyền mình để nhanh chóng đi tới một hiệp định dù có phải đề xuất những ý kiến mà sau này người ta sẽ phủ nhận...
(12)

Sainteny nhận được mấy dòng trên đây vào lúc ông ta sửa soạn thảo luận những điều khoản cuối cùng của hiệp định với ông Hồ Chí Minh. Một văn bản coi như khả dĩ chấp nhận cho cả hai phía, đã hình thành trên thực tế. Nó được chuyển bằng điện cho đô đốc d’Argenlieu; d’Argenlieu đồng ý (13).

Trong dêm mồng 5 rạng ngày mồng 6, Bộ Tham mưu Trung Quốc lo sợ trước cuộc đổ bộ của quân đội Pháp và những đụng độ có thể xảy ra do cuộc đổ bộ ấy, bèn làm áp lực mạnh mẽ với ông Hồ Chí Minh để đi đến một hiệp định ngay tức khắc với Pháp (14). Ông Hồ trả lời rằng ông đang chuẩn bị ký kết trên cơ sở những điều mà ông đã gửi văn bản cho Trung Quốc và tin chắc nội ngày mai tất cả sẽ được thông qua.

Nhưng để tránh một cuộc đụng chạm giữa quân Pháp và Trung Quốc thì đã quá muộn rồi. Vừa đến ngoài khơi Hải Phòng, sáng mồng 6 tháng 3, hạm đội Pháp vấp phải lưới lửa của các đơn vị Trung Quốc. Nó bắn trả, gây cho quân Trung Quốc những thiệt hại vật chất khá nặng nề. Cuối cùng có lệnh ngừng bắn. Nhưng điều quan trọng nằm ở chỗ khác.
________________________________________
1. Thực ra, phía Trung Quốc sợ rằng sau hiệp định Pháp - Trung, người Việt Nam sẽ nổi lên chống những người hoa kiều trong khắp cả nước. Họ yêu cầu Pháp bảo đảm sẽ giữ trật tự, nhưng vì không tin ở sự bảo đảm ấy, họ bèn yêu cầu có một hiệp định Pháp - Việt bảo vệ cho quyền lực của chính phủ Hà Nội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 10:29:11 pm »


Hiệp định sơ bộ


Chiều ngày 6/3, trước mặt các đại diện của các nước Trung Quốc, Anh và Mỹ, Sainteny ký với ông Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh bản “Hiệp định sơ bộ” sau đây:

“Giữa hai bên ký kết ở cấp cao ghi rõ sau đây: - Chính phủ nước Cộng hòa Pháp, mà đại diện là ông Sainteny, phái viên của Cao ủy Pháp, được đô đốc d’Argenlieu, Cao ủy Pháp và là người được trao quyền hành của nước Cộng hòa Pháp, chính thức ủy nhiệm, một bên;

Và Chính phủ Việt Nam, mà đại diện là Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc phái viên của Hội đồng Bộ trưởng Vũ Hồng Khanh, một bên.


Đã thoả thuận với nhau những điều dưới đây:

“1. Chính phủ Pháp thừa nhận nước Cộng hòa Việt Nam là một Quốc gia tự do có chính phủ riêng, quốc hội riêng, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.

Về vấn đề thống nhất ba kỳ, Chính phủ Pháp cam kết công nhận chính thức quyết định của nhân dân qua cuộc trưng cầu dân ý.

“2. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tiếp đón thân mật quân đội Pháp khi nó đến thay thế quân đội Trung Quốc theo đúng các hiệp định quốc tế.

Một thỏa thuận phụ kèm theo hiệp định này sẽ quy định những thể thức của cuộc thay quân.

“3. Những điều khoản trên đây sẽ có hiệu lực ngay tức khắc. Ngay sau khi trao đổi chữ ký, mỗi bên ký kết ở cấp cao sẽ thi hành mọi biện pháp cần thiết để đình chỉ ngay mọi hoạt động thù địch, giữ nguyên các đội quân của mình bên nào tại vị trí bên ấy và tạo ra một không khí thuận lợi cần thiết cho việc mở kịp thời những cuộc đàm phán thân thiện và thẳng thắn.

“Những cuộc đàm phán này sẽ bàn chủ yếu về mối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các quốc gia ngoài, về quy chế tương lai của Đông Dương, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp tại Việt Nam.

“Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris có thể chọn làm nơi họp.


   
Làm tại Hà Nội, ngày 6/3/1946.
   Ký tên:
SAINTENY
   HỒ CHÍ MINH, VŨ HỒNG KHANH”.


Bản thỏa thuận phụ, ký cùng một lúc, ghi rõ:

“Giữa hai bên ký kết ở cấp cao đã chỉ rõ trong Hiệp định sơ bộ, đã thỏa thuận với nhau những điều sau đây:

1. Lực lượng thay quân sẽ gồm có:

    a) 10.000 quân Việt Nam với cán bộ chỉ huy Việt Nam của họ, trực thuộc các cơ quan quân sự Việt Nam.

    b) 15.000 quân Pháp, trong đó kể cả những lực lượng Pháp hiện đang ở trên lãnh thổ Việt Nam phía Bắc vĩ tuyến 16. Những yếu tố này chỉ được bao gồm những người Pháp gốc Pháp chính quốc, trừ những đội quân có trách nhiệm canh giữ tù binh Nhật Bản.

“Toàn bộ các lực lượng đó sẽ đặt dưới quyền chỉ huy tối cao của Pháp, có trợ lý Việt Nam. Việc vận động, lưu trú và sử dụng các lực lượng ấy sẽ được xác định trong một cuộc Hội nghị của đại diện tham mưu Pháp và Việt Nam, sẽ tiến hành ngay sau khi quân đội Pháp đổ bộ lên.

2. Những người Pháp của lực lượng thay quân sẽ được phân làm ba hạng:

    a) Những đơn vị chịu trách nhiệm canh giữ tù binh chiến tranh Nhật. Các đơn vị này sẽ được hồi hương ngay khi nhiệm vụ của họ không còn đối tượng nữa vì tù binh Nhật đã được chuyến đi hết và trong mọi trường hợp, chậm nhất là 10 tháng.

    b) Những đơn vị có trách nhiệm, cộng tác với quân đội Việt Nam, giữ gìn trật tự công cộng và an ninh của lãnh thổ Việt Nam; những đơn vị này sẽ được quân đội Việt Nam thay thế mỗi năm 1/5 trong vòng 5 năm.

    c) Những đơn vị có trách nhiệm bảo vệ các căn cứ Việt Nam thì ở trại. Họ sẽ được giao trách nhiệm đóng tại những vùng này hay vùng kia được quy định chi tiết.

3. Chính phủ Pháp cam đoan sẽ không dùng tù binh Nhật vào các mục đích quân sự


   
Làm tại Hà Nội, ngày 6/3/1946.
   Ký tên: SAINTENY, SALAN, VÕ NGUYÊN GIÁP

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 10:31:23 pm »


“Chúng ta đã chọn con đường thương lượng”


Khi ở Hà Nội người ta biết về chuyện ký hiệp định, dân chúng sửng sốt, nhưng phe đối lập tức gào lên, tố cáo Việt Minh phản bội. Họ bảo: Sau khi đã thành lập một “Chính phủ kháng chiến”, Việt Minh nộp đất nước cho kẻ địch không chiến đấu. Họ động viên. Nhưng ngay hôm sau, 7/3, trong một cuộc mít tinh lớn, các ông Giáp, Vũ Hồng Khanh và ông Hồ Chí Minh đứng lên bảo vệ, giải thích và chứng minh cho quyết định của họ.

Ông Giáp đã tuyên bố chủ yếu như sau:

“... Dù chúng ta có muốn hay không muốn, vẫn phải đi đến chỗ chấm dứt mọi hành động chiến tranh...

“Trong bản hiệp định này, có những điều khoản thỏa mãn chúng ta và những điều khoản khác không thỏa mãn. Những điều khoản thỏa mãn chúng ta tuy chưa làm chúng ta thật sự phấn khởi là nước Pháp thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do. Tự do không phải là tự trị, mà hơn tự trị, nhưng chưa phải là độc lập. Một khi đạt được tự do rồi, chúng ta sẽ đi đến độc lập, đến hoàn toàn độc lập (Vỗ tay nhiệt liệt).

Nước Pháp muốn giữ lại Nam Bộ, nhưng Chính phủ đã tuyên bố sắt đá: nếu người ta chia cắt Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ thì chúng tôi quyết chiến đấu đến cùng... Kết quả cuộc trưng cầu dân ý sẽ như thế nào, chúng ta biết trước. Hỏi có người dân Việt Nam nào mà không mong muốn Trung Bộ, Nam Bộ và Bắc Bộ là một nước duy nhất (Vỗ tay như sấm).

Vì sao Chính phủ đã cho phép quân đội Pháp vào? Trước hết là vì không cho phép họ cũng vẫn cứ vào. Trung Quốc đã ký với Pháp một hiệp ước cho phép quân đội Pháp vào thay thế cho quân đội Trung Quốc. Hơn nữa, Pháp cũng đã nhân nhượng chúng ta nhiều điểm. Vì vậy mà chúng ta đã cho phép quân Pháp vào. Bằng không thì không thể có được hiệp định...

“Những người không thỏa mãn chỉ hiểu độc lập hoàn toàn như một khẩu hiệu, một nhật lệnh, trên giấy tờ hoặc ngoài cửa miệng. Họ không thấy rằng độc lập của đất nước là kết quả những điều kiện khách quan và trong cuộc chiến đấu giành độc lập của chúng ta, phải biết cương, nhu tùy lúc
1…”

Sau đó, ông Giáp phân tích những lý do vì sao “chúng ta không chọn cuộc kháng chiến lâu dài”... và ngay một cuộc kháng chiến “vài ba tháng cũng không”.

“Chúng ta đã chọn con đường thương lượng nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn, nhằm có thể đợi chờ cơ hội đi đến một nền độc lập nguyên vẹn.

“Các cuộc hội đàm đã dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh và tránh được một sự đổ máu. Nhưng chúng ta đã đàm phán chủ yếu nhằm bảo vệ và củng cố lập trường chính trị quân sự và kinh tế của chúng ta. Nước ta là một nước tự do và tất cả mọi quyền tự do đều trong tay chúng ta. Chúng ta có đủ quyền lực và đủ thời gian để tổ chức công cuộc nội trị của chúng ta, để tăng cường các phương tiện quân sự của chúng ta, để phát triển nền kinh tế của chúng ta và nâng cao mức sống của nhân dân. Chẳng bao lâu, ba kỳ sẽ thống nhất. Gạo Nam Kỳ sẽ ra tận Bắc Kỳ, cái ám ảnh của nạn đói sẽ tiêu tan.

“Xem lịch sử thế giới, người ta thấy có nhiều nước gặp tình thế bất lợi đã biết khắc phục được khó khăn vì biết chờ đợi một cơ hội thuận lợi hơn cho sự tiến bộ của mình. Nước Nga chẳng hạn năm 1918 đã ký hiệp ước Brest - Litovsh nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của quân Đức, để nhờ có thời gian hòa hoãn mà có thể củng cố quân đội và quyền lực chính trị của mình. Chẳng phải nhờ hiệp ước ấy mà nước Nga đã trở thành một nước rất mạnh sao?

“Tư tưởng chỉ đạo, mục đích của Chính phủ là hòa bình vì tiến bộ. Con đường mở ra với hiệp định chính là con đường dẫn chúng ta đến độc lập trong một ngày gần đây, thật sự và hoàn toàn. Đó là mục đích của chúng ta”
(16).

Vũ Hồng Khanh đại khái cũng chỉ nói lại điều ông Giáp vừa nói:

“Mục đích cuối cùng của chúng ta là độc lập hoàn toàn. Mục đích đó, chúng ta không thể chỉ bằng một bước mà đạt được”.

Chính là ông Hồ Chí Minh đã giải bày vấn đề bằng những lập luận vừa lý trí vừa tình cảm:

“Chúng ta trên thực tế đã độc lập từ tháng 8/1945, nhưng cho đến nay chưa có cường quốc nào công nhận nền độc lập của chúng ta. Bản hiệp định ký với nước Pháp này mở đường cho sự công nhận của quốc tế. Bản hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao. Quân đội Pháp sẽ đến, theo lệnh của các nước Đồng minh. Họ chỉ có 15.000 người và chỉ ở lại trên thế giới và trong năm năm nữa, họ sẽ rút khỏi nước ta. Chọn thương lượng thay vì đánh nhau chính là bằng chứng hiểu biết về chính trị. Thực vậy, vì sao lại đi hy sinh 50 hoặc 100 ngàn người trong khi chúng ta có khả năng bằng con đường thương lượng mà đi đến độc lập có thể trong năm năm?

“Đồng bào hãy giữ thái độ ôn hòa và tinh thần kỷ luật. Đừng có thất vọng. Nhưng chúng ta phải cảnh giác và sẵn sàng. Vả lại chúng ta có bạn có bè. Chúng ta biết có thể tin tưởng vào tình hữu nghị của nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc với ta như môi với răng. Và nhất là chúng ta có một chính phủ được toàn dân ủng hộ.

“Tôi, Hồ Chí Minh, tôi vẫn luôn luôn dẫn dắt đồng bào đi trên con đường của Tự do, tôi đã một đời đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc chúng ta. Đồng bào biết rằng tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước. Tôi thề với đồng bào rằng tôi đã không phản bội đồng bào!”
(17).

Nói xong, ông đã thắng cuộc.

Cùng ngày hôm ấy, 7/3, ông Hồ Chí Minh thông qua Tổng Bộ một “bài học” mới thể hiện qua một “chỉ thị về quan hệ với Pháp” sẽ được truyền thanh đi cho toàn Mặt trận Việt Minh. Trong văn bản, Tổng Bộ khẳng định rằng: Trước mắt, cần phải chấm dứt sự thù địch có hệ thống đối với Pháp. “Cuộc đấu tranh của dân tộc chúng ta hiện nay đi đôi với cuộc đấu tranh của dân tộc Pháp, cũng như trước đây nó phải đi đôi với cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc”. Bởi vì nước Việt Nam quá yếu không thể một mình mà tự khẳng định mình được. Tuy nhiên sự quá độ cũng đòi hỏi phải có những cách đối xử khéo léo. Chỉ thị nói thêm: “phải tránh khiêu khích chủ nghĩa quân phiệt của người Trung Quốc, nó sẽ gây nhiều khó khăn cho nước Cộng hòa chúng ta”.

Để hòa hiếu với người Pháp, Tổng Bộ Việt Minh phân biệt người Pháp ra từng hạng và nêu cao cảnh giác:

“Kẻ thù chính của chúng ta là phe “phản động” của Pháp... Phải lôi kéo quần chúng đấu tranh bằng biểu tình, tổng bãi công mỗi khi có những hành vi bất hợp pháp của phe phản động Pháp..., vô hiệu hóa tất cả các tổ chức thực dân, thanh toán những người Việt Nam phản bội làm tay sai cho họ..., hợp tác không hạn chế với những người Pháp thực tình dân chủ..., tuân thủ đúng các điều khoản của Hiệp định sơ bộ và trước mắt, tuy rằng chúng ta có thảo ra một kế hoạch chiến lược tổng quát, phải cố gắng thực hiện được càng nhiều càng hay một mặt trận dân chủ Pháp - Việt”... (18 )

Như vậy rõ ràng tại Việt Nam hiệp định ký kết với nước Pháp là sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, sự nghiệp cá nhân mà chưa được người ta hiểu đúng, nhất là ở các cán bộ trung cấp và hạ cấp của Việt Minh; và cũng là một sự nghiệp ít được nhân dân biết đến, được chấp nhận (mặc dù ai ai cũng đều thấy mỏi mệt) chỉ vì nhân dân tin tưởng vào Hồ Chủ tịch và chỉ trong chừng mực mà hiệp định rõ ràng không phải là một điều lừa bịp.

Vậy Việt Minh chỉ đi một cách dè dặt vào con dường do ông Hồ Chí Minh vạch ra. Về phần phe đối lập, khuynh hữu, họ nhìn sang phía khác. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam (VNQDĐ) đã thu xếp để khỏi phải đến ký vào hiệp định 6/3, tuyên bố hôm 12/3 rằng: “Trung Quốc và Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ cho hòa bình ở Viễn Đông......Trong lúc chờ đợi nước Pháp và nước Việt Nam lập lại được một nền hòa bình vững chắc, nước Mỹ phải giúp đỡ chúng ta về mọi phương diện hoàn toàn như Trung Quốc” (19).

Do Tam gợi ý, Chính phủ Trung Quốc cử ngay sang Trùng Khánh, bên cạnh Tưởng Giới Thạch, một phái đoàn hữu nghị gồm đại biểu các đảng chính. Mục đích phái đoàn là giải thích cho Quốc dân Đảng Trung Quốc rõ vì sao Việt Nam có thái độ như vậy và xác định với họ về lòng trung thành của Việt Nam với tình hữu nghị Trung - Việt. Theo yêu cầu của Nguyễn Tường Tam, ông Hồ đề nghị Vĩnh Thụy (Bảo Đại), ngày 16/3, đi theo phái đoàn “những người độc lập”, Bảo Đại chấp nhận. Ngày 18/3, ông ta cùng với các (đồng sự) rời Hà Nội đi Trung Quốc trên một chiếc máy bay Mỹ. VNQDĐ đang hướng về Bảo Đại, tuy nhiên vẫn nuôi hy vọng rằng tình thế chuyển biến sẽ cho phép họ, trong một tương lai rất gần, sẽ lật đổ Chính phủ Việt Minh và thay thế Việt Minh đứng đầu cả nước.
______________________________________
1. Những dấu gạch chân dưới một số câu, dòng là của tác giả muốn nhấn mạnh - LND.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 10:34:17 pm »


Quân Pháp trở lại


Tuy vậy, cuối cùng thì các Bộ Tham mưu của Pháp, Trung Quốc và Việt Nam đã ký thỏa hiệp với nhau và ngay ngày 8/3, các đơn vị Pháp đổ bộ lên Hải Phòng và Hòn Gai. Ngày hôm đó, ông Giáp gặp Leclerc tại Hải Phòng. Leclerc nhấn mạnh rằng quân của ông ta đến thay thế quân Trung Quốc nhưng trong việc thay quân này quân đội Việt Nam được mời tham gia vào. Các cách thức thực hiện chung những nhiệm vụ đầu tiên chắc chắn sẽ quan hệ đến cả tương lai. Lecierc sau cùng có nói với ông Giáp: “Ngài hãy nói với nhân dân Việt Nam rằng họ có thể tin tưởng ở tôi. Nhưng tôi là người Pháp và trong sự tôn trọng nguyện vọng của nhân dân các ngài, tôi sẽ hành động với tư cách là người Pháp, trước tiên là người Pháp” (20).

Chỉ đến ngày 15/3, sau hơn một tuần lễ điều đình kiên nhẫn, Bộ Tham mưu Trung Quốc và nhất là tướng Lư Hán mới đồng ý để cho Leclerc và quân dội của ông lên Hà Nội.

Một đạo quân mạnh 1.000 người và 200 xe, từ tờ mờ sáng ngày 18 xuất phát từ Hải Phòng, lên đường đi về phía Tây. 11 giờ thì đến cầu Doumer (Long Biên), trước cửa ngõ của Hà Nội. Khoảng 15 giờ, Leclerc sẽ có thể, dưới một ánh nắng tưng bừng và giữa đám đông người Pháp phấn khởi, thực hiện cuộc vào thành phố của mình. Ngay phút tiếp xúc đầu ông ta cố làm cho ông Hồ Chí Minh yên tâm tin tưởng: “Thưa Ngài Chủ tịch, vậy là bây giờ chúng ta thỏa thuận với nhau rồi chứ?”1.

Ngày hôm sau, Leclerc ở trong thành để duyệt những cựu binh lính Pháp ở Đông Dương được vũ trang lại và đầy niềm tự hào. “Việc vây thành vậy là xong” - ông ta nói. Nhưng điều lo lắng của ông bây giờ là cấp tốc liên kết người Pháp lại với người Việt Nam xung quanh những giá trị chung. Cũng như ông đã cho gắn lên tất cả xe cộ của ông cả hai lá cờ Pháp và Việt Nam, ông cũng đề nghị cho đội quân bảo vệ ngôi biệt thự ông ở gồm 15 người Pháp và 15 người Việt Nam. Và ngày 22, cùng với ông Giáp, ông đặt vòng hoa trước đài kỷ niệm của những người Pháp đã chết, rồi trước đài kỷ niệm của những người Việt đã chết, trước khi vẫn cùng với ông Giáp duyệt đội quân Pháp và Việt Nam trong lúc dân chúng vỗ tay, xen kẽ và một cách khác nhau tùy chỗ đám người vỗ tay là da vàng hay da trắng.

Vài ngày sau, 27/3, trong một báo cáo gửi cho Chính phủ mà ông nghĩ là không nắm được những thông tin chính xác, Leclerc phân tích, biện hộ cho chính sách của mình. Ông ta viết chủ yếu như sau:

…

“Để có thể trở lại được Bắc Kỳ, điều cần thiết không thể thiếu là được thấy có một Chính phủ Việt Nam, dù là không hoàn hảo chút nào, yên vị tại Hà Nội và chưa từng ở chiến khu du kích.

“Thực tình là, mặc dù đã có hiệp ước Trùng Khánh, chúng ta vẫn cầm chắc là trong trường hợp có xung đột quân sự nghiêm trọng với người Việt Nam, thì quân Trung Quốc sẽ lập tức khai thác tình thế khó khăn đó của chúng ta để ngăn cản chúng ta chiếm lại Bắc Kỳ...

“Lúc ấy, nếu chúng ta gặp, ngoài người Trung Quốc, ZAø cả một nước nổi lên chống lại chúng ta hoặc chỉ trong tình trạng lộn xộn mà thôi, thì dĩ nhiên chúng ta vẫn có thể đổ bộ lên Hải Phòng, nhưng - tôi khẳng định một cách dứt thoát như vậy - việc tái chiếm Bắc Kỳ sẽ hoàn toàn là không thể thực hiện được. Không phải với một sư đoàn nho nhỏ - và vào năm 1946 - mà người ta chinh phục được cả một nước đang sôi sục đấu tranh, được vũ trang và rộng lớn bằng 2/3 nước Pháp. Ngoài ra, vấn đề chỉ trong nháy mắt là có thể trở thành quy mô quốc tế. Cho nên người ta sẽ không bao giờ nhấn mạnh quá mức tầm quan trọng của những hiệp định vừa được ký kết.

“Tôi càng mạnh dạn khẳng định vấn đề này, bởi chính tôi đã trình bày cho ông Sainteny và tướng Salan sự cấp thiết bắt buộc phải giới thiệu cho tôi một Chính phủ Việt Nam cái ngày mà quân ta sẽ đổ bộ. Ngược lại, tôi hoàn toàn không tham gia gì vào việc soạn thảo các hiệp định đó.

“Nhưng tôi không ngần ngại khẳng định rằng: dù cho những hiệp định đó mang những sai sót nào đi chăng nữa thì việc ký kết, trong điều kiện của nó lúc ấy, đã thực sự là một thành tựu khôn khéo của nghị lực. Riêng cái nhân cách của ông Sainteny mà tôi không quen lắm và cũng chẳng có quan hệ gì đặc biệt, được sự trợ lực của tướng Salan, đã cho phép ông ta “đánh lừa” được đối thủ và ký kết một cách có lợi. Bây giờ thì họ biết rất rõ điều đó rồi. Nhờ những hiệp định đó mà bất chấp sự phản kháng quyết liệt của Trung Quốc, chúng ta đã trở lại được Hà Nội mà không một tiếng súng nổ...

“Trong lúc Trung Quốc không che giấu nỗi bực mình của họ và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì bận giải bày với cấp dưới của mình về chuyện bị “lừa phỉnh”, Chính phủ Pháp phải đo được những khó khăn của cái công việc đã hoàn thành.

“Giờ đây, khi chúng ta đang chiếm đóng một cách vững vàng, tuy chưa hoàn thiện, cả xứ Nam Kỳ, Campuchia, miền Nam Trung Bộ Việt Nam, một phần lớn nước Lào và vài ba căn cứ vững chắc tại Bắc Kỳ, chúng ta được phép khẳng định rằng chúng ta đã thắng khâu đầu. Còn khâu thứ hai, trước hết là trên cơ sở chính trị và đàm phán...

“Nhưng một lần nữa - tôi vẫn cứ nhấn mạnh đến điểm này - nếu nước Pháp thật sự muốn giải phóng Bắc Kỳ khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc và đích thân mình trở lại đó, mà những bản hiệp định 6/3 không được ký kết, thì nhiệm vụ ấy cũng không thể hoàn thành. Chúng ta đổ bộ lên, nhưng chúng ta chắc chắn phải đụng chạm với Trung Quốc - có nghĩa là sẽ gặp những khó khăn quốc tế - và trước mặt chúng ta là cả một đất nước nổi loạn còn gay go ác liệt hơn cả Nam Kỳ.

“Đây chính là cái lý do đã thúc đẩy tôi, hôm 14/2 phải điện về cho Paris rằng chúng ta cần đi cho đến cùng, ngay cả đến chữ “độc lập” may ra mới mong tránh khỏi được một sự thất bại quá nặng nề...
(21)

   
Tư lệnh quân đoàn LECLERC
   Chỉ huy tối cao quân đội Pháp tại Viễn Đông

___________________________________
1. Ông Hồ Chí Minh sẽ tự nói với mình “rất hài lòng về những cuộc tiếp xúc của ông với tướng Leclerc”: “Ông ta là một con người thẳng thắn, trung thực, thật thà, “un chic type” - một con người tử tế - như các ông nói trong ngôn ngữ Pháp. Chính với những người như thế mà người ta thường mong muốn được bàn bạc”. (Ông Hồ Chí Minh trả lời ông P.M. Dessinges, phóng viên đặc nhiệm báo Paris-Sài Gòn, số 11 ngày 3/4/1946, trang 6)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM