Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:55:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66699 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:35:20 pm »


Hồ Chí Minh lên đường đi Paris và tuyên bố của Sài Gòn


Ngay ngày hôm sau cuộc Hội nghị Đà Lạt, d’Argenlieu đi Lào (chúc mừng Nhà Vua ở Luang Prabang vừa mới được giải phóng) rồi bay qua Hà Nội, ở đây ông được đón tiếp nồng nhiệt trong hai ngày 18 và 19 tháng năm (46). Mọi cái đều cho phép người ta nghĩ rằng hai ông Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Tường Tam đã báo cáo kỹ về Hội nghị Đà Lạt và kết luận của hai ông là cần đề cao cảnh giác vì người Pháp không hề nhân nhượng chút nào và ý đồ của họ chẳng có gì là minh bạch. Phái đoàn Quốc hội đã rời Paris ngày 16/5, vừa trở về lúc đó, lòng phấn khởi vì đã được tiếp đón tử tế (47). Phái đoàn này nghĩ rằng những triển vọng chính trị ở Pháp có phần thuận lợi cho Việt Nam.

Ông đô đốc cố thuyết phục ông Hồ Chí Minh không nên đi Pháp trước ngày 01/6 như đã thỏa thuận trước: Do gần sát ngày Tổng tuyển cử rồi cho nên nước Pháp có thể không có Chính phủ. Nhấn mạnh về sự “bỉ ổi” của những hành vi khủng bố tại Nam Kỳ, ông ta báo cho ông Hồ biết rằng trong những điều kiện như vậy, ông Hồ không thể từ chối người Nam Kỳ muốn có một Chính phủ tự trị của mình; sau đó ông ta viện dẫn “Lời Thề Lớn” của Ban Mê Thuột để đặt trở lại vấn đề Tây Nguyên (các Cao nguyên Mọi, trong nguyên văn - LND) “Đó là vấn đề các dân tộc thiểu số, một vấn đề rất nghiêm trọng - ông Hồ đáp. Chúng ta sẽ thảo luận vấn đề này tại Paris”.

Từ đây, xác định được về ý đồ của ông Hồ cũng như công việc mà phái đoàn Nam Kỳ làm tại Paris (phái đoàn này đã tìm cách gặp được Gouin, Varenne, v.v...) (48 ), ông đô đốc thấy thời cơ đã đến và trong khi Pariss đang hầu như bị tê liệt mọi cảm giác, ông ta để yên cho cái tiến trình đã dự tính, cái màn kịch đã sắp đặt trước được nổ bùng ra.

Ông chủ tịch Hội đồng Tư vấn, Luật sư Béziat, một người Pháp, gửi cho Cao ủy Pháp hôm 25/5, một bức thư chính thức xin thành lập một chính phủ lâm thời của nước Cộng hòa Nam Kỳ. Ngày 27, ông đô đốc1 trả lời Béziat: “chấp nhận” thỉnh cầu, nhưng vẫn nhấn mạnh đến tính chất tạm thời của chính phủ đó, cũng nói rõ thêm rằng vì Nam Kỳ là một mảnh đất của “di sản Quốc gia Pháp”, cho nên một cuộc bỏ phiếu của Quốc hội Pháp sẽ cần thiết để phê chuẩn quyết định này.

Và thế là ngày 01 tháng 6 năm 1946, nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ tuyên bố ra đời và một Chính phủ lâm thời do Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng và Đại tá Xuân làm Phó Thủ tướng được thành lập.

Cùng ngày hôm ấy, ông đô đốc quyết định thông báo cho ông Hồ Chí Minh, đang trên đường đi Paris biết bằng một bức điện ông ta gửi Đại sứ Pháp tại Le Caire (Ai Cập). Nhưng, theo lệnh của Bộ Ngoại giao, bức điện ấy sẽ không giao cho người nhận (ông Hồ Chí Minh), mà người nhận sẽ được thông báo qua đài phát thanh và qua các bạn cùng đi của ông là tướng Salan và Jean D’Arcy, Chánh văn phòng của E. Michelet, Bộ trưởng quân đội. Còn ông Hồ Chí Minh thì lúc rời Hà Nội ngày 31 tháng 5, đã gửi cho ông đô đốc bức điện như sau:

“Trước lúc tôi lên đường đi Paris, tôi xin chân thành cảm ơn Ngài về tất cả những gì Ngài đã làm cho chuyến đi của tôi và những lời Ngài đã chúc mừng tôi trong thư trước. Tôi hy vọng và tin chắc rằng những cuộc đàm phán ở Paris sẽ có thể dẫn đến một sự hợp tác nghiêm túc và vững bền giữa hai nước chúng ta” (49).

Một bức điện của Moutet ngày 5/6 làm cho ông đô đốc yên tâm:

“1. Ủy ban Liên bộ (Cominindo) họp hôm 4/6 duyệt y các quyết định của Ngài về chính sách đối với Nam Kỳ. Ủy ban tích cực mong muốn một chính phủ Nam Kỳ tự trị được thành lập nhằm bảo vệ những lợi ích của nhân dân Nam Kỳ; nhưng chính phủ ấy cần thiết phải gồm những yếu tố rất tiêu biểu của các tầng lớp nhân dân và từ các tầng lớp nhân dân ấy mà ra. Nó không được, trong bất cứ trường hợp nào, xuất hiện như một sản phẩm của các nhà chức trách Pháp nặn ra và như một chiếc bình phong của họ. Tôi lưu ý Ngài về nhiệm vụ giao cho các nhà chức trách Pháp là phải luôn luôn thi hành một sự trung lập tuyệt đối trong cuộc tranh luận đang ngăn cách Chính phủ Hà Nội và Chính phủ Nam Kỳ, để chúng ta khỏi bị lên án là vi phạm lời văn và tinh thần của các hiệp định mồng 6 tháng 3; những hiệp định này đã ghi rõ trên giấy trắng mực đen sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề ba kỳ. Việc bầu cử tự do và chân thành sẽ càng được bảo đảm khi mà Chính phủ Nam Kỳ càng có uy tín nhiều hơn trong tư cách là người đại diện của nhân dân và an ninh trật tự xã hội được lập lại một cách toàn vẹn.

“2. Trong trường hợp xuất hiện những phản ứng tại Hà Nội thì người đại diện nước Pháp sẽ lưu ý Chính phủ Việt Nam rằng tình hình thực tế ở Nam Kỳ không có ảnh hưởng gì đáng ngại đến giải pháp cuối cùng cả. Rằng ngoài ra, chính những hành động khủng bố và sự tuyên truyền quốc gia chủ nghĩa là nguyên nhân gây ra sự phản ứng này của dân chúng Nam Kỳ; dân chúng Nam Kỳ sẽ tự mình định đoạt lấy số phận của mình”
(50).

Trong lúc nước Pháp tiến hành bầu cử (và những cuộc bỏ phiếu ngày 2/6 đánh dấu một sự tiến bộ của MRP (Phong trào Cộng hòa bình dân) và một sự thụt lùi của Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản), Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam lên đường đi Paris. Sau khi đỗ lại Le Caire và Tripoli, họ được phép hạ cánh ở Biskra tại Algérie. Nhưng phải quyết định về những chặng đường tiếp theo. Đúng thế, Paris đề nghị trong lúc chờ đợi thành lập chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bạn đồng hành của Người sẽ lưu lại ở một địa điểm nào đó trên đất Pháp: người ta đề nghị Cannes và ông Hồ đã chấp nhận ngay; nhưng cuối cùng, một cách khá đột ngột, máy bay của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn của Người lại hạ cánh xuống Biarritz ngày 12/6. Lưu trú tại khách sạn Carlton, họ sẽ phải ở lại đó gần hai tuần lễ, đi tham quan một vài nơi (Gavarnie, Lourdes, v. v… ) và tiếp xúc với các thị trấn và với nhân dân.

Đô đốc d’Argenlieu cũng trở về Pháp dự buổi khai mạc Hội nghị Pháp - Việt. Rời Sài Gòn ngày 13/6, ông ta đến sân bay Orly ngày 14 lúc 17h (một thời gian kỷ lục!). Ngày 16 ông ở Bayeux, nghe tướng De Gaulle nói chuyện, rồi được De Gaulle tiếp lần cuối cùng, ngày 20, tại Colombey-lesdeux-Eglises...

Ngày 19/6, Quốc hội lập hiến chỉ định một Thủ tướng mới của Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp: Georges Bidault, lãnh tụ của phong trào Cộng hòa bình dân.
______________________________________
1. Ngày 27/5, D’Argenlieu vừa ký một quyết định thiết lập chức vụ “Ủy viên phụ trách các dân tộc miền Núi Việt Nam (PMSI)”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:23:20 pm »


-VIII-
FONTAINEBLEAU HAY LÀ CUỘC TRƯỜNG KỲ THƯƠNG LƯỢNG
(22/6 - 19/9/1946)


Georges Bidault, ngày 19/6/1946, được bầu làm thủ tướng chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp; ngày 24, đã chọn các bộ trưởng của mình. Từ đây Paris đã có thể bắt đầu cuộc đàm phán đã dự định trước với Việt Nam và Hồ Chí Minh sắp sửa được rời Biarritz để đến Paris. Ông hạ cánh ở sân bay Bourget chiều hôm 22 tháng 6.

Vừa đặt chân tới thủ đô nước Pháp, ông nắm được những tin tức dồn dập: từ ngày 21, trong một chiến dịch “chớp nhoáng”, quân đội Pháp theo lệnh của đô đốc d’Argenlieu và tướng Leclerc đã chiếm đóng cả vùng cao nguyên Nam Việt Nam (gọi là “Cao nguyên Mọi”) và đặc biệt là Pleiku và Kontum. Rồi ngày 23, tại Hà Nội, quân Pháp đã chiếm đóng phủ Toàn quyền mà cách đây chưa bao lâu viên tổng chỉ huy quân đội Trung Quốc vừa rút khỏi. Hai “sự việc đã rồi” không mang tính chất gây không khí thuận lợi cho cuộc đàm phán chút nào, nhưng lại được đô đốc d’Argenlieu sắp sửa “bào chữa” cho trong một bức công hàm dài dòng gửi Georges Bildault (1)...

Nhưng vấn đề bây giờ đây là “nắm lấy vấn đề Việt Nam trong toàn bộ của nó” và tìm cách giải quyết. Cuộc hội nghị Việt - Pháp sẽ diễn ra không phải ở Paris như Hà Nội đề nghị, cũng không phải ở Compiègne (nơi đây gợi lại những vấn đề chua chát) mà là ở Fontainebleau, cách Paris khá xa để lẩn tránh những áp lực của dư luận báo chí và của những giới khác mà Sài Gòn, các cơ quan dân sự và bạn bè của họ hết sức kinh sợ. Phái đoàn Pháp được chỉ định nhanh chóng (cũng giống như phái đoàn tại hội nghị Đà Lạt) và các chỉ thị được giao cho nó ngày 29/6. Phái đoàn vẫn sẽ do Max André, cố vấn thành phố Paris, chỉ đạo. Tiếp đó, bắt đầu “cuộc đi thăm chính thức” của Hồ Chí Minh (ngày 2, 3 và 4 tháng 7). Thăm thủ tướng chính phủ, dự chiêu đãi trọng thể, đặt vòng hoa trước tượng đài Người Lính Vô Danh tại Khải Hoàn Môn; rồi thăm các nơi khác như Cung điện Versailles, Đồi Valérien1, Tòa đô sảnh, đi xem hát tại nhà hát Opéra, v.v... và những bài diễn văn nồng nàn. Cũng có ít nhiều thoải mái.






Một sự mở đầu khó khăn


Sau một sự chuẩn bị kéo dài như vậy, ngày 6/7 hội nghị Fontainebleau khai mạc. Bắt đầu đã có vẻ trục trặc rồi. Quả nhiên sau lời chào mừng của Max André, Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn Việt Nam đã đáp lại bằng một bài diễn văn hùng hồn, dùng những từ ngữ mãnh liệt để lên án chính sách “việc đã rồi” của đô đốc d’Argenlieu, đặc biệt là việc tuyên bố thành lập chính phủ Nam Kỳ và việc chiếm đóng vùng Tây Nguyên mới đây.

Tuy nhiên ông vẫn khẳng định ý chí quyết tâm của Việt Nam sẽ đi đến.

“Một thỏa hiệp vĩnh viễn với nước Pháp; bao nhiêu sợi dây đang buộc chặt nước Pháp lại với chúng tôi trong tình đoàn kết và chúng tôi đang mong muốn giữ vị trí của chúng tôi bên cạnh nước Pháp trong đại gia đình các nước dân chủ và tự do”.

“Mặc dù liên tục có những điều làm trái lẽ mà chính sách Việt - pháp thân thiện của chúng tôi phải chịu đựng từ ngày 6/3 đến nay, chúng tôi vẫn tin chắc rằng chính sách ấy của chúng tôi là đúng, rằng chỉ duy nhất nó mới có khả năng thỏa mãn những nguyện vọng sâu sắc của dân tộc Việt Nam hướng về độc lập mà vẫn song song củng cố trên những nền tảng mới, những lợi ích và uy tín của nước Pháp tại Viễn Đông. Chính là trên tinh thần ấy mà chúng tôi đi vào Hội nghị với ý đạt cho kỳ được mục đích đề ra...

“Nhưng trên hết, chúng tôi quyết chí phản đối đến cùng, với tất cả sức mạnh của một dân tộc 20 triệu người đứng lên trong một hành động tự vệ cuối cùng, chống lại sự chia cắt đất nước chúng tôi, chống lại sự thành lập một quốc gia tự do Nam Kỳ”
(2).

Những lời phản ứng của d’Argenlieu2 trước những lời chỉ trích đối với bản thân và chính sách của ông ta sẽ không ngăn cản cuộc hội nghị nhanh chóng chuyển sang phần công việc. Bất kể cái không khí lạnh lẽo tạo nên do bài diễn văn của Phạm Văn Đồng, cuộc hội nghị cứ khởi hành. Chương trình nghị sự của hội nghị đã được thông qua ngay từ ngày 9/7. Nó bao gồm 5 điểm:

1. Sự gia nhập của Việt Nam vào khối Liên hiệp Pháp và những mối quan hệ ngoại giao của nó với nước ngoài.

2. Dự thảo thành lập Liên bang Đông Dương.

3. Vấn đề thống nhất 3 kỳ và trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ.

4. Những vấn đề kinh tế.

5. Soạn thảo dự án hiệp ước.

Công việc tiến hành ngay và ngay từ lúc bắt đầu, hai phái đoàn lại đứng trước những mâu thuẫn đã đối lập họ tại Đà Lạt.
______________________________________
1. Tại đây trong thời gian Paris bị chiếm đóng (Chiến tranh thế giới thứ 2), phát xít Đức đã bắn trên 4500 người Pháp - (1944) - LND.
2. Trong bức thư 24/Cab, ngày 7/7, ông đô đốc nhấn mạnh là chẳng cần phải nể nang gì những con người đó, cũng đừng để họ “lên giọng”... “Cho phép tôi lần nữa khẳng định rằng quyền lực của chúng ta đã được lập lại ở Đông Dương... vững vàng đến mức ta có thể tùy ý đồ của chúng ta mà làm cho chính sách tự do và sáng suốt của Chính phủ Cộng hòa chúng ta thắng thế tại Đông Dương”.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:24:22 pm »


Hai quan niệm


Bức công hàm cơ bản của phái đoàn Pháp trao cho phái đoàn Việt Nam ngày 11/7 trình bày những quan niệm của nó về vị trí của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp (3). Bức công hàm viết: “Liên hiệp Pháp không phải là một sự hết hợp quyền lợi đơn thuần. Nó cần phải có một lý tưởng chung, lý tưởng dân chủ và xã hội, là di sản quý báu của hai dân tộc chúng ta”.

Nhưng, từ đó, người ta đã suy diễn ra: “với việc kết hợp làm một cả tiềm năng quân sự và kinh tế của chúng ta lại”. Vậy quốc phòng và ngoại giao chỉ có thể “thực hiện thông qua những cơ quan có thẩm quyền của Liên hiệp Pháp, mỗi một thành viên của LHP có khả năng trong nội bộ khối Liên hiệp này, nói lên tiếng nói của mình...”

Luận điểm của Pháp về nội dung chẳng qua cũng vẫn là một văn bản của cái luận điểm “đồng hóa chủ nghĩa” ngày xưa. Nó chỉ quan niệm sự biến chuyển trong một hệ thống duy nhất, trong đó sự kết hợp thực ra mang tính chất của một “hợp đồng gia nhập” (tức là gia nhập bắt buộc), với những sự nhấn mạnh về khía cạnh thể chế của các mối quan hệ giữa hai dân tộc mà thôi. Max André nói thêrn, ngày 17/7: “Quan niệm của chúng tôi về khối Liên hiệp Pháp không phải là quan niệm về một đồng minh mà là quan niệm về những quốc gia đoàn kết chặt chẽ với nhau bởi những cơ quan chung” (trong đó dĩ nhiên các cơ quan của Pháp chiếm ưu thế).

Trái lại, quan niệm của phái đoàn Việt Nam căn cứ trên ý niệm đồng minh, hòa hợp quyền lợi, quan hệ song phương giữa các quốc gia độc lập. Công hàm của phái đoàn Việt Nam trao cho phái đoàn Pháp ngày 12/7 là một bằng chứng: (4)

“Những mối quan hệ giữa nước Pháp và nước Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp là những quan hệ hợp đồng được xác định qua con đường hiệp ước. Những quan hệ ấy được thiết lập trên những nền tảng sau đây:

a. Tự do gia nhập

b. Quy chế bình đẳng

c. Đoàn kết bảo vệ quyền lợi chung”.


Vậy là phái đoàn Việt Nam chấp nhận nguyên tắc về một Đại hội của Liên hiệp Pháp, về những cuộc hội nghị thường kỳ giữa các người lãnh đạo và về những quyền đại diện ngoại giao (thuộc quyền các bộ ngoại giao các nước).

Hồ Chí Minh bổ sung thêm vào bản danh mục này trong kỳ họp báo ngày 12/7 như sau:

“Trên phương diện chính trị, những mối quan hệ giữa nước Pháp và nước Việt Nam phải xuất phát từ một hiệp ước. Hiệp ước này phải dựa trên nguyên tắc cơ bản cái quyền của mỗi dân tộc được tự mình quyết định lấy số phận của mình. Trên-phương diện kinh tế và văn hóa chúng tôi tán thành hợp tác với nước Pháp trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Bất cứ lúc nào mà quyền lợi chung được đề cập tới thì lúc đó sẽ có sự đoàn kết, liên hệ với nhau.

“Sự tồn tại của Liên bang Đông Dương được xác nhận bởi sự cần thiết phải phối hợp các hoạt động của Việt Nam, Lào và Campuchia. Căn bản nó phải mang nội dung kinh tế. Về phần mình, nước Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi hơn hai nước láng giềng, sẵn sàng giúp đỡ họ nếu họ yêu cầu. Nhưng Việt Nam kiên quyết ngăn chặn không cho Liên bang trở thành một thứ Chính phủ Toàn quyền giả hiệu.

 
Còn về những lợi ích của Pháp ở Việt Nam, Hồ Chí Minh nói rõ rằng: Những lợi ích đó sẽ được bảo đảm hẳn hoi.

“Nước Việt Nam sẵn sàng bảo đảm an toàn cho các số vốn của Pháp đầu tư vào trong lãnh thổ của mình. Mặt khác, người Pháp vẫn có thể tiếp tục xây dựng đủ mọi loại xí nghiệp. Quyền tự do của họ cũng sẽ phải tuân thủ những hạn chế như quyền tự do của người Việt Nam, đặc biệt là một khi liên quan đến những công nghiệp then chốt mà việc quốc hữu hóa là bắt buộc. Chúng tôi sẽ ưu tiên kêu gọi sự giúp đỡ của các kỹ thuật viên Pháp hơn kỹ thuật viên mọi nước thác. Đối với những công chức người Pháp hiện còn đang ở lại Việt Nam thì, hoặc họ sẽ được sử dụng để làm việc trong các công sở của chúng tôi, hoặc nếu không còn khả năng làm việc nữa thì họ sẽ được trợ cấp...

“Tôi tin tưởng ở sự thành công cuối cùng của cuộc hội nghị Việt - Pháp. Cả hai dân tộc chúng ta đang kêu gọi chúng ta nêu lên một tấm gương đẹp nhất cho thế giới noi theo”
(5)

Các tiểu ban, họp từ ngày 13 đến 30/7, chỉ còn có thể lặp lại hầu như nguyên văn những cuộc tranh luận tại Đà Lạt. Quan điểm mỗi bên chỉ tiến triển một cách ít ỏi.

Phái đoàn Việt Nam nhấn mạnh rằng Liên bang Đông Dương sẽ chẳng bao giờ là một quốc gia. Cho nên họ từ chối không chấp nhận cho một luật lệ Liên bang có thể vượt lên trên luật lệ của các quốc gia dân tộc. Liên bang chỉ nên có một vai trò riêng của nó là quản lý và liên kết kinh tế, nhưng trong số rất nhiều quyền hạn mà phái đoàn Pháp muốn khoác vào cho Liên bang Đông Dương, phía Việt Nam chỉ chấp thuận có hai: Viện Phát hành và Sở Hối đoái. Họ cũng không chấp nhận cho những thu nhập thuế quan nhập vào quỹ Liên bang. Họ bảo: Liên bang sẽ sống nhờ vào sự đóng góp tài chính của các nước thành viên của Liên bang. Tuy vậy, họ vẫn khẳng định điều thỏa thuận ở Đà Lạt về nguyên tắc thống nhất thuế quan, về thống nhất tiền tệ.

Về vấn đề quân đội và ngoại giao, họ cũng phản đối tương tự. Phái đoàn Việt Nam dứt khoát bác bỏ nguyên tắc một bộ chỉ huy duy nhất trong thời bình và mọi ý đồ “tập thể hóa” tiềm năng quân sự. Nhưng sau cùng, họ chấp nhận, với điều kiện xác định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của chúng, nguyên tắc có một bộ tham mưu hỗn hợp trong thời bình. Họ đồng ý về điều chỉnh tổ chức quân sự của mình một cách hòa hợp với tổ chức quân sự của nước Pháp, nhưng với điều kiện là quân đội Việt Nam vẫn dưới sự chỉ huy của Việt Nam và dưới quyền của Bộ trưởng hữu trách.

Còn về các căn cứ, để có thể tương trợ nhau trong trường hợp bị tấn công, Việt Nam sẵn sàng để cho quân dội Pháp sử dụng “trong một số năm nhất định”, nhiều căn cứ hải quân và không quân. Quân số Pháp đóng ở các căn cứ quân sự đó sẽ được ấn định qua những hiệp ước song phương. Ngược lại, Pháp phải rút khỏi những căn cứ trên bộ mà hiệp định 3/4 đã quy định cho Pháp được đóng quân vào ngày 6/3/1951. Cho đến ngày ấy, quân đội Pháp sẽ được tự do đi lại.

Đây là những hạn chế mà Bộ Tham mưu Pháp không thể nào đồng ý. Theo Bộ Tham mưu Pháp, thì một sự nghiệp giữ nước (họ không nói rõ “chống ai”) không thể có hiệu quả nếu ngay trong thời bình không thực hiện sự chỉ huy thống nhất và nếu các căn cứ quân sự bị hạn định theo kiểu đó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:24:49 pm »


Trên bình diện ngoại giao, cũng như ở hội nghị Đà Lạt, đoàn Việt Nam yêu cầu có một nền ngoại giao riêng, có quyền trao đổi đại diện ngoại giao với nước ngoài, có quyền cử đại diện riêng ở Liên Hiệp Quốc, có một hệ thống tham khảo lẫn nhau nhằm điều hòa đường lối ngoại giao cho phù hợp. Phái đoàn Pháp vẫn giữ quan niệm của mình về một nền ngoại giao duy nhất, luôn luôn chỉ chấp nhận sự tham gia của người Việt Nam vào các chức vụ ngoại giao của Liên hiệp Pháp. Nhưng giờ đây, họ chấp nhận nguyên tắc tự quyết về mặt đại diện ngoại giao cấp lãnh sự.

Và bất đồng nữa trên lãnh vực kinh tế.

Phạm Văn Đồng sẽ nói rằng Việt Nam không thể nào đối xử với người Pháp như công dân của mình được. “Các ngài đến đất nước chúng tôi trong khi chúng tôi ở trên đất nước của mình. Sự khác biệt là cơ bản”. Nhưng ông chấp nhận cho người Pháp được hưởng một chế độ ưu tiên và bảo đảm sẽ không có một luật lệ phân biệt nào được ban hành ra nhằm chống lại họ. Người Pháp sẽ được hưởng quyền cư trú tự do miễn là họ tuân theo pháp luật của đất nước. Nhưng ở điểm này, Chính phủ Pháp mong muốn Việt Nam cam kết sẽ không thay đổi gì trong chế độ sản của người Pháp khi chưa được sự đồng ý của Chính phủ Pháp. Phái đoàn Việt Nam, đã chứng kiến việc nước Pháp những năm gần đây đã quốc hữu hóa các hầm mỏ, điện, khí đốt, các ngân hàng và các công ty bảo hiểm và bản thân họ (phái đoàn Việt Nam) cũng xét thấy cần thiết Nhà nước phải nắm lấy quyền kiểm soát hoặc quyền sở hữu những xí nghiệp công ích, chỉ cam kết không hành động đơn phương cho đến khi hiệp ước được ký kết. Đây là một điểm mà hai bên đối đầu rất căng thẳng vì phái đoàn Pháp không chấp nhận cả việc Chính phủ Việt Nam mua lại những xí nghiệp của Pháp.

Sau nữa, về vấn đề viện trợ kỹ thuật, các đại diện của Pháp nhấn mạnh về việc dành ưu tiên tuyệt đối cho kỹ thuật viên Pháp. Phía Việt Nam sẽ chấp nhận vấn đề này trên nguyên tắc nhưng sẽ nói thêm rằng sự ưu tiên đó chỉ được thực hiện với những điều kiện và chất lượng bình đẳng và ngang nhau. Họ sẽ khẳng định nguyện vọng là: trong việc tiếp xúc và tuyển dụng những kỹ thuật viên tư nhân mà họ thấy cần thiết, họ không phải thông qua trung gian của Chính phủ Pháp. Một thỏa thuận sẽ được thực hiện về điểm này.

Nhưng, cũng như ở Đà Lạt, vấn đề Nam Kỳ sẽ trở thành hòn đá cản của hội nghị. Ngay từ ngày 12/7, Hồ Chí Minh cũng đã nói:

“Nam Bộ là đất Việt Nam. Nó là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi... Trước khi đảo Corse trở thành đất của Pháp, thì Nam Bộ đã là đất Việt Nam... Về điểm này, tôi khẳng định rằng tôi tin tưởng ở nước Pháp mới... Một cuộc trưng cầu dân ý tốn kém lắm. Nếu chúng ta thỏa thuận được với nhau mà không cần phải tổ chức trưng cầu dân ý, thì tốt hơn... Nếu không chúng ta sẽ cứ tổ chức một cách chân thành và thẳng thắn và kết quả sẽ vẫn như vậy mà thôi” (5).

Tại tiểu ban, vấn đề Nam Bộ hầu như không tiến triển được chút nào. Đến nỗi một đại biểu Việt Nam (Nam Bộ), Dương Bạch Mai, nói công khai ngay tại phiên họp toàn thể ngày 26/7:

“Số phận của cuộc hội nghị này phụ thuộc chặt chẽ vào vấn đề ba kỳ. Chừng nào mà Nam Kỳ, bằng cách này hay cách khác, còn bị tách ra khỏi Việt Nam, thì việc thỏa thuận giữa nước Pháp và nước Việt Nam sẽ không bao giờ có được. Mọi sự đều tùy thuộc vấn đề Nam Kỳ: tình hữu nghị Pháp - Việt, hòa bình cũng như trật tự ở Việt Nam, tương lai những quan hệ của chúng ta. Phải giải quyết vấn đề này càng sớm càng hay”. 
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:25:57 pm »


Cuộc hội nghị Đà Lạt lần thứ hai


Trong thời gian này, đô đốc d’Argenlieu nhức nhối tâm can về cái cách thức mà Hồ Chí Minh cùng phái đoàn của ông được Chính phủ đón tiếp tại Paris, cũng như về những sự đả kích mãnh liệt mà đường lối chính trị của ông ta là đối tượng, cố làm sao cơ bản “tương đối hóa” cuộc thương thuyết Pháp - Việt, tránh sao cho nó đừng giải quyết số phận xứ Đông Dương ngoài cái “Chính phủ liên bang” mà ông ta là người đứng đầu. “Nước Cộng hòa Việt Nam” - ông ta nhấn mạnh - chỉ là “một trong những thành viên” của Liên bang Đông Dương mà ông ta là người lãnh đạo. Phải làm cho ông Hồ hiểu điều đó.

Từ ngày 4/7, trong một bức thư gửi Georges Bidault, ông ta bắt đầu bằng một sự liên hệ tới cái “trách nhiệm vô cùng to lớn đối với toàn thể nhân dân An Nam đang đổ xuống đầu chúng ta. Nước Pháp không thể bằng một nét bút mà bỏ rơi cả 20 triệu sinh linh, trong đó một số quan trọng và là phần đông ở tại một số vùng rất ghê tởm cái ý thức hệ và những phương pháp cai trị của đảng cầm quyền, chỉ vì một mục đích là cứu vớt lấy những lợi ích kinh tế và tài chánh của nó tại Việt Nam... Sứ mệnh của chúng ta tại Đông Dương vượt xa cái khuôn khổ chật hẹp của những dữ kiện vật chất ấy” (6)...

Cũng ngày 4/7, ông ta lại nói rõ trong một chỉ thị cho Sài Gòn rằng “tất cả những quốc gia thành viên đều phải được mời cộng tác trên quan hệ bình đẳng với tổ chức Liên bang Đông Dương”. Vì vậy ông ta dự kiến “một cuộc hội nghị trù bị tại Đà Lạt trong đó sẽ mời đại diện các chính phủ Campuchia, Lào, Nam Kỳ và có thể cả miền Nam Trung Kỳ. Mục tiêu của hội nghị là đi tìm những nền tảng cho những hiệp định mà người ta sẽ hoàn tất dưới hình thức cuối cùng, chính thức của nó tại Paris” (6).

Ông đô đốc đã rời Paris ngày 10/7 trước khi Chính phủ Paris, vừa tuyên bố tín nhiệm ông ta, chưa kịp quan tâm đến những điều ông ta gợi ý, thậm chí cả chưa kịp hiểu.

Ông ta về đến Sài Gòn. Giờ đây, ông ta được hoàn toàn tự do. Quả thế, ngày 19/7 tướng Leclerc vĩnh viễn rời Sài Gòn (cùng với đoàn tùy tùng của ông ta), chuyển giao bộ chỉ huy quân đội lại cho tướng Valluy; tướng Valluy lại bàn giao chức vụ tạm Quyền ủy viên của nước Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ sang cho đại tá Crépin. Còn Sainteny thì đã về Paris từ ngày 18/4 cùng với các đồng sự trực tiếp của mình. Vậy là d’Argenlieu đã thấy rời bỏ “khu vực tác chiến” của ông ta những người đã bất tán thành cả sự tiếp cận cũng như chính sách của ông ta.

Ngày 22/7, tại Sài Gòn, ông ta khẳng định rằng “Hội nghị trù bị và nghiên cứu quy chế của Liên bang” sẽ khai mạc vào ngày 1/8 tại Đà Lạt. Báo chí đăng cái tin này lên; bề ngoài, có vẻ như Chính phủ Pháp bị bất ngờ. Từ ngày 20/7, tại phiên họp toàn thể, phái đoàn Việt Nam chính thức phản đối. Đến nỗi Chính phủ đâm bối rối. Ngày 28/7, Moutet yêu cầu ông đô đốc giải thích:

“Công hàm ngày 24 vừa qua của ngài thông báo về cuộc hội nghị mới ở Dà Lạt ngày 1/8 về phương án Liên bang làm tôi hết sức ngạc nhiên. Chính phủ chưa bao giờ được hỏi ý kiến xem cuộc hội nghị này có đúng lúc hay không, trong khi cuộc hội nghị Fontainebleau còn đang tiếp diễn. Tôi mới được thông báo ngày thứ tư, nhưng ngay từ hôm thứ hai báo chí và đài phát thanh đã đưa tin. Ông Hồ Chí Minh phản đối tôi kịch liệt. Tôi không có cách nào trả lời được cho ông ta, bởi vì chưa hề được thông báo.

“Theo ý nghĩ riêng tôi thì cuộc hội nghị đó phạm hai sai lầm: Nó đặt Chính phủ trước một sự việc đã rồi. Nó tạo nên một không khí kém thuận lợi cho công cuộc đàm phán Fontainebleau. Từ hôm lên đường đi Paris, phái đoàn Việt Nam đã nhận được dồn dập tin tức: thành lập chính phủ Nam Kỳ, vấn đề các cao nguyên Mọi, việc chiếm đóng phủ Toàn quyền, hội nghị Liên bang tại Đà Lạt. Hành vi này có thể là có ích, nhưng do điều kiện thực hiện và thời điểm đã chọn nên có thể gây cảm tưởng rằng Chính phủ Pháp không thi hành nghiêm túc hiệp định 6/3. Tôi còn rất dè dặt vì chưa có thể báo cáo Chính phủ được
(7).
 
Ký tên: MOUTET”

D’Argenlieu, bằng bức điện ngày 30/7, trả lời Moutet rằng ông ta đã báo cáo cho Chính phủ biết trước rồi. Nhưng ngay ngày 27, tức trước ngày nhận được bức điện của Moutet, ông ta đã viết thư cho tướng De Gaulle để bộc lộ nỗi bất bình vì ông nhận thấy các giới cao cấp ở Paris “thiếu tính cách”. Ông ta còn nói thêm rằng cuộc “khủng hoảng quyền lực” mà dường như ông ta thoáng thấy đang xảy ra ở Paris làm cho ông hốt hoảng “thật sự”.

“Tôi nói “thật sự” bởi vì qủa thực lập trường của chúng ta đã khá vững vàng, đủ cho phép chúng ta thực hiện ý đồ của Pháp trên toàn bộ đất nước và khi cần thì áp đặt cho họ. Việc này có thể dễ dàng hoàn thành về căn bản trong vòng ba tháng, nếu biết hành động hiên trì, quả quyết và ngọt ngào (8 )...”

Dù nói gì đi nữa thì khi có tin bay đến Paris rằng cuộc hội nghị Đà Lạt đã khai mạc thực ngày 01/8 dưới sự chủ tọa của tướng Alessandri, ông Phạm Văn Đồng đã đóng sập cửa cái rầm theo tác phong mãnh liệt quen thuộc của ông. Cùng ngày hôm ấy, 1/8, ông đọc và trao lại một bức công hàm cho phái đoàn Pháp:

“Chúng ta ở trong cái thế “hai đường chọn một” sau đây: - Hoặc là các nhà chức trách Pháp tại Nam Bộ quyết định số phận của Nam Bộ, của miền Nam Trung Bộ, của vùng Tây Nguyên và quy chế của Liên bang Đông Dương. Trong trường hợp này, thì hiệp định 6/3 sẽ trở thành không nội dung và cuộc hội nghị Fontainebleau mà chúng ta đang họp cũng không có lý do tồn tại. - Hoặc hiệp định 6/3 phải được thi hành, trong trường hợp này, chỉ có hội nghị Fontainebleau là có thẩm quyền bàn bạc về những vấn đề đó. Phẩm cách của chúng ta đặt ra cho chúng ta cái trách nhiệm phải thoát ra khỏ tình huống lập lờ này và do đó, phải hoãn công việc chúng ta lại cho đến khi tình huống lập lờ ấy biến tan đi” (9).

Việc trì hoãn cũng không cải thiện nổi một không khí vốn đã đầy khó khăn. Bidault, bối rối, bèn “chất vấn” ông đô đốc trong một bức điện ngày 3/8:

“Như ông bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại (FOM) đã điện cho ngài, việc triệu tập hội nghị Đà Lạt đã mang đến những kết quả đáng tiếc. Phái đoàn Việt Nam đã chộp ngay cơ hội để cố gây ra một sự bất tín nhiệm của Chính phủ đối với ngài. Điều đó không được dự hiến. Để cho phép hội nghị Fontainebleau tái họp, cần thiết phải làm sáng tỏ tình hình. Sẽ chỉ ra rằng cuộc hội nghị Đà Lạt này là trù bị và ngài làm như vậy là nhằm tham khảo ý kiến rộng rãi về vấn đề Liên bang, tức không trái gì với tinh thần hiệp định 6/3. Để luận cứ này có sức thuyết phục, nên tránh quan trọng hóa công việc của hội nghị Đà Lạt, do đó phải rút gọn thời gian càng ngắn càng tốt bằng cách chỉ khoác một tính chất tư vấn cho những nghị quyết hoặc nguyện vọng có thể được đề bạt và thông qua một sự kiểm soát hết sức chặt chẽ của ngài. Tôi sẽ theo phương hướng này để trả lời bản tuyên bố của phái đoàn Việt Nam và yêu cầu họ nối lại cuộc đàm phán càng sớm càng hay. Sự bảo đảm cho những cuộc hội kiến và tham khảo thông tin đó được chấm dứt trong một ngày rất gần chắc chắn sẽ có tác dụng tốt để xúc tiến nối lại những cuộc điều đình” (10).

Ký tên: BIDAULT

D’Argenlieu trả lời Bidault bằng cách bảo đảm rằng các phái đoàn sẽ hoàn thành công việc bình thường vào ngày 10 hoặc 11/8. Mọi việc đều diễn biến tốt đẹp - ông ta nói. Quả thực người ta sẽ thấy các phái đoàn Campuchia, Nam Kỳ và Lào đều thông qua những luận điểm của ông đô đốc về “một Liên bang mạnh và vững bền”. Trên thực tế, cuộc hội nghị đã kết thúc ngày 13/8.

Trưởng phái đoàn Nam Kỳ tại Đà Lạt, Đại tá Xuân đã “tiết lộ bí mật” trong một bữa tiệc cocktail ngày 4/8 khi ông ta tuyên bố rằng sự chia cắt Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ chẳng phù hợp với một thực tế dân tộc nào và “chẳng có gì trở ngại cho việc thống nhất ba Kỳ lại với nhau nếu như Chính phủ Hà Nội hướng về phe tả ít hơn” (11).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:28:09 pm »


D’Argenlieu: tạm ngừng Fontainebleau?


Bức điện của Bidault gởi ông đô đốc đã “gặp nhau” dọc đường với một bản báo cáo quan trọng mà ông đô đốc gửi cho Chính phủ ngày 2/8 và cho một vài nhân vật khác, trong đó ông bắt đầu bộc lộ những mưu kế của mình. Trong bản báo cáo, ông đô đốc đã tổng kết lại toàn bộ chính sách của ông, tìm được mọi lời biện bạch và đặt Chính phủ trước các trách nhiệm của mình.

Ông nhấn mạnh rằng ông đã trang bị cho Nam Kỳ một chính phủ lâm thời mà chẳng bao lâu nữa, qua những cuộc bỏ phiếu, sẽ có được cái nền tảng dân chủ của nó. Sau nữa, rằng ông phải củng cố thêm lòng tin tưởng ở nước Pháp của “những đám dân chúng người Pháp và thổ dân Đông Dương... những người bạn rất chân thành của nước Pháp”, bởi vì “một khi lòng tin tưởng đó bị lung lay hoặc mất đi, thì chúng ta chỉ còn việc là sửa soạn cuốn gói hoặc nghĩ đến một cuộc chinh phục mới bằng vũ lực!1”. Ông đô đốc nói rằng ông có “cảm giác rằng về vấn đề tương lai của Nam Kỳ Chính phủ do dự và lẩn tránh trước những yêu sách của phái đoàn Hà Nội. Nếu Chính phủ thấy không thể nào đảo ngược một cách cương quyết tiến trình sự việc thì tốt hơn là nên tạm ngưng công việc của Hội nghị Fontainebleau. Tương lai của nước Pháp ở Đông Dương lại một lần nữa bị đe dọa ngay giữa khi chúng ta còn có sẵn trong tay mọi phương tiện để thành công...

“Trước một sự náo động có tính chất địa phương, khơi lên trên báo chí và trong một vài giới ở Paris do sự tuyên truyền khéo léo của các phái viên Hà Nội, cái tốt nhất, để ngăn ngừa những sự nhượng bộ không những không hợp thời, mà vô phương cứu vãn sau này, theo ý tôi là lưu ý đúng mức đến tình hình hiện tại và đưa ra cho Quốc hội lập hiến dự thảo định nghĩa khái niệm Liên hiệp Pháp. Theo ý nghĩ của tôi, tình hình thực tại đòi hỏi phải tạm ngưng các cuộc đàm phán cho đến ngày mà nhân dân Pháp được trưng cầu ý kiến, Hiến pháp được công bố, những cuộc tuyển cử thực hiện xong xuôi và Chính phủ được chính thức thành lập, nước Pháp, thoát khỏi tình trạng “lâm thời”, sẽ có trong tay mọi yếu tố để đi đến một kết luận thật sự về tất cả những cái mà giờ đây, đúng lý mà nói, chỉ mới là những cuộc trao đổi quan điểm mà thôi...

“Quả vậy, những cuộc đàm phán Pháp - Việt đang giẫm chân lên công việc của Quốc hội lập hiến; người ta có thể đi đến những điều khoản trái ngược với những quan niệm riêng của Quốc hội. Vả lại người ta sợ, trong trường hợp trái lại, dư luận cả nước sẽ nghiêm khắc lên án những cuộc đàm phán ở Fontainebleau, đã nhân một vấn đề cá biệt khó khăn mà bắt cả chính Quốc hội phải làm theo ý hội nghị...”

Cuối cùng, ông đô đốc “cảnh giác” Chính phủ trước “những sự nhượng bộ vô phương cứu vãn” sẽ làm rung chuyển toàn bộ cơ cấu Liên hiệp Pháp và che giấu đi “sự suy tàn chắc chắn là không thể nào đảo ngược được nữa của nước Pháp” (12).

Những sự gợi ý đó, ngay từ khi được chuyển đến Paris, đã chinh phục được sự tán đồng của nhiều lãnh tụ chính trị (nhất là của phong trào Cộng hòa Bình dân - MRP), tuy họ không muốn nghĩ đến chuyện “định chỉ” đàm phán. Nhưng các phái viên của ông đô đốc ở Hội nghị đã lợi dụng thời gian ngừng hội nghị để ngầm tiến hành một cuộc vận động tinh vi hơn.

Ủy ban Đông Dương (Cominindo) có một bộ phận thường trực đặc biệt, là “tiểu ban tư vấn”, trong đó các phái viên các bộ hữu quan cùng các “chuyên gia” trao đổi thông tin cho nhau và dự kiến tổng hợp, kết luận và đề nghị. Tiểu ban tư vấn họp ngày 5/8, chủ yếu để nghe A. Torel, cố vấn pháp luật của ông đô đốc, đọc một bản báo cáo của L. Pignon, cố vấn chính trị của ông ta, về việc “Cướp chính quyền của Việt Minh ở Đông Dương”. Bản báo cáo đó nói rằng Việt Minh đã nắm chính quyền bằng một vụ bạo lực, một cuộc đảo chính nên chẳng phải là một chính quyền hợp pháp, rằng Việt Minh đã thiết lập một chế độ độc tài bất chấp cả tự do và dân chủ; rằng như vậy là trái hẳn với nguyện vọng của các dân tộc Đông Dương (mà nước Pháp đỡ đầu) và đồng thời cũng trái với lợi ích của nước Pháp. Để củng cố địa vị còn bấp bênh của họ và thực hiện cuộc chinh phục tinh thần và vật chất của cả nước, Việt Minh thi hành một chính sách chống Pháp mãnh liệt, tìm mọi cách làm Pháp ngã lòng và bỏ rơi Việt Nam. Điều toát ra từ văn kiện ấy, cũng như từ những văn kiện mà Pignon kèm theo nó (đặc biệt là tiểu sử của Hồ Chí Minh, nó chứng minh rằng ông Hồ là một cán bộ tuyên truyền lão thành của Komintern (Quốc tế Cộng sản)2 là: Việt Minh, chuyển thành Chính phủ Hà Nội, không phải là một người đối thoại đủ tầm cỡ và nên giữ gìn, không được cam kết gì với họ.

Đầu tháng 8, trong lúc tranh luận với một người trong phái đoàn Việt Nam - ông Nguyễn Đệ, một công chức Pháp cũ là De Tarragon tuyên bố với ông Đệ rằng Chính phủ Hà Nội sẽ chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa; chắc chắn nó sẽ bị quét đi: “Đến Noel này, tất cả sẽ kết thúc!” (13). Hầu như cùng một lúc, tại Đà Lạt, tác giả cuốn sách này (Ph. Devillers - LND) trong lúc nói chuyện với một trong những người cộng tác của ông đô đốc là ông ủy viên Hải quân Gaignard, cũng được nghe ông này nói rằng đã gần đến cái giờ mà Chính phủ Hà Nội và Việt Minh sắp sửa bị nghiến nát giữa hai gọng kìm, vị ủy viên vừa cười vừa chỉ tay trên tấm bản đồ Bắc Bộ quá trình diễn biến của hai gọng kìm khép lại như thế nào.

Về phần ông đô đốc thì ông suy nghĩ công khai đến một “chính phủ thay thế” (14).
_______________________________________
1. Tác giả gạch chân – LND.
2. Tư liệu do Sở Mật thám của Decoux cung cấp.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:28:42 pm »


Đàm phán lại tiếp tục


Chính phủ Pháp không để cho các gợi ý của ông đô đốc lôi cuốn được mình. Trong khi điện cho d’Argenlieu, Bidault viết thư cho Phạm Văn Đồng rằng việc tạm ngưng hội nghị Fontainebleau mà ông đã gây ra không thể được biện bạch với lý do là việc tổ chức một cuộc “hội nghị sơ bộ” mà chỉ một mình Chính phủ Pháp phải đánh giá những điều nó đề xuất.

Nhưng ngày 7/8, khi bức giác thư của ông đô đốc đề ngày 2 đến Paris, thì dư luận bỗng sôi lên trước một sự việc bất trắc xảy ra tại Bắc Bộ: một đoàn quân Pháp hành quân lên Lạng Sơn bị tấn công tại Bắc Ninh: có những người chết và bị thương. Báo chí hăng tiết, lên án Việt Minh là phản bội và ác ý. Nhưng sự việc được giải quyết nhanh chóng tại Hà Nội giữa các nhà chức trách địa phương (đại tá Crépin và ông Giáp) và tại Paris, Chính phủ Pháp cũng đã nhanh chóng nắm được tình hình, không bi kịch hóa vấn đề chút nào.

Về phía mình, đô đốc d’Argenlieu, ngày 9/8, gửi một bức điện “sôi động hùng hồn” cho tướng Valluy, trong đó vừa tố cáo “cuộc tấn công bỉ ổi” ấy, vừa bộc lộ một “nỗi bất bình có suy nghĩ của mình vì vụ mưu sát kia là một kế hoạch có chuẩn bị sẵn và ngay trong cái phút giây mà tại Paris phái đoàn Việt Nam yêu cầu nước Pháp hãy tin tưởng ở họ, thì những hành động tội ác như vậy của một quân đội gọi là chính quy quả là bỉ ổi” (15).

Chính phủ xét thấy cần phải tiến lên phía trước. Trái với Nha Dân sự, Chính phủ muốn nhanh chóng đạt tới một hiệp định với ông Hồ Chí Minh; và, bởi rõ ràng hiện nay không thể nào giải quyết được tất cả mọi vấn đề, thì phải cố gắng ổn định quan hệ với Việt Nam trên những nền tảng tạm thời. Vả chăng đây cũng là nghị trình của Ủy ban Liên bộ Đông Dương được triệu tập họp ngày 10/8, công văn giấy tờ đã được chuẩn bị cuộc họp này. Ngày 9/8, Max André thông báo cho phái đoàn Việt Nam biết rằng cuộc Hội nghị Đà Lạt không tạo nên một trở ngại gì đối với việc nối tiếp lại cuộc đàm phán Fontainebleau cả. Phái đoàn Việt Nam tỏ thái độ sẵn sàng và Hồ Chí Minh, đã ấn định ngày về nước là ngày 14/8, nay quyết định lưu lại.

Ủy ban Liên bộ, họp ngày 10 và 12/8 để xem xét tình bình Đông Dương, đã phân tích bức giác thư của d’Argenlieu, gạt những kết luận của ông đô đốc ra và cũng thảo luận một dự án ghi nhớ về quan điểm của Pháp và một dự án về tuyên bố chung. Hai văn kiện này đã được sự duyệt y của Hội đồng Bộ trưởng ngày 14/8 và sẽ thể hiện cơ sở lập trường của Pháp (16). Bản tuyên bố chủ yếu nói rằng, do hoàn cảnh, cần phải làm dịu bớt những cuộc tranh luận.

“Cho nên Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp nhiệt tình mong muốn nối lại cuộc đàm phán càng sớm càng hay... Mặc dầu có những trở ngại nhưng với một niềm tin vững chắc Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp (GPRF) nhận thấy có khả năng tìm ra cùng với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những nền tảng của một sự thỏa thuận giới hạn, nhưng sẽ đánh dấu một giai đoạn mới và quan trọng trên con đường đã được mở ra với hiệp định sơ bộ 6/3 và cho phép, thông qua một sự cải thiện không ngừng những quan hệ giữa hai nước, đạt đến thành công trong những cuộc đàm phán sau này.

“Nhằm kết quả đó, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp luôn luôn tôn trọng những điều đã cam kết đối với nhân dân Đông Dương và đặc biệt, đối với nước Việt Nam DCCH, tôn trọng hiệp định 6/3, nhận thấy cần thiết phải định nghĩa rõ ràng ngắn gọn những điểm cơ bản cho một hiệp định công bằng và lâu dài”
.

Tiếp theo: Sự bảo đảm và tôn trọng những quyền và những lợi ích chính đáng của nước Pháp; việc bảo vệ các “dân tộc ít người và các thiểu số chính trị”; hiệu quả của một Liên bang Đông Dương, mà không ngăn cản các nước thành viên hưởng “chủ quyền quốc gia” của họ. Trên cơ sở những nguyên tắc ấy, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp đã dự thảo một bản tóm tắt cho “có thể dùng cho hội nghị làm chương trình nghị sự”. Văn bản này gồm 12 điều khoản trong hai trang; nó nêu lên cái quan niệm của nước Pháp về những mối quan hệ của Pháp với Việt Nam. Trong điều 11, nó diễn đạt như sau về vấn đề Nam Bộ:

“Cuộc trưng cầu dân ý đã được dự kiến trong hiệp định sơ bộ 6/3/1946 sẽ được tiến hành ngay khi trật tự được lập lại. Nó bao hàm cái quyền tự quyết tuyệt đối của nhân dân trên cơ sở ý muốn của quần chúng”.

“Những cuộc thương lượng sau này sẽ chỉ rõ những điều kiện trong đó cuộc trưng cầu dân ý này sẽ được tổ chức với đầy đủ những bảo đảm về tự do, chân thực và thẳng thắn cần thiết”.


Được Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp thông qua, những văn kiện đó đã được Sainteny chuyển cho Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam ngày 19/8. Phái đoàn Việt Nam vừa khẳng định những lời nhận xét riêng của mình, vừa trả lời ngày 20 bằng một bản “chống dự án” thành văn (17).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:30:10 pm »


Moutet phân trần


Trong một bức thư đề ngày 19/8 (dường như trả lời một công hàm của Cao ủy), Bộ trưởng Marius Moutet giải thích quan điểm của mình cho ông đô đốc:

“Vấn đề cơ bản là chúng ta nhất trí với nhau về nội dung và nội dung đó tôi quan niệm nó như sau:

“Ngày 6/3 vừa qua, Ngài đã ký kết với ông Hồ Chí Minh một bản hiệp định, bản hiệp định đó là cơ sở của chính sách chúng ta. Chúng ta đòi phải triệt để tôn trọng nó như chính chúng ta cũng phải tôn trọng...

“Đương nhiên là bảng kê khai vô số những vụ vi phạm nguyên tắc về phía người dân Việt Nam, nếu không phải là chính những người lãnh đạo, có thể là rất dài; và sẽ là rất tốt nếu kèm theo những hồ sơ có đầy đủ những chứng cứ làm bằng. Nhưng phải nắm chắc xem có phải là chúng ta đang tìm những lý do để cắt đứt hay chúng ta tin tưởng thật sự rằng chính sách căn cứ trên những hiệp định đã thỏa thuận là cái chính sách mà chúng ta phải thi hành.

“Dĩ nhiên, với những sự đổi thay trong tương quan lực lượng, chúng ta rất có thể khôi phục lại một cách đơn thuần và giản đơn chủ quyền toàn vẹn của Pháp ở Đông Dương; nhưng chúng ta đã chọn một con đường khác và tôi nghĩ rằng chúng ta nên kiên trì con đường đó, vì lợi ích dân tộc và quốc tế. Bắt tay vào công việc và thực hiện bằng con đường hợp tác sẽ không phải chuyện dễ dàng; tuy nhiên, những khó khăn này nhất định sẽ nhỏ hơn so với những khó khăn nảy sinh do một cuộc chinh phục mới dai dẳng, tốn kém về mọi mặt, luôn luôn phải đương đầu với quân du kích khi ẩn khi hiện.

“Người ta cũng có thể nghĩ đến việc thay thế một chính phủ khác. Giải pháp này sẽ không kém bề nguy hiểm. Cả thế giới đã hiểu được qua bài học của Hitler và quân Nhật thế nào là các chính phủ bù nhìn và đã vĩnh viễn lột trần bộ mặt của chúng.

“Chúng ta đã lựa chọn Hồ Chí Minh để điều đình và tôi tin chắc ông Hồ là người duy nhất đại diện cho một quyền lực dù có hạn chế đi chăng nữa, vẫn là một quyền lực đang tồn tại. Ngày nào mà ông ta khẳng định rằng chính là từ chúng ta mà ông ta rút ra được cái sức mạnh cơ bản của mình, thì ông ta sẽ bắt buộc phải hành động thẳng thắn và nghiêm túc.

“Tôi biết chắc chắn rằng về tất cả những điểm này chúng ta chưa hoàn toàn nhất trí. Tôi chưa bao giờ tin vào những câu chuyện bép xép của những kẻ lên án Ngài, trên báo chí hoặc những nơi khác, là đã theo đuổi một chính sách cá nhân...

“Dù các đại biểu Việt Nam có mạnh dạn lên, vì cảm thấy mình được một bộ phận dư luận công chúng ủng hộ và tìrn cách áp đặt những giải pháp của họ cho chúng ta chăng nữa, thì đó cũng là chuyện tất nhiên thôi; và chính đó sẽ là cơ hội để chỉ ra cho họ thấy được giới hạn của các nhượng bộ của chúng ta và có thể nói là để dồn họ vào chân tường; chúng ta sẽ nói rõ cho họ hiểu rằng chúng ta không sẵn sàng lùi bước trước những thủ đoạn của họ hoặc trước một chính sách hăm dọa mà một vài sự kiện bất trắc ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ
1 có thể là một trong những yếu tố. Cái chính sách ấy có thể dẫn tới sự đoạn giao và chúng ta cần phải tránh.

“Trong bầu không khí như vậy, chúng ta có thể nào quan niệm đi đến được một hiệp định trọn vẹn với phái đoàn Việt Nam? Tôi nghĩ rằng không và chúng ta đành phải bằng lòng với những kết quả khiêm tốn nhưng nó đánh dấu một bước tiến bộ rõ rệt và nghiêm túc trong sự triển khai hiệp định mồng 6 tháng 3. Rồi chúng ta khởi động sự hợp tác chung và để cho thời gian làm công việc của nó và nếu sự hợp tác tiến hành đúng mức thì lúc đó chúng ta có thể soạn thảo những hiệp định. Nhưng trước hết, phải tạo ra một bầu không khí hòa dịu, có nghĩa là, ở Pháp và nhất là ở Đông Dương, chấm dứt những lời tuyên truyền và những hành động bạo lực; Chủ tịch Hồ Chí Minh phải bằng những lời tuyên bố công khai xác nhận sự cần thiết phải tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho sự hợp tác, đòi chấm dứt ngay mọi kiểu tuyên truyền chống Pháp và tuyên bố rằng mọi hành vi bạo lực chống người Pháp hoặc chống những người thân Pháp phải được coi như những hành vi chống bản thân Chính phủ Việt Nam.

“Trên cơ sở đó, Chính phủ đã chấp nhận văn bản một lời tuyên bố sẽ đọc, có thể chính tôi đọc, tại Hội nghị Fontainebleau đã được họp lại; về phía ông Hồ Chí Minh cũng vậy, ông cũng sẽ phải đọc một lời tuyên bố đã được chấp nhận trước và công việc đàm phán sẽ tiếp tục trên cơ sở một bản ghi nhớ xác định quan điểm căn bản của chúng ta.

“Dĩ nhiên, sẽ còn tồn tại hai điều chướng ngại đáng kể là, một mặt, sự cần thiết phải nói đến chữ “độc lập” và mặt khác, phải quy định ngày giờ cùng điều kiện tiến hành trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ...

“Tôi phải gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi biết rằng chính là vì hai điểm cơ bản này mà ông sẽ bàn bạc lại với tôi. Ông Hồ muốn có một Ủy ban liên kiểm hỗn hợp - là điều, mà theo suy nghĩ của tôi, có ý nghĩa là sự từ bỏ một nửa chủ quyền của chúng ta và tất nhiên trước mắt chúng ta không thể nào chấp nhận... Ngay từ hôm đầu, tôi đã chỉ ra công khai rằng, về điểm mấu chốt của việc trưng cầu dân ý, tôi chỉ có thể chấp nhận bao giờ nhân dân được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến của mình, có nghĩa là bao giờ trật tự đã được lập lại chính sách khủng bố đã chấm dứt và các cơ quan quyền lực hợp pháp đã được ổn định trở lại. Tôi đã nói và tôi kiên trì ý kiến của tôi...

“Tôi cho rằng điều tốt nhất rõ ràng là làm sao lập lại được những cơ quan chính quyền địa phương và để cho chính nhân dân Nam Kỳ sẽ bỏ phiếu thừa nhận Chính phủ Nam Kỳ. Bởi vậy tôi không vội vàng ấn định thời hạn trưng cầu dân ý, mà ngược lại thì có. Ta phải tìm ra một công thức nào mà chúng ta vừa không từ bỏ chủ quyền lại vừa làm cho nhân dân có được cái cảm tưởng là mình có thể phát biểu nguyện vọng một cách hoàn toàn tự do, không như vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa, tôi tin rằng họ sẽ bỏ phiếu tán thành sự thống nhất Nam Kỳ vào Việt Nam, không hơn không kém.

“Cần phải làm rất nhiều để có được một cuộc trưng cầu dân ý phù hợp với chế độ tự trị...”
(48 )
________________________________________
1. Chủ yếu là những sự kiện đã xảy ra tại Hòn Gai (7/7) và tại Bắc Ninh (3/8 )
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:32:20 pm »


Đi đến một tạm ước


Những nhận xét của phái đoàn Việt Nam đưa ra cũng như bản “chống dự thảo” ngày 20/8, đánh dấu một sự cố gắng hòa hợp, một sự tìm kiếm, một sự thỏa hiệp, nhưng trước sau vẫn bị chi phối bởi một ý chí độc lập không ai chối chãi được. Họ nêu gương các nước tự trị trong khối Liên hiệp Anh để làm một căn cứ chứng minh rằng lợi ích của nước Pháp nằm trong sự công nhận nền độc lập của Việt Nam. Bức công hàm của Việt Nam cũng đề cập tới sự cần thiết phải quy định thời hạn cho cuộc trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ.

Vậy là phái đoàn Việt Nam đưa ra một bản ghi nhớ “trên cơ sở bản dự án của Pháp” và đề cập đến một “nghị định thư giải quyết những quan hệ giữa nước Pháp và nước Việt Nam trong lúc chờ đợi việc ký kết một hiệp ước vĩnh viễn”.

“Để kết luận, vì Việt Nam và Pháp đã từng chịu đựng nhiều đau thương rồi, hai bên cần thiết phải trở lại với công việc. Muốn vậy, hai chính phủ cần phải làm dịu bớt tinh thần dân chúng bằng một hiệp định mà theo ý chúng tôi, phải được thực hiện trên ba mục tiêu:

1. Cứu vãn lấy những lợi ích kinh tế, văn hóa và quân sự của Pháp tại Việt Nam

2. Bảo đảm nền độc lập của Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp.

3. Giải quyết vấn đề Nam Kỳ bằng cách ấn định thời hạn cuộc trưng cầu dân ý, cũng như những thể thức thành lập và làm việc của một Ủy ban hỗn hợp phụ trách cuộc trưng cầu dân ý.

“Bởi vì nếu mỗi bên, Pháp cũng như Việt Nam, biết và biết đúng, cái gì có thể thuộc về mình trên thực tế cũng như trên pháp lý, thì thế cân bằng sẽ thực hiện được, trật tự xã hội sẽ nhanh chóng và tất yếu sẽ được ổn định trên toàn lãnh thổ... Hai dân tộc chúng ta cần hợp tác thân ái với nhau như anh em để bình phục trở lại sau bao nhiêu năm đau khổ.

“Nói tóm lại, nước Pháp và nước Việt Nam phải nhanh chóng đi đến ký kết một bản hiệp định cụ thể và chính xác về những vấn đề sống còn đã được định nghĩa trên đây. Những lời hứa hẹn chung chung và những bản tuyên bố vô hiệu đều là những lời nói suông và lâu ngày nó sẽ làm nản lòng nhân dân cả hai dân tộc”
(19).

Bản ghi nhớ của Việt Nam gồm 14 điều, bắt đầu như sau:

“1. Chính phủ Pháp thừa nhận nước Cộng hòa Việt Nam là một nước tự do mà nền độc lập sẽ được tuyên bố trong thời hạn ba năm kể từ ngày ký bản hiệp định này.

2. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tham gia vào các tổ chức của Liên bang Đông Dương trong những điều kiện sẽ được quy định nhất trí giữa nước Pháp, nước Việt Nam và những thành viên khác của Liên bang. Liên bang sẽ quản lý và phối hợp những lợi ích có tính chất kinh tế, tài chánh hoặc kỹ thuật...”


Ngay từ ngày 21/8, tổng thư ký mới của Ủy ban Liên bộ Đông Dương (Cominindo)1 Pierre Messmer, chuyển cho Bidault bức giác thư của Việt Nam. Quan điểm hai bên, Messmer nói, vẫn rất khác nhau và bây giờ đây phải đặt Chủ tịch Hồ Chí Minh trước trách nhiệm của mình. Ngày 22, một bản báo cáo của Max André gửi Bidault cũng tán dương quan điểm dùng sức mạnh2.

Hai công hàm này khẳng định rằng ông Hồ phải chấp nhận bức giác thư của Pháp. Nếu ông Hồ từ chối thì theo Max André, đó sẽ là lý do để bế mạc cuộc hội nghị “bằng một bản thông báo chỉ rõ những quan điểm của hai bên và nguyên nhân bất đồng”. Về phía Pignon, cũng xác định, trong một công hàm gửi cho bộ trưởng của mình:

“Những đề nghị chứa đựng trong bản ghi nhớ của phái đoàn Việt Nam hoàn toàn không thể chấp nhận. Nó là một bước lùi so với những quan điểm đã đưa ra tại Đà Lạt và cả ở Fontainebleau của phái đoàn Việt Nam...

“Nếu Chính phủ Pháp thừa nhận, mặc dầu có thời hạn, nền độc lập của Việt Nam, thì sau này Chính phủ không còn được phép bảo vệ, trong lĩnh vực kinh tế cũng như trong các lĩnh vực ngoại giao, quân sự và văn hóa cho những quan điểm cơ bản của nước Pháp mà chúng ta muốn đưa vào văn bản hiệp ước nhằm bảo đảm cho sự trường cửu của sự nghiệp nước Pháp tại Viễn Đông”...


Với Pignon, quyền ngoại giao tự do của Việt Nam sẽ “rất nguy hiểm cho tương lai,... không thể ăn khớp với tổ chức Liên hiệp Pháp theo như khuôn khổ mà chúng ta có thể hy vọng thành lập”. Pignon chỉ trích “ý định của Việt Nam muốn giữ lấy việc quản lý thuế quan, có nghĩa là chống lại việc thành lập một Liên bang Đông Dương vững chắc”; ông ta chỉ trích còn nặng nề hơn nữa cái dự án của Việt Nam giao việc tổ chức cuộc trưng cầu dân ý cho một tiểu ban hỗn hợp và ông kết thúc:

“Một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lại thiết kế một cảnh trí sân khấu cho chúng ta sử dụng. Hình như vẫn cần thiết phải làm cho ông biết một cách thật cụ thể rằng chúng ta không có ý định chấp nhận một thứ thị trường lừa bịp như vậy (20)
______________________________________
1. Tổng thư ký Ủy ban Labrouquère đã phải nhường chỗ cho Messmer, theo sắc lệnh ngày 8/8/1946.
2. Max André đã có nói với Phạm Văn Đồng: “Ngài hãy nên biết điều một chút, nếu ngài không biết điều thì ngài nên biết rằng chúng tôi có thể quét sạch các ngài đi trong hai ngày”.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:33:09 pm »


Những băn khoăn hoài nghi


Dù sau, Chính phủ Pháp cũng không thống nhất ý kiến và do dự. Tối ngày 23/8, Bidault cử chính Pignon đến gặp ông Hồ Chí Minh để trình bày quan điểm không chính thức của Chính phủ. Lúc trở về, Pignon không thể nêu lên được “một dấu hiệu cụ thể nào về những ý định đích thực của người đối ngoại với mình”.

Sau đó, nghỉ họp vài hôm. Người ta cảm thấy cả hai bên đều có chút phân vân, tự hỏi mình nên theo con đường nào và nên có những quyết định nào. Hay che giấu sự thất bại dưới một bản “tuyên bố thân thiện chung” mang tính chất xoa dịu và trấn an dư luận quần chúng của nhân dân hai nước?

Pignon không nghĩ thế. Ngày 28/8, trong một công hàm gửi J. Boissier, cố vấn về các vấn đề Đông Dương của Georges Bidault, ông ta gợi ý đề nghị với Hồ Chí Minh ký kết những hiệp định hạn chế giải quyết một vài vấn đề cấp bách. Gợi ý được Bidault và Moutet chấp nhận; rồi ngày 31, phái đoàn Việt Nam cũng chấp nhận trên nguyên tắc.

Moutet bèn thông báo cho đô đốc d’Argenlieu bằng một bức thư cá nhân:

“Vì những sự bất trắc nghiêm trọng vừa xảy ra tại Nam Kỳ cũng như ở Bắc Kỳ và cũng vì sự chống đối có hệ thống của bọn khủng bố đối với việc thiết lập các kỳ hào địa phương, chúng tôi đã quyết định thay đổi quan điểm và đặt Chủ tịch Hồ Chí Minh trước một ngã ba đường: Hoặc ký kết một hiệp định đánh dấu một bước tiến so với hiệp định 6/3 và chuẩn bị cho một sự hợp tác Việt - Pháp trên những cơ sở mới; hoặc là đình chỉ hội nghị với tất cả mọi hậu quả đi kèm.

“Để tránh khỏi một chuyện bất trắc có thể xảy ra như vậy tôi mong muốn chúng ta sẽ có thể kiên trì đến cùng chính sách thỏa thuận đã được bắt đầu ngày 6/3 và cuộc hội nghị Fontainebleau (tuy không phải là người có sáng kiến tổ chức, nhưng tôi luôn luôn bảo vệ cho hội nghị này) trở lại bàn đàm phán của nó. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh mặc dầu có những quan điểm chính trị khác, đối với tôi vẫn là con người mang đầy đủ tư cách hơn cả để lãnh đạo một Chính phủ.

“Chúng tôi đã cử ông Pignon và ông Laurentie tới gặp ông Hồ để điều đình về một công hàm mới mà chúng tôi đã chuyển miệng đến cho ông.

“Một sự đình chỉ hội nghị có thể mang lại những hậu quả đáng sợ trong tình hình hiện nay. Mọi tin tức đều chỉ ra cho tôi thấy tình thế của chúng ta hiện nay chẳng sáng sủa gì cho lắm... Tại Nam Kỳ, những nhóm khủng bố tổ chức rất có chiều sâu, đang tạo ra một bầu không khí hoàn toàn bất ổn định sau cuộc xâm nhập rồi lại rút lui của quân đội ta. Tất cả những chuyện đó yêu cầu chúng ta phải có một chính sách khôn khéo.

“Quân đội Đông Dương, 85.000 người, phải được tăng cường nếu tình thế trở nên nghiêm trọng. Điều này sẽ không khỏi gây khó khăn tại Hội đồng Quốc phòng tối cao và tại tiểu ban Quân đội.

“Hình như đúng là Việt Nam đang đầu cơ những khó khăn này của chúng ta... Dù Việt Nam có tự gây ảo ảnh cho mình chăng nữa, thì tôi cho rằng luôn luôn kiên trì con đường hiệp định vẫn là điều khôn ngoan.

“Trong mọi trường hợp, hãy kịp thời báo cáo cho tôi biết về sự an ninh của tình thế của ngài trong trường hợp cuộc hội nghị có thể bị đình chỉ. Chúng ta sẽ làm tất cả để tránh điều không hay xảy ra và tôi không nghĩ rằng Việt Nam mong muốn chuyện đó. Tuy nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể có những người thân cận hoặc do hoàn cảnh mà trở thành không thức thời”
(21).

Bức công hàm Pháp, do Pignon soạn thảo ngày 1/9 và được Moutet duyệt y, bày tỏ nguyện vọng rằng những cuộc trao đổi quan điểm sẽ dẫn tới “việc ký kết những hiệp định giới hạn và tạm thời về những vấn đề đòi hỏi, vì quyền lợi cả hai bên, phải có một giải pháp cấp bách” và phải “bình thường hóa những quan hệ của người Pháp sống tại Việt Nam với các nhà chức trách và nhân dân Việt Nam”. Về việc ký kết một hiệp ước vĩnh cửu, nước Pháp chỉ đặt ra một điều kiện tiên quyết: chấm dứt “tình trạng đang thi hành đối với những người và những tài sản của Pháp trong những vùng lãnh thổ do nước Việt Nam DCCH kiểm soát... Tình trạng này giờ đây không cho phép Chính phủ Pháp tiếp tục một cách bổ ích việc nghiên cứu sâu vào nội dung những yêu cầu của nước Việt Nam DCCH đưa ra”. Bức công hàm này được chuyển cho phái đoàn Việt Nam ngày 2; và chính phái đoàn Việt Nam, để tránh một sự định chỉ hội nghị, cũng đang đi vào con đường ấy.

Ngày 3/9, Moutet và Pignon được Hồ Chí Minh tiếp, họ trao cho ông Hồ bức công hàm đề ngày 2/9; sau khi tóm tắt lại “phương pháp biện chứng”, bức công hàm kết luận:

“Mặc dù có những ý kiến bất đồng, dường như nổi bật lên, qua những cuộc hội kiến mà mấy ngày gần đây, Ngài Chủ tịch nước Việt Nam DCCH đã có nhã ý trao đổi với phái đoàn Chính phủ Pháp, cái khả năng có thể có một mảnh đất thỏa thuận, cho phép nối lại cuộc đàm phán Fontainebleau mà cả hai bên đều mong muốn, trên những cơ sở sau đây:

“a) Đã thỏa thuận rằng hai bên ký kết phải tránh không được làm trở ngại tiến trình cuộc đàm phán bằng cách coi việc giải quyết vấn đề này hay vấn đề kia như một điều kiện tiên quyết, có nghĩa là nó sẽ chi phối cách giải quyết toàn bộ các vấn đề đặt ra cho các nhà đàm phán nghiên cứu.

“b) Từ đó, cũng thỏa thuận rằng, hai bên đều phải chấp nhận những cố gắng song song để đi đến một sự hiểu biết và hòa hợp.

“Trên cơ sở đó, Chính phủ Pháp sẵn sàng nối lại những cuộc đàm phán Fontainebleau. Cùng với những vấn đề được đề nghị đưa ra xem xét trong bản ghi nhớ của phái đoàn Pháp (ngày 14/8, sẽ ghi thêm, đúng như mong muốn của Ngài Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc tổ chức cuộc trưng cầu dân ý đã được dự kiến trong hiệp định sơ bộ 6/3; dĩ nhiên phía Chính phủ Pháp vẫn dứt khoát kiên trì một đòi hỏi mà Chính phủ đã nhiều lần đặt ra là ổn định trước trật tự công cộng, và sẽ không cam kết gì về ngày tổ chức cuộc trưng cầu dân ý.

“Nếu những đề nghị này được Ngài Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp thuận thì có thể bàn đến việc công bố cho công chúng biết rằng Hội nghị Fontainebleau đã được nối lại, bằng một bản. tuyên bố chung của hai chính phủ.

“Trong mọi tình huống, Ngài Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không thể không thấy được rằng tình thế hiện nay không thể kéo dài và Chính phủ Pháp đã từng góp nhiều công sức vào việc làm cho hai bên hiểu biết lẫn nhau, giờ đây đang chờ đợi một câu trả lời cụ thể”
(22).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM