Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:09:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66628 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:33:45 pm »


Cuộc điều đình


Đọc bức công hàm xong, Hồ Chí Minh đã hiểu rằng một cuộc thảo luận về vấn đề trưng cầu dân ý có thể sẽ được tiến hành không chậm trễ. Đối với phái đoàn Việt Nam, việc lập lại hòa bình trong dân chúng tại Nam Kỳ sẽ tiếp theo sau việc áp dụng những biện pháp, dự kiến cho cuộc trưng cầu dân ý, trong bản ghi nhớ của họ ngày 20/8. Ngày 4/9, một tiểu ban hạn chế Pháp - Việt (đoàn Pháp từ đây bao gồm 3 cố vấn của d’Argenlieu: Pignon, Torel và Gonon) tìm cách làm cho quan điểm hai bên xích lại gần nhau. Pignon đã báo cáo như sau:

“Bắt đầu cuộc họp, ông Phạm Văn Đồng đã chỉ rõ là một bản thỏa hiệp đã được xác nhận trong phiên họp trước, ngày 3/9, về những đề nghị của Pháp liên quan đến việc bàn luận ngay một số vấn đề có giới hạn: tình hình con người và tài sản của Pháp, chế độ tiền tệ, chế độ hải quan và ngoại thương, cho nên hôm nay nên đề cập đến vấn đề trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ.

“Tôi bèn phát biểu ý kiến, nói rõ rằng vấn đề này đã được nhắc tới hôm trước giữa ông bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại (FOM) và Chủ tịch Hồ Chí Minh, rằng sau cuộc họp đó tôi đã được giao trách nhiệm cùng với ông Messmer soạn thảo một công hàm tóm tắt lại quan điểm của Pháp. Tôi đã nói thêm rằng văn bản bức công hàm chưa có thể được coi là chính thức trước khi được sự chuẩn y của bộ trưởng và thủ tướng Nội các, tuy nhiên tôi cũng được phép đọc lên.

“Sau khi tôi đọc bức công hàm xong, ông Phạm Văn Đồng đã chỉ ra rằng nếu đó là quan điểm của Chính phủ Pháp, thì chúng ta phải nghĩ đến chuyện hoãn cuộc hội nghị Fontainebleau, cho dù có nặng nề đến mấy, thêm vài ba tháng nữa. Ông hy vọng rằng chúng ta sẽ chia tay nhau như những người bạn tốt và cả hai bên chúng ta sẽ tránh đừng làm cho sự tạm hoãn này mang hình thức một cuộc tuyệt giao.

“Chúng tôi đã khẳng định rằng đấy cũng là tâm tư tình cảm của chúng ta, rằng nếu quyết định là quyền của Chính phủ, thì nhiệm vụ của chúng ta là cùng nhau tìm cách cải thiện các mối quan hệ qua lại giữa chúng ta trong thời gian đàm phán tạm hoãn.

“Tiếp theo là một cuộc nói chuyện khá dài với một giọng rất thân tình... về tình hình ở Nam Kỳ và những biện pháp chấm dứt chiến sự ở đây... Đoàn đại biểu Việt Nam và đoàn đại biểu Pháp đã chia tay nhau lúc 19 giờ và có bày tỏ hy vọng rằng trước ngày 10/9, là thời hạn ông Phạm Văn Đồng quy định, chúng ta có thể đã tìm ra được một mảnh đất thỏa thuận, dù rất hạn chế”
(23)...

Cùng lúc, về phía Pháp, một suy nghĩ mới nảy sinh, dẫn đến việc soạn thảo (do Messmer) một bức công hàm rất đậm đà ý nghĩa, đề ngày 6/9 và trao luôn cùng ngày hôm ấy cho phái đoàn Việt Nam. Ngày 7, phái đoàn Việt Nam đề nghị hoãn việc giải quyết những điểm bất đồng cơ bản lại để ký một cách bình thường một thỏa thuận riêng lẻ về các vấn đề kinh tế và tài chính đang tranh chấp, tức là chỉ riêng điểm 4 trong chương trình nghị sự đã được chấp thuận ngày 9/7. Những người tham gia hội nghị đã gặp lại nhau gần như trong một phiên họp toàn thể, ngày 9/9, để cùng nghiên cứu hai bản dự thảo nghị định thư. Nhưng vì phần lớn các vấn đề đều để lại, cho nên cuộc thảo luận kết thúc luôn. Đêm mồng 9 sang sáng mồng 10, hai phái đoàn đã đi đến một dự án tạm ước thể hiện một sự cố gắng của hai bên nhằm đi đến hòa hợp. Sáng ngày 10, một văn bản được thông qua; nhưng buổi chiều hôm đó, khi tất cả đều có vẻ sẵn sàng để tiến hành ký kết, thì Phạm Văn Đồng đặt lại vấn đề tất cả. Ông yêu cầu thảo luận lại về toàn bộ bản dự án, hoặc loại bỏ ra ngoài nghị định như một vài điều khoản có ý nghĩa lấy chủ quyền của Việt Nam làm vật thế chấp. Ngoài ra, ông yêu cầu một lời cam kết cụ thể, về phía nước Pháp, về thời hạn và phương thức trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ. Ông nhấn mạnh rằng về phía mình, phái đoàn Việt Nam sẽ không ký bản tạm ước nếu nó không bao hàm lời cam kết đó.

Max André ngạc nhiên trước cái thái độ mới đó và theo yêu cầu của ông ta, buổi họp liền giải tán. Trên thực tế, hai phái đoàn sẽ không còn gặp nhau nữa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:34:23 pm »


Cuộc dàn xếp


Ngày 11, Hồ Chí Minh gặp các nhà báo. Một lần nữa, ông lại nhấn mạnh rằng ông rất mong muốn có một sự thỏa thuận với nước Pháp. Ông nói với phóng viên Associated Press: “Giữa chúng tôi, không có sự bất hòa thực sự. Những bất đồng của chúng tôi là những mối bất đồng thường gặp trong nội bộ mỗi gia đình”. Ông tuyên bố vẫn lạc quan tin tưởng ở sự giải quyết cuối cùng về mối bất đồng đó, ông khẳng định rằng không thể ký kết một hiệp ước trước tháng giêng (1947) và đảm bảo rằng khi trở về nước ông sẽ cố gắng chấm dứt cuộc chiến tranh du kích. Ông nói thêm rằng ông hy vọng phía Pháp cũng sẽ có những cố gắng như vậy. (24) Nhưng Hồ Chí Minh chỉ trích đề nghị của Pháp đòi “tước vũ khí và rút về nước những đội quân Việt Nam đang đóng tại Nam Bộ. Chúng tôi thấy việc thực hiện giải pháp này có ý nghĩa là một sự đầu hàng không hơn không kém... Chúng tôi đã yêu cầu: 1. Chấm dứt ngay mọi thứ tuyên truyền bất thân thiện tại Nam Bộ; 2. Các tù chính trị Việt Nam được phóng thích ngay khỏi các nhà tù Nam Bộ. Nhưng lời đề nghị đó không được phía Pháp chấp nhận. Về phần tôi, tôi vẫn tin chắc rằng những cuộc đàm phán có thể lại nối tiếp trong một bầu không khí hữu nghị trong năm hoặc sáu tháng nữa” (25).

Một lần nữa, lại phải suy nghĩ. Chính Pignon, trong một bức điện gửi d’Argenlieu, đã kể những điều dưới đây:

“Trong bữa ăn trưa ngày thứ tư 11/9 với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Moutet có tuyên bố với ông Hồ không chịu để cuộc đàm phán thất bại và đã tổ chức tối hôm ấy, tại nhà Sainteny, một cuộc họp giữa G. Moutet, Messmer, Pignon và hai đại diện Việt Nam. Họ đã xem xét những điểm bất đồng của bản tạm ước và tìm cách xích lại gần nhau. (Ngày 12, Moutet đã thông báo kết quả).

“Tiếp theo cuộc nói chuyện đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 13/9, đã trao cho ông Moutet một bản dự án mới trọn vẹn bao gồm nhiều sửa đổi chi tiết so với bản đã được bàn cãi trước đó và những điều sửa đổi nội dung những điều khoản về tiền tệ và quan thuế và những điều khoản liên quan đến vấn đề Nam Kỳ; đặc biệt là sự khước từ việc hồi hương quân đội về Bắc Kỳ và giao trả cho nhà chức trách Pháp những người dân (Pháp) nguyên là kẻ thù (của Việt Nam). Một dự án cuối cùng của Pháp đánh dấu một sự cố gắng hòa hợp mới, đặt vào mục những hiệp định tham mưu địa phương, những điều khoản về việc chấm dứt chiến sự tại Nam Kỳ. Dự án này sẽ được thảo luận giữa các vị đứng đầu hai chính phủ và đã được ông Moutet trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 14. Dự án ấy đã được thảo luận ngay hôm nay (ngày 14/9) giữa Thủ tướng Chính phủ (Pháp) và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Phái đoàn Việt Nam đã rời Paris trong buổi tối ngày 13, sau khi đã trao đổi những lời chúc mừng rất thân tình với các đại diện Pháp... Ngày rời Paris của Chủ tịch được dự định vào thứ hai 16 và ngày rời Toulon là thứ tư 18”
(26).

Lúc rời nước Pháp, phái đoàn Việt Nam đã tuyên bố như sau:

“Chúng tôi rất ân hận là cuộc Hội đàm Pháp - Việt tại Fontainebleau không đạt kết quả mong muốn. Chúng tôi vẫn giữ lòng tin nó sẽ được nói lại trong những điều kiện tốt hơn để đi đến kết quả.

“Trong lúc chờ đợi, chúng tôi trở về Việt Nam với ý chí quyết tâm sẽ ký kết tại chỗ với đại diện các nhà đương cục Pháp những hiệp định bộ phận về các vấn đề nhất định và chứng minh bằng hành động ý chí hiểu biết nhau và cộng tác với nước Pháp của chúng tôi. Đó cũng là phương pháp tốt nhất để tạo ra bầu không khí thuận lợi cho sự nối lại cuộc Hội đàm Fontainebleau”
(27).

Phái đoàn Việt Nam xuống tàu “Pasteur” ngày 14/9 tại cảng Marseille.

Vậy là Hồ Chí Minh và Moutet đã gặp nhau ngày 13. Một dự án mới của Pháp đã được trao cho ông Hồ ngày 14. Trong đêm 14 rạng ngày 15, Hồ Chí Minh đến chỗ ở của Moutet và ký tại nhà riêng Moutet, bản Tạm ước. Sáng hôm sau, Messmer điện cho d’Argenlieu:

“Gửi đô đốc d’Argenlieu. Tạm ước Pháp - Việt đã được ký hôm nay, chủ nhật 15/9, hồi 1 giờ 00 sáng. Văn bản đã được điện cho ngài” (28 ).

Messmer điện đi ngày 15 văn bản của Tạm ước và của “Lời tuyên bố kèm theo của các chính phủ nước Cộng hòa Pháp và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” mà nguyên văn như sau:

“Chính phủ nước Cộng hòa Pháp và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết tâm theo đuổi, trong tinh thần tin cậy lẫn nhau, một chính sách hòa hợp và cộng tác đã được thiết lập với Hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm 1946 và nói rõ trong các cuộc đàm phán Pháp - Việt tại Đà Lạt và Fontainebleau.

“Hoàn toàn tin tưởng rằng chỉ có đường lối chính trị này là phù hợp với lợi ích lâu dài của hai nước và với truyền thống dân chủ lâu đời của họ, hai chính phủ, căn cứ theo Hiệp định 6/3 vẫn giữ nguyên hiệu lực, nhận thấy đã đến lúc phải ghi thêm một tiến bộ mới trong sự phát triển các quan hệ Pháp - Việt, trong khi chờ đợi hoàn cảnh thuận tiện cho phép ký kết một hiệp ước trọn vẹn và vĩnh viễn.

“Trong tinh thần hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau, Chính phủ nước Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành ký kết một bản tạm ước, mang lại trong khuôn khổ những hiệp định hạn chế, những giải pháp tạm thời cho những vấn đề chính yếu có lợi ích tức thời đang đặt ra giữa nước Pháp và nước Việt Nam.

“Về những điểm liên quan đến cuộc trưng cầu dân ý đã được dự kiến trong hiệp định 6/3, hai chính phủ sẽ cùng nhau ấn định ngày giờ và thể thức tổ chức sau này.

“Hai bên tin chắc rằng những biện pháp đề cập đến trong bản Tạm ước này sẽ góp phần thiết lập lại trong tương lai rất gần một bầu không khí yên tĩnh và tin cậy lẫn nhau cho phép nối lại trong một ngày không xa những cuộc đàm phán dứt điểm.

“Hai bên tin rằng có thể dự tính vào tháng giêng 1947 việc nối tiếp lại những cuộc đàm phán vừa diễn ra tại hội nghị Pháp - Việt Fontainebleau (29).

“Paris ngày 14 tháng 9 năm 1946”.


Cơ bản nhất là điều khoản 9 của Tạm ước.

“Điều 9: Vì muốn bảo đảm, tại Nam Bộ và Nam Trung Bộ Việt Nam, sự vãn hồi trật tự công cộng cần thiết cho sự phát triển các quyền tự do dân chủ cũng như việc nối lại những cuộc trao đổi buôn bán, và ý thức được những tác động đáng mừng của việc chấm dứt mọi hành vi chiến tranh hoặc bạo lực của cả hai bên trên lĩnh vực vừa nói đó, Chính phủ nước Cộng hòa Pháp và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng nhau quyết định những biện pháp sau đây:

a) Hai bên chấm dứt mọi hành động chiến tranh và bạo lực.

b) Những hiệp định giữa các ban Tham mưu Pháp và Việt Nam sẽ đề ra những điều kiện áp dụng và kiểm soát những biện pháp mà hai bên cùng nhau quyết định.

c) Tạm ước nói rõ rằng những tù nhân hiện đang bị giam giữ vì những lý do chính trị sẽ được phóng thích, trừ những kẻ bị kết án vì tội phạm hình sự hoặc vi phạm pháp luật thông thường. Đối với những tù nhân bị bắt trong các chiến dịch cũng vậy.

Việt Nam cam kết sẽ không cho phép truy tố hoặc dùng bất cứ hình thức bạo lực nào đối với bất cứ người nào vì lý do người đó gắn bó hoặc trung thành với nước Pháp. Đáp lại, Chính phủ Pháp cũng cam kết sẽ không cho phép truy tố hoặc dùng bất cứ một hình thức bạo lực nào đối với bất kỳ ai vì người đó gắn bó với Việt Nam.

d) Việc hưởng những quyền tự do dân chủ định nghĩa ở điều 1 được hai bên cam kết đảm bảo.

e) Sẽ chấm dứt những việc tuyên truyền bất thân thiện ở cả hai bên.

f) Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam DCCH sẽ cộng tác với nhau để loại trừ khả năng tác hại của những người thuộc quốc tịch các nước nguyên là thù địch.

g) Một nhân vật do Chính phủ nước Việt Nam DCCH chỉ định và được Chính phủ Pháp chấp nhận sẽ được ủy nhiệm bên cạnh Cao ủy (Pháp) để tổ chức sự cộng tác cần thiết nhằm thi hành những điều thỏa thuận này
(30).”

Cùng ngày, Hồ Chí Minh ra một bản tuyên bố:

“Chúng tôi cam kết sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho việc phục hồi những quyền lợi kinh tế và văn hóa Pháp tại Việt Nam. Đáp lại, chúng tôi đã được phía Pháp cam kết thực hiện những quyền tự do dân chủ tại Nam Bộ. Chúng tôi hy vọng rằng những quyền tự do đó sẽ được thực hiện nhanh chóng và thẳng thắn. Chúng tôi nghĩ rằng, bằng mọi cách, những cuộc đàm phán sẽ được nối lại vào tháng giêng 1947” (31).

Giờ đây, Hồ Chí Minh không ở lại thêm nữa. Ông để lại ở Paris một phái đoàn mà ông coi là chính thức, với Hoàng Minh Giám, Trần Ngọc Danh và Dương Bạch Mai, rồi rời Paris ngày 18/9 bằng xe lửa; và ngày 19, ông xuống chiếu tàu hộ tống “Dumont d’Urville” tại Toulon về Hải Phòng. Trước mắt, ông có một tháng để vượt biển và suy tư.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:35:40 pm »


-IX-
LÀM SAO VÔ HIỆU HÓA ĐƯỢC HÀ NỘI?
(21/9 - 13/11/1946)



Nhìn chung, bản Tạm ước đã đáp ứng những yêu cầu chính của Pháp: Việt Nam đã chấp nhận nguyên tắc một Liên bang Đông Dương, do đó chấp nhận cả sự thống nhất quan thuế, sự thống nhất tiền tệ, sự phối hợp giao thông v.v... Việt Nam dành ưu tiên cho Pháp (về việc mời cố vấn và chuyên gia); họ sẽ trả lại tài sản cho người Pháp và dành cho họ sự dễ dàng trong việc làm và tự do lập nghiệp. Như vậy cuộc sống kinh tế có thể khôi phục lại. Về phía mình, nước Pháp đã cam kết lại sẽ tổ chức trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ và những hoạt động chiến tranh phải chấm dứt vào ngày 30/10.

Vậy là hai chính phủ đã kết thúc cuộc hội nghị Fontainebleau trong một triển vọng hòa dịu dần dần chứ không phải triển vọng đối đầu; ý định công khai của hai bên sẽ nối lại cuộc đàm phán vào tháng giêng 1947 đã khẳng định điều đó. Mặc cho đô đốc d’Argenlieu la hét lên trước việc ký kết “vội vàng” của bản thỏa ước mà ông ta coi như là một thảm họa vì cái điều 9 kia, ông bộ trưởng vẫn bộc trực rõ ràng, một tuần lễ sau, trong những “chỉ thị chính trị” gửi cho Cao ủy, đề ngày 21/9:

“Tạm ước Pháp - Việt ngày 14/9... chắc chắn là một tiến bộ đáng kể so với hiệp định sơ bộ mồng 6/3. Tuy nhiên, chúng ta không thể coi bản thỏa ước tạm thời ấy như là cơ sở xuất phát có khả năng để cho chúng ta hé thấy một sự giải quyết tận gốc của vấn đề Đông Dương.

“Nếu phải thực hiện nó một cách trung thực về phía chúng ta, chính là để trước tiên khuyến khích một sự hòa dịu, nhờ có nó mà chúng ta cần thiết phải xem xét lại toàn bộ chính sách của chúng ta. Chúng ta cần cố gắng khơi dòng cho sự hòa dịu đó ngay từ bây giờ và tránh mọi biện pháp có thể đầu độc những mối quan hệ Pháp - Việt trước ngày bản Tạm ước bắt đầu có hiệu lực, tức 30/10/1946”
.






Nam Kỳ - cái trục quay của chính sách nước Pháp


“Chính phủ đã rút ra được một điều khẳng định rằng Nam Kỳ là cái trục quay đích thực của toàn bộ chính sách của chúng ta về Đông Dương. Chúng ta phải thành công và thành công nhanh chóng tại Nam Kỳ, bởi vì tương lai sự hiện diện của nước Pháp tại Đông Dương hầu như hoàn toàn tùy thuộc vào thành công hay thất bại của chúng ta.

“Trước mắt chúng ta có hai phương pháp: hoặc là tăng cường những cố gắng quân sự, cùng với tất cả những hậu quả mà một thái độ như thế có thể mang lại ở Đông Dương, ở Pháp và trước dư luận quốc tế, hoặc ngược lại, điều đình với các chính phủ có một cơ sở đại diện đủ rộng rãi để làm việc một cách có hiệu quả nhằm lập lại trật tự dựa trên sự ủng hộ của chúng ta.

“Trên thực tế, chúng ta không thể nào nghĩ tới vận dụng chính sách sức mạnh một cách có hiệu quả được, bởi vì những phương tiện quân sự đang còn và sẽ còn bị hạn chế.

“Chính phủ đã dứt khoát chọn giải pháp thứ hai. Chính phủ đã quyết định thi hành tại Nam Kỳ một chính sách có tính chất dân chủ thực sự, theo ý Chính phủ thì chỉ có một chính sách như vậy mới có khả năng cải thiện tình hình các địa phương Nam Kỳ, nhưng cũng cần thiết để giải quyết vấn đề Việt Nam (trong nguyên bản: vấn đề Annam) về tổng thể.

“Nhiệm vụ của Ngài là cho thi hành càng nhanh chóng càng hay điều 9 của Tạm ước, là điều khoản nhằm thiết lập những quyền tự do dân chủ tại Nam Kỳ. Chúng ta không nên sợ đi bước đầu trên lãnh vực này. Lập trường của chúng ta khi đó lại càng được củng cố thêm một cách đặc biệt nếu như Chính phủ Hà Nội vẫn cứ duy trì chính sách độc tài và chúng ta sẽ rút ra khi cần tất cả các hậu quả một cách dễ dàng hơn. Tất nhiên các nhà chức trách Pháp cũng sẽ kiên quyết lưu ý cho những điều cam kết tương tự được áp dụng một cách nghiêm túc trong những vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

“Một trong những biện pháp đầu tiên cần khơi lên tại Nam Kỳ phải là sự mở rộng Chính phủ của bác sĩ Thinh. Chắc chắn là sẽ phải tiến hành từng bước, nhưng không được một giây phút nào quên rằng chúng ta phải tìm cách thiết lập một chính phủ thật sự dân chủ, đại diện cho phần đông nhân dân Nam Kỳ. Hoàn toàn không loại trừ sự tham gia của những nhân vật không che giấu sự đồng tình của họ đối với sự thống nhất ba Kỳ. Chính phủ Pháp không sợ sự phát triển của một nền dân chủ thực tình tại Nam Kỳ, ngay cả khi một chế độ tự do như vậy sớm muộn sẽ dẫn đến sự thống nhất ba Kỳ, dưới hình thức này hay hình thức nọ.

“Chính sách ấy hẳn là táo bạo; nó có thể dẫn đến những phản ứng quyết liệt ở các địa phương: dù sao đi nữa vẫn là chính sách duy nhất có khả năng cho chúng ta một lối thoát ra khỏi tình trạng lập lờ hiện nay và nghĩ đến một sự trấn an lòng ngài nhanh chóng, có thể nuôi hy vọng phục hồi được kinh tế và nền kinh tế phục hồi không bao lâu sẽ liên kết được những người Pháp ở Đông Dương và đại bộ phận những người dân Việt Nam
(trong nguyên bản: Annam).

“Chính sách này hoàn toàn không phải là một chính sách bỏ rơi. Dư luận công chúng Pháp cũng như các giới chính phủ ngày càng quyết tâm củng cố địa vị của Pháp trên đất Đông Dương.

“Địa vị của chúng ta ở phía Bắc vĩ tuyến 16 thực ra đã được vững vàng hơn nhờ Tạm ước này. Nhiệm vụ của Ngài là sử dụng hết quyền lực của mình để buộc Chính phủ Việt Nam và các đại diện của họ thực hiện đúng đắn đến mức tối đa những điều khoản liên quan đặc biệt đến tình hình tài sản của Pháp (tại Đông Dương) và đến những cam kết về văn hóa”
(1).

Chỉ thị của Bộ Quốc phòng cũng được gửi tới sau đó không bao lâu. Nó nằm cả trong bức điện ngày 1/10 gửi Bộ Tổng Tham mưu của Cao ủy. Người ta đọc được chủ yếu những điều sau đây:

“Bản Tạm ước này nhằm tạo nên một không khí thuận lợi cho một chính sách bình định ở Nam Kỳ với sự hỗ trợ của quyền lực Hồ Chí Minh, bằng cách cho phép giải giáp những phần tử cực đoan bất trị, nhưng với sự lo lắng làm cho tất cả mọi người được yên tâm và ngăn ngừa đến mức tối đa mọi nguyên cớ phản ứng...

“Cần coi điều 9 như một tổng thể mà sự vận dụng phụ thuộc vào việc ký kết những hiệp định tham mưu. Nói tóm lại mục đích tìm kiếm là tước vũ khí những tên phiến loạn gốc Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ và đưa trở ra Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ những phần tử gốc ở ngoài đó. Mục đích ấy phải đạt được nếu cần thì dần dần và từng bước...

“Việc cử tới bên cạnh Cao ủy một quan chức của Chính phủ Việt Nam phải xem như một sự nhân nhượng quan trọng của Chính phủ Pháp và hoạt động của vị quan chức ấy cùng với những người thân cận của ông ta phải hướng vào mục đích làm yên lòng người. Mọi việc hỗ trợ đối với phái viên Việt Nam theo tinh thần đó đều phải được thực hiện dưới sự kiểm soát của Ngài, bởi mục đích ta theo đuổi là giúp cho ông ta phát huy ảnh hưởng của mình để chấm dứt mọi hành động chiến tranh. Chính phủ đã chấp nhận vị đại diện này, nhưng lại từ chối sự thành lập một tiểu ban hỗn hợp mà ông Hồ Chí Minh, cũng xuất phát từ nhu cầu đó, đã đề nghị thành lập”
(2)...

Vậy là Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Pháp coi như đã được rảnh tay, ít nhất là trong một thời gian, với tập hồ sơ nóng bỏng về Việt Nam và giao phó cho Cao ủy việc áp dụng tại địa phương các điều khoản của Tạm ước mà việc ký kết cho được đã phải trải qua bao khó khăn, nhưng ký được rồi nó cũng cho phép nghỉ ngơi một chút để lấy lại hơi sức. Ngày 25/9, Bidault điện cho d’Argenlieu, ngoài những lời khen ngợi: “Tôi cầu mong cho việc thực hiện bản tạm ước này, với sự quan tâm lo lắng của Ngài, sẽ đánh dấu những tiến bộ mới trong quan hệ giữa nước Pháp và nước Việt Nam. Hãy yên tâm về lòng tin cậy và tình bạn của tôi” (3).

Điều mà Paris đã quyết tuy vậy vẫn không hợp với ý muốn của đô đốc d’Argenlieu. Nếu một mặt, ông “dự kiến sẽ gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay khi Chủ tịch về đến vùng biển Đông Dương”, thì mặt khác ông ta cũng tính toán về một sự thay đổi sắp tới trong chính sách nội trị của nước Pháp và dĩ nhiên bao hàm trong đó, là sự trở lại một thái độ cứng rắn hơn của Paris. Cuộc trưng cầu dân ý về Hiến pháp đã gần đến ngày. Tướng De Gaulle và phong trào Cộng hòa Bình dân (MRP) đã đề nghị bác bỏ dự án, trong khi phe xã hội và cộng sản yêu cầu phê chuẩn nó. Cũng dễ thấy được mong muốn của ông đô đốc đang đi về hướng nào. Thế nhưng ngày 13/10, đại đa số các cử tri Pháp tán thành bản Hiến pháp, còn đa số áp đảo các cử tri Đông Dương lại bác bỏ nó. Đã rõ ràng là từ đây, nước Pháp sẽ theo một chế độ nghị trường và yếu về cơ quan hành pháp. Đô đốc d’Argenlieu càng ngày càng ít tin tưởng ở hậu phương của mình. Liệu về phía ông, ông sẽ biểu thị tinh thần cứng rắn hay không?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:37:42 pm »


“Trả đũa” Hà Nội thế nào đây?


Ngày 18/10, tại vịnh Cam Ranh, ông Cao ủy gặp ông Hồ Chí Minh vừa ở Pháp về trên chiếc tàu “Dumont d’Urville”. Bề ngoài, cuộc hội kiến ra chiều suôn sẻ. D’Argenlieu báo cáo lại cho ông bộ trưởng:

“Sau cuộc hội kiến ấy, mà... theo ý tôi có mang lại kết quả, tôi có cảm giác rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lo ngại về tình hình thực tế mà ông ta sẽ gặp khi bước chân về nước... Dù sao tôi vẫn có cảm tưởng rằng ông Hồ chân thành mong muốn, ít ra là trong một thời gian, sẽ tìm thấy ở sự giao hòa với Pháp một sự củng cố lại các kết quả đã giành được và bước đầu của những tiến bộ mới... Tôi cũng tin chắc rằng ông Hồ sẽ cố gắng, bằng cách kết hợp những lời tuyên bố thân thiện với những lời dọa dẫm tố cáo, giành được tại Nam Kỳ những lợi ích tối đa nhờ những lợi ích cụ thể mà điều 9 của Tạm ước đã mang lại cho ông” (4).

Ngày 20/10, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Hải Phòng và trở về Hà Nội, ở đó ông có mời thủy thủ đoàn chiếc “Dumont d’Urville” (tới chiêu đãi). Thật là một “ngày về chiến thắng”. Được mọi người, mọi nơi nhiệt liệt hoan nghênh; ông đã đồng thời kêu gọi mọi người hoan nghênh tình hữu nghị Pháp - Việt.

Từ khi cuộc hội nghị Fontainebleau có vẻ bị sa lầy, hồi tháng 8, điều làm cho các nhà đương cục Pháp quan tâm suy nghĩ hơn cả là tình hình Nam Kỳ. Thực tình Việt Minh lúc này đã phát động một chiến dịch tấn công tâm lý, chính trị và quân sự (kèm khủng bố), đánh những đòn nặng nề vào tổ chức cai trị của nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mà vất vả lắm người ta mới hình thành nổi: các chức sắc địa phương, bị khủng bố hoặc bị hăm dọa, sẽ “cam kết” với kẻ thù (tức Việt Minh - LND) và cứ như thế, dần dần, Việt Minh đã nắm được quyền kiểm soát “thực tế” toàn bộ vùng nông thôn. Sài Gòn cảm thấy đất sụt ở dưới chân mình mà không tìm ra phương cách nào chống đỡ cái mà Moutet gọi là “trục quay của chính sách nước Pháp ở Đông Dương” đang trên đường sụp đổ từ bên trong: Việt Minh đang thắng, nếu người ta không phản ứng. Ngày 22/9, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ đã ra công khai và phát đi một lời tuyên cáo trong đó họ khẳng định chỉ duy nhất họ là chính quyền hợp pháp của Nam Bộ và ngày 5/10 trong công báo Hà Nội đã đăng một sắc lệnh số 182 ngày 13/9 tổ chức lại Ủy ban kháng chiến Nam Bộ. Hà Nội đã nói rõ (ngày 13/10) là vì muốn dễ dàng cho “việc áp dụng, đối với phía nước Pháp, những hiệp định mồng 6/3 và Tạm ước (ngày 14/9)”.

Ngay lúc hội kiến với Hồ Chí Minh tại Cam Ranh, d’Argenlieu đã phản đối quyết liệt quyết định này. Đối với ông đô đốc, thì đây là một sự can thiệp không thể chấp nhận được của Hà Nội vào một lãnh thổ thuộc chủ quyền của Pháp từ đây đã có “một chính phủ hợp pháp”, một thủ đoạn nhằm dựng lên tại đó “một chính phủ song hành” và áp đặt cho dân bằng cách phổ biến hóa sự lật đổ và sự khủng bố. Vậy ưu tiên phải dành cho việc khôi phục lại trật tự, mà không có nó - người ta đã nói và nhắc đi nhắc lại - thì không thể nào có được cuộc trưng cầu dân ý. Sự lo lắng bao trùm lên người châu Âu cũng như những người theo đảng ly khai ở Nam Bộ.

Nhưng, về mặt quân sự, với sự khước từ mà Hồ Chí Minh đã phát biểu ngay khi còn ở Paris, không chịu cho quân đội mình ở miền Nam trở về miền Bắc, bây giờ người ta nhận thức được rằng không thể nào tính đến chuyện “bình định” Nam Kỳ chỉ trong khuôn khổ địa phương. Phải tìm cho ra một “giải pháp toàn bộ”; và đây là điều mà tướng Valluy đề nghị, ngày 14/10, trong một bản báo cáo gửi d’Argenlieu:

“Tôi nghĩ đến một hình thức có thể phù hợp cho chính sách hiện nay của chúng ta là: đừng bằng lòng với việc chế ngự các cuộc tấn công của bọn phiến loạn, mà trái lại phải thực hiện một áp lực thật căn bản đối với bọn phiến loạn ấy bằng cách chủ động mở những chiến dịch quy mô tại Hà Nội và tại Trung Kỳ”...

“Việc vận dụng đến cái lý lẽ cuối cùng
1 này hiện lên trước mắt tôi như một điều tiền định. Nó được “ghi nhận” sau một loạt dài thất vọng mà vẫn có thể, một cách nghịch lý, là cái bước mở đầu một giai đoạn hòa dịu cho mọi người và một giai đoạn thỏa thuận cho phía chúng ta.

“Thực hiện thì tế nhị, khó khăn mà hậu quả tức thời thì nặng trĩu. Nếu chính phủ mới
2 chịu chấp nhận thì phải tính đến chuyện đưa ra thi hành sớm nhất là vào tháng 2-3/1947.

“Nhưng phải với điều kiện là nó có thể thực hiện được và một khi vấn đề đã được quyết thì chúng ta phải có trong tay những phương tiện thích hợp và có ngay bên cạnh.

“Tôi đã nhấn mạnh đến tình trạng khủng hoảng, về số quân cũng như tổ chức, mà đội quân viễn chinh sẽ trải qua trong ba tháng đầu năm 1947. Không phải với cái mớ quân bát nháo của chính quốc gửi sang cho tôi - trong số đó một phần lớn cần phải đưa vào khuôn khổ, thậm chí cần phải huấn luyện lại - mà tôi có thể chiếm lấy một cách gọn gàng nhất Hà Nội và Huế và cùng một lúc chế ngự được những lực lượng vũ trang Việt Nam, mà phải có những đơn vị tổ chức thuần nhất và thiện chiến.

“Thiếu công cụ đó, chúng tôi không thể nào thi hành được những mệnh lệnh mà Chính phủ có thể giao cho chúng tôi”…


Vậy là Valluy yêu cầu ông Cao ủy bất cứ bằng giá nào cũng xin cho được Chính phủ Paris duy trì đạo quân viễn chinh ở quân số 75.000 người - con số này chắc sẽ còn phải tăng cường thêm “trong giả thiết mà ngài bắt buộc phải đề nghị với Chính phủ mở những chiến dịch mới và dưới một hình thức hơi đặc biệt một chút” (5)...
_______________________________________
1. Tiếng Latin trong nguyên văn: Ultima ratio.
2. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý Pháp ngày 13/10 đã được biết.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:39:34 pm »


Một hành vi bạo lực tại miền Bắc


Đô đốc d’Argenlieu nắm được những tin tức này, sau khi vừa báo cáo về Paris cuộc hội kiến của ông ta tại Cam Ranh với Hồ Chí Minh qua bức điện nói trên, liền gửi ngay, cũng cùng ngày 19/10, cho Georges Bidault và tướng Juin một bức điện mật trong đó ông lập luận như sau:

“Trong lúc những cuộc điều đình Pháp - Việt nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện Tạm ước sắp sửa tiến hành, tôi nhất trí với tướng Valluy thấy phải lưu ý Chính phủ về những điểm sau đây:

1. Như chúng ta cần dự tính trước, nếu việc trở về nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không lôi cuốn theo được một bước ngoặt thực sự trong xu hướng của Chính phủ Hà Nội, thì chắc chắn ông Hồ sẽ lợi dụng thời gian áp dụng Tạm ước không những để tìm kiếm những ưu thế chính trị quyết định ở miền Nam mà còn để bảo đảm cho mình một vị trí quân sự mạnh hơn...

2. Trong khi tiềm năng quân sự của Chính phủ Hà Nội được tăng cường, ít ra trong tương lai trước mắt, thì tiềm năng quân sự của chúng ta, do việc thay quân, lại chuyển sang một giai đoạn khủng hoảng ngày càng sâu sắc. Việc duy trì quân số ở mức 75.000 người không được bảo đảm cho năm 1947...

3. Việc tái chiếm các tỉnh của Campuchia sẽ đòi hỏi sự bố trí lực lượng quân sự ở miền Nam của chúng ta phải tăng cường hiệu lực trong khi nó đang bị dàn mỏng ra nhiều rồi.

4.... Tôi cho rằng chúng ta không nên loại trừ giả thiết một hành động bạo lực của Chính phủ Hà Nội với đủ mọi duyên cớ khác nhau đẻ ra từ việc khai thác bản Tạm ước. Tôi không sợ những tác động đầu tiên của hành vi quân sự đó; lực lượng của chúng ta sẽ đủ sức đối phó. Nhưng, nếu như chúng ta phải bị động mà chấp nhận, thì chắc chắn là tinh thần quân đội ta và từ đó cả dư luận công chúng Pháp sẽ bị tổn thương.

5. Nếu Chính phủ thừa nhận khả năng có thể xảy ra của giả thiết này, thì Chính phủ cần phải chuẩn bị phương tiện đối phó ngay từ bây giờ. Quả vậy, lúc đó, một sự “trả đũa” tức thời sẽ là cần thiết tại Hà Nội cũng như tại Trung Kỳ. Tôi yêu cầu Chính quốc sẽ tổ chức sẵn sàng cho tháng 3/1947 những đơn vị hoàn bị, những đại đội bộ binh, thiết giáp... cần thiết để thành lập một sư đoàn 10.000 người trang bị nhẹ nhàng và không có trọng pháo; ngoài ra Chính phủ sẽ có những biện pháp cần thiết để duy trì con số 75.000 người của đội quân viễn chinh. Những lực lượng này là tối cần thiết để giữ vững vị trí lãnh thổ hiện nay của chúng ta, chiếm đóng các tỉnh Campuchia đã được cắt nhượng (ngay sau cuộc dàn xếp ngoại giao) và bằng cuộc trả đũa của chúng ta tại Hà Nội và Trung Kỳ, vô hiệu hóa những nhân tố lãnh đạo các cuộc biến động lật đổ và khủng bố tại miền Nam.

“Tôi được biết rõ những khó khăn đủ thứ mà Chính phủ phải trải qua để nâng đỡ những cố gắng quân sự của mình tại Đông Dương, nhưng tôi nghĩ rằng tôi có bổn phận phải báo trước cho Chính phủ biết những nguy cơ mà một tình huống như vậy sẽ có thể đưa đến
(6).

Ký tên: D’ARGENLIEU


Việc xin viện trợ này sẽ được xem xét trong một phiên họp liên bộ tại Paris, ngày 23/10. Nó sẽ được tướng Juin ủng hộ; mấy hôm sau, tướng Juin viết:

… “Việc duy trì sự cố gắng đó sẽ là điều kiện cần yếu để thành công trong chính sách hòa hợp của chúng ta với Chính phủ Việt Nam. Nếu như chúng ta tỏ ra yếu đi, thì chỗ đứng của chúng ta sẽ nhanh chóng bị lung lay và vô phương cứu vãn” (7).

Vững lòng ở sự ủng hộ của ông đô đốc, tướng Valluy phải hành động cấp tốc với các cấp dưới của ông ta để sửa soạn cú “trả đũa” dự định. Quả nhiên, ngày 13/10, có tin đồn ở Hải Phòng rằng Pháp sắp mở một cuộc tấn công tức thời (ngày 15); quân đội Việt Nam được lệnh “đề phòng để tránh khiêu khích”, và ngày 21, một mệnh lệnh số 380 của tự vệ khu vực 4 Hải Phòng khẳng định: “Quân Pháp, lợi dụng buổi tiếp đón Hồ Chủ tịch và sự lơ là cảnh giác của ta, đã bất ngờ chiếm đóng các công sở”. Do đó, lại cần có những biện pháp mới để đối phó với mọi bất trắc.

Chắc hẳn là để vận dụng một chỉ thị của tướng Valluy nên đại tá Dèbes, chỉ huy quân sự Hải Phòng, ngày 21/10 đã ra mệnh lệnh số 13706-R/3S; đại úy Dercourt, chỉ huy các nhóm quân RICM đóng tại Bắc Kỳ, chắc chắn đã căn cứ vào mệnh lệnh nói trên để ra một “đặc lệnh” số 938-TC, ngày 30/10, bắt đầu bằng những câu sau đây:

“Vì tình hình vẫn không ổn định, nên chúng ta có thể bắt buộc phải can thiệp một cách khẩn trương và chủ động bất cứ lúc nào. Đi theo giả thiết đó phải có một kế hoạch tiến công phù hợp.

Kế hoạch này nhằm mục đích:

a) Làm chủ các khu phố người Pháp bằng cách loại trừ các đồn bót Việt Nam;

b) Chiếm đóng những nơi cơ yếu nhất cho phép chúng ta làm chủ được cả thành phố;

c) Giải tòa con đường bộ Lạch Tray”...


Tiếp theo, bản “đặc lệnh” trình bày chi tiết nhiệm vụ của tập đoàn xe thiết giáp của RICM và các trục hành quân, chủ yếu là mở rộng ra theo kiểu “vết dầu loang” đến khu vực Duyên Hải. Dĩ nhiên, mệnh lệnh chỉ thị: “tuyệt đối mật” (8 ).

Hai ngày trước, ngày 28, tại Hà Nội, bộ chỉ huy Pháp đã ban hành một “lệnh hành quân số 1” và hai “đặc lệnh” xuống các đơn vị, chủ yếu là các đơn vị biệt động xe bọc thép. (9)

Dĩ nhiên là một số dự án đều “trên mây”. Trong một bức thư ngày 25/10 (tức trước ngày Tạm ước bắt đầu có hiệu lực), gửi nhiều nhà lãnh đạo Pháp tại Đông Dương, đô đốc d’Argenlieu đã nói không che giấu:

“Chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng để đối phó khi cần, kể từ tháng giêng 1947, với một sự tái diễn chiến sự, bằng một hành động bạo lực nhằm vô hiệu hóa Chính phủ Hà Nội về chính trị cũng như về tinh thần, và nhờ đó tạo thuận lợi cho công cuộc bình định miền Nam”1 (10)..

Một văn bản mang dấu vết lo âu do cuộc tấn công quân sự của Việt Minh lúc ấy tại miền Nam. Sài Gòn có khuynh hướng coi tình hình Nam Kỳ từ đây như vô vọng nếu người ta không đánh vào cái đầu, tức vào Hà Nội.
_______________________________________
1. Trong một bức thư ngày 25/10 gửi thống đốc Laurentie, Pignon viết: “Chống lại Hồ Chí Minh và Việt Minh chỉ có thể là một nền quân chủ thống nhất và dân chủ. Chính quốc có cho phép chúng ta chơi con bài này chăng?”. Ngay ngày 24/8, d’Argenlieu đã yêu cầu Chính phủ gọi Bảo Đại sang Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:40:21 pm »


Vấn đề kiểm soát thuế quan


Chính phủ Pháp, qua ngòi bút của Moutet, đã chỉ thị rằng trong giai đoạn khó xử này không được chủ động làm một điều gì có thể làm cho tình hình đột nhiên thêm căng thẳng, gây khó khăn trở ngại cho việc ký kết những hiệp định vĩnh viễn. Thế nhưng, ngay trước khi ký Tạm ước, các nhà chức trách Pháp ở Đông Dương phụ trách các vấn đề kinh tế, đã hết sức lo sợ trước tình hình buôn lậu ở miền Bắc; họ tình nghi về nội dung hàng lậu đó: đổi gạo (hoặc những thực phẩm hiếm thiếu) lấy vũ khí mà Chính phủ Hà Nội mua sắm ở Trung Quốc, bằng mọi thủ đoạn, nhằm nhanh chóng củng cố quân đội của mình. Các nhà chức trách Pháp bèn quyết định thành lập một hệ thống kiểm soát thuế quan. Họ cho rằng nên cách ly nước Việt Nam DCCH với Trung Quốc bằng cách kiểm soát chủ yếu Lạng Sơn và nhất là Hải Phòng.

Vậy là ngày 10 tháng 9 và một cách bí mật (vì Paris cũng đến nửa tháng 11 mới được thông báo về sự việc này), viên cố vấn kinh tế Davée và tướng Morlière, ủy viên mới (quyền) của Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ, đã quyết định thiết lập một hệ thống kiểm soát thuế quan ở các vùng duyên hải Việt Nam và đặc biệt xung quanh Hải Phòng, bắt đầu từ ngày 15/10. Quyết định này gây nên một sự náo động tâm lý sâu sắc trong các giới chính trị Việt Nam; họ coi đó là một sự vi phạm Tạm ước.

Giả sử Việt Nam có chấp nhận “nguyên tắc” thống nhất thuế quan đi nữa thì ít nhất cũng còn phải thông qua những tiểu ban hỗn hợp mà thảo luận nhất trí với nhau về các thể thức kiểm soát thuế quan và những vấn đề tài chánh mà nó bao gồm (việc phân định thu nhập là một vấn đề chính phủ, chưa được giải quyết tại các cuộc đàm phán Paris). Chính phủ Hà Nội đã tức thời phản đối với tướng Morlière về cái gọi là “sự vi phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam” và ngày 20/10, Ban Chấp hành Mặt trận Việt Minh kêu gọi người Pháp “xem xét lại thái độ của họ”.

Trở về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng vấn đề này phải được giải quyết do những tiểu ban hỗn hợp mà ông Hồ đã quyết định cùng với đô đốc d’Argenlieu tại Cam Ranh phải nhanh chóng thành lập và ngay ngày 29/10, ông Hồ đề nghị với Sài Gòn cho họp ngay không chậm trễ tiểu ban hỗn hợp thuế quan và thương rnại nhằm nghiên cứu những vấn đề chưa được giải quyết tại Hải Phòng. Đây là ngày hôm trước của ngày mà Tạm ước bắt đầu có hiệu lực và cũng là ngày hôm trước của ngày ngừng bắn ở Nam Bộ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:42:11 pm »


Giờ khắc lựa chọn


Tại Sài Gòn, giờ ngừng bắn càng tới gần càng làm cho mọi người lo âu, vì Việt Minh đã tăng cường hoạt động. Ngày 26/10, d’Argenlieu báo động Paris bằng những lời lẽ hùng hồn về các nguy cơ của tình hình. Ông ta tố cáo “trò chơi hai mặt mà Hà Nội tiết hành với một phương pháp ngoan cố... sự hoạt động chỉ đạo từ các đường ngầm dưới mặt đất, sự quyết liệt của những cơ quan họ thiết lập nên, những mệnh lệnh được ban ra và đang trên con đường thực hiện... Một hệ thống chính trị hoàn toàn đầy đủ đã được hình thành dần với mệnh lệnh giành nắm chính quyền ở khắp mọi nơi... Đồng thời, các lực lượng vũ trang đang di chuyển chú ý tránh mọi đụng độ sao cho tới ngày 30/10 họ sẽ chiếm được những vĩ trí thuận lợi, càng gần các trung tâm lớn càng hay, hòng biến những vị trí ấy thành tuyến đầu đồn bót của họ”... Ông ta cáo giác điều 9 của tạm ước: “Tạm ước... mai đây sẽ biến những con người mà chúng ta có thể coi một cách hợp pháp và chính đáng là những người lính chính quy của một nước bạn, thành viên của Liên hiệp Pháp, như những kẻ phiến loạn. Có thể là cần phải phá tan đi cái kế hoạch mà một kẻ thù bất cộng đái thiên (không đội trời chung) đã xây dựng lên một cách tỉ mỉ ấy” (11). Ông đô đốc đã biết và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định với ông ta tại Cam Ranh, rằng Hà Nội từ chối không bàn (thậm chí cả không nghĩ đến) về việc rút quân đội Nam tiến của Việt Nam ra Bắc.

Đến ngày quy định, 30/10, lúc 0 giờ, chiến sự đã hoàn toàn chấm dứt tại Nam Kỳ, chứng tỏ Hà Nội kiểm soát hoàn toàn các du kích miền Nam và là người chỉ đạo hoạt động của họ. Tạm ước bắt dầu chính thức có hiệu lực. Bây giờ chỉ còn phải bàn cãi, theo như dự kiến, về việc bình thường hóa tình hình trong các lĩnh vực bao gồm trong hiệp định.

Ngày 29/10, ông đô đốc báo cho Paris biết rằng Hà Nội vừa đề nghị Chính phủ Pháp thừa nhận Phạm Văn Bạch là người được ủy nhiệm bên cạnh Cao ủy để thiết lập sự cộng tác hai bên trong việc thi hành các hiệp định. Phạm Văn Bạch là chủ tịch Ủy ban hành chánh Nam Bộ. Ông Cao ủy liền lập tức yêu cầu Paris từ chối, nhưng Paris không phản ứng gì.

Việc ngừng bắn và sự yên tĩnh trở về sau chuyện ngừng bắn, đã mang lại cho Sài Gòn - cũng như cho cả Paris - một chút khoan khoái. Ngày 1/11, ông đô dốc báo cho Paris biết rằng chiến sự đã ngừng đúng vào hồi nửa đêm ngày 29/10 và một tiểu ban quân sự Pháp, do tướng Nyo chỉ đạo, đi Hà Nội để “ấn định những nguyên tắc sẽ theo đó mà ký kết các hiệp định tham mưu”. Ngoài ra, “150 chính trị phạm đã được phóng thích ngày 3/10”.

Từ mấy hôm nay, ông đô đốc chuẩn bị chuyến đi Paris sắp tới của ông, dự kiến vào khoảng giữa tháng 11 mà ông cho là cần thiết, trong tình huống hiện tại, nhằm thăm dò các ý định và thái độ của Chính phủ cũng như của các đảng phái. Nhưng ông ta biết, từ đây, rằng chính sách Nam Kỳ của Paris đã thay đổi (mặc dù Pignon vẫn cố chối) (12) và ông ta đành phải đi dần tới chỗ ban hành những “quyền tự do dân chủ” và cả tới việc mở rộng chính phủ Sài Gòn.

Nhưng cái quy mô rộng lớn của cuộc tấn công của Việt Minh đã gieo hoang mang dao động cho những phần tử “ly khai”: họ cảm thấy Chính phủ Pháp không ủng hộ họ nữa; một số người nghi ngờ Chính phủ Pháp đang hướng về phía Bảo Đại. Ngày 6/11, Hội đồng Nam Kỳ họp kín, chất vấn Chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Người ta yêu cầu ông ta cải tổ Chính phủ; Bác sĩ Thinh đã tự tử ngày 9/11... Tình hình chính trị bỗng nhiên trở nên nghiêm trọng tại Nam Kỳ; những kẻ theo phái “thống nhất” giờ đây dường như đang đợi thời cơ của họ. Thường dân Pháp ở Sài Gòn cảm thấy nản lòng.

Vậy nhưng trái lại, trước mặt là một sự củng cố. Nỗi lo sợ về sự ổn định của Chính phủ Hà Nội đã tiêu tan. Ngày 28/10, Hồ Chí Minh đệ đơn xin từ chức với Quốc hội lập hiến. Được bầu lại ngay tức thời, ông đã đề nghị một ê kíp mới và ngày 3/11, danh sách chính phủ mới đó được Quốc hội thông qua. Nhưng Chính phủ thống nhất quốc gia tháng 3 đã được thay thế bằng một Chính phủ đoàn kết dân tộc (Liên Việt), lần này hoàn toàn do Việt Minh thống trị.

Phái đối lập quốc gia chủ nghĩa, bị yếu đi rất nhiều, đành phải rút vào vòng bí mật. Một trong những lãnh tụ có tên tuổi hơn cả của họ là Phạm Gia Do, đại biểu VNQDĐ, bị công an Việt Nam coi như là “ứng cử viên” của Pháp, sắp sửa bị bắt giữ (13). Quốc hội Việt Nam, ngày 8/11, đã biểu quyết thông qua bản Hiến pháp soạn thảo từ mấy tháng trước; rồi Quốc hội hoãn họp, sau khi đã yêu cầu Chỉnh phủ hành động rất cứng rắn nhằm buộc phía Pháp phải tôn trọng chủ quyền thuế quan của nước Việt Nam DCCH.

Ngay từ ngày 6/11, d’Argenlieu đã cho Paris biết cảm tưởng của ông ta về những sự kiện xảy ra tại Hà Nội. Ông nhấn mạnh rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công khai “xác định lập trường của mình là sự thực hiện Tạm ước và sự cần thiết phải đổi mới và củng cố tình hữu nghị Pháp - Việt...”, sau đó, ông đô dốc thừa nhận:

“Cuộc tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nước Pháp về, tại Bắc Kỳ, chứng tỏ Chủ tịch vẫn tuyệt đối làm chủ tình thế, mặc dầu có một sự phản đối càng ngày càng tăng, nhưng không có cách nào phát biểu công khai được vì đã bị “nhét giẻ vào miệng rồi”. Tuy nhiên, không thể chối cãi được rằng đảng Việt Minh, trở thành đảng cầm quyền, trong một năm qua đã bị suy yếu quyền hành. Vậy nhưng một mặt, bộ máy hành chánh chính trị của Việt Minh vẫn nguyên vẹn và mặt khác phe đối lập rõ ràng là không tài nào tổ chức được lực lượng của mình trước sự đàn áp của một cơ quan công an rất đông và rất đủ quyền lực. Những phần tử công giáo và VNQDĐ là những người hoạt động tích cực nhất và họ đã khôn khéo lợi dụng để chống lại Chính phủ những nhượng bộ bề ngoài bao gồm trong bản Tạm ước. Vũ khí duy nhất của họ là sự thi đua bài ngoại. Tất cả những người đối lập đều hướng mắt về cựu quốc vương Bảo Đại (14) và đều dựa thế, kẻ thì Mỹ, người thì Pháp, tìm cách cho Bảo Đại được trở về…” (15).

Phù hợp với những chỉ thị của Pignon vừa mới đây, từ đây Sài Gòn sẽ nhấn mạnh nhiều đến tính chất “độc tài chuyên chế” của Nhà nước Việt Minh (16). Vậy nên cuộc thương thuyết với chính quyền mới này của Hà Nội chắc chắn sẽ là gay go. Tiểu ban quân sự Pháp, một khi ra đến Hà Nội rồi, vẫn không làm sao thực hiện nổi cuộc tiếp xúc; sau đó là vấn đề lựa chọn địa điểm hội nghị: Việt Nam DCCH đề nghị Hà Nội và Sài Gòn, còn ông Cao ủy chỉ muốn chọn Đà Lạt và một phần nào đó muốn chọn Hà Nội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 03:43:18 pm »


Kế hoạch Valluy - D’Argenlieu


Tại Sài Gòn, người ta đang đi đến thời điểm lựa chọn. Tại đây, người ta cho rằng Nam Kỳ, cái trục xoay và cơ sở của chính sách Pháp ở Đông Dương, đang gặp nguy cơ trầm trọng. Đúng là chiến sự đã chấm dứt, nhưng kẻ thù vẫn còn ở lại vị trí của nó. Tình hình chính trị mập mờ. Phe ly khai thì hết sức hoang mang, lòng tin ở nước Pháp bị xói mòn; chủ nghĩa dân tộc đang trên chiều hướng đi lên. Một lần nữa, các nhà lãnh đạo Sài Gòn lại đi đến kết luận: cần phải cứng rắn.

Trong tình huống đó, chuyến đi Paris của ông đô đốc mang một ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Nhất thiết Chính phủ Pháp, nếu có thể, ủng hộ ông trong cuộc thử thách sức mạnh với Hà Nội mà ông thấy không thể nào tránh khỏi trong một ngày không xa. Những mưu đồ tính toán của Việt Minh phải bị đảo lộn và “Nam Kỳ phải được nước Pháp cứu vãn”.

Để có đủ căn cứ nói chuyện với Paris một cách chủ động, d’Argenlieu đã yêu cầu Valluy làm cho ông một bản nhận xét tỉ mỉ về tình hình. Ngày 9/11, Valluy đã gửi cho d’Argenlieu bản báo cáo dưới đây:

“Theo đúng những chỉ thị mà Ngài đã truyền đạt, tôi hân hạnh gửi kèm theo đây cho Ngài một bản nghiên cứu tóm tắt, dưới dạng một bản sơ thảo dự án, về một hành động bạo lực sẽ thực hiện tại Bắc Kỳ.

“Bản nghiên cứu này bao gồm hai giải pháp: một giải pháp số một với việc duy trì chiếm đóng Hà Nội; một giải pháp số hai với việc rút khỏi Hà Nội. Những thuận lợi và bất lợi của mỗi giải pháp có thể tóm tắt lại trong bảng thống kê theo kiểu sơ đồ dưới đây (tiếp theo là một bảng thống kê).

“Những nhận xét này đều có một trọng lượng nhất định mà Ngài có trách nhiệm nên lựa chọn giải pháp nào. Dĩ nhiên là những giải pháp trên có thể được chuẩn bị trong từng chi tiết. Như vậy Ngài có thể lựa chọn không cần điều kiện tiên quyết mà tùy hoàn cảnh từng lúc”
(17).

Trong lúc đó, các cuộc bầu cử tại Pháp đã kết thúc với sự thắng lợi của cánh tả. Đảng Cộng sản thay chỗ cho phong trào Cộng hòa bình dân với tư cách là “chính đảng số 1” của Pháp, ít ra là về số phiếu giành được và Đảng xã hội, tuy có bị thụt lùi so với trước, vẫn còn mạnh. Trong điều kiện ấy, phong trào Cộng hòa bình dân khó lòng mà giữ nổi quyền lãnh đạo chính phủ. Đô đốc d’Argenlieu và các cố vấn của ông ta không còn có thể nuôi dưỡng được bao nhiêu ảo tưởng nữa trong cái ngày 11/11 này: họ khó mà hy vọng sẽ được chính phủ sắp tới ủng hộ mình đến cùng chống lại với Chính phủ Hà Nội. “Ván bài” đối với họ có thể bị lật ngược. Họ cùng một lúc phải làm sao chi phối được chính phủ mới, buộc chính phủ phải nhúng tay vào vấn đề Đông Dương và tránh được khỏi bị khiển trách, đồng thời phải hành động làm sao để tạo ra được ở Việt Nam một sự “căng thẳng tích cực”, có nghĩa là khai thác được một cách có lợi cho cái mà họ nghĩ là quyền lợi của nước Pháp.

Ngày 12/11, d’Argenlieu trả lời như sau cho bản báo cáo của Valluy:

“Nếu như bất chấp những cố gắng của Chính phủ Pháp nhằm đi đến một hiệp định phải chăng với Chính phủ Hà Nội, chiến sự vẫn cứ phải tái diễn tại một số địa bàn hành quân ở Đông Dương, thì điều quan trọng nhất là quân đội ta phải có đủ khả năng, không những để chịu đựng một cuộc tấn công bất thình lình, mà còn phải trả đũa bằng một hành động mạnh quyết định...

“Những đợt cải tiến cách bố trí lực lượng quân sự ở miền Nam, dù có hiệu quả mấy đi nữa, cũng vẫn không đủ để ngăn chặn một chế độ khủng bố mà từ cơ quan lãnh đạo đến quân đội và các trung tâm quân sự đều được hưởng một sự an toàn tuyệt đối trong những vùng lãnh thổ gọi là của Việt Nam.

“Vậy chúng ta phải dự kiến trước cái giả thiết là sau khi đã vận dụng hết mọi khả năng hòa hoãn, Chính phủ Pháp thấy buộc lòng phải đối phó với tình hình chiến sự tái diễn bằng một hành động mạnh trực diện chống lại Chính phủ Hà Nội.

“Trong thực tế, sự bố trí lực lượng quân sự của chúng ta tại Bắc Kỳ hầu như không đủ để đối phó với một sự kiện bất trắc như vậy. Bị phân tán nhiều nơi, đường liên lạc quá rộng, quân số bị giảm dần tiếp theo những đợt hồi hương làm cho nó vừa dễ bị tổn thương trước hoạt động của quân du kích vừa không đủ sức mở những cuộc tấn công.

“Một sự tập hợp và phiên chế mới là cần thiết; nó cho phép:

- Cơ bản giữ vững căn cứ chiến lược Hải Phòng - Vịnh Ha Long, bao gồm vùng mỏ Bắc Kỳ;

- Giữ vững căn cứ không quân-lục quân Hà Nội làm căn cứ xuất phát tiền tiêu của những hành động vũ lực nhằm mục đích nếu có xung đột xảy ra thì vô hiệu hóa Chính phủ Hà Nội và tiêu diệt các trung tâm quân sự Hà Đông - Sơn Tây - Tông và nếu cần thì Hòa Bình;

- Bảo đảm ít ra là tạm thời sự tự do liên lạc giữa hai căn cứ đó;

“Sự bố trí lực lượng này cần được tiến hành dần mà không cần có những hành vi quân sự vô ích. Nó phải được hoàn thành vào cuối năm 1946...

“Nói tóm lại, không cần phải tiên đoán gì về diễn biến của cuộc điều đình với Chính phủ Việt Nam, nhiệm vụ chính của lực lượng quân sự Pháp được xác định như sau:

- Tại Nam Kỳ và miền Nam Trung Kỳ: thực thi các điều khoản của Tạm ước đã được cụ thể hóa trong bức thư của tôi ngày 22/10/1946,

- Tại Bắc Kỳ: sau khi đã tập hợp và phiên chế lại lực lượng tập trung chủ yếu vào căn cứ chính Hải Phòng - Vịnh Hạ Long và căn cứ thứ yếu Hà Nội, chuẩn bị sẵn sàng để đối phó lại khi cần kể từ tháng giêng 1947, với một sự bùng nổ trở lại của chiến tranh, bằng một hành động vũ lực nhằm vô hiệu hóa Chính phủ Hà Nội về mặt chính trị cũng như quân sự và qua đó làm cho cuộc bình định miền Nam được dễ dàngâ€
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #88 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 05:48:50 pm »


-X-
HẢI PHÒNG: MỘT KHÚC NHẠC DẠO ĐẦU
(8 - 30/11/1946)


Việc thiết lập sự kiểm soát thuế quan của Pháp tại vùng duyên hải Hải Phòng tiếp tục gây nhiều phản ứng quyết liệt tại Hà Nội, ở đây, sự ngờ vực đối với Sài Gòn đã lên tới mức độ tối đa, vì người ta nghĩ rằng, quân Pháp đang tìm cách thực hiện phong tỏa nước Việt Nam DCCH một cách có hệ thống. Do đó mà trong chính sách kinh tế của Chính phủ Việt Nam DCCH có một sự thay đổi đột xuất; người ta nhấn mạnh mục tiêu tự túc kinh tế (1). Ngày 8/11, Việt Minh tuyên bố tình trạng báo động ở miền duyên hải. Họ chuẩn bị công khai để đối phó với một cuộc thử thách vũ trang.

Tại miền duyên hải, tình hình chung đã thay đổi hầu như toàn bộ từ tháng 9. Thực vậy, đơn vị cuối cùng của quân đội Trung Quốc (Sư đoàn danh dự số 2) vừa rời cảng Hải Phòng ngày 18/9. Trong trường hợp có hành động bạo lực, người Pháp không còn lo sợ sự phản ứng của Trung Quốc, cũng như những chuyện phức tạp quốc tế xảy ra nữa. Ngoài ra, các thường dân người Hoa tại Đông Dương chỉ còn có thể hướng về người Pháp để người Pháp bảo vệ cho họ trước chính quyền Việt Nam luôn luôn “hoạnh hoẹ” và kiểm soát họ. Tình thế này đã bùng nổ nhiều lần, như người ta đã chứng kiến, trong khi quân Pháp chiếm đóng cơ quan Thuế quan và trong những biến cố lớn hồi tháng bảy. Tại Hải Phòng cũng như tại Hà Nội, quân đội Pháp bị quân đội Việt Nam kiểm soát chặt chẽ và không dễ dãi tí nào. Các cơ quan đặc biệt của Pháp nhất là cơ quan BEDOC - Bureau, Général de Documentation - Tổng nha Tư liệu) phải đấu tranh thường xuyên với cơ quan Công an Việt Nam (2).

Vì vậy được tự do “hít thở không khí” đã trở thành một nguyện vọng cơ bản của người Pháp ở miền bắc. Trạng thái tinh thần của quân đội (sĩ quan và binh lính) từ đây rất thù địch với Việt Minh; nguy cơ xảy ra những chuyện bất trắc đã thành thường xuyên (3). Kế hoạch hành động của d’Argenlieu - Valluy trong hoàn cảnh như vậy trên thực tế là được triệt để ủng hộ.

Trước tình hình ngày càng xấu đi ấy, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Việt Minh và cả nhân dân đều tỏ ra lo lắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi sự lo lắng này như một biểu hiện chính trị bèn gửi cho Paris một bức thư ngày 11/11, chính thức phản đối việc thiết lập sự kiểm soát thuế quan của Pháp (4), nhưng bức thư không quan trọng hóa vấn đề. Bức thư ấy, phải qua tay Sài Gòn, chỉ được tướng Valluy chuyển về Paris ngày 26, và là chuyển bằng máy bay. Phải đến ngày 2/12 nó mới đến tay người nhận. Trong lúc đó...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #89 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 05:49:20 pm »


Chính sách cứng rắn hơn


Ngày 16/11, Valluy, tạm quyền Cao ủy trong lúc ông đô đốc vắng mặt, đã điện về Paris:

“Việc thực hiện Tạm ước đã bị phía Chính phủ Việt Nam làm chậm trễ lại một cách có hệ thống thông qua những thủ tục giả tạo, đặc biệt về việc ấn định địa điểm của các tiểu ban. Tôi thấy, vì lợi ích chung và để chứng tỏ thiện chí của chúng ta, cần phải làm một cử chỉ hòa hợp. Nhằm mục đích đó tôi phái ra Hà Nội; ông ủy viên Tư pháp Ladreit de Lacharrière, đã được tôi ủy nhiệm bên cạnh ông Hồ Chí Minh và giao cho nhiệm vụ tích cực xúc tiến việc họp các tiểu ban liên quan đến việc hoàn trả các tài sản Pháp và trường Viễn Đông Bác Cổ, mà việc hoạt động của các tiểu ban này không gây nên điều tranh chấp nào cả… (5).

Ngày 18, tại Hà Nội, De Lacharrière đề nghị với Chủ tịch Hồ Chí Minh cho họp ngay các tiểu ban mà cả hai bên Pháp Việt chấp nhận cho đóng trụ sở ngay tại thủ đô của nước Việt Nam. Ít ra điều này cũng sẽ làm cho bầu không khí bớt căng thẳng và cho các cuộc đàm phán được bắt đầu. Hồ Chí Minh chấp nhận và giới thiệu De Lacharrière tiếp xúc với các cán bộ thân cận của mình. Nhưng rồi cuộc đàm phán đã không có thì giờ để thực hiện.

Ngày 19/11, tướng Valluy gửi cho Ủy ban Liên bộ Đông Dương một bản tổng kết về công việc của các tiểu ban tham mưu, kể từ 3/11, các tiểu ban này làm việc tại Hà Nội.

“Đúng với các chỉ thị Defnat, Tiểu ban tham mưu đã nhận trách nhiệm tìm cách giải pháp các quân phiến loạn gốc Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ và gửi trả về Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ những phần tử gốc gác ngoài đó.

“Các nhà đàm phán Việt Nam, viện lý do là để củng cố việc ngưng bắn quân sự - là biện pháp đã có từ ngày 30/10 - đã tìm cách đề cập đến điều cơ bản của vấn đề về mặt chính trị của nó vừa lẩn tránh thảo luận những vấn đề đã được lựa chọn thảo luận trước tiên, mà họ thừa biết là mục tiêu chính của chúng ta và có thể vì chúng mà cuộc đàm phán lâm vào bế tắc.

“Ý định của Việt Nam có thể tóm tắt lại như sau: - đạt được một giải pháp tạm thời cho tình thế, có tác dụng củng cố trạng thái ngưng bắn quân sự, đứng vững trong tình thế thuận lợi đó bằng cách kéo dài đến mức tối đa những công việc của tiểu ban theo chiều hướng đi đến một giải pháp dứt khoát; lợi dụng thời hạn ấy để cải thiện lại tình hình quân sự của họ bằng cách xoay quanh các điều khoản của hiệp định sơ bộ và nhất là để cải thiện địa vị chính trị của họ bằng cách cải tổ và mở rộng bộ máy hành chính - chính trị bí mật của họ, và bằng một chiến dịch tuyên truyền hoặc bí mật hoặc có thể được thì công khai”
(6).

Valluy nó thêm rằng: ông ta đã gửi chỉ thị về việc “kéo dài các cuộc thương lượng sao cho cả khi nó có bị cắt ngang đi chăng nữa thì người ta vẫn không có lý do để quy trách nhiệm cho chúng ta.

“Tuy nhiên, Chính phủ sẽ không thể không thấy rằng tình trạng đợi chờ này không thể kéo dài lâu hơn nữa mà không làm thiệt hại một cách vô phương cứu vãn đến tình hình của chúng ta tại Nam Kỳ và cũng từ đó, trên toàn cõi Đông Dương.

“Do những sự lấn tới không thể nào chấp nhận được của Ủy ban Hành chánh Nam Bộ - họ đã trắng trợn rêu rao với dân chúng rằng họ là cơ quan hành chánh duy nhất hợp pháp - và do sự tiếp tục chính sách khủng bố theo một nhịp điệu như trước ngày 30/10, cho nên việc thi hành trung thực Tạm ước của một mình chúng ta đã gây trở lại cho chúng ta những sự thiệt thòi theo một nhịp độ ngày càng nhanh chóng.

“Hiện chúng tôi đang cương quyết cố gắng nhận lấy trách nhiệm một lần nữa về mình bằng cách huy động và liên kết mọi phương tiện sẵn có và chúng tôi có quyền chờ đợi một vài kết quả; nhưng rốt cuộc vấn đề tồn tại vẫn là: Tình hình có thay đổi thực sự có kết quả hay không là do lập trường của Chính phủ về quyền của Pháp ở Nam Kỳ, lập trường mà nhất thiết - tôi nói “nhất thiết” - Chính phủ phải công bố hết sức khẩn cấp bằng một quyết định rõ ràng và công khai”
(6).

Bức điện này chỉ là một trong những bức điện gửi về Paris lúc đó, nhưng đều góp phần tác động đến những kẻ có quyền quyết định theo hướng quả quyết và có chiếu cố đến tình hình chính trị đặc biệt lúc này đang thắng thế ở Paris, đã đến lúc cần phải làm nẩy sinh những quyết định cơ bản đã được dự kiến trong những thư từ trao đổi giữa d’Argenlieu và Valluy ngày 9 và 12/11.

Ngày 20/11, trong một bức điện mới gửi Pariss và chủ yếu cho Ủy ban Liên bộ Đông Dương, ngày 23/11, ông quyền Cao ủy có đệ trình những nhận xét khái quát về một hoặc hai vấn đề mà người ta chưa được thông báo trong chính phủ: việc kiểm soát thuế quan ở Hải Phòng và việc phát hành giấy bạc của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, cùng với những chuyện phiền nhiễu mà nạn nhân là những cơ sở thiết bị đã được quyết định trả lại cho người Pháp. Valluy kết luận bức điện bằng cách thông báo rằng: ông Davée (cố vấn kinh tế) đã “tin chắc rằng trong lĩnh vực này cũng như trong lĩnh vực chính trị, Chính phủ Việt Nam thực tình không muốn đồng tâm hợp lực và làm việc với nước Pháp chút nào” (7).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM