Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:55:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66675 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #110 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 06:50:21 pm »


Ông đô đốc tự lột trần mặt nạ


Ông đô đốc d’Argenlieu từ Paris về đến Sài Gòn vào lúc tờ mờ sáng ngày 23/12 (7). Ngay hôm sau, ông ta họp Hội đồng Liên bang và rút ra từ cuốn nhật ký của ông những câu tổng kết của cuộc họp.

“Sự khởi đầu và trách nhiệm của cuộc tấn công này rõ ràng và duy nhất là thuộc về Chính phủ Hà Nội. Vì vậy, sẽ trái với pháp luật, với lẽ công bằng và cả với danh dự của nước Pháp nếu chúng ta tiếp tục những cuộc hội đàm mà chúng ta biết chắc sẽ vô ích và hơn nữa có hại...

“Chính phủ liên bang nhất trí từ bỏ ý định nối lại những cuộc đàm phán với nhóm Hồ - Giáp hiện nay. Việc bỏ trốn của Chính phủ Hà Nội không phải do chúng ta tìm kiếm hay gây ra; nó đã giải phóng cho chúng ta khỏi nhiều trách nhiệm mà chính Ủy ban Đông Dương cũng thừa nhận và nhấn mạnh là đầy nguy hiểm, đặc biệt là ông Marius Moutet...

“Về cá nhân tôi, tôi đã thực hiện một cách trung thực chính sách thỏa thuận ở Đông Dương từ tháng 9/1945. Chính sách này đã mang lại kết quả thắp mọi nơi, ngoại trừ với Chính phủ Hà Nội - Thế là hết”
1 (8 ).

Trong lúc chờ đợi, các nhà chức trách Pháp “khôi phục” lại, ở tất cả những nơi có thể, chủ quyền và Kỳ hiệu của Pháp. Từ ngày 23/12, thành phố người Âu ở Hà Nội, được “quét sạch”, đã có một đốc lý, một quan chức cai trị dân sự, ông Larivière (9). Ngoài ra, và trước hết, là ông Sainteny được trở về ở chỗ cũ như ông mong muốn, tại dinh Toàn quyền mà ông đã phải rời đi hồi đầu tháng 9/1645.

Về bình diện chính trị, ông đô đốc đã gửi cho chính ông Sainteny ngày 26, một bức điện đầu tiên trả lời bức điện mà ông đô đốc đã nhận ngày 25:

“Tôi hiểu những khó khăn mà Ngài đang gặp để có nthững cuộc tiếp xúc. Nên tiến hành một cách thận trọng và đừng làm hỏng mất một dịp may nào. Đồng ý thành lập những Ủy ban địa phương nhằm mục đích và với hình thức chính trị. Chúng ta nên tránh đừng khiêu khích ai quá sớm (10)...”

Cùng ngày, ông ta điện sang Paris rằng “ông đã tiếp xúc với một vài nhân vật phe đối lập Việt Nam” nhưng “những cuộc tiếp xúc này vẫn không thoải mái do chưa có được an ninh” và “do nhiều người tự cảm thấy bị đe dọa đã về nông thôn, khiến cho những việc liên lạc trở thành khó khăn” (11).

Ngày 25/12, hồi 17 giờ 30 giờ địa phương, Marius Moutet cùng với với đoàn tháp tùng của ông, đi từ Paris đến Sài Gòn, được ông đô đốc đón tiếp. Trước tiên, Moutet đến thăm Chính phủ Nam Kỳ của Lê Văn Hoạch. Ngày 27, ông có một cuộc đối thoại công khai, bằng diễn văn, với ông đô đốc:

“D’Argenlieu: Những hành vi cực đoan cuối cùng và bỉ ổi mà các nhà lãnh đạo Chính phủ Hà Nội vừa mới phạm đã thay đổi tính chất ban đầu của chuyến đi công cán của Ngài. Trước vụ bạo lực ngày 19/12, chẳng phải Ngài đã dự định sẽ cố gắng, một lần nữa và trịnh trọng hơn, làm một cuộc vận động hòa dịu và hiểu biết lẫn nhau có tính chất khuyên họ đi đến một cái nhìn chính xác và bổ ích hơn về tình hình và về ý định của nước Pháp đối với nước Việt Nam sao?

“Moutet: Tôi đến đây với tư cách là một sứ giả của hòa bình, nhằm đánh tan mọi sự hiểu lầm, làm dễ dàng cho một sự thỏa thuận về những điểm cụ thể mà không nhượng bộ về một số yêu sách. Tôi đã vỡ mộng một cách cay đắng khi nghĩ rằng những hiệp định đã được ký kết không thể đi vào hiệu lực thi hành.

“D’Argenlieu: ở đây, không ai là không biết đến các cử chỉ biết bao cao thượng của chúng ta khi chúng ta tiến hành ngày 14/9 năm 1946 tại Paris, việc ký kết bản Tạm ước; bản Tạm ước đó được chúng ta thực hiện một cách hoàn toàn trung thực, chắc chắn đã mang lại những kết quả có ích với điều kiện chúng ta cũng tìm thấy ở những người ký kết bên kia một sự biết điều tối thiểu trong việc thi hành những văn bản ràng buộc chính bản thân họ thông qua cá nhân vị chủ tịch của mình. Trận mai phục Hải Phòng và kế đó là vụ bạo lực Hà Nội đã nói lên rõ rằng, những nhà lãnh đạo Việt Nam hoàn toàn không biết chút gì về những ý định của Chính phủ nước Cộng hòa (Pháp) và của những người được Chính phủ ủy quyền”
(12).

Điều quan trọng, đối với Cao ủy, từ đây, là ông bộ trưởng và những người cộng sự đừng vội ra Bắc Bộ. Viện cớ nguy hiểm do những cuộc hành quân đang diễn ra và sự không an toàn của sân bay, người ta đề nghị ông bộ trưởng và đoàn tùy tùng trước hết hãy nên đi thăm Phnôm Pênh và Viên Chăn. Sau đó, khi cái cần thiết đã được chuẩn bị xong, họ sẽ tiến ra Hà Nội.
_____________________________________
1. Gạch chân trong nguyên bản tổng kết.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #111 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 06:51:29 pm »


Trong lúc Moutet nghe lời bàn, đang lên đường đi Campuchia, ngày 29, thì ngay sáng hôm ấy, d’Argenlieu bay ra Hà Nội. Trước lúc khởi hành từ Sài Gòn, ông ta đã có thể điện được sang Paris bản phân tích tình hình chính trị của ông:

“Sau mấy ngày ở Sài Gòn, tôi đã cố gắng rút ra những nét lớn sau đây về tình hình đúng như nó hiện ra trước mắt tôi trên những lãnh vực khác nhau:

“1. Ở miền Bắc, về phương diện quân sự, hiện nay chúng ta ở trong tình trạng có khả năng củng cố các vị trí của chúng ta và giải tỏa một số điểm mấu chốt ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, ngoài những điểm thuộc khu vực Hải Phòng, Hòn Gai và Lạng Sơn,… sự cần thiết phải tiết kiệm mạng người và tránh những sự phá hoại nặng nề làm trì trệ công việc giải tỏa một trung tâm rộng lớn như Hà Nội...

“2. Về phương diện chính trị, tôi cho rằng những mối quan hệ với nước Pháp, Chính phủ Hà Nội, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh lãnh đạo, đã hết thời rồi. Nhóm lãnh đạo ấy đã chứng minh cuối cùng rằng họ muốn đuổi nước Pháp ra khỏi đất nước họ, vậy thôi; và nếu như họ đã vờ vĩnh đồng ý với chúng ta trên chữ nghĩa thì vẫn chẳng có một tư tưởng gì thật sự là chung đằng sau cái chữ nghĩa đó. Sự nghiêm trọng của những hành động vừa qua làm cho người ta khó có thể còn có cái ảo tưởng rằng đó là một chính phủ mà chúng ta sẽ còn tìm cách tiếp xúc trở lại. Đi tìm tư tưởng cá nhân của Hồ Chí Minh là một chuyện hư ảo. Dù người ta có nghĩ rằng ông Hồ chơi một trò chơi khác với những phần tử tích cực và thù địch (với chúng ta) của Đảng ông ta như Võ Nguyên Giáp, hay cố cho rằng ông Hồ đã trở thành tù nhân của những phần tử nói trên và đã mất hết uy tín của mình do một thời gian quá lâu ở Pháp, thì kết quả vẫn là một mà thôi. Cái ý nghĩ rằng Bộ chỉ huy (của ta) đã có thể cách ly Hồ Chí Minh ra khỏi những kẻ thù sống chết của chúng ta và xây dựng lên xung quanh ông một chính phủ khả dĩ chấp nhận được
1 là một hy đọng đã phá sản. Điều ấy không hề có nghĩa là nước Pháp từ bỏ, đối với Việt Nam, cái chính sách tôn trọng quyền dân tộc tự quyết và phát triển những quyền tự do nội bộ. Nhưng mà nước Pháp phải thực hiện những điều đó với, trước mặt mình, là những con người khác đi theo những cách làm khác.

“3. Tại Nam Kỳ, những lời kêu gọi nổi dậy của Việt Minh từ Bắc Kỳ cho đến nay vẫn không biểu hiện ra bằng một sự thay đổi nào đáng kể của tình hình. Trái lại, dường như đã bắt đầu nảy sinh những sự đối lập giữa các tổ chức bí mật của Hà Nội dựng lên về thái độ họ cần phải có, do một sự đánh giá khác nhau về uy tín và về những cơ may còn lại của phe cánh Hà Nội cũ...

“Nói tóm lại, sau ngày xảy ra vụ bạo lực đã gây nên nhiều thương vong cay đắng và làm tiêu tan đi bao nhiêu điều ảo tưởng, tình hình đang có những yếu tố đáng phấn khởi. Tình hình buổi đầu chỉ có thể diễn biến chầm chậm, nhưng theo hướng ngày càng thuận lợi dần lên, nếu chúng ta cứ tiếp tục những cố gắng quân sự nhằm khôi phục lại quyền hành của chúng ta, nếu chúng ta duy trì một đường lối chính trị cứng rắn hơn và sau nữa là nếu chúng ta hướng dẫn được dư luận công chúng trong một tinh thần kiên định dẻo dai
(13).

Đã ký: D’ARGENLIEU”

Bức điện này gửi sáng ngày 29 với câu chú thích mở đầu như sau:

“Dành riêng tuyệt đối cho Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng Quốc phòng và Pháp quốc Hải ngoại (FOM) và tướng Juin”, trong khi Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại lúc này đang ở Campuchia. Vậy là d’Argenlieu tính chuyện đặt điều kiện cho các nhà lãnh đạo Paris trước khi Moutet đến Hà Nội và nhằm mục đích ngăn ngừa không để xảy ra một cuộc “trượt chân” chính trị từ phía Moutet.

Tại Hà Nội, ông đô đốc hội ý với những nhà chức trách Pháp, cùng với họ “điểm qua một cách đại khái” tình hình quân sự và chính trị; nhưng trước hết ông ta đến thăm Sainteny tại dinh Toàn quyền. Trong thành phố bị bao vây thăm các cuộc chiến đấu vẫn đang tiếp tục, ông ta đã có thể đánh giá tầm quan trọng của bức diện Sainteny đã gửi cho ông ngày 25, rằng không thể nào khai thác tình hình về mặt chính trị “chừng nào mà những phần tử chống Việt Minh sẵn sàng theo phía Pháp chưa chắc chắn rằng Việt Minh sẽ không trở lại”. Sainteny kết luận:

“Vì vậy tôi nghĩ rằng, một khi cuộc thử khách quân sự cuối cùng đã diễn ra rồi, thì sẽ vô cùng nguy hiểm và có thể là vô hiệu lực nếu chúng ta bằng lòng với một vài thắng lợi đã đạt được mà không tìm cách chiếm lấy một ưu thế quyết định đối với quân đội Việt Minh, ưu thế có thể dẫn theo sự sụp đổ của Chính phủ Việt Minh hay ít ra cũng làm cho nó mất uy tín. Vậy là phải nghĩ đến một sự cố gắng lớn về người cũng như về phương tiện vật chất trong tình hình sự việc hiện nay mới có thể cho phép chúng ta khai thác tình hình đến mức độ tối đa được (14).

Ngày 30, tại Hà Nội, d’Argenlieu ghi vào nhật ký của ông ta:

“Hồi 22 giờ 30: Theo Pignon, có những triển vọng mở ra. Những triển vọng đó nhìn chung đều hướng về ý nghĩa phục hưng lại chế độ quân chủ. Khó lòng thực hiện lặng lẽ. Đương nhiên thôi: một sự phục hưng bao giờ cũng là điều khó khăn và tế nhị; nhưng nó giúp người ta thoát ra khỏi một tình thế hỗn độn.

“Theo ý tôi, cần phải làm như sau:

“1. Đừng để nảy sinh một sự thông đồng nào giữa Chính phủ Cách mạng Việt Nam và Bộ Pháp quốc Hải ngoại, dù là rất nhỏ.

“2. Trên những căn cứ chính xác, Chính phủ (Pháp) hãy tố cáo các thỏa ước và hiệp định, không phải để trở lại với thực chất nội dung của nó, mà là để tự giải thoát khỏi những bên cùng ký kết ác tâm và đáng ghét.

“3. Phải chuẩn bị và cuối cùng dựng lên được một chính phủ mới có khả năng tạo ra một “cú sốc”
(15).

Trước mắt, cái cần thiết phải làm ngay là khuyên Moutet thôi đừng nghĩ chuyện tiếp xúc với Hồ Chí Minh như đã gợi ý trong một công hàm của Moutet gửi đến Hà Nội. Trước khi rời Phnôm Pênh đi Viên Chăn ngày 29, Moutet đã để lộ ra rằng việc nối lại thương thuyết với Hồ Chí Minh không thể tiên thiên bị gạt bỏ đi được. Tuy nhiên cái công thức của ông ta hết sức thận trọng: “Nếu người ta có những đề nghị chuyển cho tôi, thì những đề nghị đó sẽ được tôi nghiên cứu cẩn thận”. Ông nói thêm:

“Chính phủ Pháp tin chắc rằng sẽ tìm ra được một biện pháp giải hòa. Bổn phận của chúng ta là phải đi đến một thỏa thuận hòa bình tại Đông Dương. Tôi muốn người ta hiểu cho rằng những biện pháp hòa giải có giá trị cao hơn những biện pháp sức mạnh; sức mạnh chỉ có thể đem lại tình trạng hỗn độn, cơ cực và điêu tàn. Lập trường của Chính phủ Pháp sẽ không thay đổi. Bao giờ an ninh của quân đội chúng ta được bảo đảm thì lập tức Chính phủ sẽ trở lại chính sách đã được xác định ngày 14/9, bởi vì nó là một bước đi đến tự do” (16).
_____________________________________
1. Có những dấu hiệu đáng chú ý về sự khác biệt quan điểm giữa một bên là phủ Cao ủy (với Sở Mật thám và BEDOC - phòng lưu trữ Liên bang) và một bên là bộ chỉ huy (với SEHAN - Sở nghiên cứu lịch sử Hà Nội) về cách thức vô hiệu hóa Chính phủ Hà Nội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #112 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 06:52:10 pm »


Blum xác định chính sách của mình


Ngày chủ nhật 22/12, Léon Blum triệu tập cấp tốc tướng Leclerc và ngay tối hôm đó, khi Marius Moutet lên máy bay đi Sài Gòn, Blum giao cho Leclerc một “nhiệm vụ thanh tra” tại Đông Dương, với tư cách là đại diện cá nhân của Thủ tướng Chính phủ. Leclerc nhận lời.

Ngày 23, Léon Blum loan báo tin này trước Quốc hội cùng với một bản tuyên bố chính trị quan trọng:

“Chúng ta đã bắt buộc phải đương đầu với bạo lực. Tôi tuyên bố rằng những người đang đánh nhau bên kia, những người Pháp ở Đông Dương, những dân cư bạn có thể dựa hoàn toàn vào sự cảnh giác và sự quyết định của Chính phủ.

“Tôi tuyên bố một cách cũng rõ ràng như vậy rằng những tất yếu nặng nề đè xuống trên lưng chúng ta sẽ không thay đổi chút gì về những nguyên tắc chỉ đạo đường lối chính trị của chúng ta. Chúng ta sẽ không bịt tai trước bất cứ một khả năng nào chấm dứt được tình thế hiện tại…

“Hệ thống thuộc địa cũ thiết lập quyền sở hữu bằng sự xâm lăng và duy trì nó bằng sự áp bức, theo xu hướng khai thác đất đai và các dân tộc bị chinh phục, ngày nay đã lỗi thời lắm rồi. Về vấn đề này, không có sự khác biệt quan điểm giữa Quốc hội với chúng tôi. Trong chủ nghĩa cộng hòa của chúng ta, sự chiếm hữu thuộc địa chỉ đạt tới mục đích cuối cùng và chỉ có thể biện hộ được khi nào nó chấm dứt, tức là khi mà dân tộc bị chiếm làm thuộc địa đó đã có đầy đủ khả năng để sống tự lập và tự cai trị lấy mình. Cái phần thưởng của nước thực dân lúc đó sẽ là việc đã khơi gợi lên ở dân tộc thuộc địa những tình cảm biết ơn và yêu quý, đã tạo ra sự am hiểu và sự đoàn kết về tư tưởng, về văn hóa, về lợi ích, cho phép hai bên thống nhất với nhau trên tinh thần tự nguyện.

“Một khi cuộc khủng hoảng này đã được khắc phục, thì mục đích của chúng ta vẫn luôn luôn là một. Không phải vấn đề thỏa mãn các quyền lợi cá nhân, càng không phải vấn đề bàn trở lại những nguyên tắc và những lời cam kết của chúng ta.

“Mà vấn đề là bắt tay trở lại và tiếp tục sự nghiệp bị gián đoạn với tất cả tấm lòng trung thực của mình, có nghĩa là tổ chức một nước Việt Nam tụ do (phản đối của cánh hữu) trong một Liên bang Đông Dương tự nguyện liên kết với Liên hiệp Pháp. Nhưng trước hết cần phải lập lại trật tự hòa bình là điều kiện cơ bản tất yếu cho việc thực hiện các điều thỏa thuận”
(17).

Ngay khi vừa về đến Sài Gòn, đô đốc d’Argenlieu đã trình bày với Blum những sự phản đối của ông ta do chuyến công cán của tướng Leclerc làm nảy sinh, Leclerc mà ông đã biết rõ ý nghĩ. Vậy thôi, chứ ông ta không đi đến mức độ xin từ chức. Sau này, Léon Blum có nói rằng: nếu ông ta xin từ chức thì sẽ được chấp thuận ngay tức khắc. (18 )

Leclerc cùng với một vài sĩ quan tùy tùng đã rời Paris buổi sáng ngày lễ Noel. Vì máy bay bị trục trặc tại Ai Cập nên đến ngày 28 ông ta mới đến Sài Gòn và ngay hôm sau bay đi Hà Nội luôn; ông đến Hà Nội hầu như cùng một lúc với d’Argenlieu. Đi theo có các đại tá Massu và Crépin; ông đã xem xét mọi sự để có một ý kiến cụ thể về tình hình. Ông được xem công hàm của Hồ Chí Minh gửi cho Blum và Moutet và một bức điện cá nhân khác mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển cho ông. Về phần mình, Leclerc sẵn sàng đối thoại, nhưng ông không thể chủ động đi tiếp xúc với ông Hồ được nếu không có sự đồng ý của Moutet. Mà Moutet thì đang ở nơi khác. Leclerc sốt ruột: “Phải tìm gặp Hồ Chí Minh... Không thể bỏ lỡ cơ hội. Moutet đang làm gì? Ta chẳng thể làm gì được nếu không có sự đồng ý của ông ta” (19).

Cuộc gặp gỡ sẽ có hay không?
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #113 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 06:52:54 pm »


Moutet ở Hà Nội


Ngay từ ngày 29/12, Đài phát thanh Việt Nam, hoạt động trở lại từ hôm 26, loan tin Hồ Chí Minh đã gửi cho Léon Blum một bức điện tỏ lòng hân hoan trước việc Moutet qua Đông Dương, đồng thời yêu cầu quân Pháp lui trở về vị trí trước ngày 17/12 và ngừng bắn. Ngày 1/1/1947, trong một bức thư gửi Moutet, d’Argenlieu chuyển một bức điện của Hồ Chí Minh gửi Chính phủ Pháp, mà Đài Phát thanh Việt Nam đã phát đi ngày 1/1 ấy lúc 9 giờ:

“Nhân danh Chính phủ và nhân dân Việt Nam, cũng như nhân dân cá nhân tôi, tôi xin gửi những lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất tới Chính phủ và nhân dân Pháp. Mong dân tộc Pháp vĩ đại biết rằng chúng tôi không hề có căm thù hờn giận gì dân tộc Pháp cả. Chúng tôi chỉ chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân phản động đang tìm cách xén đất đai và nô lệ hóa đất nước chúng tôi.

“Với những người đàn ông và những phụ nữ Pháp yêu công lý và tự do, hiểu biết và bảo vệ nguyện vọng của chúng tôi, với những người đàn ông và những phụ nữ Pháp đó, thật sự là những chiến sĩ ưu tú nhất bảo vệ lợi ích chân chính của nước Pháp và của Liên hiệp Pháp, tôi xin gửi lời cám ơn nồng nhiệt chân thành. Tôi kêu gọi nhân dân Pháp hãy làm cho cuộc chiến tranh huynh đệ ấy sớm chấm dứt, cho năm mới 1947 mang lại hòa bình và hữu nghị giữa hai nước Pháp và Việt Nam.

“Tôi cũng xin gửi lời chúc mừng năm mới đến Ngài bộ trưởng Marius Moutet mà tôi mong muốn sẽ hân hạnh có được một cuộc gặp gỡ tại Hà Nội”
(20).

Tiếp vào bức điện (của Hồ Chí Minh), đô đốc d’Argenlieu kèm theo lời bình luận sau đây:

“Vậy là, y như thể chẳng có chuyện gì xảy ra ở miền Bắc và cũng như thể vụ bạo lực được mưu tính trước một cách xấu xa và lan rộng khắp nơi ngày 19 và 20 tháng 12 ấy chỉ là một hiệu quả xác thực của tình hữu nghị chân thành của Hồ Chí Minh và Chính phủ ông ta đối với nhân dân Pháp. chúng tôi lại gặp lại cũng giọng điệu ấy trong lời lẽ bức điện này và cũng cái kỹ thuật ấy trong các sự kiện như trước kia.

“Sự xảo quyệt tội lỗi phủ lên hành động bạo lực ngày 19/12 đã thất bại. Chúng ta đã làm chủ tình hình. Viện quân đã tới. Nhân dân Pháp đã xúc động một cách chính đáng. Việt Minh không thể chần chừ để thoát ra khỏi tình thế bi đát này. Vì vậy mà Hồ Chí Minh đề nghị chúng ta kéo dài cái mà thủ tướng Thinh, trước ngày ông tạ thế, đã gọi một cách âu sầu là một “trò hề”.

“Cái nguyện vọng bộc lộ sau cùng muốn có một cuộc hội kiến tại Hà Nội với Ngài bộ trưởng Marius Moutet trở thành một việc đã rồi và công khai hóa.

“Tôi xin phép được lưu ý Ngài về tính chất đặc biệt nghiêm trọng cho tình hình đang diễn biến ở Đông Dương của những cuộc tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với bất cứ một đại diện nào của Chính phủ Hà Nội.

“Dựa vào tư liệu kèm theo, tôi xin phép được nhấn mạnh một điều là nếu Ngài vẫn có ý định thực hiện kế hoạch đi Hà Nội của Ngài, tôi đoán vậy, thì đáp lại mọi lời kêu gọi ấy, câu trả lời tốt nhất là sự im lặng...

“Mọi cái đều làm cho tôi dự đoán trước một cách chính xác rằng: bất cứ một sự tiếp xúc nào với Chính phủ Hà Nội cũng sẽ mang tới hiệu quả tức thời là tái diễn một chiến dịch tấn công tại Nam Kỳ”
(21).

Và d’Argenlieu, tiếp theo lời cảnh cáo “riêng” này, đã thực hiện một cuộc vận động “trực tiếp”. Một bức diện AFP được phát thanh từ Sài Gòn ngày 01/01:

“Trong các giới người Pháp có thẩm quyền tại Sài Gòn, người ta cho rằng nếu phái đoàn Moutet thăm Hà Nội, cũng chỉ là trong khuôn khổ một cuộc điều tra chứ không phải là bất chấp những lời cầu mong đăng trên một số báo Sài Gòn, để có những cuộc tiếp xúc tại Hà Nội, càng không phải đi mở những cuộc điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh” (22).

Để gói ghém lại tất cả, ngày 2/1, ông đô đốc đã trả lời phỏng vấn của đặc phái viên báo “Nước Pháp buổi chiều” (France-Soir) như sau:

“Kết luận của tôi rất cụ thể: Từ đây chúng ta không thể nào còn điều đình ký kết với Hồ Chí Minh được nữa. Chúng ta sẽ tìm ra, tại đất nước này, những nhân vật khác mà chúng ta có thể điều đình với, tất nhiên cũng là những người theo chủ nghĩa quốc gia, nhưng những người kia (Việt Minh - LND) đã bị mất uy tín. Họ đã rơi xuống cả bên dưới sư nhục nhã” (23).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #114 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 06:54:42 pm »


Cuối cùng, ngày 2/1/1947, Moutet và đoàn tùy tùng đã tới Hà Nội và cái cảnh tượng đập vào mắt họ trước tiên sẽ còn ám ảnh họ lâu dài: đâu đâu cũng có những vết tích mới toanh của cuộc chiến đấu đã qua và đang tiếp tục ngay gần kề, bởi vì khu phố Hoa - Việt, bị bao vây, đang bị quấy rối, còn ở ngoài thì chiến sự vẫn diễn ra, ngày cũng như đêm. Họ đi thăm những khu phố bị đổ nát, quạnh quẽ, ở đó dấu vết bố phòng của quân đội Việt Nam vẫn còn thấy rõ. Nhìn thấy cảnh ấy, ông bộ trưởng chấp nhận ngay cái văn bản chính thức quy kết cho Việt Nam đã có âm mưu và chủ động gây hấn.

Những điệp viên đã cho Moutet biết rằng ông Hồ Chí Minh sẵn sàng gặp Moutet, tại một nơi sẽ thỏa thuận sau. Nhưng Moutet đã nắm được tầm quan trọng của lời đe dọa của d’Argenlieu và hiểu được cái nguy hiểm về chính trị cũng như quân sự của mọi sáng kiến lúc này. Những người thân cận của ông cũng có những quan điểm khác nhau “Ngăn chặn cuộc chiến tranh này ư? Boutbien đồng ý, Messmer thì phản đối: ngăn chặn có nghĩa là rút quân về, tức đầu hàng kẻ địch. Nghe được sao? Paris sẽ quyết định. Nhưng, với Moutet, chỉ còn việc là lên máy bay lại và ra đi. Nhiệm vụ đã hoàn thành, và thất bại” (24).

Moutet không gặp được Leclerc. Leclerc đã đi Lạng Sơn và Hải Phòng. Moutet quyết định không ở lại lâu hơn và sau ba mươi tiếng đồng hồ ở lại Hà Nội, ông đã từng chặng trở lại Sài Gòn. Trước khi rời Hà Nội, ông tuyên bố với báo chí:

“Những kẻ chịu trách nhiệm về tấn bi kịch này đã làm tiêu tan một cách có hệ thống niềm hy vọng của bao người và phá vỡ điều cố gắng trong đó chính tôi gửi gắm tất cả thiện chí của chúng tôi. Giờ đây, trước khi tiến hành bất cứ một cuộc điều đình nào, cần phải có một quyết định quân sự đã. Tôi rất tiếc. Nhưng người ta không bao giờ có thể phạm một cách vô tội vạ những chuyện điên rồ như Việt Minh đã phạm cả.. Có ở thêm lâu ngày hơn nữa, tôi cũng chẳng biết thêm được gì hơn. Cái âm mưu đó dự định trước đã quá rõ ràng...

Lúc đó, Moutet khẳng định trong thời gian ở Việt Nam không có tiếp xúc với Việt Minh một lần nào. “Và trước hết là để gặp đại diện Việt Minh, thì điều cần thiết là họ phải mời tôi... Chuyến đi Hà Nội của tôi ai cũng biết. Vậy mà họ không một lần nào ngỏ ý muốn tiếp xúc với tôi cả1. Ta nên nghĩ thế nào về việc này?... Chính phủ Pháp chưa bao giờ từ chối bất cứ một đề nghị nào hoặc một sự xem xét nào” (25).

Ông Bộ trưởng sau này mới biết rằng ngày 3/1, khi ông còn ở Hà Nội, một gói (công văn thư từ) của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho ông, đã được trao tận tay cho Ban Liên lạc Pháp - Việt, nhưng thực tế đã bị cơ quan (tình báo) của d’Argenlieu lập tức “chiếm đoạt” lấy, có nghĩa là không được trao cho ông Moutet. Gói thư từ đó gồm có một bức thư mới của Hồ Chí Minh, viết tay, đề nghị:

“a. Chấm dứt ngay chiến sự, quân đội hai bên trở về vị trí đã được quy định trong hiệp định ngày 3/4. Thả hết tù binh.

“b. Chấm dứt ngày mọi viện quân của Pháp.

“c. Gặp gỡ ngay giữa Hồ Chí Minh với Marius Moutet để thông qua, trên cơ sở các điều khoản của hiệp định 6/3, một dự thảo chi tiết của một hiệp ước vĩnh viễn.

“d. Dự án thông qua rồi thì họp hội nghị tại Paris để dự thảo hiệp ước chính thức”
(26).

Ngoài bức thư của Hồ Chí Minh, còn có một bản giác thư dày về những mối quan hệ Việt - Pháp từ tháng 4/1946 (đến ngày hôm đó), gồm 76 văn bản tư liệu. Nhưng bức giác thư, đề ngày 31/12 ấy không phải chỉ nhằm mục đích gửi cho một mình Moutet. Cùng ngày, nó đã được chuyển qua các trung gian khác, tới tay viên phó lãnh sự Mỹ và Trung Quốc. Vài hôm sau đó, bức giác thư đã có mặt tại Washington, tại Bộ Ngoại giao Mỹ, cả trước khi nó đến Paris (27).

Trên đường trở lại Sài Gòn, Moutet ghé lại Nha Trang, ngày 5/12 và tại đây ông gặp Leclerc, vừa hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra. Ông được biết Leclerc yêu cầu gọi Morlière về, vì theo ông ta Morlière quá yếu mềm và không có bản lĩnh.

Gustave Moutet, chánh văn phòng của Bộ, nói rằng ông ta không còn tin ở sự chân thành của những đề nghị mà Hồ Chí Minh có thể đưa ra, vì theo ý ông ta (Gustave Moutet) thì ông Hồ đã bị “qua mặt” bởi những phần tử “cứng rắn” của chế độ Việt Minh (28 ).
________________________________________
1. Ông có biết đâu rằng người ta đã tìm mọi cách để ngăn trở cuộc tiếp xúc đó, kể cả việc chiếm đoạt những thư từ tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho chính ông ta, như cả “gói bưu kiện” ngày 3/12 nói dưới đây - LND.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #115 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 06:55:13 pm »


Trở về Sài Gòn, ngày 6, Moutet đã nói với giới báo chí những lời tuyên bố “vỡ mộng”.

“Cảm tưởng của tôi đối với Hà Nội hoàn toàn là bi đát. Tôi đã muốn tự mình tìm hiểu lấy tình hình. Tôi khẳng định với các ông rằng tôi đã có bằng chứng tuyệt đối về cái âm mưu định trước của Việt Nam trong cuộc tiến công được chuẩn bị lâu ngày này. Tôi nói thật với các ông là tôi hoàn toàn không thể ngờ có một sự việc như vậy.

“Quan điểm của tôi giờ đây rất minh bạch, cuộc tấn công ngày 19/12, bản chất của nó, âm mưu định trước và sự phát triển của nó cưỡng bách chúng tôi phải dùng biện pháp quân sự. Bao giờ trật tự được lập lại rồi, khi đó mới có khả năng bàn trở lại những vấn đề chính trị.

“Về Paris, tôi sẽ bênh vực cho Bộ Chỉ huy và các nhà chức trách, những người đã theo đúng chỉ thị của Chính phủ, đợi đến giới hạn cuối cùng mới chịu can thiệp”.


Còn đối với những đề nghị của Hồ Chí Minh, ông Bộ trưởng Moutet tỏ ra một thái độ hoài nghi tuyệt đối. Liên hệ đến những buổi phát thanh của đài Việt Nam, ông bình luận:

“Một lời kêu gọi như vậy không đáng được người ta chú ý một cách nghiêm túc. Đấy chẳng qua là một hành động tuyên truyền... Chúng tôi không thể coi là vấn đề quan trọng, bởi vì toàn bộ những lời tuyên bố phát thanh qua các đài Việt Nam đều mang tính chất tùy tiện.

“… Tôi chắc chắn rằng những người hiện nay đang nắm thực quyền trong Chính phủ Việt Nam không muốn có một sự thỏa thuận nào đâu”.


Tuy nhiên, ông bộ trưởng lại tuyên bố: ông không nghĩ rằng “ông Hồ Chí Minh đã giữ một phần quyết định trong những sự kiện xảy ra mà có lẽ là ông đã quá bận rộn” (29).

Ông Bộ trưởng Moutet, trong 30 tiếng đồng hồ lưu lại ở Hà Nội, đã được thông tin bằng cách nào và do ai? Dù sao: thì ngày 6/1, cũng trong ngày ông họp báo đó, tướng Morlière đã đến Sài Gòn, theo lệnh triệu tập cấp tốc. Được chính thức báo tin rằng tướng Leclerc sắp sửa yêu cầu triệu hồi ông về, Morlière xin được gặp ngay bộ trưởng Moutet, mà ở Hà Nội ông đã không gặp riêng được. Cuộc hội kiến diễn ra ngày 7/1. Morlière cố gắng chứng minh rằng ông luôn luôn tuân thủ các chỉ thị của Chính phủ, tìm cách ứng dụng một cách thực lòng chính sách thỏa thuận, nhưng sau sự kiện Hải Phòng ngày 20/11, các “mệnh lệnh đế quốc” của tướng Valluy, được đại tá Dèbes hỗ trợ một cách đắc lực, đã vô hiệu hóa những cố gắng của ông (Morlière) nhằm đi đến thỏa hiệp và đã tạo nên một tình hình chính trị và quân sự mà, như ông đã dự đoán, đưa tới chiến tranh. Moutet đòi ông ta viết một bản báo cáo chi tiết về tất cả các sự kiện nói trên và gửi qua Paris cho ông. (30)

Vị trí của Moutet đã được củng cố, nhưng vị trí ấy đã bắt đầu có ảnh hưởng đến những lý lẽ của ông ta. Ngày 7/1, trước hôm lên dường, ông tuyên bố:

“Nước Pháp không muốn làm sai lời nói của mình, nhưng nó muốn điều đình một cách thoải mái với những đại diện chân chính của dân tộc Việt Nam, quyết tâm thi hành hết sức trung thực những hiệp định đã tự nguyện thỏa thuận với nhau. Tôi chưa bao giờ cho rằng một quyết định quân sự có thể thay thế cho những giải pháp chính trị. Tôi muốn hy vọng rằng thời điểm của những giải pháp chính trị sẽ đến trong một ngày không xa”.

Moutet lên đường về Pháp ngày 8/1. Ông muốn ghé lại những miền Ấn Độ thuộc Pháp, tại Pondichéry, vì trong những thời điểm trọng yếu này, ông có những chuyện lo lắng về tuyển cử ám ảnh; thực tế những lo lắng này đã khiến ông phải rút ngắn thời gian ở lại Hà Nội. Trong đợt tuyển cử tháng 11, ông đã bị thất bại, mất ghế đại biểu Quốc hội. Ông chỉ hy vọng được làm bộ trưởng trong chính phủ sắp đến nếu ông giành được một ghế nghị viện. Người ta có nói với ông rằng cơ may có thể đến với ông ở Pondichéry; tại đó ông phải tiếp xúc với các cử tri. Nhưng cần làm nhanh. Cuộc tiếp xúc này tuy thế vẫn thất bại. (31) Moutet sẽ trở về Paris ngày 12/1. Leclerc đã về trước ông ta. Nhưng về phần d’Argenlieu thì ông ta đã thắng. Trong một bức thư gửi De Gaulle ngày 14/1, d’Argenlieu đã viết:

“Nhờ ơn Chúa, Moutet đã không có một cuộc tiếp xúc cá nhân nào với nhóm ông Hồ Chí Minh. Đó là một điểm thắng lợi đầu tiên.

“Cần thiết, ngày mai Chính phủ tuyên bố đã quyết định chấm dứt mọi quan hệ với nhóm ấy và trở lại hoàn toàn tự do. Cần phải nói thêm rằng ý đồ chính trị rộng rãi tự do cơ bản vẫn luôn luôn là một, không có gì thay đổi, nhưng sẽ được tiếp tục với những nhân vật khác thực sự tiêu biểu cho nhân dân Việt Nam. Đây sẽ là điểm thứ hai.

“Lực lượng vũ trang của chúng ta sẽ tiếp tục khôi phục lại trật tự công cộng trên mọi điểm mấu chốt của vùng châu thổ Bắc Kỳ và giải đất Trung Kỳ. Họ phải truy kích Chính phủ lưu vong và loại trừ nó đi.

“Đối với những ai vượt lên được trên những tình huống đau thương của một ngày, thì dường như cuộc bỏ chạy đáng xấu hổ của Chính phủ Hồ Chí Minh mở ra cho nước Pháp một thuận lợi vô song trong hành động nhằm tiếp tục và hoàn thành một cách xứng đáng sứ mệnh của nó tại Đông Dương”
(32).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #116 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2009, 06:57:26 pm »


Leclerc từ chối thay chân


Leclerc trở về Sài Gòn vội vàng bắt đầu viết báo cáo. Câu kết luận rất ngắn gọn, ông tiết lộ với đại tá Repiton Preneuf. “Chủ nghĩa chống cộng là một chiếc đòn bẩy không có điểm tựa chừng nào mà vấn đề dân tộc chưa được giải quyết” (33). Ngày 9, trong chiếc xe đưa ông tới Tân Sơn Nhất để đáp máy bay đi Paris, ông tâm sự với người sĩ quan tùy tùng G. de Valence: “Ở đây có quá nhiều người tưởng rằng cứ việc lấp đầy hố những xác người là người ta có thể dựng lại nhịp cầu nối liền Việt Nam với Pháp” (34). Ngày 12/1, Leclerc đến Paris. Chiều hôm đó, ông báo cáo chuyến đi công tác của mình với Léon Blum. Hôm sau, ông trao văn bản. (35)

Ông đề nghị một số biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho đạo quân viễn chinh. Ông tổng kết tình hình quân sự, xác nhận tính chất giới hạn của việc kiểm soát của Pháp tại Bắc Kỳ và làm sáng tỏ rằng “với những phương tiện đang có hiện nay..., Bộ Chỉ huy (Pháp) không thể đánh được một trận nào gọi là quyết định triển vọng duy nhất của nó, nếu hoạt động của nó được kết hợp chặt chẽ với hoạt động chính trị, là cộng tác để làm tiêu hao dần Chính phủ Hồ Chí Minh hiện nay. Với một sư đoàn phụ lực và với điều kiện là có một công tác chính trị thích nghi, thì công cuộc bình định Nam và Trung Kỳ có thể được bảo đảm thành công hơn... Còn ở Bắc Kỳ thì Bộ Chỉ huy có thể nuôi dưỡng lực lượng nhằm một chiến dịch hoạt động mạnh mẽ vào Đông-Xuân 1947 – 1948”.

“Đạo quân viễn chinh lúc đó sẽ ở trong một tình thế tương tự như tình thế tháng 3/1946 khi ký kết những hiệp định sơ bộ. Nhưng lần này cần thiết hoạt động chính trị, kết hợp chặt chẽ và tiếp nối vào hoạt động quân sự, phải mang lại kết quả thắng lợi, nếu không thì vấn đề sẽ không có câu giải đáp.

“Đây không cần thiết phải nhấn mạnh về tính chất nghiêm trọng của thời điểm hiện tại. Nước Pháp hôm nay phải quyết định chính sách của mình sẽ như thế nào... đồng thời cùng quyết định nó có thể và nó muốn cung cấp một cố gắng quân sự mới ở tầm cỡ nào...

“Đứng trước một tình hình như vậy, thì giải pháp dĩ nhiên sẽ phức hợp và chắc chắn là phải kéo dài, chỉ có thể là một giải pháp chính trị: năm 1947, Pháp sẽ không dùng nổi vũ khí để đè nén một tập hợp đông hàng 24 triệu người đang lớn mạnh lên, mang tư tưởng bài ngoại và có thể cả tư tưởng quốc gia chủ nghĩa nữa. Tuy nhiên, một sự cố gắng quân sự kèm theo hoạt động chính trị của chúng ta ngày càng mạnh mẽ thì giải pháp đó càng có khả năng và nhanh chóng thành công. Tất cả vấn đề là ở đấy.

“Việc xem xét chính sách của chúng ta không thuộc trách nhiệm của tôi. Tuy vậy, tôi cũng xin phép được dự đoán rằng nội dung chính sách đó sẽ là đối lập với chủ nghĩa quốc gia hiện nay của Việt Minh bằng một hoặc nhiều chủ nghĩa quốc gia khác. Ở đâu? Bao giờ? Thỏa thuận với ai? Cái khó của vấn đề rõ ràng là ở những câu hỏi đó...

“Bộ Chỉ huy địa phương, sau khi đã cân nhắc về những phương tiện sẵn có trong tay, cũng cần phải cân nhắc thêm hai nhân tố sau đây:

“Một mặt: Vấn đề thời gian (có thể kéo dài) tức đòi hỏi tránh tiêu hao phương tiện quá sớm.

“Mặt khác: Tiến hành một hoạt động rộng rãi và rất tích cực trên những địa bàn đã chọn, nếu không chúng ta sẽ ngày càng trở thành những tù nhân trong những thành phố và căn cứ mà chúng ta chiếm đóng. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ, vấn đề cơ bản vẫn là vấn đề chính trị. Đây là vấn đề điều đình với một chủ nghĩa quốc gia bài ngoại đang trỗi dậy, là khai thông nhằm bảo vệ lấy, ít nhất là một phần nào, những quyền lợi chính đáng của nước Pháp.


Ngày 8 tháng 1 năm 1947 (35)
Ký tên: LECLERC”

Léon Blum đề nghị Leclerc nhận lại chức Tổng chỉ huy quân đội tại Đông Dương. Chức vụ này thật ra chỉ là một giai đoạn. Sau đó, Leclerc sẽ thay chân d’Argenlieu làm Cao ủy, một lúc kiêm hai chức vụ dân sự và quân sự. Blum khẩn khoản đề nghị; Leclerc xin 48 tiếng đồng hồ để suy nghĩ.

Rồi ông viết thư ngay cho De Gaulle, báo cho De Gaulle biết về đề nghị trên đây và hỏi ý kiến. De Gaulle trả lời, cũng khẩn thiết khuyên ông từ chối. Đô đốc d’Argenlieu đã làm đúng cái việc ông đã làm; phải ủng hộ ông ta chứ không phải thay thế. Chính là cái hệ thống, và các chính trị gia của nó phải chịu trách nhiệm về việc làm cho tình hình Đông Dương ngày càng căng thẳng. Không nên làm vật bảo chứng cho các hệ thống đó. Một số người nói rõ cho Leclerc biết rằng người ta đang tìm cách lợi dụng những bất đồng của ông đối với d’Argenlieu, cũng như trước đây người ta đã dùng Pétain để đẩy Lyautey ra khỏi Maroc. Đây là một luận cứ quyết định: Leclerc sẽ cho mang thư từ chối của ông đến cho Léon Blum.

Nhưng nền Đệ tứ Cộng hòa đã bắt đầu “nhậm chức”. Ngày 12/1, Vincent Auriol được bầu làm Tổng thống nước Cộng hòa. Chính phủ Blum từ chức. Một tuần lễ sau, Chính phủ đầu tiên của nền Đệ tứ Cộng hòa ấy được thành lập do Paul Ramadier làm thủ tướng. Nó thừa kế của “Chính phủ Lâm thời của nước Cộng hòa Pháp” - GPRF - một món gia tài: Cuộc chiến tranh Đông Dương.

Giữa lúc này, bản báo cáo mà Moutet yêu cầu Morlière gửi cho ông, đề ngày 10/1, đến Paris. Nó vạch ra rõ ràng, một cách không thể nào bác bỏ được, những trách nhiệm nặng nề của Valluy và của Dèbes. Nhưng Leclerc đã yêu cầu triệu hồi Morlière về rồi. Morlière được gọi về Paris: người ta biết tin này ở Hà Nội ngày 31/1. Morlière hiểu ra. Ông ta sẽ ở Sài Gòn ngày 3/2 (trao lại quyền chỉ huy các lực lượng Pháp tại Bắc Đông Dương - TFIN - cho đại tá Dèbes) và ngày 5 sang Paris. Ngày 10/2, ông ta lại gửi cho Chính phủ một bản báo cáo thứ hai (36). Mặc dầu khẳng định của ông và mặc dầu hoạt động của ông nằm trong đường lối của Léon Blum, ông ta vẫn cứ chính thức bị cách chức tại Đông Dương và “ngồi không” (37) ngót một năm dài nữa1. Ông đã tạo ra cho mình những “kẻ thù quyền thế”. Điều người ta chê trách ở ông, đúng như vậy, chính là vì ông đã quá “như nhược”, hoặc “không có bản lĩnh vững vàng”, nhưng trước con mắt những nhà lãnh đạo, cái đáng chê trách ở ông là đã “làm cho cuộc đảo chính không thành”. Người ta sẽ không tha thứ cho ông về “cái tội” đã để cho người Việt Nam đặt đầy thành phố Hà Nội lởm chởm những chướng ngại vật ngăn cản xe bọc thép của quân đội Pháp không chiếm được thành phố trong ba tiếng đồng hồ như Valluy đã dự kiến trong kế hoạch của ông ta.

Trong một bức điện gửi Léon Blum ngày 01/1, d’Argenlieu đã nói thẳng không che đậy:

“Chắc chắn rằng một thái độ cứng rắn hơn của Bộ Chỉ huy Hà Nội, nếu không tránh được cuộc xung đột mà Việt Minh mong muốn, thì ít ra cũng đã cho phép chúng ta chấp nhận nó trong những điều kiện thuận lợi hơn, và cái vấn đề của chính thành phố Hà Nội ngày hôm nay cũng đã được giải quyết rồi” (38 ).

Bây giờ thì việc “cắt đứt quan hệ” đã hoàn thành và phủ Cao ủy tại Sài Gòn đã làm cho Chính phủ (Pháp) chấp nhận “bản thuyết minh” của nó, tức là những “huyền thoại và truyền thuyết” của nó tạo ra... nếu không muốn nói là những điều “phản - chân lý” của nó.
___________________________________
1. Tướng Valluy thì sẽ được lên chức tướng ba sao (tư lệnh quân đoàn) “kể từ 20/2/1947”, theo đề nghị của Bộ trưởng Quốc phòng P. Coste-Floret. Đại tá Dèbes nhận chức chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương và được thưởng Bắc Đẩu Bội tinh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #117 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:15:03 pm »


-XIV-
VIỆT NAM - TỪ CẤM
(4/1 - 23/3/1947)



Ngay cả trước khi ông Bộ trưởng Moutet cùng đoàn tùy tùng của ông một bên và tướng Leclerc một bên rời Đông Dương trở lại Paris, Pignon - đầu não của vấn đề - đã xác định khái quát những nét lớn mà theo ý của ông ta sẽ là đường lối chính sách của Pháp tại Đông Dương.

Chính sách này được trình bày trong một văn kiện có tính chất lịch sử thực sự, có một tầm quan trọng hàng đầu tuy chỉ nhằm phổ biến trong “một giới hạn nhất định”, bản “Thông tư định hướng số 9” của ủy viên Liên bang phụ trách Các vấn đề chính trị Léon Pignon, đề ngày 4/1/1947.

Cuộc chiến tranh Đông Dương sẽ mãi mãi không thể nào hiểu được đối với ai không được biết đến, không được cân nhắc từng câu chữ của văn kiện “cá nhân và mật” dài 7 trang này. Dưới đây là những đoạn trích rộng rãi, tiêu biểu nhất.





Thông tư định hướng số 9


Hầu như ngay từ đầu, Pignon đã định vị cho vấn đề:

“Một điểm tỏ ra chắc chắn: Không thể nào tiếp tục điều đình trở lại với Chính phủ của ông Hồ Chí Minh. Giờ đây chúng ta biết, một cách chắc chắn, sau khi đã cảm thấy và thông báo trước từ lâu, rằng Chính phủ đó bao giờ cũng chỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất: đảm bảo nền độc lập của Việt Nam bằng cách vận dụng mọi biện pháp ngăn cản không để cho Pháp trở lại - bất cứ với tư cách nào - chừng nào nền độc lập đó chưa được vĩnh viễn và hoàn toàn thừa nhận.

“Nước Pháp, do những quyền của nó, do những vị trí mà nó vẫn duy trì, là mối nguy hiểm chính cho nền độc lập của Việt Nam. Vậy thì dứt khoát phải loại trừ nó ra.

“Chính phủ Hồ Chí Minh đã không ngần ngại dùng biện pháp tiến công, với hy vọng bất ngờ gây cho chúng ta một sự thiệt hại lớn thực sự. Điều đình với họ giờ đây có nghĩa là đầu hàng, là tiêu tan mọi ảnh hưởng của Pháp một cách nhanh chóng, không những trong nước Việt Nam mà trong cả Đông Dương và cả vùng Viễn Đông nữa.

“Uy tín của nước Pháp sẽ không tồn tại nổi sau sự thoái từ này, và nếu chúng ta được phép bó tay trong lĩnh vực riêng của chúng ta, lĩnh vực mà chúng ta phải chịu trách nhiệm hết sức nặng nề, thì chúng ta sẽ chứng kiến ngay sự tan rã của Đế quốc Pháp.

Nếu chúng ta không điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh, thì buộc lòng chúng ta phải đánh lại, ít nhất trong một chừng mực cần thiết để bảo đảm an ninh của các vị trí và sự đi lại của chúng ta.

“Không thể nào xác định được cụ thể, trong văn kiện đơn giản này... giới hạn những cuộc hành quân mà chúng ta sẽ phải tổ chức...

“… Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần cố gắng làm hết sức mình để vừa bảo đảm được an ninh cho quân đội chúng ta vừa tránh được một chiến dịch tái chiếm lại Bắc Kỳ và Trung Kỳ...

“Rõ ràng lợi ích của chúng ta là, một mặt, đừng khơi sâu hơn nữa cái hố căm thù đã ngăn cách chúng ta với một số đông người Annam bằng cách đem quân về các vùng nông thôn triệt hạ làng mạc và thiêu hủy những túp lều đáng thương của các tên “nhà quê”, mặt khác, là đừng vội biến - nếu chưa quá muộn - lợi ích của đảng Việt Minh thành lợi ích quốc gia.

“Gần như chắc chắn là ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông muốn tìm trong sự xung đột đẫm máu một giải pháp để thoát ra khỏi những khó khăn mà họ vất vả lắm mới có thể vượt qua. Sự bất bình bao trùm cả Bắc Kỳ lẫn Trung Kỳ. Đã lâu rồi người ta nhận thấy rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Nam Kỳ yêu mến. Nhưng nếu quần chúng có bắt đầu bộc lộ một sự bất mãn đối với các cấp lãnh đạo của mình đi chăng nữa, chúng ta vẫn không được phép khẳng định rằng, trừ ở một vài địa phương nhất định, quần chúng đã hoàn toàn ly khai với đảng Việt Minh.

“Ngược lại, tư tưởng yêu nước vẫn sâu sắc ở mọi tầng lớp nhân dân Annam là một điều không ai chối cãi được, và buộc chúng ta phải lưu ý.

“Hiện nay, chúng ta chỉ hy vọng chia rẽ quần chúng với Việt Minh bằng cách chỉ rõ cho họ, bằng cả việc làm và lời nói của chúng ta, rằng tư tưởng quốc gia chẳng hề bị nguy cơ gì đe dọa từ phía chúng ta. Chắc chắn một ngày nào đây sẽ đến mà chúng ta cần có những quyết định cơ bản nhất liên quan đến những vấn đề lớn đang được dư luận theo dõi chú ý nhiều, tức là:

Trước hết vấn đề củng cố vững vàng nước Việt Nam về mặt lãnh thổ, hay nói cách khác, là vấn đề thống nhất ba kỳ;

Thứ hai và thứ yếu, là vấn đề độc lập.

“Nhưng, ngay từ bây giờ, điều quan trọng là không được phủ nhận một lời hứa hẹn nào của chúng ta vì lẽ những người đã cùng với chúng ta ký kết những bản hiệp định trước đây đã tỏ ra thiếu sót và không xứng đáng. Bản Tạm ước 14 tháng 9 là một biện pháp nhằm mục đích, như người ta vẫn thường hay nói, để gây một không khí thuận lợi cho những cuộc đàm phán dứt khoát cuối cùng. Ngược lại, đối với hiệp định 6 tháng 3, trong chừng mực nó đã thừa nhận Việt Nam là một Quốc gia tự do và thực sự có chủ quyền về mặt nội trị, thì chúng ta phải coi như luôn luôn có giá trị.

“Sẽ không gì đáng tiếc cho bằng chúng ta buông xuôi, dưới ảnh hưởng của thời cuộc, dưới ảnh hưởng cả của những người Pháp đã sinh cơ lập nghiệp tại Việt Nam, mà đi đến một sự phản ứng “có tính chất thực dân”. Trong tình trạng lộn xộn của những ngày đầu, tại Hà Nội, có thể quân đội và thường dân Pháp đã làm nhiều chuyện bạo hành.

“Nhưng dù là đáng tiếc, người ta vẫn có thể thông cảm và tha thứ cho những chuyện bạo hành đó trong cái không khí nghẹt thở kéo dài hàng mấy tháng liền tại Bắc Kỳ, trước cuộc tấn công phản bội và những hành vi tàn bạo đã diễn ra trong hoàn cảnh nói trên. Nhưng điều quan trọng là một mặt không được để tái diễn những chuyện bạo hành như vậy nữa; mặt khác thì các nhà chức trách (Pháp), mà dân địa phương coi như là những người chịu trách nhiệm, không được dính líu đến dù bất cứ bằng cách nào”.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #118 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:17:01 pm »


Việt Nam hóa chiến tranh


“Thái độ của chúng ta đối với người An Nam phải thật sự rộng rãi và thông cảm... Trước mắt, vấn đề cơ bản nhất là thận trọng việc làm và lời nói, là khẳng định sự thủy chung của chính sách chúng ta và luôn luôn chứng tỏ tấm lòng đại lượng của chúng ta đối với người Việt Nam trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt bằng cách cứu trợ họ trong mọi thiếu thốn vật chất cũng như tinh thần. Mục tiêu của chúng ta đã xác định rõ ràng: chuyển cuộc xung đột của chúng ta với Việt Minh thành cuộc xung đột nội bộ của người An Nam, và bản thân chúng ta thì hạn chế đến mức độ tối thiểu việc trực tiếp tham gia vào những chiến dịch và những cuộc càn quét, là công việc của người dân bản xứ thù địch của đảng Việt Minh”...

Trong một đoạn dài, Pignon nhấn mạnh đến tính chất lập lờ trong nội dung ý nghĩa của chữ “Việt Nam” - cái chữ mà người Pháp chấp nhận “chỉ vì phép lịch sự và vì họ không thể tìm được một chữ nào thay thế”. Xa hơn, Pignon nói đến chữ “Việt Nam”, một “từ không có độ bền địa lý” và nhấn mạnh rằng hai bên không thể nào thỏa thuận được với nhau, bởi vì Hà Nội luôn luôn hành động như thể là nền độc lập của họ đã được nước Pháp hứa hẹn, trong khi về phía Pháp chưa bao giờ có vấn đề hứa hẹn đó. Ông ta kết thúc:

“Nước Pháp không hề có “ác ý” trong cuộc xung đột giờ đây đang đối lập chúng ta với một đảng phái mà, hồi tưởng lại những hiệp định đã ký kết với họ, chúng ta vẫn cứ muốn coi như chỉ là một “băng nhóm” mà thôi. Mỗi người chúng ta cần luôn luôn tâm niệm lấy điều này” (1).







Việt Nam thế là xong!


Vài hôm sau, ngày 15 tháng 1, đô đốc d’Argenlieu chính thức thừa nhận một vài ý kiến của vị cố vấn của ông ta là đúng và ký một bản thông tư bất thường (số 215/CP.Cab): bản thông tư này đáng được trích dẫn gần như nguyên văn và đi vào lịch sử:

“Chính phủ Pháp đã ký kết với một chính quyền thực tế tự xưng là “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm 1946 và Tạm ước 14 tháng 9/1946.

“Cái chính quyền thực tế này, mà chúng ta sẽ gọi cho thuận lợi dễ dàng là “Chính phủ Hà Nội”, đã được chúng ta đối xử một cách đặc biệt ưu đãi.

“Thực thế và chẳng cần chú ý đến cái nguồn gốc bất hợp pháp của nó - không cần nhắc làm gì ở đây những trò hề bầu cử ngày 23/12/1945 và 6/1/1946, mà họ rêu rao “đó là nền tảng dân chủ” của họ - chúng ta đã chấp nhận, bằng những hiệp định nói trên đây, cho họ hưởng những đặc quyền quốc gia của một chính phủ hợp pháp.

“Chính phủ Hà Nội đã tự mình xé những hiệp định ấy đi trong những điều kiện tồi tệ đến nỗi chính họ đã tự hạ uy tín của họ trên cương vị là đại diện chân chính và đủ tư cách của nhân dân An Nam.

“Chúng ta sẽ xem xét sau một cách tổng quát những hậu quả chính trị và pháp lý của việc xé bỏ các hiệp định này: đây chưa phải điều chúng ta bàn đến hôm nay.

“Chúng ta sẽ chỉ nhận xét rằng không còn tồn tại cái Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nữa, mà chỉ còn là một bộ máy khủng bố mà chúng ta trả lại cho nó cái tên thật của nó, “Đảng Việt Minh”.

“Tôi thấy cần thiết phải xác định một cách không mập mờ ý nghĩa của những từ này, bởi vì hệ thống thuật ngữ đã đóng một vai trò rất lớn trong cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Dương, mà giờ đây đang được giải quyết bằng một cuộc xung đột vũ trang, ngoài ý muốn của chúng ta.

“Sự phục sinh của cái danh từ cũ “Việt Nam” đã là một phát hiện tài tình. Quả thực, cái danh từ ấy đã ngay lập tức trở thành, đối với Việt Nam, cái biểu tượng của mọi khát vọng giành chủ quyền trên toàn bộ đất nước An Nam và cuối cùng là cụ thể hóa các quyền lợi của Việt Minh trước dư luận Pháp và quốc tế còn thiếu những thông tin chính xác.

“Chính phủ Hà Nội đã lợi dụng một cách khôn khéo và một cách thành công không ai chối cãi được về cái điều lập lờ do chính họ đã tạo ra như vậy đó.

“Phủ Cao ủy đã phòng bị lừa bịp trước thủ đoạn này và ngay phiên họp đầu tiên ở Đà Lạt, đã gửi cho Nguyễn Tường Tam, trưởng phái đoàn Việt Nam, một công hàm miệng trình bày rõ quan điểm của Pháp đối với vấn đề này.

“Bức công hàm đó trình bày chủ yếu rằng các nhà đàm phán hiệp định 6 tháng 3 của Pháp đã chấp nhận dùng trong văn bản hiệp định đó cái từ ngữ “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” chẳng qua vì phép lịch sự và vì không muốn gây thêm phức tạp, vì những lý do “thể diện”, cho những cuộc đàm phán đặc biệt khó khăn.

“Nhưng họ đã nói rõ ràng rằng những từ ngữ mà họ dùng trong hiệp định (Chính phủ nước Việt Nam DCCH) không bao hàm ý nghĩa thừa nhận về mặt lãnh thổ. Tính chất bền vững của nước Cộng hòa mới, mà chúng ta vừa ký giấy khai sinh này, chẳng hề được xác định cụ thể. Hơn nữa, chỉ cần xem lại chính văn bản hiệp định là sẽ thấy: bản hiệp định chỉ rõ rằng phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa đó sẽ do một cuộc trung cầu dân ý trong những vùng liên quan quyết định kia mà.

“Mặc dù bức công hàm này hết sức rõ ràng và cụ thể, giấy trắng mực đen, nó vẫn đông đủ để bắt buộc một bên ký kết thiếu thiện ý phải tôn trọng các hiệp ước hai bên đã ký với nhau. Và mấy tháng sau chúng ta đã chứng kiến một sự khai thác thông minh cái từ “Việt Nam” cùng với nội dung của nó, sự khai thác ấy càng có sức mạnh lôi cuốn và khả năng biểu hiện khi mà, trừ một vài nhà thông thái, chẳng có ai trong dư luận thường ngày có thể phản đối cái nội dung lịch sử, địa dư và pháp lý của nó.

“Đã đến lúc cần phải làm tiêu tan cái tình hình lập lờ hai mặt đó. Cái từ “Việt Nam” cần phải được loại bỏ đi trong tất cả các văn kiện chính thức và nếu được, cả trong báo chí và giao tiếp hàng ngày. Không nên xác định một cách độc đoán quan điểm về vấn đề sát nhập hay chia cắt ba nước nói tiếng An Nam.

“Chúng ta đã cam kết tôn trọng ý chí của nhân dân khi nhân dân có khả năng phát biểu ý chí đó của mình một cách tự do, phòng bị ép buộc bằng bất cứ cách nào. Nhưng chúng ta có nhiệm vụ phải giữ lập trường chống lại cái chủ nghĩa đế quốc độc tài của một đảng phái hoặc một bộ phận đang mưu toan tước bỏ của nhân dân chính cái quyền tự do phát biểu ý kiến của mình ấy.

“Ngoài ra, nếu để kéo dài tình trạng lẫn lộn trắng đen, để cho Việt Minh cái “độc quyền” tư tưởng dân tộc, thì sẽ là điều dại dột. Cho nên, chúng ta cần phải dùng trở lại những từ ngữ cũ, chính đáng và không mập mờ chút nào: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

“Đúng là vẫn còn tồn tại một khó khăn: chúng ta chưa bao giờ nghĩ chuyện phủ nhận một sự thực là, mặc dù có những sự khác biệt rất rõ nét có thể giải thích bằng lịch sử và dân tộc học, vẫn tồn tại một cộng đồng ngôn ngữ và truyền thống giũa Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

“Mỗi lần cần nói đến ba xứ ấy, không nói riêng mà nói chung, chúng ta nên vận dụng những từ ngữ như là “các  nước An Nam” hoặc “các nước nói tiếng An Nam”.

“Tôi khẩn thiết yêu cầu mọi người phải hiểu đúng tinh thần bản thông tư này và áp dụng nó đúng từng câu từng chữ”
(2).

Ký tên: Georges d’Argenlieu”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #119 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:21:01 pm »


Phục hưng chế độ quân chủ ư?


Tuy nhiên, ngày hôm trước, 14 tháng 1, ông đô đốc còn đi xa hơn nữa. Trong một bức giác thư mà một lần nữa, ông ta đặt cho cái tựa đề “Bước ngoặt chính trị ở Đông Dương”, gửi Thủ tướng Chính phủ Léon Blum cùng mấy nhân vật khác, lần này ông đề xuất một phương hướng chỉ đạo, một chính sách cụ thể. Ở đây nữa, tính chất quan trọng của văn kiện đòi hỏi phải công bố cho mọi người những đoạn trích quan trọng:

“Chắc chắn là đã đến lúc phải xem xét lại chính sách của nước Pháp đối với những quốc gia An Nam tại Đông Dương và có một quyết định dứt khoát...

“Cho đến nay, chúng ta đã theo đuổi một đường lối chính trị khá linh động, xuất phát, một mặt, từ bản tuyên bố ngày 24/3/1945, đánh dấu ý định của Chính phủ Pháp muốn từ bỏ quy chế thuộc địa cũ; mặt khác, từ nhiệm vụ cụ thể giao phó cho người đại diện của nước Pháp: khôi phục lại dưới những hình thức mới chủ quyền của chúng ta đối với toàn bộ Liên bang Đông Dương.

“Mặc dù gặp nhiều khó khăn, cho tới ngày 19/12/1946, chúng ta chưa bao giờ đi vào một cuộc xung đột vũ trang toàn cõi. Tù ngày 19/12, chúng ta đi vào một giai đoạn mới, một cuộc đấu tranh công khai với một chính quyền thực tế tự cho mình là đại diện của cái thực tế chính trị gọi là Việt Nam rồi thông qua các ủy ban bí mật của nó và dựa vào chính sách khủng bố, để có những phương tiện bắt buộc dân chúng phải thừa nhận mình.

“Ngày hôm nay, chúng ta phải miễn cưỡng mà thừa nhận mọi lối thoát, mọi biện pháp trì hoãn đều bị cấm đối với chúng ta. Chúng ta đành phải buộc lòng tấn công vào cái văn bản của vấn đề những quan hệ Pháp - Việt”.


Đến đây, ông đô đốc xem xét “một vài dữ kiện”:

“a. Sự tồn tại trong đám quần chúng An Nam của một số rất quan trọng những kẻ bất mãn luôn luôn khao khát trật tự và hòa bình; sự kinh tởm của những đám đông này đối với cái chủ thuyết cách mạng cực đoan, tuy rằng đám đông đó đã “bị tiêm nhiễm tư tưởng quốc gia hết sức sâu sắc” và “những ý niệm độc lập và thống nhất Tổ quốc là những ý niệm chủ lực của họ.

“b. Sự chống đối của các dân tộc thiểu số “đối với ách thống trị của người An Nam”, khiến cho họ dễ tán thành trở lại chế độ bảo hộ của nước Pháp.


Ông đô đốc bèn đi đến hai dữ kiện cơ bản sau đây:

“c. Rõ ràng là, sau khi họ đã vi phạm một cách tội lỗi tất cả các thỏa thuận đã được ký kết, chúng ta không còn có thể nào điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh được nữa và chúng ta phải lớn tiếng công bố lên điều này.

“Điều đình với Chính phủ này sẽ là một sự đầu hàng được thừa nhận như vậy bởi mọi người dân Đông Dương dù họ thuộc nước nào hay dân tộc nào. Khi đó chúng ta chỉ còn có việc là giải thể các vị trí Pháp đi một cách tốt nhất, chuẩn bị sự hồi hương của tất cả những người thuộc quốc tịch chúng ta, tức không riêng những người Pháp chính quốc mà cả những người lai Pháp, những công dân Pháp gốc Đông Dương và những người Đông Dương thỏa hiệp với chúng ta.

“d. Chắc chắn rằng một nước Việt Nam thống nhất, không phân biệt đặc điểm địa phương, sẽ tạo nên những mối nguy cơ nghiêm trọng cho việc điều hành và cả cho việc thành lập Liên bang Đông Dương. Nó sẽ dùng cái khối lượng to lớn của nó để đè bẹp cả Lào lẫn Campuchia; hai nước này sẽ phải đi tìm những nơi nương dựa bên ngoài. Việt Nam đối với Đông Dương chỉ có thể như Phổ đối với Đức trước kia... Không thể nào hình dung rằng chúng ta sẽ tìm được một giải pháp thuần chính trị hoặc thuần quân sự cho vấn đề đang làm chúng ta đau đầu này. Mục tiêu trước hết của chúng ta là đánh bại lực lượng vũ trang của đảng Việt Minh, và nếu được thì triệt hạ nó đi. Cơ hội tốt có thể đến với chúng ta nếu các lực lượng vũ trang Việt Nam
1 tập trung về vùng Tông - Sơn Tây...
___________________________________
1. Nói gì thì nói, ông đô đốc d’Argenlieu vẫn cứ phải dùng đến cái từ “Việt Nam” - LND.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM