Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:55:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66706 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #120 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:22:29 pm »


Ông đô đốc phủ nhận rằng đây là vấn đề tái chiếm xứ Bắc Kỳ. Vả chăng, theo ông ta thì “tình hình năm 1947 không thể hoàn toàn so sánh với tình hình năm 1884 được”...

“Tình hình hiện nay, về những mặt nào đó, đang có lợi cho chúng ta hơn: một mặt, chúng ta đang có thuận lợi để cách ly Việt Minh ra khỏi Trung Quốc; mặt khác, trừ phi có những chuyện rắc rối quốc tế ngoài vấn đề đang nghiên cứu này, chúng ta có thể dựa vào một sự trung lập nào đó của Chính phủ Trung Quốc.

“Trái lại ngày nay, chúng ta đang đứng trước một đám quần chúng mà chúng ta có đủ lý do để tin rằng họ đã bị tiêm nhiễm sự tuyên truyền của chủ nghĩa quốc gia.

“Vấn đề là làm sao tránh đừng để cho chúng ta bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tranh chống lại nhân dân An Nam một cuộc chiến tranh như thế sẽ có tác dụng đoàn kết nhân dân An Nam với đang Việt Minh chống lại chúng ta: chúng ta phải tránh đừng để cho đảng Việt Minh xuất hiện như là kẻ cầm giữ và là người chiến sĩ chân chính đấu tranh cho vận mạng dân tộc An Nam.

“Từ nhận xét đó, người ta có thể suy ra rằng hệ luận đầu tiên là chúng ta bắt buộc phải giới hạn những hoạt động quân sự của chúng ta tại vùng đồng bằng mà đông đảo dân cư là người An Nam, ở việc giải tỏa Hà Nội, giải tỏa các tỉnh miền Nam đồng bằng, tỉnh Thanh Hóa, và nếu được thì ở những cuộc hành quân cần thiết nhằm truy quét quân đội Việt Nam ra khỏi những vùng đó.

“… Hoạt động quân sự cần đi đôi với một hoạt động tuyên truyền mạnh mẽ nhằm chứng minh cho những người “nhà quê” thấy được rằng sự nghiệp của họ không phải là sự nghiệp của Việt Minh, những người đã gây cho họ bao nhiêu đau khổ đè nặng lên cuộc đời.

“Mục tiêu quân sự đạt rồi, thì điều quan trọng nhất và cũng là điều khó nhất là đề xuất và xúc tiến một giải pháp chính trị.

“Các nhà chức trách chính quốc đã nhấn mạnh rằng cần phải tránh việc thiết lập một chính phủ “bù nhìn” tại Hà Nội. Phủ cao ủy chưa bao giờ có những ý định này; từ ngày bắt đầu cuộc khủng hoảng, phủ cao ủy vẫn luôn luôn yêu cầu các nhân viên của mình rất thận trọng trong việc tiến hành một sự chỉ định theo kiểu đó. Thực vậy, rõ ràng rằng tâm tư tình cảm của quần chúng còn rất hoang mang do dự, rằng ý thức của những người mà chúng ta có thể coi như là tầng lớp lãnh đạo ưu tú, chưa đến độ chín muồi đủ cho chúng ta nghĩ đến một giải pháp phiêu lưu.

“Tình hình của chúng ta chưa được khôi phục vững vàng trên bình diện quân sự, ý đồ của chúng ta đối với đảng Việt Minh cũng chưa được xác định cụ thể để cho phép chúng ta, ngay từ bây giờ, điểm lại xem chúng ta còn có được bao nhiêu người đầy đủ thiện chí. Nhưng, sẽ là nguy hiểm nếu chúng ta để cho tâm trí bị chi phối bởi cái tình cảm mang tính chất học thuyết Aristote “sợ cái trống rỗng” hình như đã trở thành nỗi băn khoăn của nhiều người; cũng sẽ là nguy hiểm nếu chúng ta nhắm mắt trước tương lai, chỉ giới hạn hoạt động của chúng ta ở chỗ khẳng định rằng chúng ta đang ở giai đoạn quân sự và chúng ta sẽ biết nên làm gì một khi các nòng đại bác đã bắt đầu lên tiếng. Với một quan niệm như vậy, chúng ta nhất định sẽ bị lôi cuốn không thể nào tránh khỏi vào cuộc tái vũ trang chinh phục mà chúng ta đang muốn tránh này, vì chính quốc không cho kinh phí, vì dư luận quốc tế sẽ lên án và vì cuối cùng nó sẽ không giải quyết được cái gì.

“Chúng ta thừa biết rằng, năm 1947, tái lập chế độ thuộc địa của 1939 là điều bất khả. Sức mạnh của vũ khí, dù có sử dụng không giới hạn, cũng không sao đạt tới mục đích nói trên. Vậy thì, ngay từ bây giờ, chúng ta cần phải chuẩn bị cho cái chế độ chính trị tương lai của các nước An Nam và để chuẩn bị cho chế độ đó, quyết định dứt khoát rõ ràng những ý đồ của chúng ta.

“Chúng ta đã ghi vào số những phương châm chỉ đạo việc nghiên cứu này sự tồn tại của hai ý niệm chủ lực: ý niệm độc lập và ý niệm thống nhất đất nước.

“Chúng ta không thể hy vọng nhìn thấy hình thành trên đất nước An Nam một phong trào chính trị hùng mạnh, hoặc thiết lập một chính phủ vững vàng và được quần chúng ủng hộ mà không đặt lên đầu chương trình hành động của nó những yêu sách cơ bản ấy của chủ nghĩa quốc gia An Nam.

“Vả lại hình như cái yêu sách thống nhất đất nước có thể kèm theo một vài điểm chiếu cố đến những quyền lợi cá biệt của địa phương Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, bắt đầu từ khi nào mà những kẻ liên quan đã chắc chắn rằng, trên địa bàn ấy, chúng ta không muốn thực hiện chính sách “chia để trị”
1.

“Vậy đường lối chính trị của chúng ta phải thể hiện theo cách thức dưới đây:

“Trước hết chúng ta cần phải làm sáng tỏ mình hình bằng cách đánh tan những mối lo sợ của những kẻ không thích gì sự thống trị của Việt Minh nhưng hiện nay chưa dám liều lĩnh đứng về phía chúng ta mà hành động, nếu mai đây chúng ta lại phải đàm phán với Việt Minh. Do đó, Chính phủ Pháp cần phải chính thức công bố sẽ không còn đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh nữa.

“Đồng thời chúng ta phải cung cấp, cũng dưới hình thức công bố, những bảo đảm cần thiết rằng lập trường đó không thay đổi tư tưởng chính trị của nước Pháp và do vậy:

“a. Những lời cam kết đó sẽ được tôn trọng một cách thực chất, dù có một bên ký kết nào thất hứa.

“b. Nước Pháp chưa bao giờ xác định lập trường một cách tùy tiện về vấn đề thống nhất hay chia cắt ba kỳ; vấn đề nay sẽ do dân cư những vùng hữu quan quyết định, nhưng nước Pháp đã và đang luôm luôn cho rằng nhiệm vụ của mình là làm sao cho nhân dân những vùng liên quan đó được phát biểu ý kiến của mình một cách tự do, là điều mà dưới chế độ độc tài của Việt Minh không có được.

“c. Liên bang Đông Dương là một tất yếu địa lý, nhưng sẽ không được xây dựng tự do bởi những kẻ đương sự và những người này có trách nhiệm làm sao cho họ khỏi phải lo sợ sự tái lập một Chính phủ toàn quyền như cũ.

“d. Việc gia nhập liên hiệp Pháp là một nguyên lý bất khả xâm phạm và đem theo một số hậu quả, sẽ được nêu lên một cách hạn chế, những hậu quả này cũng chính là những yêu sách duy nhất của nước Pháp ở Đông Dương.

“Một khi bản tường trình về các nguyên tắc này đã được thực hiện với tất cả sự trịnh trọng cùng tất cả các chi tiết cụ thể và công khai cần thiết, thì tin chắc rằng chúng ta sẽ dễ dàng tìm được tại Đông Dương những con người đủ tư cách thành lập chính phủ. Chúng ta đã có tại Hà Nội một số người làm “đầu tàu”, tôi muốn nói “có thể làm bộ trưởng”.

“Theo tôi nghĩ thì sẽ là điều có ý nghĩa và rất khích lệ nếu có những nhân vật tai mắt, trong đó một số từng cam kết với Việt Minh, đã từ chối lời mời ra đi (sơ tán) và lẩn trốn để được ở lại dưới sự bảo vệ của chúng ta, nhưng cái đang cần cho những nhân vật đó, chính là sự hợp pháp hóa. Tất cả họ đều có ý thức về chuyện này
2. Mặc dù Quốc hội Việt Nam đã được bầu ra một cách gian trá, cuối cùng nó vẫn gây được cho bên ngoài cái ý niệm rằng Chính phủ Hồ Chí Minh có một nền tảng dân chủ.

“Ngoài ra, tình hình quân sự chưa cho phép, có lẽ trong một thời gian rất lâu nữa, tổ chức những cuộc trưng cầu dân ý.

“Nếu nghiên cứu vấn đề đến nơi đến chốn, chúng ta sẽ phải tự đặt cho mình câu hỏi: Cái hình thức chính trị có khả năng được hưởng thế đặc quyền của sự hợp pháp, phải chăng chính là chế độ quân chủ truyền thống, cái chế độ trước ngày Nhật đầu hàng ấy?

“Thêm vào, tại nước An Nam còn tồn tại nhiều điều ngoài cái “vẻ đẹp quyến rũ ngàn đời của chế độ quân chủ” kia nữa như Jean Jaurès đã nói đến. Toàn bộ cuộc sống xã hội và tôn giáo trước đây đều dựa trên nhà Vua, mà hơn nữa, nhà Vua mới rời bỏ ngai vàng của mình có 18 tháng. Bằng chứng là Chính phủ Hà Nội, ra đời từ cuộc tổng thời nghĩa, mà trong những lần cải tổ liên tiếp, đã luôn luôn giao phó cho Bảo Đại chức vụ quan trọng bậc nhất là cố vấn tối cao. Như vậy, sự trở lại của nhà Vua chắc chắn sẽ có tác dụng làm yên lòng những kẻ đứng về phe chống đối Việt Minh và sợ bị lên án là những con người phản bội.

“Cuối cùng, người ta có thể tự vấn lòng: một nền quân chủ lập hiến sẽ có điều kiện dễ dàng hơn để xây dựng một chế độ thật sự dân chủ trong các nước An Nam chăng? Nó sẽ cho phép củng cố chế độ đại nghị mà Chính phủ Hà Nội trong thực tế đã thủ tiêu để đi vào chế độ phát xít.

“Nhiệm vụ người đại diện chính phủ là phải làm sao cho Chính phủ được sáng tỏ về vấn đề này. Nội dung bức giác thư này đáp ứng cho điều lo lắng băn khoăn đó và nó nhằm vừa phục vụ cho các dân tộc trong Liên bang Đông Dương vừa phục vụ cho Liên hiệp Pháp”
(3).
 
Ký tên G. D’ARGENLIEU


Cùng ngày, d’Argenlieu gửi thư cho De Gaulle yêu cầu vận động giúp ông làm cho chính sách Đông Dương thắng thế ở Paris. Trong thư ông đã gửi gắm cái chính sách đó cho De Gaulle và tóm tắt cho ông ta “những nét lớn” (như ông đã trình bày trong bức giác thư trên đây), rồi ông kết thúc:

“Tôi xin thực tình thưa với Ngài rằng, nếu không may Chính phủ sắp tới hướng theo con đường tiếp xúc trở lại với ông Hồ Chí Minh cùng với cái ê kíp của ông ta, thì tôi sẽ xin từ chức ngay tức thời.

“Tôi vẫn thích hy vọng rằng Chính phủ sẽ từ chối không đếm xỉa gì đến những con người đã từng rơi xuống tận dưới cả sự vô sỉ tại Hải Phòng và Hà Nội. Quân đội của chúng ta, là phát ngôn nhân của những người chết vĩ đại của chúng ta, tôi tin chắc họ sẽ chối từ cộng tác với một sự phản bội lớn lao như vậy”
(4).

Bức giác thư ngày 14/1 đến tay Léon Blum vào lúc ông này sống những giờ phút cuối cùng làm Thủ tướng “Chính phủ lâm thời của nước Cộng hòa Pháp”. Nhưng Léon Blum vẫn kiên quyết báo trước ngay tức thời cho ông đô đốc biết rằng, dù ông ta không chấp nhận những kết luận của bức giác thư, ông vẫn cứ chuyển lại văn kiện này cho kẻ sẽ thay chân ông (5).
________________________________________
1. Trong nguyên văn bằng tiếng Latin “divide ut imperes”.
2. Ông đô đốc nhấn mạnh.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #121 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:25:10 pm »


Nền đệ tứ Cộng hòa


Quả nhiên nước Pháp ra khỏi tình trạng chính trì tạm thời vào đúng thời điểm này. Hiến pháp 27 tháng 10 năm 1946 bắt đầu có hiệu lực. Ngày 16/1/1947, Vincent Auriol, Chủ tịch Quốc hội được bầu làm Tổng thống nước Cộng hòa. Ngày hôm sau, ông giao trách nhiệm cho Paul Ramadier, đảng viên xã hội, thành lập chính phủ đầu tiên của nền Đê tứ Cộng hòa. Ngày 21, Ramadier được Quốc hội trao quyền và sắp sửa thành lập vào ngày 22 chính phủ của ông ta.

Trong bản tuyên bố của ông, ngày 21, ông có nói về Đông Dương như sau:

“Cuộc chiến tranh này, người ta đã áp đặt cho chúng tôi, chúng tôi đã không muốn nó trước đây, không muốn nó hôm nay. Chúng tôi đã làm tất cả, nhượng bộ tất cả những gì hợp lý Chúng tôi biết nó sẽ không giải quyết được vấn đề gì. Chúng tôi sẽ chấm dứt nó ngay khi nào trật tự và an ninh được bảo đảm.

“Chắc chắn, một ngày gần đây, nước Pháp lại mặt đối mặt với những người đại diện của dân tộc An Nam và nói với họ lời nói của chính nghĩa. Lúc đó, nó sẽ không còn lo sợ trước việc thực hiện, nếu đây là ý kiến của nhân dân, sự thống nhất của ba nước An Nam; cũng như nó sẽ không từ chối thừa nhận nền độc lập của Việt Nam trong khuôn khổ của Liên hiệp Pháp và Liên bang Đông Dương”
(6).

Ngay từ ngày 23/1, Moutet đã phản ứng đối với bức giác thư của ông đô đốc:

“Tham khảo: Giác thư tuyệt mật của ông ngày 14/1 vừa qua:

Tôi không đồng ý. Không được quyết định gì trước khi chính phủ mới cho phương hướng”
(7).

Không thấy có gì đến, ngày 28, d’Argenlieu lại tiếp tục bằng những bức thư gửi nhiều nhân vật khác nhau. Một trong những bức thư ấy, ông ta nói “đã báo cáo những ý kiến chứa đựng trong giác thư của ông với các thành viên Hội đồng chính phủ Liên bang” và “tất cả đều hoàn toàn nhất trí với cách nhìn đó”. Tuy vậy, ông “đã quyết định không tiến hành bất cứ việc gì trước khi Chính phủ có khả năng bàn định về vấn đề” (8 ). Nhưng ông sửa soạn sẵn sàng trao cho Chính phủ Nam Kỳ những quyền hạn rõ ràng rộng rãi hơn. Nhưng dự án của ông đã sớm được biết đến ở Paris và Moutet phản ứng ngay bằng một bức điện gửi cho Cao ủy:

“Tôi đã nắm được vấn đề quyền hạn của Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ. Yêu cầu gửi khẩn cấp báo cáo về tình trạng hiện nay của vấn đề mà Chính phủ coi như cực kỳ quan trọng đó” (9).

Ông đô đốc tỏ vẻ không để ý gì đến bức điện của Moutet. Ngày 1/2, ông ta ban hành một quyết định liên bang nới rộng rất nhiều những quyền hạn của Chính phủ Sài Gòn Lê Văn Hoạch và chủ yếu là thừa nhận nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ như “Quốc gia tự do trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp”.

Cơn thịnh nộ nổi lên tại đường Oudinot, trong Bộ Pháp quốc Hải ngoại. Lần này, tiếng đồn về một cuộc thay thế Cao ủy càng dậy lên kiên quyết hơn, trong khi một chiến dịch báo chí chống ông ta (d’Argenlieu - LND) tại Paris ngày càng sâu rộng.

Giờ đây, Ramadier đã có thì giờ đọc kỹ bức giác thư ngày 14/1 và ngày 5/2; ông điện cho d’Argenlieu những điều ông suy nghĩ:

“Tôi đã tìm hiểu bức giác thư của ông gửi cho Thủ tướng Léon Blum với một sự quan tâm đặc biệt; bức giác thư có nhiều đoạn tôi cảm thấy nó diễn đạt một thực tế được quan sát một cách tế nhị và đánh giá một cách tinh vi”.

Nhưng ông ta “thấy cần giới hạn đôi điều...” trước hết về các cơ sở pháp lý mà d’Argenlieu đã dùng làm luận cứ. Bản tuyên bố ngày 24/3 nay chỉ là một văn bản như bao nhiêu văn bản khác. Bây giờ đã có Hiếp pháp mới ngày 27/10/1946 và một bản Quy chế các nước họp tác rồi.

Vậy thì “chính sách Đông Dương của chúng ta cần phải xuất phát từ toàn bộ các văn kiện đó”.

“Mặt khác, tôi sợ rằng việc gợi ý khôi phục Bảo Đại hoặc một người nào khác trong dòng họ ông ta sẽ làm cho chúng ta đi quá xa cái mục đích chúng ta theo đuổi và cách giải quyết một cuộc chiến tranh mà chúng ta không thể kéo dài quá mức độ cần thiết.

“Không thể nào chối cãi được rằng tính siêu nhiên của đấng Thiên tử giữ lại cho chế độ quân chủ một uy tín lớn lao trong mọi môi trường truyền thống, nhưng những ký ức về triều đình Huế và có lẽ đặc biệt hơn cả là của vị cựu hoàng
1 lại gắn liền với chế độ trực trị của những công chúc người Pháp mà cả Đông Dương nói tiếng An Nam đã nổi lên chống lại và những người Pháp biết tôn trọng thực tế thì đều coi như đã hết thời. Một số gắng phục hưng chẳng những có nguy cơ làm cho Việt Minh thêm quả quyết và tăng cường trong nội bộ của nó lực lượng của các phần tử cực đoan, mà còn có thể ly khai với chúng ta tất cả những phần tử tiến bộ không ưa thích gì chế độ độc tài của Việt Minh và đang yên tâm tin tưởng trước những thắng lợi quân sự của chúng ta mặc dù họ không đồng ý từ bỏ lý tưởng quốc gia của mình.

“Kết quả có thể sẽ bắt buộc chúng ta phải tiếp tục vô tận một cuộc chiến tranh với chính nhân dân chứ không phải chỉ với một chính phủ, một cuộc chiến tranh mà sự kéo dài sẽ mang lại bao nhiêu là tai họa.

“Chính phủ chưa nhìn thấy gì rõ ràng trong những viễn cảnh đó để có thể có một quyết định trước khi nghe ông trình bày. Vậy tôi sẽ rất chú ý và đánh giá cao việc ông sẽ về Paris trình bày quan điểm của ông trong một thời hạn khẩn trương nhất”
(10)...

Bức điện này đã gặp nhau dọc đường với bức điện mà d’Argenlieu, quá sốt ruột, đã gửi cho Paris ngày 4/2 và trong đó sau khi tuyên bố đã khôi phục chủ quyền của nước Pháp trên Đông Dương, ông nói rằng ông vẫn chưa nhận được một “câu trả lời rõ ràng và rắn rỏi về vấn đề mà trước mắt phải coi như là điều kiện cơ sở của chính sách chúng ta, tức là: sự khẳng định của Chính phủ sẽ không điều đình với chính phủ Hồ Chí Minh nữa”.

Ông đô đốc đau xót nhận xét rằng tên tuổi của ông bị ném tung ra làm mồi cho dư luận công chúng; rằng “việc cách chức ông luôn luôn được đề cập tới ở cấp cao”, rằng nếu các chính phủ De Gaulle, Gouin và Bidault tín nhiệm ông, thì “ngày nay không còn như vậy nữa” và uy tín của ông đã bị đạp đổ “một cách mờ ám”.

“Ngài không thể nào lại không nhìn thấy rằng sứ mệnh của tôi, muốn được hoàn thành một cách tốt đẹp, đòi hỏi ở Chính phủ phải có sự tín nhiệm, một đường lối chính trị rõ ràng và sau nữa là phải có những phương tiện thực hiện.

“Thiếu những sự bảo đảm đó, thì đô đốc d’Argenlieu, Huân chương giải phóng đệ nhất hạng, Huân chương Bắc Dầu bội tinh đệ nhất hạng, chỉ còn việc từ chức Cao ủy Pháp tại Đông Dương nữa mà thôi”...
(11)

Bức thư này đến Paris hồi 11 giờ sáng ngày 6. Ramadier và Moutet tới Élysée báo cho Auriol biết về việc ông đô đốc xin từ chức. Nhưng, ông Tổng thống nước Cộng hòa nói với họ, “đây không phải một lá đơn từ chức, mà chỉ là một sự báo trước và một lời đe dọa”. Auriol nhắc lại rằng Blum và Ramadier nên nói cho ông đô đốc biết là “người ta không thể chấp nhận tiền đề cũng như kết luận ở bản tường trình của ông ta... Trong điểu kiện như vậy, Chính phủ chính thức chấp nhận bức thư và đề nghị từ chức của ông ta chứa đựng trong bức thư đó, thay vào những bảo đảm mà người ta không thể nào cung cấp được cho ông ta... Phải thảo một bức thư theo ý nghĩa đó”... (12)

Lần này, việc thay thế d’Argenlieu đã được quyết định và Messmer thông báo cho ông đô đốc tin đó.
________________________________________
1. Bảo Đại - LND.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #122 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:26:17 pm »


Những kế hoạch hành quân rộng lớn


Tình hình quân sự ở Đông Dương được d’Argenlieu coi như “của đã cầm tay” (13)

Tất cả những doanh trại bị bao vây đã được giải tỏa. Huế cũng vừa được giải vây. Và, tại Hà Nội, trận chiến đấu đánh vào thành trì cuối cùng của Việt Minh - khu phố người Việt và người Hoa - hết sức gay go quyết liệt, đang chấm dứt. Các chỉ huy quân sự bắt đầu nghĩ đến công việc tiếp theo. Nhưng triển vọng chung sẽ như thế nào đây?

Đối với những người này, thì việc “trừng phạt quân sự cần thiết” đã được tiến hành rồi và tiến hành thích đáng; nhưng nó “cần phải vừa nhanh gọn vừa lẫy lừng”. Một “cuộc hành quân chinh phạt”, đồng ý, một sự cố gắng tối đa, nhanh gọn, “khoanh vùng”, cũng đồng ý; nhưng “một chiến dịch thuộc địa nhỏ xinh” (14) thì không, bởi nước Pháp vừa không cần nó vừa không có phương tiện. Một người khác, theo phương hướng thứ hai này, viết: “Phải hoàn thành nhanh chóng và thắng lợi những cuộc hành quân được tiến hành với những quân số tương đối hạn chế, rồi sau đó thì điều đình” (15). Một vài người có ý muốn nối lại các cuộc dàm phán với một chính phủ Hồ Chí Minh đã được thanh lọc; một số lại có ý muốn điều đình với những đối phương khác, sau khi Chính phủ Hồ Chí Minh đã sụp đổ hoặc đã bị thu hẹp hoặc vô hiệu hóa “trong vòng ba tháng, bằng cách đánh vào đầu não”, chẳng hạn tìm cách bắt sống ông Hồ Chí Minh tại Bắc Kỳ.

Ngày 10/2/1947, Valluy nhấn mạnh rằng trước khi điều đình cần phải đánh gục Việt Minh đi đã, bắt đầu bằng cách cách ly Việt Minh khỏi dân chúng An Nam, dần dần làm cho dân tình mỏi mệt, chán nản, để rồi làm cho “Mặt trận Việt Minh tan rã” và loại trừ những phần tử cực đoan ra khỏi Việt Minh. Vậy phải duy trì được quân số của Đội quân viễn chinh ở mức 115.000 người, trước tiên là bình định Nam Kỳ, rồi đợi sang thu thì mở một cuộc tấn công quy mô vào Bắc Kỳ và kéo dài cho đến mùa xuân 1948. “Khi đó, và chỉ đến khi đó thôi, thì mới đúng lúc để mở cuộc điều đình” (16).

Ngày 12/2, quả nhiên d’Argenlieu đề nghị Chính phủ cho phép ông ta bắt sống “Chính phủ Việt Minh” mà người ta đã phát hiện được ra nơi ẩn nấp. Hình như Moutet đã phản ứng mạnh mẽ: Chính phủ Pháp - dường như Moutet đã trả lời như vậy - không hành động theo kiểu bọn cướp đường và bọn gangsters (17).

Thực ra thì Chính phủ Ramadier cũng chưa biết nên theo đường lối chính trị nào. Ông ta không nói từ chối mọi ý định nối lại đàm phán với những người đã gây ra vụ tiến công ngày 19 tháng 12; nhưng ông chỉ nói rằng ông sẽ chờ đợi được thấy từ nhân dân An Nam xuất hiện “những phần tử tiêu biểu” mà ông có thể ngồi lại điều đình.

Trong lúc chờ đợi, ông phải tìm một người thay đô đốc d’Argenlieu làm Cao ủy, vì d’Argenlieu đã trở thành một “vật quấy rầy” quá rồi. Ramadier đã quyết định thăm dò tướng Leclerc một lần nữa. Ramadier đã tiếp Leclerc hôm 7/2 và Auriol cũng đã gặp ông ta hôm mùng 8. Leclerc nghe chừng đã xiêu xiêu; ông ta nêu ra những điều kiện, đòi hỏi những cam kết vững chắc. Nhưng De Gaulle lại một lần nữa, trong một cuộc thảo luận sôi nổi, tìm cách khuyên ông ta đừng. (Leclerc sẽ không ngần ngại nói cho De Gaulle hay rằng ông ta chẳng biết gì về Đông Dương ngoài những gì d’Argenlieu đã nói với ông) (18 ). Cuối cùng, Leclerc từ chối. Ramadier bèn đến gặp tướng Juin; tướng Juin đến lượt mình cũng từ chối luôn lời đề nghị hôm 17/2.

Người ta đành phải đi tìm một nhân vật dân sự. Một cố vấn Cộng hòa cấp tiến, cựu thành viên của Hội đồng kháng chiến dân tộc, Émile Bllaert, người tỏ ra ưng ý.

Ngày 24/2, d’Argenlieu đến Paris và tại đây ông ta nhận được một bức thư của De Gaulle. Theo lời khuyên của De Gaulle (và theo xu hướng của chính ông ta), d’Argenlieu từ chối không đưa đơn từ chức nữa. Ông ta không muốn tạo cho Chính phủ một cơ hội để loại trừ mình khi ông ta nghĩ rằng sứ mệnh của ông chưa hoàn tất. Ông muốn cưỡng bách Chính phủ phải chịu lấy trách nhiệm cách chức ông. Ông ta sẽ được Ramadier tiếp ngày 25, Moutet, Bidault và De Gaulle ngày 26, và Auriol ngày 28. Những cuộc hội kiến mà trước con mắt một đôi người, đã diễn ra một cách lúng túng rõ rệt.

Ngày 01/3, được Ramadier tiếp, d’Argenlieu đã tiến hành với ông ta một cuộc hội kiến quyết định. Ông thủ tướng nêu lên rằng d’Argenlieu yêu cầu Chính phủ tuyên bố từ đây sẽ không đàm phán với ông Hồ Chí Minh nữa. “Yêu cầu này, Chính phủ không thể nào chấp thuận. Nó tuyệt đối quá. Chúng tôi không dự kiến diễn biến của sự việc. Tự khép cánh cửa lại là điều sai lầm”... Sau khi yêu cầu ông đô đốc khẳng định (hoặc không) những quan điểm đã được trình bày trong bức giác thư và trước câu trả lời khẳng định của d’Argenlieu, Ramadier tuyên bố với ông ta: “Tôi nghĩ rằng, trong điều kiện đó, ông không thể nào trở lại Đông Dương được nữa”.

Ông đô đốc đáp: “Những lời Ngài nói đó hẳn là báo cho tôi biết tôi đã bị cách chức” (19).

Ngày 5/3, Hội đồng nội các xem xét vấn đề cử người thay thế ông đô đốc. Moutet trình bày:

“Chính sách thỏa hiệp bỗng nhiên bị gián đoạn do thái độ của Việt Minh đã phát động, ngày 19/12, tại Hà Nội, một cuộc nổi dậy thực sự nhằm mục đích đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương. Mọi sự đều chứng tỏ cuộc nổi dậy này đã được chuẩn bị từ lâu và là trách nhiệm của phía Việt Minh, dù cho các nhà chức trách Pháp có phạm những lỗi lầm nào đi chăng nữa...

“Nước Pháp phải ở lại Đông Dương. Chắc chắn là kết quả ấy sẽ không thể đạt được bằng sức mạnh của vũ khí - là cái điều nó đòi hỏi một cuộc viễn chinh thuộc địa thực sự mà đất nước không muốn có - hoặc bằng một cuộc thỏa thuận với Chính phủ Việt Minh mà hiện nay đã có nhiều bằng chứng tỏ ra những muốn đi đến một cuộc thỏa hiệp trung thực. Điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ không đàm phán với một người này hay người kia trong số các thành viên của chính phủ đó, nhưng chúng ta sẽ chỉ đàm phán với những người đại diện thực sự cho nhân dân An Nam và được tín nhiệm về tinh thần trung thực...


“Ramadier: “Từ ngày 19 tháng 12, đã có một cuộc chiến tranh tổ chức chống lại chúng ta nhằm đuổi chúng ta ra khỏi Đông Dương. Chúng ta đã phản ứng lại và đã gửi viện quân sang. Nhưng chúng ta biết rằng sự cố gắng của chúng ta phải giới hạn trong thời gian và sự giải quyết không thể nào đến được từ một mình hoạt động quân sự...

Chính sách của nước Pháp chỉ cỏ thể là một chính sách xuất phát từ sự tôn trọng ý chí của nhân dân... Cái định hướng mới trong chính sách của nước Pháp tại Đông Dương
, Ramadier kết luận, khích lệ chúng ta đề nghị với Hội đồng nội các thay thế Cao ủy. Thủ tướng, cảm phục các đức tính của đô đốc d’Argenlieu, nhưng nhận định rằng ông đô đốc không còn đủ tư cách để lãnh đạo chính sách hợp tác với các nước Đông Dương đó của chúng ta nữa. Cần phải thay người khác. Đề nghị ông Bollaert” (20)...

Sau một cuộc thảo luận ngắn, Hội đồng Nội các quyết định cử Bollaert làm Cao ủy. Bollaert sẽ lên đường, mang theo những chỉ thị được thảo ra trên cơ sở những điều Moutet cùng với Teitgen và Thorez (21) xem lại.

Auriol nói rằng ông sẽ rất sung sướng nếu một ngày kia ông được cùng với Hồ Chí Minh thảo luận. Sau buổi họp Nội các chút ít, lúc 16 giờ, Blum gọi diện thoại cho Auriol: “Đến lượt ông ta, ông ta bộc lộ với tôi niềm hy vọng rằng với việc chỉ định Bollaert làm Cao ủy Đông Dương, những cuộc đàm phán với ông Hồ Chí Minh có thể sẽ được nối lại. Tôi nói với ông ta: Đó cũng là ý nghĩ và hy vọng của tôi” (22).

Lúc này, đô đốc d’Argenlieu, đã viết xong một bản báo cáo cuối ngày, nhận được tin từ “các hãng báo chí” (23) rằng ông ta đã có một người thay thế.

Ngày 01 tháng 4, Bollaert đến Sài Gòn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #123 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:28:21 pm »


-XV-
VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH
(23/3/1947 - 4/1956)


Nền Đệ tứ cộng hòa có lẽ đã không chọn chiến tranh, nhưng chắc chắn nó đã không chọn hòa bình, cũng không đi con đường có thể tìm lại hòa bình. Nó dấn thân, gần như một cách vụng trộm, trên cơ sở những thông tin không đầy đủ, tệ hơn nữa là những thông tin giả mạo, vào một cuộc phiêu lưu hứa hẹn kéo dài, tước đoạt và tốn kém. Cho đến năm 1952, dư luận không bao giờ nắm được những dữ kiện cơ bản của vấn đề; và chỉ 30 năm sau người ta mới bắt đầu đoán ra rằng d’Argenlieu và cả phe cánh ông ta đã thất bại trong âm mưu của họ, nhưng vẫn che giấu được sự thất bại đó và cuộc chiến tranh Đông Dương thực tế là một cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp.




Chính phủ Ramadier


Là chính phủ đầu tiên của nền Đệ tứ Cộng hòa, Nội các Ramadier, ngay từ ngày 21/3/1947, đã được ông Hồ Chí Minh cho biết để cảnh giác:

“Nếu Chính phủ Pháp công khai và thẳng thắn tuyên bố thừa nhận sự thống nhất và nền độc lập của Việt Nam và cam kết thi hành đường lối chính trị đó, thì mọi vấn đề khác đều sẽ dễ dàng giải quyết... Một lần nữa, chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng dân tộc Việt Nam chỉ mong muốn một điều là thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp, và chúng tôi cam kết tôn trọng những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp tại Việt Nam.

“Chỉ cần nước Pháp tuyên bố một lời là chiến sự lập tức chấm dứt, là bao nhiêu tính mạng và tài sản được cứu vớt, là tình hữu nghị và tin tưởng lẫn nhau trở lại bình thường. Nếu như, bất chấp nguyện vọng hòa bình chân thực của chúng tôi, người Pháp vẫn muốn tiếp tục chiến tranh, thì họ sẽ mất hết mà lợi chẳng được gì, bởi vì chiến tranh chỉ đưa đến hận thù và căm ghét giữa hai dân tộc chúng ta.

“Chúng tôi yêu cầu Chính phủ Pháp cho chúng tôi biết rõ chính sách của mình đối với Việt Nam. Chúng tôi yêu cầu nhân dân Pháp cho biết dư luận của mình đối với cuộc chiến tranh đẫm máu và ngu xuẩn này”
(1).

Ngày 19/4, Chính phủ Việt Nam đề nghị cụ thể với Paris hãy ngưng chiến và ngồi trở lại vào bàn đàm phán.

“Nước Việt Nam đấu tranh cho thống nhất và độc lập của mình. Thủ tướng Ramadier đã tuyên bố: nước Pháp không chống lại nền thống nhất và độc lập ấy. Lợi ích của hai dân tộc là hợp tác thân ái với nhau trong lòng Liên hiệp Pháp, là hiệp hội của những dân tộc tự do hiểu biết nhau, thương yêu nhau. Chiến tranh kéo dài chỉ tăng thêm hận thù, kéo theo nhiều hy sinh mới về mạng người, làm cho tình hình thêm trầm trọng trong các xí nghiệp của Pháp và trong nền kinh tế Việt Nam, mà không giải quyết được vấn đề quan hệ Việt - Pháp.

“Qua việc bổ nhiệm ông Cao ủy mới của Pháp tại Đông Dương, Chính phủ Pháp dường như tỏ ra có ý muốn hướng chính sách của mình đối với dân tộc Việt Nam vào một con đường mới, xứng đáng với nước Pháp mới. Tôi tin tưởng rằng bản kiến nghị của Hội đồng Quốc gia Đảng Xã hội ( ) ngày 21/3/1947, quyết định sẽ không bỏ qua một cơ hội nào để tiếp tục nối lại những cuộc thương thuyết với Việt Nam, đã diễn đạt không những tâm tư tình cảm của các đảng viên Xã hội Pháp, mà của cả toàn thể nhân dân Pháp.

“Để chứng minh sự gắn bó chân thành của Việt Nam đối với hòa bình và tình hữu nghị của nó đối với nhân dân Pháp, Chính phủ Việt Nam đề nghị với Chính phủ Pháp chấm dứt ngay tức thời mọi hành vi chiến tranh và mở ngay những cuộc đàm phán nhằm đi đến một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột”
(2).

Ramadier đã tìm cách che giấu được bản đề nghị này không những trước dư luận công chúng, mà ngay cả đối với các vị bộ trưởng cộng sản của ông... đã “bị đổ bộ” ra khỏi Chính phủ vì một lý do khác ngay từ ngày 4/5. Ông ta đồng ý cho Cao ủy mới Bollaert và tướng Valluy1 đặt ra cho cuộc ngưng chiến do Chính phủ Việt Nam đề nghị những điều kiện hết sức hà khắc. Vậy là nhiệm vụ thăm dò của giáo sư Paul Mus đã biến thành một việc trao tối hậu thư, để rồi được nhận một câu trả lời đã trở thành lịch sử của Hồ Chí Minh (ngày 12/5):

“Nếu chúng tôi chấp nhận những điều kiện đó, chúng tôi sẽ là những kẻ hèn nhát. Trong liên hiệp Pháp, không có chỗ cho những tên hèn nhát!” (3).

Nhưng trên thực tế, chính là người ta lợi dụng câu từ chối bao chờ đợi này để đi tới theo cái hướng kia, là tìm kiếm những “tay chân”, những “người bạn của nước Pháp” và thành lập với họ cái “chính phủ thay thế” mà người ta từng đã ước mơ từ tháng 8/1946 đến bây giờ.

Chính phủ Ramadier còn không biết, một cách rất “tuyệt vời”, một đề nghị khác nữa, vào tháng 8/1947, nghiêm túc và nhất quán của Chính phủ Hồ Chí Minh vừa được mở rộng thêm đồng thời loại bỏ một số phần tử “cực đoan” đáng kể. Bức công hàm do ông Gilbert, đại sứ Pháp tại Bangkok chuyển, lần này đã bị giấu biến đi không đến tay đích thân Tổng thống nước Cộng hòa Pháp, đúng vào cái thời điểm quyết định phải lựa chọn nên theo chiến lược nào (4).

Sau nữa, vào mùa thu 1947, Valluy vừa trình bày với Ramadier sự cần thiết phải “gây ra một thứ nội chiến giữa người Việt Nam với nhau”, vừa phát động một cuộc “tấn công đại quy mô” nhằm vô hiệu hóa, thậm chí bắt sống cả Chính phủ Hồ Chí Minh để có thể điều đình ở thế mạnh với Bảo Đại và “tiến hành thành lập, dưới sự che chở của ông ta, một Chính phủ Việt Nam được chúng ta công nhận và chống lại các lãnh tụ Việt Minh đã trở thành phản loạn” (5).

Hồ Chí Minh thoát được cuộc vây bắt gần Bắc Cạn, nhưng đành phải giữ im lặng một thời gian. Bộ Tham mưu đã “ghi điểm”, có đạt được một thắng lợi chiến thuật: làm tan rã lực lượng quân thù mà giờ đây coi như mất khả năng chiến đấu. Một bản báo cáo quân sự gửi cho Thủ tướng Chính phủ đề ngày 20/12, khẳng định:

“Các cuộc hành quân ở Bắc Kỳ đã cho phép chúng ta cắt đứt hết các con đường buôn lậu qua Trung Quốc và cụ thể hóa trên bình diện quốc tế sự hiện diện của chúng ta tại biên giới Trung Hoa bằng việc chiếm đóng Cao Bằng và Lào Cai; nó cho phép chúng ta làm tan rã bộ máy quân sự và chính trị của Việt Minh, chủ yếu do chiếm được một lượng thiết bị hết sức quan trọng, trên bình diện chính trị, nó cho phép chúng ta đạt được những kết qủa thiết thực, mở đầu cho một trào lưu tập hợp lại với nhau những dân tộc ít người ở vùng biên giới cũng như giữa những phần tử thuần túy An Nam. Hơn nữa, tác động nhà nước Việt Nam giờ đây hầu như không còn nữa, do sự tan vỡ rối loạn của hệ thống điều khiển và do sự bất ổn định của những cơ quan chính thức hoặc bí mật đã bị phân tán...

“Sau những cuộc hành quân đang diễn ra này, quân đội Việt Minh sẽ không còn được coi là một phương tiện áp lực trên bình diện chính trị nữa, vì trên bình diện quân sự nó sẽ lâm vào tình thế phải sống cảnh nay đây mai đó của những tên du kích hoặc những phường cướp biển...

“Đảng Việt Minh, thực chất là cộng sản,...ngày càng có vẻ muốn rút lui vào bí mật bằng cách giao nhiệm vụ chỉ huy cuộc chiến đấu cho một nhóm người sành sỏi về phương pháp hoạt động cách mạng. Mục đích của họ là quấy rối chúng ta trong công việc bình định, bằng cách luôn luôn duy trì một tình trạng loạn lạc và bất an ninh... Phương tiện hoạt động của họ là ám sát, phá hoại và chiến tranh du kích được tiến hành do những toán quân mà tính chất chủ yếu là sự phân tán...

“Tóm lại, những cuộc hành quân hiện tại đã đạt được những thành công không ai có thể phủ nhận, nó đòi hỏi phải được khai thác triệt để trên bình diện chính trị”
(6)...
_______________________________________
1. Valluy đã cho tịch thu của những công chức hoặc quân nhân Pháp rời khỏi Việt Nam tất cả những tài liệu gì có thể phản ánh sự thực về những sự kiện mới xảy ra tháng 11-12 năm 1946.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #124 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:29:05 pm »


Đưa Bảo Đại Vào tròng


Từ mùa xuân 1947, cựu hoàng đế Bảo Đại, cư trú tại Hồng Kông, là đối tượng của những áp lực và kêu gọi, do các nhà đương cục Pháp khuyến khích hoặc khiêu khích, mời ông ta trở lại sân khấu chính trị và cầm đầu phong trào quốc gia. Ngày 18/9, Bảo Đại tuyên bố sẵn sàng thăm dò những con đường hòa bình và bàn bạc với nước Pháp. Đầu tháng 11, Bollaert đề nghị một cuộc gặp gỡ với ông ta.

Ngày 19/11, Ramadier từ chức và Robert Schuman, một người của phong trào Cộng hòa bình dân (MRP), thay ông, ngày 22, đứng đầu Chính phủ. Phong trào Cộng hòa bình dân đồng thời cũng cầm đầu đường lối chính trị Đông Dương, và trong một thời gian dài. Paul Coste-Floret, quả nhiên, thay thế Marius Moutet tại Bộ Pháp quốc Hải ngoại. Coste-Floret hoàn toàn chống lại mọi ý đồ nối lại đàm phán với Hồ Chí Minh.

Cuối cùng, Bollaert đã có thể gặp Bảo Đại tại vịnh Hạ Long (ngày 6-7/12). Bảo Đại vẫn thận trọng, nhưng ông ta yêu cầu nước Pháp đừng bao giờ điều đình với ông Hồ nữa. Tuy nhiên, ông cũng nhận ký tắt vào một bản tuyên bố chung và một nghị định thư nêu lên những nguyên tắc của quan hệ Việt-Pháp sau này.

Phong trào Cộng hòa bình dân bèn lao ngay vào cuộc chiến tranh. Ngày 23/12/1947, Nội các ủy nhiệm cho Bollaert được quyền “tiếp tục bên ngoài Chính phủ Hồ Chí Minh mọi hoạt động và mọi cuộc đàm phán cần thiết cho việc lập lại hòa bình và tự do trên các nước Việt Nam” (7). Những lý do nêu lên để loại trừ ông Hồ Chí Minh ra là vì ông đã khước từ những điều kiện mà Pháp đưa ra ngày 10/9 (điều này không đúng) và vì ông đã tham gia Quốc tế cộng sản (cũng không đúng nốt) (8 ).

Vậy là bắt đầu một cuộc điều đình dài dòng và chán ngấy với Bảo Đại, tại đất Pháp trước, sau thì tại Hồng Kông. Đúng như thế, Bảo Đại ý thức được mình đã bị đưa vào tròng ở vịnh Hạ Long, nhất định không chịu nhượng bộ bất cứ một điều gì chừng nào nước Pháp chưa chấp nhận cho Việt Nam được thống nhất và độc lập - hai điều mà Bidault cùng với cả đảng của ông ta luôn luôn phản đối. Đối với phong trào CHBD, cũng như, nói chung, đối với tất cả cánh hữu, Liên hiệp Pháp (tức là nước Pháp) phải là người chủ của nền ngoại giao, của nền quốc phòng, mà cũng là người chủ của kế hoạch kinh tế và cả kế hoạch văn hóa của toàn bộ Đông Dương.

Cuối cùng thì người ta đã tìm được sự thỏa thuận với những phần tử quốc gia Việt Nam chống cộng cũng như với những người Nam Kỳ chủ trương tự trị, vì chính là cùng với và bằng những người miền Nam mà Bảo Đại định thống nhất đất nước. Tháng 5/1948, nước Pháp chấp nhận đề nghị của Bảo Đại là thành lập một “Chính phủ trung ương lâm thời của Việt Nam” (9). Chính phủ này lúc đầu định giao cho Ngô Đình Diệm, nhưng cuối cùng lại là một người Nam Kỳ, tướng Nguyễn Văn Xuân, làm thủ tướng, bởi vì, về phía ông ta, Nguyễn Văn Xuân nhận ký bản nghị định thư bí mật mà Bảo Đại đã ký tắt tại vịnh Hạ Long hồi tháng 12/1947 và sau đó lại phủ nhận như là “rõ ràng không đầy đủ”. Sứ mệnh của Chính phủ trung ương lâm thời này là ký kết với Pháp một tạm ước “ở tầm cỡ hạn chế nhưng có hiệu lực tức thời”; điều này, đối với Bảo Đại, sẽ cho phép kiểm nghiệm sự thành thực - và cả ý đồ - của nước Pháp.

Vậy là ngày 5/6/1948, tại vịnh Hạ Long, Nguyễn Văn Xuân đã ký trước sự hiện diện của Bạo Đại, bản “tuyên bố” sau đây, mà sau khi công bố, đã bắt đầu ràng buộc với nhau hai nước Pháp và Việt Nam.

“1. Nước Pháp trịnh trọng công nhận nền độc lập của nước Việt Nam; và nước Việt Nam có quyền tự do thực hiện thống nhất đất nước. Về phía mình, nước Việt Nam tuyên bố gia nhập Liên hiệp Pháp với tư cách là Quốc gia hợp tác với Pháp. Nền độc lập của Việt Nam không có hạn chế nào ngoài những hạn chế do việc nó tham gia vào Liên hiệp Pháp quy định.

“2. Nước Việt Nam cam kết tôn trọng những quyền và những lợi ích của các quốc dân Pháp, tôn trọng về mặt hiến pháp những nguyên tắc dân chủ và ưu tiên kêu gọi sự giúp đỡ của các cảnh sát cố vấn và kỹ thuật viên Pháp trong các nhu cầu tổ chức nội trị và kinh tế.

“3. Ngay khi đã thành lập được một chính phủ lâm thời, các đại biểu Việt Nam sẽ trao đổi với các đại diện của nước Cộng hòa Pháp những sự dàn xếp hợp lý về các lĩnh vực văn hóa, ngoại giao, quân sự, kinh tế, tài chính và kỹ thuật”
(10).

Bản nghị định thư ngày 7/12/1947, giờ đây do Nguyễn Văn Xuân ký, tuy vậy vẫn là bí mật.

Nhưng Chính phủ Pháp không muốn chuyển giao một quyền hành thực tế nào, một chủ quyền nào cho Xuân cả. Nó chỉ muốn Bảo Đại và một mình Bảo Đại thôi, đứng đầu “nước vệ sinh” Việt Nam. Nó tưởng lầm vị cựu vương này dễ sai khiến, sinh ra để sống “dưới ảnh hưởng” của kẻ khác. Nó không để cho Nguyễn Văn Xuân thực hiện thống nhất, có nghĩa là thanh toán cái chế độ Nam Kỳ tự trị đi. Việc phê chuẩn thỏa ước vịnh Hạ Long tỏ ra khó khăn và cuối cùng đạt được là do một cuộc bỏ phiếu lập lờ (8/1948 ).

Thất vọng và hết nhiệm kỳ, tháng 10/1948 Bollaert đành nhường chỗ cho Léon Pignon, mà người ta đã thấy rõ vai trò trong toàn bộ vấn đề này từ năm 1945. Được Chính phủ Queuille cử làm Cao ủy, Pignon nối lại cuộc đàm phán với Bảo Đại trên những cơ sở khác, vì Bảo Đại tuyên bố mãi mãi chỉ là một “tư nhân”. Chính phủ Hồ Chí Minh, suy yếu đi rất nhiều và bắt buộc phải phân tán ra, lúc này giữ một thái độ đợi chờ, vừa lo tổ chức lại lực lượng.

Cuối cùng hai bên đã đi đến được một hiệp định sẽ ký vào ngày 8/3/1949, tại Élysée, giữa Vincent Auriol, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp và Liên hiệp Pháp và Hoàng đế Bảo Đại. Về thực chất, nó chẳng khác gì mấy so với cái mà người ta đã sắp sửa ký được với Hồ Chí Minh sau hội nghị Fontainebleau vào hồi đầu tháng 9 năm 1946. Gần 3 năm đã bị mất đi, và nhất là chiến tranh đã xảy ra và đã phá hoại đi một phần rất lớn cái mà đã từng muốn cứu lấy năm 1946. Nhưng Bảo Đại nói rõ rằng ông sẽ không trở về Việt Nam để đứng đầu “Chính phủ lâm thời” chừng nào Nam Kỳ chưa được trả lại cho Việt Nam. Nước Pháp, lần này, buộc lòng phải chuyển sang hành động.

Trong vòng hai tháng, mọi việc đều được thực hiện một cách bôi bác: biểu quyết một đạo luật của Pháp thành lập một Quốc hội cho lãnh thổ Nam Kỳ, bầu cử đại biểu của Quốc hội này; biểu quyết của Quốc hội theo yêu cầu của “Quốc gia đại sự”, và cuối cùng là chuyển Nam Kỳ cho Việt Nam.

Bảo Đại bèn quyết định trở về Việt Nam (ngày 28/4/1949). Ông cư trú tại Đà Lạt, xác định Xuân là Thủ tướng Chính phủ lâm thời. Ông nhận cho mình chức vị Quốc trưởng của một “Quốc gia Việt Nam” lúc đó vừa được công bố.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #125 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:29:44 pm »


Nước Việt Nam, chiến trường giữa phương Tây và phương Đông


Vậy là một Quốc gia Việt Nam thứ hai ra đời, lần này do người Pháp đẻ ra, nhưng nó lại muốn thực hiện quyền lực của mình trên cùng một lãnh thổ với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên thực tế và trên những nét đại khái, thì quân đội Pháp chiếm đóng các thành phố, còn nông thôn thì nằm dưới quyền của các lực lượng dân quân của Hồ Chí Minh.

Chẳng phải một nước quân chủ, cũng chẳng phải một nước cộng hòa, cái “Quốc gia Việt Nam” này không có cơ sở nhân dân, không có Quốc hội, ngay một Quốc hội tư vấn cũng không có, không có Hiến pháp và trong nhiều năm, không có cả ngân sách. Một vài cái gọi là Đảng chính trị của nó chỉ là những đoàn thể, những bè phái lộng quyền, những môn khách của các nhân vật tai mắt. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào quân đội, cảnh sát và ngân khố của nước Pháp. Nó sắp sửa phát triển thành một chế độ cung đình, trong đó những âm mưu sẽ được kết cấu ngay trong lòng, hoặc xung quanh, “nội các hoàng gia”, thực chất là một “phòng chính trị”. Nhà vua ở đấy gợi cái ấn tượng mình hầu như chỉ còn là một biểu tượng mà thôi. Ở đằng sau là những cuộc đi săn, những sòng bạc, những người đàn bà, những địa vị, đồng bạc. Đối với chế độ đó, Hồ Chí Minh chỉ còn là “một kẻ phiến loạn”, cần phải tiêu diệt, cần phải triệt hạ hoặc cưỡng bức đầu hàng. Người ta đang đi đúng “quỹ đạo” của những công hàm định hướng của Pignon hồi đầu năm 1947.

Trong mùa hè 1949, Trung Quốc ngả về thế giới cộng sản. Thượng Hải thất thủ cuối tháng Tư. Ngày 01/10, Mao Trạch Đông tuyên bố tại Bắc Kinh “Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” ra đời, và tháng 12, quân đội của nó đã đến biên giới Việt Nam. Đây là lúc, sau bao nhiêu tháng thương lượng với trên 50 thỏa ước và hiệp định, cuối cùng nước Pháp mới chuyển giao cho Việt Nam chủ quyền của nó (30/12/1949). Nó yêu cầu các nước Đồng minh ở Đại Tây Dương và các nước khác trên thế giới công nhận “Quốc gia Bảo Đại” ấy là “Quốc gia Liên hiệp”, hoàn toàn giống như Lào và Campuchia - hai nước này cũng đã được chuyển chủ quyền như vậy. Washington và Luân Đôn đã thận trọng, hoãn lại mọi quyết định cho đến khi các hiệp định Pháp - Việt được Quốc hội Pháp phê chuẩn.

Nhưng Chính phủ Hồ Chí Minh, từ trong vùng núi non sâu thẳm của Bắc Kỳ mà họ rút về ẩn lánh, đã lên tiếng tuyên bố với thế giới rằng họ nhận sự chuyển giao chủ quyền Pháp sang cho Việt Nam, nhưng chính họ mới là Chính phủ duy nhất hợp pháp của nước Việt Nam đó. Vậy nên họ yêu cầu tất cả các chính phủ trên thế giới công nhận họ đúng với tư cách nói trên. Ngày 16/1/1950, nước Trung Hoa của ông Mao công nhận Việt Nam; tiếp theo, ngày 31/1, là Liên bang Xô viết rồi dần dần, là các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu. Mạc Tư Khoa đặt quyết định của mình trên cơ sở hiệp định mồng 6/3/1946 mà Pháp đã ký với nước Việt Nam DCCH và rõ ràng là nước Cộng hòa ấy được nhân dân ủng hộ và đang thực thi quyền lực của mình trên phần lớn lãnh thổ đất nước. Hồ Chí Minh đã đích thân đi Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa điều đình các chương trình viện trợ tiếp theo sự công nhận này và ông Hồ đã được gặp trực tiếp Staline (tháng 4/1950) (11).

Washington và Luân Đôn lúc này phải công nhận Bảo Đại (tháng 2/1950), trong khi Paris, từ đây, không còn có thể đặt quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh (như họ đã có ý định) nữa.

Vậy là Việt Nam, tháng 2/1950, trở thành sân khấu của một sự đương đầu giữa hai khối mà Pháp và Việt Nam DCCH đứng ở vị trí trung gian, Hoa Kỳ sẽ giúp Pháp áp đặt Bảo Đại; Trung Hoa thì sắp sửa giúp cho ông Hồ Chí Minh những phương tiện để đảo ngược tình hình có lợi cho Trung Hoa. Việc Hoa Kỳ nhảy vào trường đấu sẽ làm lóa mắt phe hữu Việt Nam, đến mức độ nước Pháp, giờ đây, chỉ còn hiện lên như một trạm nghỉ chân - vẫn bổ ích, nhưng chỉ là nhất thời - của Washington mà họ mong muốn được quan hệ trực tiếp. Pignon hốt hoảng trước sự xoay chiều ấy, ngay từ tháng 3 năm 1950 đã tự vấn mình về ý nghĩa của cuộc đấu tranh này. Tiếp tục cuộc chiến tranh để làm gì? Hy sinh bao nhiêu sinh mạng, bao nhiêu nghị lực và tài sản của người Pháp, để làm gì? (12). Đây là bước đầu của chủ nghĩa hoài nghi, của lòng ngờ vực, của sự tuyệt vọng.

Với việc phát động cuộc chiến tranh Triều Tiên, tháng 6/1950, vấn đề đương đầu trực tiếp với Trung Quốc ngày càng rõ nét. Quân đội nhân dân Việt Nam (DCCH) được Trung Quốc trang bị, tháng 9/1950, đã đấm một quả đấm đầu tiên ra trò. Việc Pháp rút khỏi Cao Bằng đã trở thành một tai họa lớn, buộc người Pháp phải bỏ luôn cả Lạng Sơn và toàn bộ biên giới. Việt Nam và Trung Quốc giờ đây đã có một biên giới chung rất dài. Vũ khí và tiếp phẩm của Trung Quốc sắp sửa đổ sang cho ông Hồ Chí Minh. Tướng Juin, được Chính phủ Pleven giao trách nhiệm kiểm tra lại tình hình, cũng tự hỏi, trong bản báo cáo ngày 31/10/1950, có nên chăng tiếp tục chiến tranh.

“Còn lại một điều nữa là tìm hiểu xem nước Pháp có còn cho rằng những con số tiêu phí to lớn về tiền bạc và mạng người mà chúng ta đã phải chịu đựng từ năm năm nay, trong khi nó gây tai hại cho nền an ninh của chúng ta ở phương Tây, có được đền bù qua những lợi ích do việc sát nhập Đông Dương vào Liên hiệp Pháp mang lại cho chúng ta hay không. Nếu đất nước không nghĩ như vậy nữa, thì phải đặt nó đối diện với hai giải pháp khả dĩ chấp nhận lúc đó là:

“1. Điều đình với Hồ Chí Minh... Đây sẽ là một lời thú nhận bất lực chắc chắn sẽ gây một tiếng vang lớn trên toàn bộ nước Pháp hải ngoại, chưa nói đến những hậu quả chính trị của sự bỏ cuộc như vậy và những suối máu có thể sẽ chảy trên đất Đông Dương.

“2. Đưa vấn đề lên bình diện quốc tế, tức Liên Hiệp Quốc. Giải pháp này sẽ cho phép rút dần phần lớn lực lượng của chúng ta ra qua các kỳ thay thế quân ta bằng quân các nước thường trực khác của LHQ. Vẫn sẽ là một sự bỏ cuộc tinh thần và chắc chắn sẽ cần nhiều thời gian Hội đồng Bảo An mới chịu phát biểu ý kiến của mình về một hành vi xâm luộc khó phân tích đặc tính.

Cái đó tùy nước Pháp lựa chọn
. (13)

Lần này, Pignon sẽ không còn “sống” nổi sau tai họa. Đơn từ chức của ông ta được chấp nhận, trong khi một cử chỉ thăm dò hòa bình khác của Hồ Chí Minh, vừa mới hình thành, đã vội vàng bị chính Vincent Auriol gạt đi (tháng 11/ 1950) (14).

Tướng De Lattre de Tassigny được cử làm Cao ủy kiêm tổng tư lệnh (6/12/1950). Để cứu vãn tình hình, Chính phủ thấy cần thiết phải thực hiện sự thống nhất lãnh đạo quân sự và dân chính. Bằng một hành động kiên quyết và tức thời, De Lattre củng cố lại tinh thần quân đội, khích lệ binh lính, giáng cho tướng Giáp những tổn thất nặng nề. Ông ta sẽ tạo ra được một thời gian nghỉ ngơi 13 tháng, cho đến ngày ông ta tạ thế, tháng giêng năm 1952, ngày hôm sau của trận Hòa Bình không phân thắng bại. Ông đã áp dụng quyết định của Chính phủ, lần này, là tạo ra một “quân đội quốc gia Việt Nam”. Vậy đây chính là bước đầu: “Việt Nam hóa chiến tranh”, là sự phát động cuộc nội chiến mà Valluy và Pignon đã từng cầu mong và dặn dò gửi gắm, vẫn luôn luôn nhằm một mục đích: “đè bẹp cuộc phiến loạn Việt Minh” (theo nguyên văn). Do Bảo Đại tuyển, do người Pháp huấn luyện, do Hoa Kỳ vũ trang, thiết bị và tài trợ rộng rãi, cái “quân đội quốc gia Việt Nam” đông đến 200.000 người vào cuối năm 1952 ấy, được sử dụng để thay thế quân đội Pháp trong cuộc chiến đấu chống Việt Minh cộng sản. Từ đó, Mỹ cũng nhúng tay vào cuộc, bởi vì trước con mắt họ, Hồ Chí Minh như là một đồng minh của Mao Trạch Đông; mà Mao Trạch Đông giờ đây đã tiến công quân Đồng minh tại Triều Tiên (tháng 10/1950). Triều Tiên hay Đông Dương, vẫn là cuộc chiến đấu ấy cả.

Ít lâu sau khi Staline mất (1953), và chiến sự Triều Tiên đã chấm dứt rồi, ở châu Á, chỉ còn lại một mình nước Pháp theo đuổi một cuộc chiến tranh, cuộc chiến tranh chống lại kẻ thù do chính nó tạo ra cho mình: Hồ Chí Minh và quân đội của ông, mà thế mạnh quân sự cũng như chính trị ngày một phát triển, trong khi chế độ Bảo Đại ngày càng mất uy tín và tỏ ra bất lực. Chắc chắn đây không phải là con ngựa tốt nhất mà cánh hữu của nước Pháp đã chọn nhằm chứng minh cho Việt Nam thấy như thế nào là tự do và dân chủ rộng rãi. Còn Trung Quốc thì đã có được Việt Nam DCCH với Đảng Cộng sản hoạt động bí mật từ 1945, nay trở lại hoạt động công khai. Đảng Lao động Việt Nam đã tiếp tục, tháng 2 năm 1951, sự nghiệp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ghi nhận việc nước Pháp chính thức giải thể Liên bang Đông Dương (tháng 11/1950), những người cộng sản Việt Nam, Khơme và Lào đã quyết định mỗi nước sẽ có một đảng (cộng sản) quốc gia, nhưng họ sẽ tiến hành chung cuộc đấu tranh “chống bọn thực dân và đế quốc” (15).

Các tướng lĩnh Pháp từ đó muốn “tiêu diệt Việt Nam”, hòng có thể, một ngày kia, đàm phán ở thế mạnh. Họ tưởng có thể giới hạn sự bành trướng và sự cơ động của các lực lượng của Giáp, chẳng hạn khóa cửa nước Lào bằng cách cho một đạo quân con con đóng ở đất của người Thái, trong thung lũng Điện Biên Phủ (tháng 11/1953). Chẳng bao lâu sau, tướng Giáp sẽ mang quân bao vây Điện Biên Phủ, trong lúc ông Hồ Chí Minh, một lần nữa, đưa tin sẵn sàng đàm phán với Pháp nếu Pháp chịu chấm dứt chiến sự, công nhận nền độc lập thực tế của Việt Nam và rút quân đội về (16). Giờ đây, chiến tranh lan rộng sang Campuchia và Lào. Ở miền Nam, chiến tranh du kích hoạt động dữ dội từ sáu năm nay.

Lần này, nước Pháp nghiêm túc nghĩ tới việc đàm phán. Nó đã chọn “giải pháp quốc tế”. Nó tưởng có thể, nhờ sự tiếp tay của các đồng minh, đòi được từ phe cộng sản, từ Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, bề ngoài đang có vẻ sốt ruột muốn hòa dịu, chịu bỏ rơi Hồ Chí Minh để đổi lấy một số nhượng bộ về kinh tế. Chẳng phải là Mạc Tư Khoa đã từng có lúc buông rơi Markos tại Hy Lạp đó sao? Một cuộc hội nghị quốc tế, nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh Triều Tiên và Đông Dương, được 4 cường quốc (Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc) họp tại Berlin tháng 1/1954 quyết định. Cuộc hội nghị này khai mạc tại Genève đúng vào lúc tướng Giáp, ngày 7/5/1954, chiếm được Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #126 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:30:26 pm »


Genève và sự trở lại “ô xuất phát”


Để tiến hành được cuộc hội nghị và những cuộc đàm phán, bắt buộc nước Pháp lần này phải chấp nhận, không phải “đảng Việt Minh phiến loạn”, mà là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô cùng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận và ủng hộ. Nhưng Paris vẫn tìm cách che giấu được thất bại chính trị nặng nề này. Chính phủ Laniel - Bidault tuyên bố: đến Genève chỉ để đi tìm một cuộc ngưng bắn, chứ không phải một giải pháp chính trị; giải pháp chính trị là việc mà Quốc gia Việt Nam sẽ bàn định sau này. Vì vậy Bidault đề nghị một cuộc ngưng bắn tại chỗ (giải pháp gọi là “da báo”), như vậy sẽ cho phép cách ly quân đội nhân dân và quân đội du kích của ông Giáp ra để sau này điều đình về sự “sát nhập” hoặc sự “đầu hàng” của Việt Minh đối với chế độ Sài Gòn. Nhưng đối phương sẽ nói cho ông ta hiểu rằng một cuộc ngưng bắn chỉ có thể quan niệm được khi có một thỏa thuận tối thiểu về chính trị kèm theo và tình hình quân sự không còn thuận lợi cho Pháp nữa.

Do Bidault quyết liệt bảo vệ quan điểm của ông ta, lại còn đe dọa, nếu Việt Minh cố chấp, thì ông ta sẽ để cho Hoa Kỳ can thiệp vào Đông Dương, Chính phủ Laniel bị Quốc hội đánh đổ hôm 12/6/1954.

Nước Việt Nam DCCH, qua Phạm Văn Đồng, đã đưa ra một kế hoạch đề nghị, ngoài việc chấm dứt chiến sự, việc rút mọi quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, sau đó là tổng tuyển cử và một sự hợp tác kinh tế và văn hóa với nước Pháp.

Ngày 10 tháng 6, phái đoàn Phạm Văn Đồng đề nghị bí mật với Pháp một sự phân chia quân sự tạm thời (17) có tính chất khơi mào cho một sự hợp tác sau này giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Pháp, cho phép Pháp vẫn giữ lại những vị trí cơ bản của mình tại Đông Dương mà không cần đến sự giúp đỡ của Mỹ.

Lúc này, Pierre Mendès France đã thay thế Laniel, và ông ta đã nhận ngay tức thời phải gắn liền những vấn đề chính trị với quân sự. Tuy nhiên, cả ông ta nữa cũng tỏ ra không hiểu gì hơn Bidault về ý nghĩa sâu xa của bức công hàm ngày 10 tháng 6 (của phái đoàn Việt Nam) cả.

Hiệp định Genève, do ông ký kết, ngày 20/7/1954, qua mặt Bảo Đại - lúc này rất dè dặt - và bất chấp cả sự phản đối của thủ tướng mới của Chính phủ Sài Gòn Ngô Đình Diệm, đã đánh dấu sự kết thúc chiến tranh tại Đông Dương và sự thất bại cuối cùng của một chiến dịch 7 năm trời ròng rã, hoàn toàn vô ích.

Căn bản mà nói, hiệp định Genève dự kiến một sự phân chia tạm thời nước Việt Nam thành hai miền để tập kết các lực lượng quân sự của hai bên, trong lúc chờ đợi cuộc tổng tuyển cử tự do, dưới sự kiểm soát quốc tế, cho phép nước này tự trang bị cho mình một chính phủ quốc gia duy nhất và được bầu ra theo nguyên tắc dân chủ. Các nhà đương cục hai miền sẽ gặp nhau bàn bạc kể từ 1955 để chuẩn bị tổ chức những cuộc tuyển cử đó, chậm nhất vào tháng 7/1956.

Đường ranh giới tạm thời giữa hai miền là vĩ tuyến 17. Từng đợt một, các lực lượng của Liên hiệp Pháp sẽ lui về phía Nam đường ranh giới ấy, còn lực lượng của Việt Nam DCCH thì sẽ tập kết ra phía Bắc.

Nước Pháp vẫn rất mạnh ở miền Nam, với tất cả những lợi ích chính trị về kinh tế, văn hóa và chiến lược, nhưng ngay từ ngày 21/7/1954, Pháp đã thỏa thuận với Chính phủ Ngô Đình Diệm (mà Pháp thừa nhận là chính phủ duy nhất hợp pháp) sẽ rút quân đội Pháp khỏi miền Nam khi nào Sài Gòn yêu cầu. Nhưng được sự ủng hộ của Mỹ, Diệm từ chối những điều khoản chính trị trong bản thỏa hiệp đó; vậy là cơ may tổ chức các cuộc tuyển cử, cái giá của cuộc ngưng chiến, chỉ còn rất mong manh và Pháp đã tự mình tước mất đi của mình những phương tiện để bảo đảm sự thi hành các hiệp định mà nó đã ký kết.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #127 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:31:05 pm »


“Chính người Mỹ mới là lãnh tụ...”


Ngay từ bây giờ, “phương Tây” sắp sửa mất miền Bắc Việt Nam và Washington muốn bịt ngay lỗ hổng càng sớm càng hay, lập lại ở vĩ tuyến 17 cái pháo đài tiền tiêu ngăn chặn Trung Hoa và cộng sản. Mỹ phải trang bị cho Đông Nam Á một bản hiệp ước, tương tự bản hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, để thực hiện cả ở đây nữa mặt trận các cường quốc phương Tây và các Đồng minh tại chỗ của nó. Người ta quyết định ký bản hiệp ước đó tại Manila vào ngày 8/9/1954. Ngày 5, Mendès France chỉ thị cho Guy la Chambre, bộ trưởng đại diện cho nước Pháp tại buổi ký kết này, như sau:

“Tôi gạt đi hết mọi ý định toan hướng đường lối chính trị ở Việt Nam dẫn đến kết quả cuối cùng là một sự cố gắng hòa hợp với Bắc Việt... Chúng ta đã từng mong muốn được đại diện một cách có hiệu lực ở Hà Nội như thế nào thì chúng ta cũng cần thiết bảo vệ sự độc lập của đường lối chính trị mà chúng ta thực hiện ở Nam Việt như thế ấy. Điều này không được dẫn tới bất cứ một sự mơ hồ lầm lẫn nào.

“Phương hướng chính trị của chúng ta ở miền Nam Việt Nam phải được nghiên cứu thỏa thuận với Hoa Kỳ. Chúng ta đã gặp nhiều khó khăn với họ ở những vấn đề khác rồi ( ). Không được có thêm những duyên cớ phụ để đối lập với họ tại Việt Nam nữa. Vậy là nhất thiết phải lợi dụng hội nghị Manila để cùng với họ nghiên cứu những nghị quyết cần phải có và thực hiện một hiệp định chính trị không thể thiếu được tại Sài Gòn”
(18 ).

Ngày 29/9, trong khi Mỹ nhận sẽ tài trợ trong một thời gian nữa cho sự hiện diện quân sự của Pháp tại miền Nam Việt Nam, một nghị định thư được ký tại Washington giữa La Chambre và phó Quốc vụ khanh Bedell-Smith: hai nước sẽ lựa chọn tại Việt Nam một đường lối chính trị chung nhằm “bảo vệ nền độc lập của các nước Liên hiệp”. Hai chính phủ thỏa thuận với nhau “để chống lại một cách kiên quyết sự phát triển ảnh hưởng hoặc sự kiểm soát của phong trào Việt Minh”, được coi như “một lực lượng cộng sản xâm lược trái với ý niệm và quyền lợi của nhân dân tự do các nước Liên hiệp, của Pháp và Hoa Kỳ”. Hai chính phủ sẽ ủng hộ Diệm “trong việc xây dựng và duy trì một chính phủ mạnh chống cộng và quốc gia” và sẽ hoạt động nhằm “lôi cuốn mọi phần tử chống cộng ở Việt Nam... cộng tác triệt để với Chính phủ Ngô Đình Diệm, mục đích là để phản ứng mạnh mẽ đối với Việt Minh và xây dựng một nước Việt Nam tự do và hùng cường” (19).

Trở về Paris, La Chambre báo cáo lại rằng trong các cuộc hội kiến với Washington, ông ta “luôn luôn bám sát phương châm mà thủ tướng Mendès France đã vạch ra, tức: tại vùng Đông Nam Á, chính người Mỹ là lãnh tụ của Liên minh” (20). Như vậy, về tinh thần, nước Pháp đã hoàn toàn tự xếp mình vào hàng ngũ của Washington và đi theo đường lối chính trị của Dulles. Mạnh thêm vây cánh, Eisenhower, trong một bức thư riêng, bèn cam đoan với Ngô Đình Diệm sẽ ủng hộ ông ta hoàn toàn về phương diện vật chất với điều kiện thực hiện một vài cải cách. Từ ngày 8/11, một đại sứ của Nhà trắng đến Sài Gòn; sau đó chẳng bao lâu là một phái đoàn quân sự Mỹ. Cái phối cảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam thứ hai đã được dựng lên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #128 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:31:47 pm »


Hồ Chí Minh và Sainteny: những giờ phút tái ngộ


Kẻ thù hôm qua (và cả hôm nay nữa) vẫn luôn luôn còn kia. Phải làm gì đây? Có nên chăng chỉ “để nó ở bên ngoài” hệ thống, như d’Argenlieu đã chấp nhận ngày 2/8/1946? Được Mendès France thăm dò ý kiến từ đầu tháng 7 để trao trách nhiệm làm Tổng đại diện Pháp tại miền Bắc Việt Nam, Sainteny lúc đầu có do dự. Sau khi đã hỏi ý kiến De Gaulle, cuối cùng ông ta đã chấp nhận.

Trên thực tế, việc cử Sainteny, ngày 7/8, làm Tổng đại diện Pháp tại Bắc Việt đã gây lo ngại cho cả Sài Gòn lẫn Washington: họ tự hỏi phải chăng Paris lại sắp sửa “tán tỉnh” ông Hồ Chí Minh? Người ta van nài Mendès France hãy giới hạn đến mức tối đa về nội dung nhiệm vụ của Sainteny.

Ngày 10/10/1954, gần 8 năm phải rời bỏ nó ra đi, Chính phủ Hồ Chí Minh trở về với thủ đô Hà Nội của mình, sau khi quân Pháp vừa rút khỏi. Trừ một vùng rộng xung quanh Hải Phòng - Hòn Gai (mà quân Pháp sẽ phải rút khỏi trong thời hạn 300 ngày), toàn bộ khu vực ở phía Bắc vĩ tuyến 17 sẽ được quân đội Pháp trả lại cho sự kiểm soát của Chính phủ Hồ Chí Minh trong vòng tháng 10 năm đó.

Liền sau khi vừa trở về đóng tại Hà Nội, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã biểu lộ một sự quan tâm tích cực trước tình hình diễn biến của tình hình miền Nam. Ngay từ những cuộc gặp gỡ đầu tiên với Sainteny, Chủ tịch Hồ Chí Minh và bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng đã tìm cách xác định rõ cái chính sách mà cuối cùng nước Pháp mong muốn thực hiện tại Việt Nam.

Trong một bức điện gửi bộ trưởng Guy La Chambre ngày 21/10, Sainteny kể lại như sau cuộc “tiếp xúc trở lại” với Hồ Chí Minh:

“… Đúng là con người của năm 1945-1946 đang đứng trước mắt tôi và sau một giây do dự khá nặng nề, đã lao đến ôm chầm lấy tôi.

“Vẫn giản dị, vẫn coi thường chuyện nghi thức và danh vọng như xưa, ông thể hiện tư cách là người chủ. Sức khỏe của ông hình như đã được hồi phục, và sự vắng mặt những dấu ấn của sự già nua là những biểu lộ bên ngoài của một con người hoàn toàn tự chủ... Không thể nào chối cãi được rằng toàn dân kính mến ông ngoài mọi suy nghĩ chính trị...

“Trong cuộc hội kiến của chúng ta ngày 18/10, ông rất chú ý loại trừ hết tất cả những gì có thể gợi lại hình ảnh cuộc chiến tranh đẫm máu mà người Pháp cũng như Việt vừa mới tức thời thoát khỏi. Ông muốn tiếp tục cuộc đối thoại ở phần mà chúng tôi đã phải tạm ngưng năm 1946 và sẽ không oán trách gì chúng ta về chuyện đã tiến hành cuộc chiến tranh đến cùng suốt 8 năm cũng chẳng oán trách gì riêng tôi vì đã coi tôi như kẻ chết rồi tại đường Paul - Bert ngày 19/12/1946. Vẫn như vậy đó, con đường mà chúng ta còn đang đối diện ngày hôm nay và đang nắm trong tay mình số phận của các vị trí Pháp tại Việt Nam và châu Á... Tuy nhiên, tất cả những điều này chỉ mới được ghi nhận trên một bình diện hoàn toàn cá nhân, và chính là ở đây và bây giờ... mà quan điểm của chúng ta cần được làm sáng tỏ.

“Nước Việt Nam dân chủ tuyên bố sẵn sàng nói chuyện, sẵn sàng đàm phán, sẵn sàng dành cho chúng ta một địa vị rất đáng chấp nhận, nói tóm lại là tôn trọng hiệp định Genève và nghiêm túc thi hành.

“Cho nên cần phải chớp lấy lời tuyên bố đó và buộc ông ta phải “hạ ván bài”, đừng để ông ta có thời gian nghĩ lại. Hôm nay tôi tin... có thể làm được cái điều vừa nói, nhưng... tôi chỉ làm một cách hoàn toàn thẳng thắn.

“Chúng ta đã nhiều lần thất bại trong khi cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề Việt Nam khủng khiếp này, bởi vì ý đồ của chúng ta không minh bạch. Tại nước này, đã quá nhiều lần chúng ta cho tay kia nhưng lại tìm cách lấy lại tay này. Sụ ngờ vực mà Thủ tưởng Mendès France đã tố cáo một cách có căn cứ tại Genève, đã đầu độc mọi quan hệ của chúng ta và làm cho mọi sáng kiến của chúng ta thất bại, chính là xuất phất từ xu hướng sai lầm đó.

“Vậy nhưng, nhung ý đồ của chúng ta, một lần nữa, vẫn tỏ ra không minh bạch cho lắm trước con mắt của kẻ thù hôm qua của chúng ta. Ngay theo nhận xét của tôi, tôi cũng xin vì tôn trọng sự thực mà thú nhận rằng những ý đồ đó chẳng minh bạch hơn chút nào.

“Bởi vậy một lần nữa, thưa Ngài Bộ trưởng, trước khi tiến lên xa hơn và khai thác cái vị trí thuận lợi tôi vừa khôi phục lại được ở đây, tôi yêu cầu Ngài Bộ trưởng vui lòng vì quý trọng và vì tình bạn mà xác định rõ cho tôi biết cái điều mà Chính phủ đang chờ đợi tôi thực hiện là điều gì.

“Cũng với tinh thần thẳng thắn mà tôi đã tự cho phép mình bộc lộ với Ngài, tôi yêu cầu Ngài đề nghị với Thủ tướng Mendès France đừng để tôi trong tình trạng lập lờ này lâu hơn nữa... Nhất thiết tôi phải được biết có thể dấn bước vào con đường của hiệp định Genève, với tất cả những hậu quả kéo theo (đặc biệt là việc giữ lại các đồng bào của ta) hay là tôi chỉ ở đây để lừa gạt và, bằng sự hiện diện của tôi trấn an những kẻ đối thoại của chúng ta, trong khi một chính sách cứng rắn rõ ràng đang được thực hiện ở nơi khác. Đây chính là cái thủ đoạn mà tôi không thể nào chấp nhận tiếp tay...

“Tôi đã nhận nhiệm vụ này với điều kiện là tôi sẽ có thể từ chức nếu ở đây tôi đứng trước một công cuộc Xô Viết hóa toàn bộ. Tôi chẳng bao giờ muốn dính líu đến một công cuộc như vậy.

“Cũng trong tinh thần ấy, tôi khước từ việc lấy sự hiện diện của tôi để bảo lãnh cho bất cứ một chính sách tái chinh phục nào, nó sẽ không khỏi làm tiêu tan nốt những phương tiện ít ỏi mà chúng ta còn giữ được nếu không phải là nó sẽ dẫn đến cho chúng ta một sự tái diễn chiến tranh đầy thảm họa.

“Tôi không nghĩ rằng giờ đây chúng ta phải lo sợ gì về con đường thứ nhất. Đúng là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước cộng sản; nhưng nó tỏ ra muốn giữ một sự độc lập nào đó về mặt này. Chính là bằng cách gần gũi nó mà chúng ta vừa tránh cho nó trở thành hoàn toàn là một vệ tinh của Mạc Tư Khoa, vừa tạo cho nó những cơ hội tiếp xúc không thể nào thiếu được đối với phương Tây.

“Con đường này không mở ra cho chúng ta nhiều hy vọng lắm; nó đầy dẫy những chướng ngại vật đủ loại; nó đòi hỏi chúng ta phải có một đức tính kiên trì siêu phàm. Tuy vậy nó vẫn là con đường duy nhất có thể mang lại cho chúng ta cái may mắn thấy mình được giữ lại ở một vị trí quan sát đặc biệt tại khu vực Đông Nam châu Á nơi mà sự nghiệp của nước Pháp chưa phải đã đến lúc bị xóa bỏ.

“Giờ đây, chắc rằng Ngài đã thấy rõ giá trị của những con bài đã được thử nghiệm ở miền Nam... Vậy thì chỉ duy nhất con bài chúng ta có thể chơi ở đây tỏ ra sẽ không đưa chúng ta đến chỗ bị hoàn toàn hất cẳng. Chính đó là con bài mà chúng ta phải chơi thử, nhưng không được đánh dấu...”

 
Bên lề bức điện, phó văn phòng của Thủ tướng Pierre Mendès France kiêm cố vấn về các vấn đề chính trị Đông Dương của Thủ tướng, Claude Cheysson, đã ghi, ngày 2/11:

“… Hiện nay, chúng ta yêu cầu ông Sainteny bảo vệ đến mức tối đa lợi ích của nước Pháp và duy trì với các nhà chức trách Việt Nam những mối quan hệ cho phép chúng ta, nếu có cơ hội, tiến xa hơn nữa một khi chính sách của chúng ta đối với Trung Quốc cũng đến lượt chuyển biến. Không thể nào thúc ép sự kiện đi nhanh hơn. Cũng không thể nào từ bỏ việc củng cố miền Nam Việt Nam chừng nào còn có cơ may củng cố được…

“Ông Sainteny... trong mọi trường hợp, sẽ phải cảnh giác chống lại một sự hấp tấp quá vội vàng và cái xu hướng rất đậm nét muốn đơn giản hóa quá mức các vấn đề”
(21).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #129 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:33:18 pm »


Nước Pháp bỏ cuộc


Tại Genève, Mendès France đã biểu lộ lòng mong muốn cùng với Việt Nam DCCH nghiên cứu những biện pháp nhằm đi đến một giải pháp chính trị thích đáng và công bằng phù hợp với những nguyên tắc đã được nêu lên tại Genève. Trong một bức thư gửi cho ông Phạm Văn Đồng ngày 22/7 (22), ông ta còn dự kiến cả một chuyện hợp tác kinh tế. Mặc dù có những cam kết bảo đảm chung được ghi rõ trong một hiệp định ký ngày 11/12/1954, hầu như toàn bộ các xí nghiệp Pháp đang hoạt động tại miền Bắc có ý muốn dọn đi hơn là ở lại dưới chế độ Hà Nội.

Ngày 30/12/1954, trước vài nhà báo phương Tây, Phạm Văn Đồng nói một cách khẩn khoản:

“Chính phủ nhân dân chân thành mong muốn thiết lập với Pháp những quan hệ kinh tế vì những lý do vừa kinh tế vừa chính trị. Đó là vấn đề lợi ích của chúng tôi cũng như của nước Pháp. Điều này không ngăn trở chúng tôi thiết lập quan hệ với các nước bạn khác như Trung Quốc, nhưng chúng tôi đã quen làm việc với người Pháp và chúng tôi có thể tiếp tục trên cơ sở bình đẳng và đôi bên cùng có lợi”.

Phạm Văn Đồng phàn nàn về việc Chính phủ Mendès France không tiếp tục chính sách của mình đã được khơi mào tại Genève.

“Nước Pháp phải lựa chọn giữa Washington và Hà Nội, và chỉ có chính sách thứ hai (chọn Hà Nội) này mới cho phép nước Pháp duy trì được những vị trí chính trị và kinh tế ở khu vực Thái Bình Dương. Vậy nhưng nước Pháp lại đi theo hướng Washington. Nó đã đi Manila để ký một hiệp ước xâm lược. Nước Pháp do dự. Đáng lý thì một chính sách phải được xây dựng trên những cơ sở vững chắc. Người ta không thể làm xiếc hoài... Hẳn là sẽ có những khó khăn trong việc lập những quan hệ giữa hai nước chúng ta, nhưng những khó khăn đó không phải không khắc phục được nếu chúng ta cố gắng chân thành để giải quyết. Chúng tôi cần bạn và chúng tôi muốn coi người Pháp là bạn. Lợi ích của nước Pháp là nên thỏa thuận với chúng tôi”.

Được hỏi về những tin đồn Chính phủ Sài Gòn đang chuẩn bị một bản tuyên bố thông báo họ từ chối không tiến hành những cuộc tuyển cử vào năm 1956, Phạm Văn Đồng tuyên bố:

“Đó sẽ là một quyết định rất nghiêm trọng, nhưng chính người Pháp các người phải chịu trách nhiệm, bởi vì chúng tôi đã ký hiệp định Genève với các người và chính các người có trách nhiệm phải làm cho nó được tôn trọng...

“Sự thống nhất của Việt Nam bằng cách nào rồi cũng sẽ được thực hiện, với nước Pháp hoặc chống lại nước Pháp. Nhưng nếu nước Pháp cố tình chống lại, nó sẽ bị đánh bại, bởi người ta không thể nào ngăn cản bước đi của lịch sử”
(23).

Nhưng đường lối chính trị của nước Pháp càng ngày càng hướng tới một sự hợp tác với Washington và Luân Đôn. Ngày 29/11, dưới áp lực cấu kết của Paris và Washington, Bảo Đại vẫn ở Cannes và Mỹ yêu cầu Mendès France đừng để ông ta trở lại Việt Nam, cách chức tướng Hinh, tổng tham mưu trưởng quân đội là người đối lập với Ngô Đình Diệm. Tướng Ély, Cao ủy Pháp và là Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương, bảo vệ cho một sự thỏa thuận chặt chẽ với Hoa Kỳ. Tại Sài Gòn, các tướng Ély và Collins đã ký tắt với nhau, ngày 13/12, “một hiệp định thành lập và huấn luyện những lực lượng vũ trang Việt Nam tự trị”: Nước Pháp, chậm nhất là ngày 01/7/1955, sẽ trao quyền tự trị hoàn toàn cho lực lượng vũ trang Việt Nam. Nhưng ngay từ ngày 01/01, toàn bộ trách nhiệm tổ chức và huấn luyện những lực lượng đó sẽ do trưởng phái đoàn quân sự Mỹ đảm nhiệm; phái đoàn này sẽ cung cấp cả huấn luyện viên và cố vấn.

Bản hiệp định được Mendès France và Dulles bàn cãi ở Paris, ngày 18/12, đã được hai chính phủ phê chuẩn. Quân đội Việt Nam từ đây sẽ do Hoa Kỳ trực tiếp tài trợ, huấn luyện và trang bị. Vì nền độc lập chính trị và kinh tế trọn vẹn cuối cùng sẽ được Pháp thừa nhận cho Việt Nam ngày 30/12/1954, cho nên viện trợ của Mỹ sẽ có thể đến thẳng với Chính phủ Sài Gòn không cần qua trung gian của Pháp.

Thực tế, nước Pháp đã bỏ cuộc1.
________________________________________
1. Sau khi Chính phủ Diệm đã phê chuẩn hiệp định Ély-Collins, hiệp định này được chính phủ Edgar Faure xác nhận ngày 11/2/1955. Hôm trước, Bộ chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp tại miền Nam đã được chuyển cho Việt Nam, trong khi đó phái đoàn quân sự Mỹ phụ trách huấn luyện quân đội Sài Gòn được thành lập.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM