Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:16:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Paris Saigon Hanoi  (Đọc 66582 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #130 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:36:24 pm »


Kết thúc

Tại Hà Nội, những người mà sau hiệp định Genève, từng lưu ý Chủ tịch Hồ Chí Minh nên cảnh giác, đã nhấn mạnh rằng không thể nào tin vào người Pháp, bởi vì cũng vẫn những lực lượng của những năm 1946-1948 ấy đang nắm quyền hành ở Paris, đang thắng lợi và đang yêu cầu rút ra những kết luận từ sự xảo trá nói trên.

Ngày 22/1/1955, tướng Ély báo cáo về Paris về một cuộc hội kiến khá dài tại Sài Gòn giữa ông ta với ông Desai, người Ấn Độ, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế Kiểm soát hiệp định Genève.

Desai thừa nhận với Ély, quả có một sự cương quyết rắn rỏi hơn trong thái độ của Hà Nội.

“Ông Desai có nói rằng Trung Quốc và nhất là Liên bang Xô Viết đang tác động rất mạnh đến những nhà lãnh đạo của Hà Nội; họ nhấn mạnh rằng thật không còn gì để mà chờ đợi ở hiệp định Genève nữa, bởi vì các điều khoản quân sự thì còn được Bộ Chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp tôn trọng, nhưng các điều khoản chính trị, được phác thảo trong điều 14 và phát triển trong bản tuyên bố cuối cùng, sẽ bị Chính phủ Sài Gòn, được sự ủng hộ của người Mỹ, bỏ rơi một cách có ý thức. Pháp sẽ không đủ khả năng chống lại định hướng mới này. Vậy là Việt Nam chỉ còn có một giải pháp, là hoàn toàn dựa vào các bạn đồng minh lớn của mình; mà chỉ có những đồng minh lớn ấy mới có thể hoạt động để tạo ra trên tầm cỡ thế giới một hoàn cảnh thuận lợi cho việc thực hiện những mục tiêu của Việt Minh đối với toàn bộ đất nước Việt Nam, vì nó mà Việt Minh phải sẵn sàng chiến đấu nếu cần...

“Ông Desai đã phát biểu ý kiến rằng sẽ là điều đáng mong chờ nếu đến một lúc nào đó rất thuận lợi, một nhân vật rất cao cấp của Pháp tuyên bố chính thức và rõ ràng ý định của Chính phủ Pháp sẽ tôn trọng toàn bộ những điều khoản chính trị đã được ghi rõ trong việc tiến hành tuyển cử
(24)...”

Cái kết luận mà những nhà quan sát khác rút ra cùng trong thời kỳ đó là nước Pháp giờ đây không quan tâm gì tới Bắc Việt cả.

Việc đó có ý nghĩa là phó mặc Bắc Việt cho ảnh hưởng của Trung Quốc, điều mà Paris đã hoàn toàn khước từ không chấp nhận hồi đầu năm 1946, “Sic transit”... (...qua đi như vậy)1

Nước Việt Nam DCCH nhận rõ rằng nước Pháp ở miền Nam sẽ không thi hành một chính sách độc lập đối với chính sách của Hoa Kỳ và cuộc đàm phán Genève đối với nó, rốt cuộc, chỉ còn gần như là một trò bịp. Việc quân Pháp rút khỏi Hải Phòng hồi tháng 5 năm 1955 không chỉ mang ý nghĩa là chấm dứt sự hiện diện quân sự của Pháp tại miền Bắc Việt Nam. Nó còn chấm dứt cả mọi hy vọng hợp tác. Paris không làm gì, vì có lẽ người ta cũng chẳng có thể làm gì được nữa, để làm cho hiệp định Genève được thực hiện một cách dễ dàng.

Đáp ứng yêu cầu của Ngô Đình Diệm, trong tháng 4 năm 1956, Chính phủ Guy Mollet sẽ rút những đội quân cuối cùng của Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam và bằng sự kiện đó, chấm dứt một sự hiện diện quân sự đã kéo dài 97 năm trường. Lần này, nước Việt Nam đã ra khỏi và vĩnh viễn ra khỏi Liên hiệp Pháp và quỹ đạo của Pháp.
______________________________________
1. Tiếng Latin trong nguyên văn (“Sic transit gloria mundi - danh vọng thế gian qua đi như vậy đó”) - lời đọc trong lễ tấn phong Giáo hoàng. - LND.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #131 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:41:41 pm »


“Kể cũng đáng công...”


Cuốn lịch sử “cuối cùng” của cuộc chiến tranh Đông Dương còn phải viết. Nhưng lịch sử “xác thực” về những mối quan hệ của nước Pháp với Hồ Chí Minh thì giờ đây đã được biết “trong những nét cơ bản của nó”. Nó là một cuốn lịch sử mẫu mực một cách đáng buồn.

Dù người ta có thể còn có những ước tính như thế nào đi nữa về lòng trung thực hay về sự giả dối của ông Hồ Chí Minh và về điều đã có thể xảy đến như người ta đã biết nghiêm túc tin vào lòng trung thực của ông, thì thực tế vấn đề cũng chỉ cô đọng lại trong hai câu nói của tướng Leclerc:

Câu thứ nhất: “Bởi rõ ràng là người ta không thể nào dùng sức mạnh để phá tan tinh thần quốc gia của Việt Nam, thì phải làm cho lợi ích của hai bên dung hòa với nhau và Hồ Chí Minh là con người xứng hợp với việc này hơn cả”.

Câu thứ hai: “Chủ nghĩa chống cộng vẫn chỉ là một chiếc đòn bẩy thiếu điểm tựa chừng nào mà vấn đề quốc gia chưa được giải quyết”.



*
*   *


Đây là điều ghi nhận thứ nhất, mà sự lùi lại về thời gian cho phép chúng tôi được nói lên: nước Pháp đã thất bại trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Nó đã tự gặp lại mình năm 1954 tại Việt Nam, ở cùng một chỗ với hồi tháng 2 năm 1946, cộng thêm những người chết, những người bị thương, những đổ nát và hận thù. Cuối cùng nước Pháp đã bị ông bạn đồng minh là nước Mỹ hất văng ra khỏi Việt Nam. Tóm lại, là một tai họa về người và thiết bị và một kết quả thảm hại.

Tại Đông Dương, vào tháng 3/1946, nước Pháp đã khôi phục lại một cách mỹ mãn địa vị tinh thần và chiến lược của mình, và chỉ một gang tay nữa là đã có thể đi tới một hiệp ước lâu dài bền vững với chủ nghĩa quốc gia Việt Nam. Đúng lúc ấy, nó đã vấp ngã vì húc đầu vào những “quyền” mà nó nghĩ rằng nó “có” đối với Nam Kỳ, những cái “quyền” mà thực ra nó đã chiếm đoạt bằng sức mạnh, bằng sắt thép và khói lửa. Hơn thế nữa, để bảo vệ những “quyền” đó, nó đã dựa vào những viên quan cai trị, binh lính và cảnh sát. Thực ra nó không còn phương tiện nữa để duy trì, ở một nơi cách xa chính quốc 10 ngàn kilômét, nền thống trị của nó trên một dân tộc không những đã hoàn toàn thức tỉnh, mà từ đây đã nổi dậy. Đáng lẽ ra nó phải điều đình thì nó lại ngạo mạn từ chối. Và tất cả đã đổ nhào, trong không đầy sáu tháng, vào cuộc chiến tranh.




*
*   *


Một điều không thể không đập vào nhận thức của tất cả những sử gia còn nghiêng đầu nghiên cứu sự kiện này, là sự vắng mặt, ở Paris cũng như ở Sài Gòn, không phải chỉ của mọi tấm lòng “quảng đại”, mà chủ yếu là sự vắng mặt của mọi quan điểm lịch sử, của mọi cái nhìn hiện thực về tương lai. Ở cạnh một nước Trung Hoa và một nước Ấn Độ, mà đi khước từ mọi diễn biến của tinh thần quốc gia đối với nước Việt Nam chỉ có mong muốn thống nhất Tổ quốc và giành lại độc lập cho mình, như vậy thì quả là điều vô nghĩa lý?

Tư tưởng chống cộng về căn bản chỉ là một cái duyên cớ như người ta sẽ thấy với Bảo Đại. Thực chất vấn đề chẳng qua là sự từ chối của một giai cấp lãnh đạo (gồm các bọn quan cai trị) và bọn thực dân không chịu trả lại cho một dân tộc lệ thuộc cái quyền lực mà chúng đã tước mất của họ. Nhất là khi giai cấp lãnh đạo đó hiểu rằng quyền lực này có nguy cơ sẽ chuyển vào tay Nguyễn Ái Quốc - “Người của Mạc Tư Khoa”, con người đáng ghét nhất của cảnh sát Pháp từ hai mươi năm nay... đơn giản là người ta không muốn buông rơi quyền lực, nhất là buông rơi một cách có lợi cho Hồ Chí Minh, mặc dù đó là con người mà Leclerc đã nhận định là “xứng hợp” hơn cả để thực hiện dung hòa những lợi ích của Việt Nam và của Pháp.

Một sự “tính toán sai lầm” khác: tưởng rằng “chơi trò chống cộng” thì nước Pháp cứu vãn được thể diện của mình. Dĩ nhiên là khi Pháp chơi lá bài này, tại nơi này, thì nó cũng sẽ không cân bằng nổi với Hoa Kỳ được bao lâu, và một ngày kia sẽ đến rất nhanh nơi mà những phái quốc gia chống cộng của Việt Nam, vốn rất khát vọng tiền tài và chẳng có quan hệ văn hóa, hay chính trị gì với Pháp, sẽ quay đầu sang phía Hoa Kỳ.

Nước Pháp chỉ có thể duy trì địa vị của mình ở Việt Nam bằng cách liên minh với những người Việt Nam tiến bộ mà chính Pháp đã ít nhiều góp phần đào tạo nên và cảnh giác đối với Hoa Kỳ cũng như với Trung Quốc. Những người này họ cần đến nước Pháp để chống lại những tham vọng của Trung Quốc và Mỹ. Và, điều cơ bản hàng đầu là họ có dân chúng ủng hộ. Thực tế, họ chính là “đảng của nhân dân”. Người ta phản đối, người ta nhắc lại những hành động quá khích, thô bạo và ghê rợn của Cách mạng Tháng Tám. Nhưng mà cái đảng Việt Minh bị bêu diếu quá nhiều đó, chỉ có thể là trước sau gì rồi cũng phải loại bỏ những phần tử cực đoan của nó đi. Đây là một chuyện đánh cuộc mà Leclerc cùng Sainteny đã làm và bị bọn dèm pha và phá hoại phê phán, trong khi d’Argenlieu rốt cuộc đã liên kết với những kẻ trước kia từng bị thôi miên vì những “vụ tàn sát tháng 9” và vì bản tuyên ngôn của nước Dân chủ Cộng hòa do những “tên tù khổ sai” công bố. Cái chính đảng thực dân của những tên quan cai trị và bạn bè của chúng tưởng có thể, như năm 1885, lại đặt lên trên đầu trên cổ nước Việt Nam vừa bị “tái chinh phục”, những tên “bù nhìn”. Như thế đó, cái huyền thoại của nước Pháp khai hóa văn minh - và cách mạng - được người bản xứ và các dân tộc mến yêu nhưng bị những phần tử ưu tú căm ghét, một lần nữa lại bị phá sản. Dù là thuộc cánh hữu hay cánh tả người Pháp luôn luôn tưởng có thể đối lập dân chúng với những kẻ lãnh đạo họ và tưởng mình có quyền can thiệp ở mọi nơi để “bảo vệ dân lành”.

Đó là điều chưa bao giờ chấm dứt, từ những phái Jacobins và Girondins xưa kia cho đến ngày nay. Với cái huyền thoại một nước Pháp đi “khai hóa văn minh” ấy, người Bỉ, người Phổ, người Tây Ban Nha, người Nga, người Italia và người Mêhicô những thời đại trước đã biết cách đối phó, y hệt như người Việt Nam và người Algérie trong thế kỷ này.




*
*   *


Cuộc chiến tranh tai hại đó đã sớm hủy hoại đi tất cả những di sản và quyền lợi của Pháp tại Đông Dương, tức là tất cả những cái gì đáng cho người ta tiếp tục cuộc chiến tranh. Vậy nhưng người ta vẫn tiếp tục. Tóm lại là một cuộc chiến tranh hoàn toàn vô ích. Như Lecoq đã từng nói trong cái thời của ông ta: “Dĩ nhiên là không cần (bis) phải thay đổi Chính phủ...” ấy thế mà ngày hôm nay, những chính trị gia đã từng ủng hộ và những người đã từng làm cuộc chiến tranh này, đang tìm cách biện hộ cho nó.

Nhân dân Pháp và các chính đảng của nó có thể đã không biết, nhưng họ đã buông xuôi, không có mấy thắc mắc, y hệt như nhân dân Đức anh em của họ từ năm 1933 đến 1945. Trách nhiệm đúng là của tập thể, và nước Pháp, “Nước Cộng hòa và quân đội của nó”, sẽ không bao giờ đối diện với Việt Nam mà còn có thể có “lương tâm trong sáng” được nữa.

Sau 40 năm bị che giấu, kể cũng đáng để cho người Pháp, và cả những người khác nữa, biết được ai là người chịu trách nhiệm về cái thảm họa lớn lao này lắm chứ!...
   
Dịch xong
   tại Thành phố Hồ Chí Minh
   đầu tháng 8 năm 1993
   H.H.Đ
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #132 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:45:39 pm »


NGUỒN TƯ LIỆU GỐC VÀ THƯ MỤC

A. Tài liệu gốc chưa xuất bản:

Những tài liệu gốc của tác phẩm này thuộc những kho lưu trữ sau đây:

1. Lưu trữ của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Hồ sơ Đông Dương) đặt tại Lưu trữ Quốc gia (phần hiện đại) được tham khảo nhờ sự cho phép đặc biệt của ông Jean Favier, Tổng Giám đốc lưu trữ (thư ngày 10/5/1983 và ngày 7/2/1985).

2. Lưu trữ của bộ Pháp quốc Hải ngoại (Đông Dương), đã được tham khảo tại Lưu trữ Quốc gia (phần Hải ngoại) Paris, đường Oudinot, trước khi nó được chuyển về Aix-en-Provence tháng 7/1986.

3. Lưu trữ của bộ Ngoại giao (chủ yếu các kho lưu trữ Các nước Liên hiệp 1945 - 1957) tại Paris. Quai d’Orsay (Bộ Ngoại giao Pháp - LND).

4. Lưu trữ của Vụ Lịch sử Lục quân (lâu đài Vinceunes).

5. Lưu trữ tư nhân (có giấy phép đặc biệt):

- Lưu trữ G. Bidault và H. Laurentie, đặt tại Lưu trữ Quốc gia (phần hiện đại).

- Công văn giấy tờ Moutet và Monguillot, đặt tại Lưu trữ Quốc gia (phần Hải ngoại). –

- Lưu trữ J. Sainteny, đặt tại Tổ chức khoa học chính trị quốc gia (Cục Lưu trữ lịch sử hiện đại).


B. Tài liệu gốc đã xuất bản: Cơ bản nhất vẫn là những tác phẩm dưới đây:

Thierry D’ARGENLIEU: Niên giám Đông Dương 1945 - 1947, Albain Michel, Paris, 1985.

Georges CHAFFARD: Hai cuộc chiến tranh Việt Nam, La Table Ronde, Paris, 1969.

King CHEN: Việt Nam và Trung Quốc, 1938 - 1953, Princeton University Press, Princeton, 1969.

Philippe DEVILLERS: Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, Seuil, Paris, 1952.

Jean Julien FONDE: Điều đình bằng mọi giá, Laffont, Paris, 1971.

Paul ISOART (nxb): Đông Dương thuộc Pháp 1940 - 1945, PUF, Paris, 1983 (bài của P. Isoart và M. Shirashi).

Archimèdes PATTI: Tại sao Việt Nam? University of California Press, Los Angeles, 1980.

Jean SAINTENY: Lịch sử một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Fayard, Paris, 1967.

Raoul SALAN: Hồi ký (quyển I: Kết thúc của một Đế quốc), Presses de la Cité, Paris, 1970.

Stein TONNESSON: The Outbreak of the War in Indochine 1946, PRIO, Oslo, 1983; dịch năm 1946: Sự bùng nổ của chiến tranh Đông Dương, L’Harmattan, Paris, 1987.

Và cuối cùng là

G. PILLEUL (nxb): De Gaulle và Đông Dương, Plon, Paris, 1982 (văn bản cuộc hội thảo của Viện Charles de Gaulle, Paris, 2/1981).


C. Sau nữa, có thể kể một vài tác phẩm bổ ích:

Henri AZEAU: Hồ Chí Minh, cơ may cuối cùng. Flammarion, Paris, 1968.

Claude de BOISANGER: Người ta có thể tránh cuộc chiến tranh Đông Dương, Hồi ký 1941 - 1945. A. Maisonnneuve, Paris, 1977 Georges CATROUX: Hai hồi của tấn bi kịch Đông Dương, Plon, Paris, 1969.

Jean DECOUX: Cầm tay lái Đông Dương, Plon, Paris, 1949.

Peter M. DUNN: Cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ nhất, C. Hurst & Co, Londres 1985.

Paul MUS: Việt Nam - Xã hội học của một cuộc chiến tranh, Seuil, Paris, 1952.

NGÔ VĂN CHIÊU: Nhật ký của một chiến sĩ Việt Minh, Seuil, Paris, 1955.

Alain RUSCIO: Những người Cộng sản Pháp với cuộc chiến tranh Đông Dương, L’Harmattan, Paris, 1985.

Gabnel SABATTIER: Số phận của Đông Dương, Plon, Paris, 1952.

Và sau cùng là

Gilbert BODINIER (nxb): 1945 - 1946, Nước Pháp trở lại Đông Dương, SHAT, Vincennes, 1987.

Bốn mươi năm chiến tranh không ngừng, một trong những tấn bi kịch lớn của thể kỷ XX, mà nguồn gốc cụ thể trong những năm 1945 - 1946, vẫn luôn luôn nằm trong bóng tối.

Paris và Sài Gòn đã rêu rao cái luận đề “Việt Minh tấn công”.

Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam” (1952), Philippe DEVILLERS đã quét bay hết những câu chuyện hoang đường và những lời giả dối trắng trợn. Việc mở cửa các kho lưu trữ công cộng và những tư liệu cá nhân đã cho phép ông, 35 năm sau, ghép trở lại cái trò chơi ghép hình cũ và đi đến những kết luận dứt khoát. Những kết luận này chứng minh cái điều mà lâu nay người ta dè dặt lắm mới dám đưa vào giả thiết: cái xấu xa, tồi tệ nhất!

Lưu trữ a Gallimand Julliard.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #133 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:49:27 pm »


CHÚ THÍCH1


Chương II - Một chính quyền mong manh, những kẻ kế thừa sốt ruột.

(1) Năm 1939, Đông Dương có 9 nhà tù khổ sai, lớn nhất và nổi tiếng nhất là Côn Đảo. Đây là một hòn đảo nhỏ miền Nam biển Trung Hoa, dùng làm nhà tù khổ sai từ năm 1864. Ngoài ra còn có, tại Nam Bộ, nhà tù khổ sai Núi Bara; ở Trung Bộ, nhà tù Ban Mê Thuột, Kon Tum và Lao Bảo; ở Bắc Bộ có Sơn La.

(4) Ở Côn Đảo, cuộc ân xá ngày 9/10/1936 đã giải thoát cho 250 chính trị phạm (chủ yếu cánh tả) trong đó có Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Hạ Bá Càng, Hà Huy Giáp v.v... và Bảy Viễn.


Chương III - Nước Việt Nam giành lại quyền độc lập

(9) Công hàm của Roos, Côn Minh, 5.7.45 “tình hình ngày 5/7/45” (SA 1.01/4). “Không một phái đoàn nào có thể phái đến Đông Dương, là nước bị chiếm đóng, trừ phi do DGER cử”.

(28 ) Theo một bản báo cáo Trung Quốc thì ông Hồ Chí Minh đã gửi đi ngày 23/9/1945 bức thư trả lời những đề nghị của Pháp. Ông Hồ yêu cầu:

“1. Chính phủ Pháp thừa nhận Chính phủ Việt Minh.

2. Chính phủ Việt Minh thừa nhận chủ quyền của Pháp trong năm năm cho đến mười năm, sau đó Chính phủ Pháp thừa nhận cho Việt Nam độc lập.

3. Trong giai đoạn từ 5 đến 10 năm đó. Việt Nam được hưởng quyền tự quyết về nội trị. Chính phủ Pháp có thể bổ nhiệm những nhân viên tại một số cơ quan hành chính nhằm tránh nạn ngoại xâm.

4. Nước Pháp sẽ được ưu tiên trong công nghiệp và thương mại Việt Nam.

5. Người Pháp có thể làm cố vấn ngoại giao cho Việt Nam. Báo cáo của Hsing Shen-chou, Hà Nội, 10/10/1945 do K. Chen trích dẫn trong “Việt Nam và Trung Quốc 1938-1945”, Princeton Univ. Press, Princeton, 1969, trang 107.


Chương VIII - Fontainebleau, hay là cuộc trường kỳ thương lượng (14). Trong một bức thư gửi De Gaulle, ngày 14/1/1947, d’Argenlieu viết: “Chúng tôi có nói thêm ngay từ tháng 8 rằng một ngày kia sẽ đến mà sự thay thế một ê kíp khác bắt buộc phải thực hiện. Bên này người ta coi tháng 3 như là một thời kỳ có thể chấp nhận được (cho sự thay thế đó - LND) và người ta đang chuẩn bị theo hướng đó” (d’Argenlieu, tài liệu đã dẫn, trang 386).


Chương IX - Làm sao vô hiệu hóa được Hà Nội? (16) Trong một bức thư gửi Ch. De Gaulle ngày 5/11/1946, d’Argenlieu tố cáo “tính chất mác-xít của Chính phủ Hà Nội” (d’Argenlieu: tài liệu đã dẫn, trang 339); còn Pignon thì nhấn mạnh tính chất độc tài của nó trong “công hàm định hướng số 3”, 4092 CP/Cab, ngày 15/11/1946, trang 2, 3 (SA 1.05/2).


Chương XII - Đảo chính hụt tại Hà Nội (24). Phương châm hành động cho Tự vệ: Lời chứng của Thanh tra F. Petit, tại vụ án ở Hà Nội, tháng 3/1947 (báo cáo của Tổng Kiểm sát trưởng Walrand, ngày 5/3/1947, trong Tuyển tập Varet, bộ Pháp quốc Hải ngoại, 1947, tr.474) do P. Mus dẫn lại trong “Lời chứng Kitô giáo”, Paris, 6/1/50 - Xem thêm Ngô Văn Chiêu tài liệu đã dẫn, trang 106.

(31) A.s.F. Petit, báo cáo Walrand 5/3/47 (Tuyển tập Varet, trang 350-351) và tường thuật chi tiết của F. Petit với Jean Darmagnac, báo “nước Pháp buổi chiều”, Paris, ngày 20/12/49.

(35) Chiến sự tái diễn theo những giờ giấc sau đây: 22g30: Hải Dương; 1g30: Phủ Lạng Thương; 2g00: Bắc Ninh; 2g25: Huế. (Điện của Sài Gòn 428 Cab. mil., 20/12/46 (AN SOM, Tel 938, 3628A).


Chương XIII - Cuộc đoạn giao và huyền thoại của nó.

(9) Điện của Cabinfor (phòng thông tin) Sài Gòn số 737, 25/12/46, 11.50Z (AN SOM, Tel 938, 3654A). Trong một bức điện cùng ngày gửi Morlière, Valluy khuyên Morlière: “Để thiết lập được việc chiếm đóng Hà Nội của chúng ta, đừng ngại đánh mạnh bằng đại bác và bom. Phải làm xong nhanh chóng, để chứng minh cho kẻ thù của chúng ta biết ưu thế áp đảo của chúng ta về phương diện chiến tranh”.

(Điện 2115/3T, 25/12/46. Báo cáo của Morlière 10/1/47, kết luận A, dẫn trong Chaffard, tài liệu đã dẫn, trang 56).
______________________________________
1. Theo gợi ý của tác giả, chúng tôi chỉ dịch một số chú thích xét thấy có ích. Các chú thích còn lại, hầu hết đều là những chỉ dẫn cụ thể về xuất xứ các đoạn trích, chúng tôi không dịch mà cho in nguyên văn tiếng Pháp ở phần Phụ lục ở cuối sách - LND.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #134 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2009, 11:57:00 pm »


PHỤ LỤC


Notes et références

Abréviations bibliographiques

AN Archives nationales, Section contemporaine;

F60 = Fonds Presidence du Conseil (Indochine, cartons 3035/39).

AN AP Archives nationales, Archives privées (AP); AP 457 = Papiers Bidault (Indochine, carton 127 à 129); 72 AJ 539 = Papiers Laurentie.

AN SOM Archives nationales, Section Outre-Mer (ex-Dépôt Oudinot); Tel = dossiers “Télégrammes”.

AOM Aix Archives nationales Som, dépôt Aix-en-Provence.

SA Archives Sainteny, Fondation nationale des Sciences politiques, Archives d’histoire contemporaine, SA (cartons 1.01 à 1.12).

AMAE EA Archives du ministère des Affaires étrangères (Service historique de l’Armée de terre (Vincennes), 10 H (Indochine).

et aussi: BR = bulletin de renseignements;

             tg = télégramme; G = heure locale;

                Z: heure de Greenwich.



I - Le Vietnam, une chaudière sans soupape

1. Gén.G.Catroux, Rapport sur la crise franco-japonaise de juin 1940, Paris, 26 nov. 1944.

2. Ch. De Gaulle, Mémoires de guerre, t. I: L Appel, Paris, Plon, 1954, p.137.

3. Ibid.

4. P. Isoart et W. Wainwright, dans “De Gaulle st l’Indochine 1940-1946” (Coll. De l’Institut Ch. De Gaulle, Paris, 20-21 fév. 1981), Plon, Paris, 1982 (g. Pilleul édit) pp. 56,130 et 135-136.

Aussi Cl. de Boisanger: On pouvait éviter la guerre d.’Indochine, Souvenirs 1941-1945, A. Maisonneuvne, Paris, 1977, p.77.

5. Journal offlciel de la Fédération indochinoise, no1 (NS) Saigon, 15 nov. 1945, p.2; De Gaulle et l’Indochine, op.cit., p.253.

6. R. Salan: Mémoires, T.I.Presses de la Cité, Paris, 1970, p.222.

7. Cité dans Ph. Devillers: Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Seuil, Paris, 1952, p.55.

8. Cité dans Devillers, op. cit., p.64.



II - Un pouvoir fragile, des héritiers impatients

1. En 1939, l.’Indochine compait 9 pénitenciers-bagnes. Le plus grand et le plus célèbre était Poulo Condore, ilot de la mer de Chine mèridionale, où le bagne avait été établi en 1864. Il y avait, d’autre part, Nui Bara en Cochinchine, Ban Me Thuot - Kontum et Lao Bao en Annam, Sonla au Tonkin.

2. Cf.A. Viollis: Indochine SOS, Gallimard, Paris, 1935.

3. Cancellieri: La Dépêche d’Indochine, 6 mai 1933, cité par A. Viollis, op. cit., p. 179.

4. À Poulo Condore, l’amnistie du 9 octobre 1936 bénéficia à 250 condamnés politiques (sutout de gauche), dont Pham Van Dong, Tran Huy Lieu, Ha Ba Cang, Ha Huy Giap, etc., et Bay Vien.

5. Note de Roosevelt à Cordell Hull, 2 janv. 1944, citée dans A. Patti, Why Vietnam, Univ. of California Press, Los Angeles, 1980, p. 18.

6. B.Fall: Le Viet Minh, A. Colin, Paris, 1960, pp. 30-31., Devillers, op. cit., pp 97-100.

7. Dépêche Kunming, no138, 1er mail 1944 (AN AP 457, c.127).

8. AMAE EA II, A3, c.22.

9. Cité par A. Ruscio: Les Communistes français et la guerre d.’Indochine, L’Harmattan, Paris, 1985, p.56.

10. Tract cité dans Devillers, op. cit., p.110: Sur le congrès de Liou Tcheou, cf.Dépêche de Kunming, no183, 24.44 (AOM, Aix, c.3448 ).

11. Tg Alger à Chungking, 16.6.44, AMAE EA II, A3, c.22.

12. “Note d.’instruction sur les lignes générales de la poitique future de la France en Indochine” (Directives pour le service d’action SA), AMAE EA, sans cote (cité par Ruscio, op.cit., p.55).

13. Message du 3.9.45: Rapp. du gén. Mordant sur ses fonctions de délégué général en Indochine, 6 oct. 1945 p.1 (Papiers Devillers, D 26).

14. M. Shiraishi: “La présence japonaise en Indochine 1940 – 1945” dans L’ Indochine française 1940-1945 (P. Isoart édit.), PUF, Paris, 1983, pp.227-229.

15. Am. J. Decoux, A la barre de l’Indochine, Plon Paris, 1949, p.497.

16. C.de Boisanger, op.cit., p.95.

17. W. Wainwright, art. Cité., pp.57 et 66.

18. P. Isoart, “Aux orgines d’une guerre”, et C. Hesse d.’Alzon, “L.’armée française en Indochine, 1940-1945”, dans L’Indochine française 1940-1945, op.cit., pp.34-35 et 111-115.

19. Rapp. de Langlade, Paris, 15.12.44 (Papiers Devillers, D26).

20. Cité par P. Isoart, art.cité, pp.33-34.

21. M. Shiraishi, art.cit., pp. 230-232.

23. Gén. Sabattier: Le Destin de l’Indochine, Plon, Paris, 1952,.102 et 410 ss.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #135 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 12:04:02 am »


III - Le Vietnam reprend ses droit à l’indépendance

1. JO de la République française, no 72, 25 mars 1945, pp. 1606- 1607.

2. Tg 8 avril 1945, Sabattier, op.cit., pp.192-193.

3. SLFEO: “Point au 5 juillet 1945” (Arch.Saintery, SA 1.01/4).

4. P. Mus: Le Vietnam chez lui, Paris, Hartmann, 1946.

5. Cité dans Devillers, op.cit., p.125.

6. Laurentie, note 29.8.45, AMAE EA II, A3, c.20d. 358.

7. Message Sainteny à Calcutta, 19.5.45 (SA 1.01/4).

8. SA 1.02/4 et AMEA EA II, A3, c.22.

9. Note de Roos, Kunming, 5.7.45, “Point au 5.7.45” (SA 1.01/4). “Aucune mission ne peut être envoyée en Indochine, pays occupé, si ce n’est par la DGER.”

10. Tg Colonies à Calcutta, No 959, 12.6.45 (SA 1.01/4).

11. J. Saintery: Histoire d’une paix manquée, Paris, Fayard (éd.1967), p.46.

12. J. Sainteny, op.cit., pp.49 et 49-50.

13. La décision serait du 24 juilet. (Cf.A.Patti, op.cit., p.131).

14. J. Sainteny.op.cit., p.58n, et SA 1.01/4 (note du 28.7.45). Rapp. de Montfort, cité per W. Wainwright, dans De Gaulle et l’ Indochine, pp. 71-72.

15. Flichy à Roos, Kunming 15/Sec. S., 28.7.45 (SA 1.01/4). Aussi Sainteny, op.cit., p.59, et tg 11.8.45 de Kunming (SA 1.01/5).

16. Version, dans les deux langues (française et anglais), des conditions Viet Minh, et lettre de Sainteny les transmettant à Roos, 16.8.45 (SA 1.01/4).

Aussi: Sainteny, op.cit., et Patti, op.cit., p.129.

17. Sainteny, op.cit., p.55.

18. Kunming (Sainteny) à Calcutta, nos 293-294, 1.8.45 (SA 1.01/5).

19. Kunming à Calcutta, 21/Sec. S, 6.8.45 (SA 1.01/4). II semble antérieur à la remise des conditions Viet Minh.

20. Tg Kunming à Calcutta (Sainteny à Roos) nos 326-332, 11.8.45 (SA 1.01/5).

21. Tg Kunming à Calcutta, nos 335-341, 12.45 (SA 1.01/5).

22. Roos à Sainteny, 9.8.45 (SA 1.01/4).

23. Tg Sainteny (Kunming) à Roos, no 352, 13.8.45 (SA 1.01/5).

24. Texte de la réponse française, 16.8.45 (SA 1.01/4).

25. Roos à Sainteny, 15.8.45 (SA 1.01/4). Lettre de Sainteny à Roos, 14.8.45 (SA 1.01/5) et Kunming, 26/Sec., S, 20.8.45 (SA 1.01/4).

26. Tg Ambass. France à Chungking (Daridan), 11.8.45, nos 1661/68 (AN Ap 457, c.127 et SA 1.01/4). Sur rétract. Wedemeyer, tg Sainteny à Roos, Kunming 404-410, 19.8.45 (SA 1.01/5).

27. Viet Nam Tan Bao, Hué, 20.8.45 (en français).

28. Selon un rapp. chinois, Hô Chi Minh aurait adressé le 23 Septembre 1945 sa réponse aux propositions françaises. Il demandait: “1. Le Gouvernement français reconnait le Gouvernement Viet Minh. 2. Celui-ci reconnait la souveraineté française pendant une période de cinq à dix ans. Après cela, le Gouvernement français accorde l’indépendance au Vietnam. 3. Pendant cette période de cinq à dix ans, le Vietnam jouit de son autonomie interne. Le Gouvernement français peut nommer du personnel à diverses administrations pour éviter l’invasions étrangère. 4. La France aura priorité dans l.’industrie et le commerce du Vietnam. 5. Des Français pourront étre conseillers dans la diplomatie vietnamienne”. Rapport de Hsing Shen-chou, Hanoi, 10.10.45, cité par K. Chen, Vietnam and China 1938-1954, Princeton Univ. Press, Princeton, 1969, p.107.

29. Tg Kunming à Calcutta et Paris, nos 436 à 444, 21.8.45 (SA 1.01/5).

30. Pham Khac Hoe: “L’histoire falsifiée par Bao Dai”, Le Courrier du Vietnam, Hanoi, 8.1983, pp. 8-15.

31. Rapp. des missions Mayenne, Maine et Bocage (SA 1.01/1).

32. Tg Colonies à Calcutta 1247/55 et 1301/04, cité par Roos, 9.8.45 (SA 1.01/4) et Alessandri/Pignon, 20.8.45 (SA 1.01).

33. Tg Kunming à Paris, nos 423-429, 20.8.45 (SA 1.01/5).

34. Tg Kunming à Calcutta, no 431, 20.8.45 (SA 1.01/5).

35. Rapp. sur Mission Lambda (Centre-Annam) du 28.8.45: Rapp. Bourbon - Parme (SA 1.01/3).

36. Tg de Diplo. Paris, Washington (arrivée) 5628/40, 26.8.45: “Pour Président de Gaulle, M. Bidault, Ambassadeur” (AN Ap 457, c.127/1) les tg de Kunming du 28.6 ont été reçus à Paris le 26. Message de De Gaulle, 19.8.45 (AMAE EA, d. A 124).

37. Tg Roos (Calcutta) à Sainteny (Kunming). 15.8.45 (SA 1.01/4).

38. Tg Sainteny (Kunming) à Roos, 26/Sec. S, 20.8.45 (SA 1.01/4).

39. Verson Sainteny, tg Hanoi à Pignon, 27.8.45 (SA 1.02/2), et Sainteny, ip.cit., pp. 83-84.

40. Version Patti, sur entrevue avec Hô (26.8.45), et rencontre Sainteny/Giáp. Patti, op.cit., 202 et 208-209.

41. Patti, op.cit., pp.202 et 208-209.

42. Tg Sainteny à Calcutta (Roos), Hanoi, no 35, 29.8.45 (SA 1.02), et Sainteny, op.cit., p.88.

Composition du Gouvernement: tg Hanoi, 29.8.45 (SA 1.02/2).

43. Tg Sainteny à Roos (Calcutta), Hanoi, nos 49-51, 31.8.45 (SA 1.02/2).

44. Tg Pignon (Kunming) à Sainteny (Hanoi), 26.8.45 (SA 1.02/2). Réponse tg à Roos/Pignon (Calcutta), Hanoi, 3.8.45 (SA 1.02/2).

45. Tg Alessandri (Kunming) à Sainteny (Hanoi), 1.9.45 (SA 1.01/5).

46. La République, Hanoi, no 1, 18.10.45.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #136 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 12:05:51 am »


IV - Affrontements et ouvertures

1. Cf Peter D. Dunn, The First Vietnam Was, C. Hurst & Co. Londres, 1985, pp. 141-146.

2. Tg Ambass, France Chungking à Paris, 11.5.48, no 1661/68 (SA 1.01/4).

3. Chiang Kai-shek, 24.8.45 (Central Daily News, Kunming, 25.8.45, et New York Times, 25.8.45, cité par K. Chen, op.cit., p.115.

4. K. Chen, op.cit., pp.115 et 125-126.

5. K. Chen, op.cit., p.117; Patti, op.cit., pp.291 et 562, n.21.

6. De Gaulle à d’Argenlieu, 16.8.45, SHAT 293 K 4 et Arch. Institut Charles de Gaulle, et am. Thierry d’Argenlieu, Chronique d’Indochine 1945-1947, Albin Michel, Paris, 1985, pp.29-30.

7. AN AP 47, c.127/1 (v.n.36, chap. III).

8. Cf. Mission Lambda (n.35, chap. III); v. supra, p.73.

9. Instructions politiques, Kandy, 8.9.45, MAE EA, d. A105; d’Argenlieu, op.cit., pp.421-442.

10. Papiers Laurentie, AN 72 AJ 539.

11. Ibid.

12. Laurentie à G. Pilleul, dans De Gaulle et l’Indochine, p.289.

13. D’Argenlieu, op.cit., p.64; cité par A. Longeaux, dans De Gaulle et l’Indochine, pp. 158-159.

14. Sainteny (Hanoi) à Roos (Calcutta), tg 10.9.45 (SA 1.02/2).

15. Sainteny (Hanoi) à Roos (Calcutta), tg 11.9.45 (SA 1.02/2).

16. Tg Sainteny (Hanoi) à Roos (Calcutta), 19.9.45 (SA 1.02/2).

17. Cf. tg Cédile (Saigon) à Calcutta, 20.9.45, AMAE II, A 3, d. A 386; P. Isoart, “Aux origines...”, art. cité, p.66; Devillers, op.cit., p.153.

18. D’Argenlieu à De Gaulle, Chandernagor, 28.9.45: “Note sur le Viet Minh”, AMAE EA, A 118.

19. Tg Hanoi (Alessandri-Pignon) à Chandernagor, nos 684-688, 29.9.45 (SA 1.01/5).

20. Note du 3.10.45 (SA 1.02/3).

21. Fonds Leclerc, cité par P. Isoart, dans De Gaulle et l’Indochine, op cit., p 189, et “Aux origines...”, art. cité, p.68.

22. D’Argenlieu à De Gaulle, Chandernagor, 25.10.45; d’Argenlieu, op. cit., p. 74.

23. Lettre de Mgr J-B Tong (au nom des évêques vietnamiens) au pape Pie XII, Hanoi, 23.9.45 (Bulletin des Missions, St-André-lez-Bruges, 1er trim. 1946).

24. Mémorandum d’Hô Ying-chi, 3.10.45 (Salan, op.cit., p.261).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #137 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 12:11:42 am »


V - Hanoi et Saigon acculés à choisir

1. Rapp. Comrep Tonkin à Haussaire Saigon, 56/S. Cab, 28.10/45 (SA 1.03/2).

2. Résol. Du Comité central du PCI, La République, Hanoi, no 7, 18.11.45.

3. K. Chen, op.cit., p.145.

4. SA 1.02/1.

5. D’Argenlieu, op.cit., pp.98-101.

6. Rapp. de Pignon, Hanoi, 41/S. Cab. 24.1.46 (SA 1.03/2): Comrep Hanoi à Haussaire Saigon.

7. D’Argenlieu, op.cit., pp.104-105.

8. Cité par P.Sockeel-Richarté, De Gaulle et l’Indochine, p. 208. Aussi: d’Argenlieu, op.cit., pp.101 n.

9. D’Argenlieu, op.cit., pp.101 et 103.

10. D’Argenlieu, op.cit., pp.106-107. Tg Comrep Hanoi à Haussaire Saigon, nos 545-548, 24.12.45 (SA 1.02/2).

11. Rapp. 25.12.45. (SA 1.02/1).

12. Quyet Chien, Hué, 31.12.45.

13. Rapp. Comrep Hanoi à Haussaire Saigon, 41/S. Cab., 24.1.46 (SA 1.03/2).

14. MAE EA, A.285; et d’Argenlieu, op.cit., pp.107-111.

15. D’Argenlieu, op.cit., pp. 111-112.

16. Cf. E. P. Thébault, “Le tragique destin d’un empereur d’Annam”, France-Asie/Asia, no 200 (1/1970), pp. 3-40. Cf. de Gaulle, Mémoires de guerre, t. III, pp. 230-231; et d’Argenlieu, op.cit., pp. 113 et 436-438; de Boissieu et G. Palewski, dans De Gaulle et l’Indochine, op.cit., pp.138 et 174-180.

17. W.Wainwright: De Gaulle et l’Indochine, p.73.

18. DGER, BR no 107, Hanoi, 23.1.46 (SA 1.03/2).

19. Leclerc à Juin, 15.1.46, Salan, op.cit., p.269.

20. Note de Sainteny: “Le problème tonkinois après cinq mois d’occupation chinoise”, janv. 1946 (SA 1.04/1).

21. Cité dans Devillers, op.cit., p.204.

22. D’Argenlieu, op.cit., pp.117-118.

23. D’Argenlieu, op.cit., pp.126-127.

24. AN F60, c.3035/1.

25. Salan, op.cit., pp.290-271 et 280.

26. D’Argenlieu, op.cit., pp. 131-132.

27. D’Argenlieu, op.cit., pp. p.140.

28. D’Argenlieu, op.cit., pp. 141-143.

29. BR no 201, Hanoi, 1.2.46 (SA 1.03/2).

30. D’Argenlieu, op.cit., p.143.

31. Osoart écrit: “L’ accord avec le “pseudo-gouvernement”, de Hanoi n’était-il pas indispensable pour récupérer l’Annam-Tokin?”; mais “l’amiral sous-estimait la détermination des hommes du Nord”. (“Aux origines...”, art. cité, p.69).

32. Salan, op.cit., pp.288-290, et SHAT, 239 K5 (cité dans 1945-1946. Le Retour de la France en Indochine. Textes et documents, G. Bodinier édit., SHAT, Vincennes, 1987, pp. 202-204).

Autres entretiens: Salan, op.cit., pp. 291-292, et d’Argenlieu, op. cit., p. 145.

33. SA 1.04/2 (avec lettre de Longeaux à Sainteny, 13.2.46).

34. Original, non remis (SA 1.04/2). Texte dans d’Argenlieu, op. cit., pp.148-149.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #138 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 12:14:09 am »


VI - Un redressement miraculeux...

1. Tg Cororient à EMGDN, Saigon, no 501/4, 14.2.46, 8 h 20 (AN SOM, Tel 933 et SHAT 10 H 143).

2. Tg Cororient à Cominido et EMGDN, no 515/Cab. Saigon, 17.2.46, 19 h 42 (AN F 60, c.3035/1, AN AP 4577, c.127/2, SHAT 0 H 143, SA 1.04/2).

3. AN F 60, 3035/1; d’Argenlieu, op.cit., pp. 161-162 et 163-165.

4. Tg d’Argenlieu à Leclerc, Paris, 132/CI, 20.2.46 (AN F 60, c 3035/1, SHAT 10 H 143, SA 1.01/2); d’Argenlieu, pp. 160-161.

5. Tg Paris à Saigon, 134/CI (d’Argenlieu, op.cit., p.166).

6. Leclerc à Sainteny, Saigon, 369/C, 22.2.46 (SA 1.04/2).

7. Entretien de l’auteur avec Bao Dai, Paris 6 et 7 fév. 1948.

8. Quyet Chien, Hué, 27.2.46.

9. Projet opération Bentre.

10. La Documentation française. Accords internationaux sur l’Indochine, NDE no 555, 24.2.47.

11. Salan, op.cit., p.314.

12. Lettre de Lecomte, 5.3.46: Sainteny, op.cit., p.238, et d’Argenlieu, op.cit., Annexe 11, p.439 (avec note Lecomte, 1959).

13. SA 1.04/2.

14. Salan, op.cit., pp. 314-320; J. Lecomte, cité dans d’Argenlieu, op.cit., pp. 441-442; P. Répiton-Preneuf, Cahier de notes, ms 1947, inédit.

15. SA 1.04/2. Bull. l’Information du Ministère de la France d’outremer, no 81, 12.8.46.

16. Quyet Chien, Hué, 13.3.46 (trad. dans Devillers, op.cit., pp. 228-230).

17. Quyet Chien, Hué, 8.3.46 (résumé dans Devillers, op.cit., pp. 230-231).

18. Devillers, op.cit., p.231.

19. Quyet Chien, Hué, 18.3.46.

20. P. Répiton-Preneuf, op.cit., cité dans Devillers, op.cit., p. 233.

21. Rapp. de Leclerc au général de Gaulle, 27.3.46 (SA 1.04/2); cité dans J. Sainteny, op.cit., annexe 8 (text intégral), pp. 239-242, et Salan, op.cit., p.356.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #139 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2009, 12:23:21 am »


VII - Saigon, le noeud du problème

1. Tg Haussaire à Comrep Hanoi, 226 E, 10.3.46 (SA 1.06/1).

2. D’Argenlieu, op.cit., p.191.

3. Tg Haussaire à Cominindo, Saigon, 410 F, 7.3.46, 10.30 G (d’Argenlieu, op. cit., p.192).

4. Comrep Hanoi à Haussaire, Hanoi, 439-440, 7.3.46 (SA 1.06/1).

5. Leclerc à d’Argenlieu, 8.3.46, et réponse d’Argenlieu à Leclerc, 10.3.46 (d’Argenlieu, op.cit., pp. -), et SHAT K4 (Le Retour..., op. cit., pp 224-225).

6. D’Argenlieu à EMGDN (Déf. nat.), Saigon, 234 EMHC, 11.3.46 (d’Argenlieu, op.cit., p.203), et SHAT 4 Q. 77/3 (Le Retour... pp. 227-228 ).

7. Comrep à Haussaire, Hanoi, 439-440, 7.3.46 (SA 1.06/1).

8. Haussaire à Comrep Hanoi, Saigon, 21 E, 8.3.46 (SA 1.06/1).

9. Haussaire à Cominindo, Saigon, 421 F, 8.3.46 (d’Argenlieu, op. cit., p. ).

10. Tg Moutet à d’Argenlieu, 213/CI 954, 9.3.46 (d’Argenlieu, op. cit., p. 203).

11. D’Argenlieu à Cominindo, Saigon, 442 F, 12.3.46, 08 h 00 Z (AN F 60, 3035/1) et d’Argenlieu, op. cit., pp. 205-206).

12. D’Argenlieu, op. cit., pp. 204-205.

13. Min. Aff. étr. Note pour le ministre (PB/-), 13.3.46 (d’Argenlieu, p 207).

14. Moutet à d’Argenlieu, 237/CI, 13.3.46 (d’Argenlieu, p.207).

15. Moutet à d’Argenlieu, 263/CI 1005, 13.3.46 (ibid., p.210).

16. Moutet à d’Argenlieu, 264/CI 1006, 14.3.46 (ibid., p.211).

17. Moutet à d’Argenlieu, 289/CI 1042, 18.3.46 (ibid., p.215).

18. Sainteny à d’Argenlieu, Hanoi, 434/36, 7.3.46 (SA 1.06/1).

19. D’Argenlieu à Cominindo, Saigon, 8.3.46 (d’Argenlieu, op.cit., pp. 198-199).

20. D’Argenlieu à Cominindo, Saigon, 442 F, 12.3.46 (v.n.11).

21. Leclerc à d’Argenlieu, Haiphong, 33 Cab/A, 15.3.46 (d’Argenlieu, op.cit., p. 210).

22. Sainteny à d’Argenlieu, Hanoi, 485-487, 14.3.46 (SA 1.06/1).

23. Sainteny à d’Argenlieu, Hanoi, 495-497, 15.3.46 (SA 1.06/1).

24. D’Argenlieu à Cominindo, Sagon, 472 F, 17.3.46 (d’Argenlieu, op. cit., p. 213).

25. Moutet à d’Argenlieu, 289/CI 1042, 18.3.46 (v.n.17).

26. Mémorandum, tg 239 BE, 17.3.46 (SA 1.06/1).

27. Tg d’Argenlieu à Comminindo, 501 bis, 25.3.46, transmis sous no 5072/33 par Comar Saigon à Marine Paris 27.3.46 (AN AP 457, c.127). Version Salan, op.cit., pp. 352-353, rt d’Argenlieu, op. cit., pp. 229-235.

28. Sainteny, op. cit., p. 191 (SA 1.04/2 et 1.04/3).

29. Haussaire à Cominindo, Saigon, 532 F, 29.3.46 (d’Argenlieu, op. cit., pp - et).

30. Cominindo (Moutet) à d’Argenlieu, 370./CI 1146, 3.4.46 (ibid., p 247).

31. Valluy, 20.3.46, Hanoi (SHAT 10 H 163 d.2); Le Retour..., pp. 233-236: p. 235).

32. D’Argenlieu à Cominindo, Saigon, 556 F, 3.4.46 (d’Argenlieu, op. cit., pp. 268-269).

33. D’Argenlieu à Valluy, 7.4.46 (ibid., pp. 282-283).

34. Texte intégral dans Salan, op. cit., annexe 5, pp. 426-432.

35. Directive no 2, 10.4.46, citée dans le mémorandum du gouvernement de la RDVN du 31.12.46 et précisée par Moutet à l’Ass. nat., 18.3.46 (J.O. Débats parl., AN, 1947, p. 871).

36. D’Argenlieu à Leclerc, 22.4.46 (SHAT 10 H 162); Le Retour..., p.247).

37. Bidault à d’Argenlieu, 29.3.46 (d’Argenlieu, op. cit., pp. 257-258 ).

38. D’Argenlieu, op. cit., p. 256.

39. Ibid.

40. Ibid., pp. 260-261.

41. SHAT 10 H 162, 10 H 756 (Le Retour..., pp. 258 et 261).

42. Moutet à d’Argenlieu, 370/CI 1146, 3.4.46 (v.n.30).

43. Moutet à d’Argenlieu, 442/CI 1265, 14.4.46 (d’Argenlieu op. cit., p. 270).

44. Cominindo (Labrouquère) à d’Argenlieu, 502/CI 1343, 21.4.46 (ibid., p. 271).

45. Mémorandum: “Tournant politique en Indochine”, (5 p.), 26.4.46 (AN F 60, c. 3035/1 + AN AP 457 c. 127/2 + d’Argenlieu. op. cit., pp 274-277).

46. V. d’Argenlieu, op. cit., pp. 280-2281, et Salan, d’Argenlieu y rencontra le 19 Ngô Dinh Diem).

47. Cf. rapp. Sainteny: “Séjour de la délégation good will à Paris”, Paris, 18.5.46 (SA 1.07/1).

48. Tg Labrouquère à d’Argenlieu, 823/CI 1748, 24.5.46 (d’Argenlieu, op. cit., p.273).

49. Le Monde, 6.6.46. Sur le voyage d’ Ho Chi Minh, v. Salan, op. cit, pp. 382-392 (Séjour au Caire, pp. 387-389).

50. Moutet à d’Argenlieu, 926/CI 1789, 5.6.46 (d’Argenlieu, op. cit., pp. 285-286).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM