Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:09:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2  (Đọc 387686 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #380 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:38:29 pm »

Quá trình phục vụ chiến đấu của lựu pháo B-4



Gần ngày 6 tháng 3 năm 1933, trong quân đội có 7 lựu pháo B-4. Gần mùng 1 tháng 1 năm 1937, đã có 31 lựu pháo B-4 uy lực nhỏ và 88 lựu pháo B-4 uy lực lớn.

Lựu pháo B-4 được tiếp nhận trong chiến tranh Phần Lan năm 1939 – 1940. Đến mùng 1 tháng 3 năm 1940, trên mặt trận Phần Lan có 142 lựu pháo B-4. Có 4 lựu pháo B-4 bị mất hoặc loại khỏi vòng chiến.

Gần 22 tháng 6 năm 1941, Hồng Quân có 849 lựu pháo B-4.

Năm 1938 – 1939, đã thử tiếp nhận lựu pháo 203mm vào các trung đoàn pháo binh cấp quân đoàn (“các trung đoàn loại hai”) với 6 lựu pháo trong mỗi tiểu đoàn. Tuy nhiên, khi bắt đầu chiến tranh, B-4 đã bị loại khỏi quân đoàn pháo, trong đó, thay thế 6 lựu pháo, mỗi tiểu đoàn nhận 12 – 15 lựu pháo – đại bác ML-20.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #381 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2010, 01:48:10 pm »



Gần chiến tranh, lựu pháo B-4 chỉ có mặt trong các trung đoàn lựu pháo hỏa lực mạnh thuộc lực lượng dự bị của Đại bản doanh.

Từ 22 tháng 6 đến mùng 1 tháng 12 năm 1941, 75 lựu pháo B-4 đã bị mất, còn nền công nghiệp quốc phòng Liên Xô đã sản xuất cho tới khi đó 105 lựu pháo.



Trong quá trình chiến đấu, một số lựu pháo B-4 đã rơi vào tay quân Đức. Một bộ phận trong đó đã gia nhập lực lượng quân Đức dưới tên gọi pháo 20,3cm H.503(g). Đến tháng 3 năm 1944, trên mặt trận phía Đông, quân Đức có 8 lựu pháo 20,3cm H(g), đạn pháo bao gồm đạn 203mm của Liên Xô và đạn G-620 khoan bê tông của Đức.

Trong quân đội Liên Xô, lựu pháo B-4 cho đến cuối chiến tranh chỉ có mặt trong lực lượng pháo binh thuộc lực lượng dự bị trong Đại bản doanh. Đến 1 tháng 5 năm 1945, B-4 có mặt trong 30 lữ đoàn và 4 trung đoàn độc lập.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #382 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 05:27:41 pm »

BM-13 “Kachyusa”



Hệ thống pháo phản lực bắn loạt BM-13 được sử dụng cho các nhiệm vụ: tiêu diệt, chế áp sinh lực và các khí tài hỏa lực của quân địch được bố trí trên các trận địa mở hoặc sau các vật cản thấp; tiêu diệt xe tăng và các phương tiện cơ động của kẻ thù tại vị trí tập trung.

Trong thành phần xe chiến đấu BM-13 bao gồm:

+ xe chiến đấu

+ đạn tên lửa

Xe chiến đấu

Xe chiến đấu được cấu tạo từ bộ phận dẫn bắn cho pháo và bộ phận chuyển động.

Bộ phận dẫn bắn cho pháo bao gồm: cơ chế dẫn hướng, dàn phóng, khung quay, cơ cấu nâng và quay, khung phụ, trang thiết bị điện, khí tài thước ngắm và trang bị chuyên dụng của bộ phận chuyển động.

Thiết bị dẫn hướng được sử dụng để giữ đạn trên xe chiến đấu trước khi bắn và định hướng bay của đạn khi bắn. Mỗi thiết bị dẫn hướng được giới thiệu là một xà hình chữ “I” dài 5 mắt với rãnh dẫn hướng. Phía cuối rãnh có lắp thiết bị khóa – hãm và tiếp xúc. Thiết bị dẫn hướng được kết nối thành cụm nhờ sự hỗ trợ của trụ ba chân chống.

Dàn phóng được hàn từ các ống thép, là cơ sở cho các túi dẫn hướng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #383 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 05:34:59 pm »



Khung quay được sử dụng để cố định dàn phóng với thiết bị dẫn hướng và cơ cấu nâng. Khung quay được kê trên khung dưới và xà đỡ và có thể quay quanh trục của khung dưới theo góc hướng từ -10 đến 10 độ theo trục dọc của xe.

Cơ cấu nâng dạng trục. Bảo đảm sự dẫn bắn theo góc tầm trong giới hạn 4 đến 45 độ.

Cơ chế quay dạng trục. Bảo đảm dẫn bắn theo góc hướng trong giới hạn -10 đến 10 độ.

Khung dưới là nền cơ sở của bộ phận dẫn bắn cho pháo của xe chiến đấu và được giới thiệu là khung hình chữ nhật, được gắn một cách cố định trên trụ chống của gầm xe.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #384 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 05:47:58 pm »



Thiết bị điện phục vụ việc đốt thuốc phóng của đạn phản lực. Thiết bị bao gồm pin ắc quy, khí tài điều khiển hỏa lực, các hộp liên kết, thiết bị tiếp xúc và hệ thống dẫn động.

Dòng điện từ pin ắc quy được truyền tới cầu dao đổi mạch nằm trong cabin của xe, từ đó, qua hệ thống dẫn động – tiếp xúc với thiết bị dẫn hướng, và sau đó tiếp xúc với đạn phản lực.

Việc bắn có thể thực hiện bằng cách bắn trực xạ hoặc gián tiếp. Mật độ hỏa lực của 1 tiểu đoàn: 2,6 – 3,8 viên đạn trên mỗi héc ta trên diện tích 32 – 36 héc ta. Khi sử dụng đạn M-20, có mật độ gần 3 viên đạn/ha trên diện tích 16ha.

Thiết kế của thiết bị phóng cho phép di chuyển trong tình trạng đã nạp đạn với tốc độ 40km/h và nhanh chóng triển khai tới trận địa hỏa lực.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #385 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 07:14:04 pm »

Đạn phản lực M-13


Đạn phản lực M-13 bao gồm 2 bộ phận: bộ phận chiến đấu và phản lực (đọng cơ thuốc súng phản lực).

Bộ phận chiến đấu bao gồm thân với hốc dưới ngòi nổ, đáy của bộ phận đầu và phần thuốc nổ với ngòi nổ bổ sung.

Động cơ thuốc súng phản lực bao gồm thùng, cánh – vòi phun, tấm gang mắt cáo, thuốc phóng, dây cháy chậm dẫn lửa và cánh đuôi (bộ phận cân bằng). Bên ngoài phía cuối của hai thùng có phần đội lên hướng tâm được bắt chặt bởi các chốt dẫn hướng, giữ đạn trên thiết bị dẫn hướng trước khi bắn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #386 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 07:30:40 pm »

Thuốc nổ cấu tạo từ 7 ống thuốc mồi nitrogliserin hình trục. Dây cháy chậm được sử dụng để đốt cháy thuốc nổ. Khí được tạo ra khi đốt cháy thuốc nổ phụt qua các vòi phun, được bố trí trước các màng ngăn có nhiệm vụ ngăn cản sự phụt thuốc mồi qua vòi phun. Sự ổn định của đạn trong khi bay được bảo đảm với sự hỗ trợ của 4 cánh đuôi bằng rèn, nối với thân đạn bằng phưng pháp hàn.


Vỏ đạn M-13

Tầm xa của đạn M-13: 8470 mét, nhưng có độ lan tỏa rất lớn. Theo biểu đồ bắn năm 1942, ở tầm bắn 3000 mét, độ sai lệch bên 51 mét, tầm xa- 257 mét. Sơ tốc đầu nòng của đạn: 70m/s, tốc độ tối đa: 355m/s. Chiều dài đường lửa: 125 mét.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #387 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 07:45:24 pm »

Tài liệu lịch sử



Sau khi tiếp nhận vào biên chế không quân đạn phản lực 82mm lớp “Không đối không” PS-82 (năm 1937) và đạn phản lực 132mm lớp “Không đối đất” RS-132 (năm 1938), Bộ Tư lệnh Pháo binh đã giao cho các nhà thiết kế đạn phản lực thuộc Viện Nghiên cứu khoa học nhiệm vụ chế tạo đạn phản lực của hệ thống pháo bắn loạt dã chiến trên cơ sở đạn PS-132. Sự xác định nhiệm vụ kỹ - chiến thuạt được giao cho viện vào tháng 6 năm 1938.

Trong sự tương ứng với nhiệm vụ này, vào mùa hè năm 1937, viện đã thiết kế loại đạn nổ - nổ mảnh 132mm mới, sau đó nhận tên gọi chính thức M-13. Theo so sánh với đạn RS-132, loại đạn này có tầm bay xa hơn và sức công phá mạnh hơn một cách đáng kể. Sự tăng tầm bay được thực hiện do kết quả của phương pháp tính toán tăng cường số lượng nhiên liệu phản lực, để làm được việc này, yêu cầu kéo dài bộ phận tên lửa và đầu đạn của đạn phản lực lên 48cm. Đạn M-13 có một vài điểm nổi trội so với RS-132 về tính năng khí động học, cho phép tạo độ dày đặc tập trung cao.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #388 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 08:27:50 pm »

Các tính năng của thiết bị được cải thiện phần nào khi gầm xe tải ba trục Zis-6 cơ động hơn được tiếp nhận.



Tháng 9 năm 1939, các nhà thiết kế đã chế tạo hệ thống phản lực MU-2. Trong phiên bản này, rãnh dẫn hướng được kéo dài dọc theo xe, bộ phận phía sau, khi bắn được treo trên các kích bổ sung. Khối lượng xe với kíp xe 5 người và cơ số đạn đầy đủ: 8,33 tấn, tầm bắn xa nhất: 8470 mét. Một loạt bắn 16 viên đạn phản lực, thời gian bắn: 8 – 10 giây. Xe ba trục Zis-6 bảo đảm cho MU-2 đạt yêu cầu cơ động khi đỗ, cho phép hoàn thành việc cơ động di chuyển một cách nhanh chóng và thay đổi trận địa. Để chuyển xe từ trạng thái hành quân sang chiến đấu mất từ 3 – 4 phút (thời gian tiêu phí cơ bản trong việc cố định kích).

Trên xe lắp sẵn thành phóng phụ để bắn ngay lập tức 24 viên đạn.

Trong tháng 9 năm 1939, đã diễn ra các cuộc thí nghiệm thiết bị MU-2 và theo kết quả, nó được tiếp nhận tới các cuộc bắn thử trên trường bắn của Bộ Tư lệnh Pháo binh. Sau khi hoàn thiện năm 1940, lần đầu tiên trên thế giới, thiết bị pháo phản lực bắn loạt đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng và trên trường bắn. Thiết bị nhận tên gọi BM-13-16 hay một cách đơn giản là BM-13 và đưa vào sản xuất. Viện Nghiên cứu khoa học tên lửa đã nhận đơn đặt hàng 5 thiết bị và lô đạn phản lực để đưa vào thí nghiệm cấp binh chủng. Ngoài ra, Cục Pháo binh Hải quân cũng đặt chế tạo một thiết bị BM-13 để thí nghiệm trong hệ thống phòng thủ bờ biển. Phía quân nhu đã ngay lập tức triển khai việc sản xuất dây chuyền đạn phản lực với sự tính toán khối lượng tiêu thụ lớn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #389 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2010, 09:23:45 pm »

Từ 15 đến 17 tháng 6 năm 1941, trên trường bắn Sofia ngoại ô Moskva đã tiến hành thử trang bị mới cho Hồng Quân. Ngày 17 tháng 6 đã diễn ra việc bắn thứ loạt đạn nổ - nổ mảnh M-13 từ hai thiết bị thí nghiệm. Việc bắn được tiến hành dưới sự theo dõi của Dân ủy Quốc phòng – Nguyên soái Liên Xô S.K.Timosenko, Tổng tham mưu trưởng Đại tướng G.K.Zhukov, Tư lệnh pháo binh Nguyên soái G.I.Kulik và phó Tư lệnh Thượng tướng N.N.Voronov, Dân ủy vũ trang D.F.Ustinov, Dân ủy phụ trách đạn dược P.N.Goremykin và nhiều tướng lĩnh khác. Hoạt động của đạn nổ - nổ mảnh đã gây ấn tượng mạnh: toàn bộ các mục tiêu bị phá hủy, toàn bộ khu vực đạn rơi bốc cháy.



Ngày 21 tháng 4 năm 1941, các lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã chấp nhận quyết định triển khai sản xuất quy mô lớn đạn M-13, thiết bị phóng BM-13 và bắt đầu thành lập các đơn vị pháo phản lực.

Khu vực sản xuất hàng loạt BM-13 được lựa chọn là xưởng mang tên Komitern tại Voronhez. Ngày 6 tháng 2 năm 1941, từ Viện Nghiên cứu khoa học số 3 đã có bản vẽ thiết kế pháo phản lực gửi tới Voronhez. Theo nhận định, bản vẽ của Viện số 3 đã xuất hiện những vấn đề cần thiết kế lại một cách nghiêm túc. Đầu tiên là vấn đề liên quan tới sự đơn giản hóa thiết kế và tăng cường tính năng kỹ - chiến thuật; thứ hai, yêu cầu công nghệ của ngành công nghiệp – sản xuất hàng loạt xe phóng. Trong thời gian tháng 3 đến tháng 4, cấu trúc của hàng loạt các chi tiết cơ bản của xe phóng trong xưởng đã chịu sự cải tạo căn bản và nhận thiết kế mới, đáp ứng việc đưa vào sản xuất hàng loạt dành cho thiết kế. Cấu trúc dạng hình hộp của thành dẫn hướng thành xà hình chữ U, trục sau của khung quay, thiết kế của cơ chế dẫn bắn góc tầm cũng chịu sự thay đổi căn bản.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM