Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:56:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài nét về quân đội Trung Quốc (tài liệu tham khảo) phần 4  (Đọc 421920 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #280 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 06:57:30 am »

Học thuyết răn đe và phòng thủ trong chiến lược vũ trụ quân sự của Trung Quốc

Hiện nay các nhà chiến lược Trung Quốc nói riêng và PLA nói chung đều  coi vũ trụ như một chiến trường chủ yếu trong các cuộc chiến tranh tương lai. Ngoài ra họ cũng rất chú trọng răn đe vũ trụ và coi ngang hàng với răn đe hạt nhân, răn đe thông thường, răn đe thông tin và “Răn đe Chiến tranh của Nhân dân”. Bài “Defense and Deterrence in China’s Military Space Strategy” đăng trên Jamestown Foundation (Mỹ) về vấn đề này như sau.

Gần đây nhận định học thuyết răn đe vũ trụ của Trung Quốc có thể đang trở thành thực tiễn, nhưng Bắc Kinh tiếp tục phát triển hàng loạt hệ thống chống vũ trụ. Thực tế, Trung Quốc đạt được khả năng vượt xa vũ khí chống vệ tinh (ASAT) được thử nghiệm thành công tháng 1/2007. Sau đó cuộc thử nghiệm một tên lửa đánh chặn tháng 1/2010 cho thấy Trung Quốc có khả năng phá hủy các vệ tinh trên quỹ đạo trái đất ở tầm thấp. Như Báo cáo về phát triển quân sự của Trung Quốc năm 2010 của Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định: "Trung Quốc đang phát triển chương trình đa dạng để cải thiện khả năng hạn chế hoặc ngăn chặn việc sử dụng các tài sản đặt trên vũ trụ của các đối phương trong thời gian diễn ra khủng hoảng hoặc xung đột". Bên cạnh các vũ khí chống vệ tinh, Trung Quốc còn có khả năng gây nhiễu ở trong và ngoài nước và khả năng ASAT của lực lượng hạt nhân. Giới phân tích Trung Quốc cho rằng, cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng đối với quân sự và thương mại, vũ trụ đang trở thành lĩnh vực quan trọng cho việc bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia.

Các nhà chiến lược Trung Quốc coi vũ trụ như một chiến trường chủ yếu trong các cuộc chiến tranh tương lai. Nhiều tài liệu của Trung Quốc mô tả vũ trụ như một điểm cao mà hai bên sẽ cố gắng để kiểm soát trong các cuộc chiến tranh khu vực được tin học hóa bởi vì vũ trụ ảnh hưởng đến ưu thế thông tin và đóng vai trò quan trọng trong việc giành thế chủ động trong một cuộc xung đột. Các nhà phân tích Trung Quốc khẳng định các hệ thống vũ trụ như chiếc chìa khóa cho phép yểm trợ các lĩnh vực như tình báo, giám sát và trinh sát (ISR), cảnh báo sớm, thông tin liên lạc, dẫn đường và định vị, xác định mục tiêu cho các loại vũ khí chính xác, khảo sát và vẽ bản đồ và hỗ trợ khí tượng học. Các nhà phân tích cũng coi các hệ thống vũ trụ như động lực yểm trợ các hoạt động chung và tăng hiệu quả của các lực lượng bộ binh, không quân và hải quân.

Do tiếp tục chú trọng tầm quan trọng của các hệ thống vũ trụ trong các chiến dịch quân sự hiện đại, Trung Quốc đang nỗ lực cải thiện các khả năng vũ trụ. Báo cáo năm 2010 của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết: "Trung Quốc đang phát triển các loại vệ tinh thông tin liên lạc, dẫn đường, trinh sát, giám sát và tình báo đặt trên vũ trụ". Khi Trung Quốc đặt nhiều vệ tinh hơn lên quỹ đạo, sự tin cậy của PLA vào hệ thống vũ trụ tăng lên. Quân đội Trung Quốc ngày càng trở nên phụ thuộc vào các khả năng vũ trụ về tình báo, giám sát, trinh sát, dẫn đường và định vị, cũng như thông tin liên lạc. Các tài liệu quân sự Trung Quốc cho rằng Trung Quốc vẫn tự đánh giá họ ít lệ thuộc vũ trụ hơn Mỹ, nhưng họ cũng thừa nhận sự tin cậy ngày càng tăng vào vũ trụ dẫn đến nhiều yếu điểm hơn. Nhiều nhà phân tích Trung Quốc khẳng định các hệ thống vũ trụ của Trung Quốc đang đối mặt với nhiều thách thức tiềm tàng khác nhau. Do đó, PLA cần có khả năng bảo vệ các tài sản vũ trụ thông qua các biện pháp phòng thủ hoặc răn đe.

Một tài liệu về các hoạt động vũ trụ của quân đội Trung Quốc cho biết, các nhà chiến lược Trung Quốc rất lo ngại các mối đe dọa khác nhau đối với hệ thống vũ trụ của Trung Quốc. Đặc biệt, các nhà phân tích Trung Quốc coi chính sách vũ trụ của Mỹ là mối đe dọa tiềm tàng đối với các lợi ích của Trung Quốc vì chính sách đó chú trọng đến sự vượt trội trên vũ trụ. Ông Zhang Hui thuộc Trung tâm Belfer Nghiên cứu Khoa học và Quốc tế của Đại học Harvard nhận xét: "Nhiều quan chức và chuyên gia an ninh Trung Quốc rất quan tâm đến các tài liệu kế hoạch quân sự của Mỹ được công bố trong những năm gần đây đề cập đến việc kiểm soát vũ trụ thông qua việc sử dụng các loại vũ khí trên hoặc từ vũ trụ để đạt được ưu thế toàn cầu". Tương tự, ông Bao Shixiu, chuyên gia phân tích cao cấp của Viện Khoa học Quân sự trực thuộc PLA (AMS), nói: "Kết luận duy nhất có thể rút ra là Mỹ đơn phương tìm cách độc quyền sử dụng vũ trụ cho quân sự để giành ưu thế chiến lược so với các nước khác". Do đó, Trung Quốc phải bảo vệ các lợi ích của mình. Ông Bao nói: "Trung Quốc không thể chấp nhận sự độc quyền ngoài tầng không gian của nước khác". Do đó, ông quả quyết chính sách vũ trụ của Mỹ "gây mối đe dọa nghiêm trọng cho Trung Quốc cả về phá hủy phòng thủ quốc gia cũng như ngăn chặn quyền khai thác vũ trụ của Trung Quốc nhằm phục vụ các mục đích dân sự và thương mại". Nhiều học giả Trung Quốc còn cho rằng các cuộc diễn tập chiến tranh vũ trụ của Mỹ cho thấy mức độ quân sự hóa vũ trụ ngày càng tăng. Nhưng lo ngại của Bắc Kinh không dừng lại trước các tuyên bố và các cuộc diễn tập chiến tranh. Thực tế, một số nhà chiến lược Trung Quốc dường như tin rằng các nước khác đang nỗ lực phát triển các khả năng chống vũ trụ, từ đó có thể đe dọa các vệ tinh của Trung Quốc.

( còn tiếp )

Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #281 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 07:09:42 am »

Học thuyết răn đe và phòng thủ trong chiến lược vũ trụ quân sự của Trung Quốc

( tiếp theo và hết )
....
Một số học giả Trung Quốc đã thảo luận những gì họ coi là lịch sử của việc nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm ASAT ở Mỹ và Nga từ Chiến tranh Lạnh đến nay. Cũng như các đối tác phương Tây, các học giả Trung Quốc chia các mối đe dọa tiềm tàng thành 2 loại lớn "tiêu diệt mềm" và "tiêu diệt cứng".

Mối đe dọa tiêu diệt mềm có thể gây thiệt hại tạm thời cho các hệ thống vũ trụ, nghĩa là làm cho hệ thống vũ trụ không thể thực hiện các chức năng hoạt động. Các biện pháp chủ yếu của cuộc tấn công chống vệ tinh tiêu diệt mềm bao gồm các cuộc tấn công chiến tranh điện tử và tấn công các hệ thống máy tính. Ngược lại các mối đe dọa tiêu diệt mềm như gây nhiễu, khả năng tiêu diệt cứng có thể phá hủy vĩnh viễn các tàu vũ trụ. Trung Quốc xác định các loại vũ khí năng lượng động lực học và các loại vũ khí năng lượng trực tiếp như các loại lade năng lượng cao là các mối đe dọa tiêu diệt cứng. Nhiều tài liệu khác của Trung Quốc khẳng định các mối đe dọa xuất phát từ tầm của các hệ thống như các phương tiện đánh chặn năng lượng động lực học, các hệ thống ASAT lade, các hệ thống ASAT hạt nhân, các vũ khí sóng cực ngắn và các tàu vũ trụ có thể được sử dụng để vô hiệu hóa hoặc phá hủy các vệ tinh của đối phương. Ngoài ra, một số chuyên gia Trung Quốc cho biết các thiết bị đánh chặn của hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ giúp Lầu Năm Góc nâng cao khả năng ASAT. Theo giới phân tích Trung Quốc, do hoạt động của các cường quốc vũ trụ trên thế giới, cuộc chiến tranh vũ trụ không còn là viễn tưởng. Do đó, Trung Quốc phải sẵn sàng không chỉ ngăn chặn khả năng sử dụng vũ trụ của đối phương mà còn bảo vệ các khả năng vũ trụ của mình. Để đạt được điều đó Trung Quốc phải kết hợp các biện pháp phòng thủ và răn đe.

Do các vệ tinh rất quan trọng cho các chiến dịch quân sự, Trung Quốc thúc đẩy sự cạnh tranh giữa công nghệ ASAT và bảo vệ vệ tinh. Vì vậy, để chuẩn bị cho các cuộc xung đột vũ trụ, bên cạnh khả năng tiến công các vệ tinh của đối phương, Trung Quốc cũng đang thảo luận hàng loạt biện pháp nhằm nâng cao khả năng tồn tại của các vệ tinh như: giảm tín hiệu, bảo vệ điện từ, cơ động vệ tinh... thậm chí thuê các hệ thống vũ trụ của nước ngoài. Giới phân tích cho rằng một biện pháp bảo vệ hệ thống vũ trụ là sử dụng các kỹ thuật giảm bớt tín hiệu, từ đó đối phương khó có thể phát hiện và tấn công tàu vũ trụ. Các biện pháp ngụy trang có thể bao gồm biện pháp quét bên ngoài vệ tinh các nhiên liệu đặc biệt để giảm bớt khả năng phát hiện của ra đa đối phương và giảm các tín hiệu khác. Một số chuyên gia còn đề nghị làm cứng hoặc tăng việc bảo vệ các thành phần quan trọng như các bộ phận cảm biến quang học điện từ trên các vệ tinh hình ảnh. Một số biện pháp bảo vệ khác chú trọng tăng cường bảo vệ chống lại sự can thiệp điện từ. Ngoài ra, các chuyên gia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường nhận biết tình hình vũ trụ để theo dõi hoạt động của đối phương trên vũ trụ và kịp thời cảnh báo bất cứ cuộc tấn công nào của đối phương.

Bản thân các tàu vũ trụ không chỉ là các tài sản cần được bảo vệ. Việc bảo vệ các đường dây thông tin và các trạm trên mặt đất cũng quan trọng không kém. Các chuyên gia Trung Quốc dự định bảo vệ các đường dây thông tin bằng cách sử dụng nhiều biện pháp như mật mã và các loại công nghệ chống gây nhiễu khác nhau. Họ cũng cho biết để giải quyết các mối đe dọa hệ thống máy tính, vấn đề quan trọng là phải bảo đảm bí mật, vững chắc và thống nhất các hệ thống thông tin của Trung Quốc. Bảo vệ các hệ thống hỗ trợ trên mặt đất cũng được coi là vấn đề quan trọng. Biện pháp bảo vệ các hệ thống trên mặt đất bao gồm ngụy trang, che giấu, cơ động, dư thừa. Ngụy trang và che giấu nhằm giảm khả năng của đối phương trong việc phát hiện và xác định một phương tiện. Các hệ thống hỗ trợ trên mặt đất cơ động khiến đối phương khó tìm kiếm và tấn công các tài sản của Trung Quốc. Dư thừa làm tăng khả năng tồn tại của hệ thống trước các cuộc tấn công của đối phương. Cuối cùng, một chuyên gia Trung Quốc cho rằng sử dụng các hệ thống vũ trụ thuê của nước ngoài nhằm tạo ra tình thế khó xử về chính trị và ngoại giao cho kẻ thù muốn tìm cách tấn công các hệ thống thông tin vũ trụ của Trung Quốc. Thuê các hệ thống thông tin vũ trụ của nước ngoài sẽ gây khó khăn cho đối phương ra quyết định tấn công, bởi vì đối phương phải cân nhắc việc tấn công một vệ tinh của bên thứ ba.

Ngoài việc bảo vệ, các chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng rất chú trọng răn đe vũ trụ và coi răn đe vũ trụ như một trong những biện pháp cơ bản của răn đe chiến lược, ngang hàng với răn đe hạt nhân, răn đe thông thường, răn đe thông tin và "Răn đe Chiến tranh của Nhân dân". Hiện nay, Trung Quốc vẫn đang phát triển chiến lược răn đe vũ trụ. Giới nghiên cứu Trung Quốc cho rằng răn đe chiến lược đòi hỏi một nước phải đáp ứng 3 điều kiện cơ bản: có các khả năng răn đe; quyết tâm sử dụng chúng; và khả năng để cảnh báo với đối phương rằng họ có đủ khả năng và quyết tâm sử dụng các phương tiện nếu cần. Nhưng các chuyên gia Trung Quốc cho rằng răn đe của lực lượng vũ trụ sẽ khác răn đe hạt nhân trên một số lĩnh vực cơ bản. Mặc dù thế giới cấm sử dụng các loại vũ khí vũ trụ, nhưng việc bắt đầu sử dụng chúng sẽ thấp hơn sử dụng các loại vũ khí hạt nhân do các đặc tính thông thường. Mảnh vỡ của vũ trụ có thể đe dọa các tài sản vũ trụ của các nước thứ ba, nhưng mức độ phá hủy, đặc biệt về cuộc sống của con người, có thể ít hơn vũ khí hạt nhân hoặc thậm chí cả các loại vũ khí thông thường. Hiện nay, mặc dù Mỹ chiếm ưu thế chiến lược trên vũ trụ, nhưng các phương tiện răn đe tin cậy trên vũ trụ sẽ làm giảm khả năng của Mỹ trong việc tấn công các tài sản vũ trụ của Trung Quốc. Từ nhận thức đó, Trung Quốc sẽ phát triển các vũ khí vũ trụ và chống vệ tinh có thể tấn công hiệu quả hệ thống vũ trụ của đối phương, để hình thành chiến lược phòng thủ tin cậy. Do đó, ngoài việc không cho đối phương khả năng sử dụng các hệ thống vũ trụ trong một cuộc chiến tranh với Trung Quốc và chống lại khả năng của hệ thống phòng thủ tên lửa đặt trên vũ trụ phá hủy răn đe hạt nhân của Bắc Kinh, nhiệm vụ khác của các khả năng chống vũ trụ của Trung Quốc là bảo vệ các hệ thống vũ trụ bằng cách ngăn chặn đối phương tấn công chúng.

Trung Quốc tiếp tục đưa nhiều vệ tinh lên quỹ đạo, các nhà chiến lược ngày càng quan tâm đến phòng thủ và răn đe vũ trụ, nhưng điều đó không có nghĩa họ không chú ý đến tấn công các hệ thống vũ trụ của đối phương nếu hành động tấn công đó không bị bác bỏ. Thực tế, các tài liệu của Trung Quốc nói về hoạt động vũ trụ quân sự nhấn mạnh việc duy trì tự do hành động của Trung Quốc trên vũ trụ đồng thời ngăn chặn đối phương sử dụng các tài sản vũ trụ trong một cuộc xung đột với Trung Quốc. Hơn nữa, nhiều nhà phân tích Trung Quốc nhận thấy quân đội Mỹ lệ thuộc rất lớn vào các tài sản vũ trụ để tiến hành các hoạt động quan trọng như ISR, thông tin liên lạc, dẫn đường và định vị. Một số chuyên gia Trung Quốc còn khẳng định vũ trụ tạo ra một điểm yếu quan trọng của Mỹ-mà Trung Quốc phải tận dụng để giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh khu vực tương lai trong các điều kiện thông tin hóa. Mối lo ngại của Trung Quốc về sức mạnh của hệ thống phòng thủ tên lửa đặt trên vũ trụ của đối phương để phá hủy các khả năng răn đe hạt nhân của Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy Bắc Kinh phát triển và sử dụng các khả năng của ASAT. Rõ ràng, nhận thấy việc ngăn chặn đối phương không sử dụng các hệ thống vũ trụ trong một cuộc xung đột có thể là yếu tố rất quan trọng để giành ưu thế thông tin hoặc thậm chí bảo vệ khả năng của Trung Quốc nhằm phát động một đòn tiến công hạt nhân trả đũa, nhưng việc phát triển các hệ thống chống vũ trụ của Trung Quốc sẽ bị hạn chế trong việc ngăn chặn các cuộc tấn công các vệ tinh của Trung Quốc. Vì vậy, mặc dù mối quan tâm tới phòng thủ và răn đe vũ trụ để bảo vệ các khả năng của vệ tinh ngày càng tăng, nhưng Bắc Kinh vẫn có thể coi các vũ khí chống vũ trụ như một phương tiện để không cho đối phương giành ưu thế nhờ sử dụng các hệ thống vũ trụ./.

Theo Jamestown Foundation

Lê Trang (gt)
link: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/1381-hc-thuyt-rn-e-va-phong-th-trong-chin-lc-v-tr-quan-s-ca-trung-quc
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #282 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 07:08:39 pm »

Nhật, Mỹ đánh giá thấp tàu sân bay Trung Quốc

Tàu sân bay của Trung Quốc gần tiếp cận tới giai đoạn bố trí nhưng lại thiếu khả năng tác chiến và không được trang bị máy bay trên tàu sân bay!
Tạp chí Ngoại giao của Nhật Bản ngày 5/5 đã đăng tải bài báo “Tàu sân bay Trung Quốc thiếu máy bay chiến đấu”, theo đó tàu sân bay này gần tiếp cận tới giai đoạn hoạt động nhưng lại thiếu khả năng tác chiến và không được trang bị máy bay trên tàu sân bay! Ngoài ra, đối với tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc hiện tại và tương lai, khả năng tiếp nhiên liệu trên không và tác chiến điện tử đối mặt với nhiều hạn chế.

Theo báo cáo của phó chủ tịch hiệp hội vì hoà bình quốc tế của Mỹ Douglas H. Paal, Trung Quốc đã nỗ lực rất lớn trong việc cải thiện tàu sân bay Varyga được mua từ Ukraine (*) và đã tạo ra bước đột phá lớn trong công nghệ đóng tàu quân sự của nước này.

Các chuyên gia quân sự Nhật Bản cho rằng Hải quân Trung Quốc muốn nâng cao sức mạnh của tàu sân bay phải trang bị cho con tàu này những máy bay chiến đấu tối tân và phải huấn luyện có bài bản một đội ngũ thủy thủ đoàn. Nhưng hiện nay Trung Quốc vẫn chưa có những khả năng này. Chưa tính những chi phí và nguồn nhân lực rất lớn, những quy hoạch chi tiết và hỗ trợ hậu cần cần thiết cho tàu sân bay hiện đại, Trung Quốc còn thiếu một số phần cứng quan trọng.

Mô hình tàu sân bay của Trung Quốc trong tương lai và tàu sân bay hiện tại của Trung Quốc là hai khái niệm khác nhau.

Để bảo đảm cho việc hoạt động thực tế và chiến đấu dài ngày trên biển, Hải quân Trung Quốc cần phát triển, xây dựng và triển khai hệ thống chỉ huy và kiểm soát dùng cho tàu sân bay, các loại máy bay chiến đấu, máy bay tiếp nhiên liệu trên không, máy bay chiến đấu điện tử. Nếu không có những yếu tố này thì tàu sân bay và tiêm kích J-15 của Trung Quốc vẫn chỉ “nằm trên bản thiết kế” và chỉ để ứng dụng vào việc huấn luyện.

Nhìn vào tình hình ở Nga, tàu sân bay "Đô đốc Kuznetsov" (Admiral Kuznetsov) của  Hải quân Nga ("anh em” với tàu Thi Lang). Sau khi hoạt động thử nghiệm từ năm 1996, chỉ có thể sử dụng và huấn luyện (không đến 10 lần), trong đó, không có lần nào hoạt động được vài tháng. Quan trọng hơn, nó đã không bao giờ được tham chiến. Ngược lại, 11 tàu sân bay của Hải quân Mỹ đã hoạt động quá 1/3 tuổi thọ 50 năm của nó và tất cả đều được sử dụng vào các hoạt động chiến đấu thực tế.

Tàu sân bay Admiral Kuznetsov của Nga có quá nhiều vấn đề cần phải bàn tới đó là: vốn trợ cấp của Hải quân Nga là không cố định dẫn đến việc các loại máy móc nhanh chóng bị hỏng và việc đào tạo thủy thủ đoàn cũng không được thực hiện một cách bài bản.

Đồng thời, lực lượng không quân mất đi tính thực tế, chỉ có khoảng 12 máy bay chiến đấu Su-33 và trang bị một số lượng nhỏ radar, trực thăng cùng với các thiết bị sonar. Admiral Kuznetsov đã không thể chống lại  mối đe dọa thực sự của đối phương từ trên không.

Máy bay chiến đấu J-15 được cho là sẽ trang bị trên tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc.

Ngược lại, các tàu sân bay Mỹ và Pháp được trang bị các loại thiết bị hiện đại ngay sau khi hoàn thành. Họ có đơn vị không quân được đào tạo bài bản và khả năng chiến đấu ổn định.

Trên tàu được biên chế hai loại hình máy bay chính và được bổ sung thêm máy bay cảnh báo sớm E-2 Hawkeye, E/A-6B hoặc máy bay điện tử E/A-18G Growler để ngăn chặn đối phương từ trên không.

Các máy bay chiến đấu của Hải quân Mỹ và Pháp cũng được trang bị các vòi tiếp nhiên liệu trên không để có thể vừa bay vừa tiếp nhiên liệu cho các máy bay khác. Máy bay chiến đấu Su -33 của Nga cũng có tính năng tương tự, nhưng các phi công của Nga vẫn chưa được đào tạo để có thể thực hiện được thao tác này thuần thục.

Báo cáo chỉ ra: Do thiếu các điều kiện về lực lượng không quân và tàu sân bay như Mỹ, Pháp nên tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc và tàu sân bay Admiral Kuznetsov của Nga phải đối mặt với rất nhiều hạn chế.

Các máy bay chiến đấu không có khả năng tiếp nhiên liệu trên không dẫn tới việc di chuyển sẽ gặp nhiều khó khăn. Nếu như chỉ có thể dựa vào radar và hệ thống hướng dẫn của tàu sân bay thì Trung Quốc sẽ rất dễ “thất thủ” trước các cuộc tấn công của đối phương.

Các phương tiện truyền thông Nhật Bản còn cho biết, tất nhiên là Trung Quốc cũng nhận ra các hạn chế của mình đồng thời sẽ tìm mọi biện pháp khắc phục những hạn chế này. Chính phủ Bắc Kinh đã mua hệ thống radar của Nga đồng thời cũng tiến hành thử nghiệm 8 lần. Ngoài ra, Trung Quốc có thể sử dụng các máy bay trực thăng này để làm “bước đệm” nhằm nâng cao khả năng kiểm soát khống chế trên không.

Theo kế hoạch vào tháng 7 tàu Thi Lang sẽ đưa vào phục vụ nhưng Trung Quốc phải mất một thời gian dài mới có thể đưa nó vào chiến đấu.

Chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, đô đốc Robert Willard, cho rằng tàu sân bay Thi Lang chỉ mang tính biểu tượng về sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Chính phủ Bắc Kinh phải mất một thời gian dài để huấn luyện, phát triển, diễn tập thì con tàu mới có thể đi vào hoạt động chính thức.

Tổng biên tập Chang của Tạp chí Kanwa cho rằng: "Sau khi chạy thử trên biển, Thi Lang phải cần ít nhất 8 năm để kiểm tra radar và các loại vũ khí, trong đó có máy bay tác chiến J-15".

Chuyên gia John Pike của trang mạng phân tích quân sự Global Security thì nhận định với Asia Times rằng, chỉ một tàu sân bay không thể tạo ra ảnh hưởng lớn. Ông Pike lập luận: "Nhiều nước khác như Thái Lan và Brazil cũng có một tàu sân bay nhưng hầu như không tạo được khác biệt gì".

Chuyên gia Oliver Brauner tại Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm cũng cho rằng sự xuất hiện tàu sân bay của Trung Quốc sẽ không làm thay đổi cân bằng quân sự tại eo biển Đài Loan. "Dù Trung Quốc có hoàn thiện chiếc tàu sân bay mua từ Ukraine, công nghệ của nó vẫn lạc hậu so với các tàu của các nước khác như Mỹ về phương diện chức năng lẫn trang bị", ông nói.
(*) Dự án đóng tàu Varyag bắt đầu năm 1985 nhưng bị dừng lại vào năm 1992 sau khi Liên Xô tan rã. Khi đó, công trình đã hoàn tất hơn 60% và Nga giao Varyag cho Ukraine. Sau đó, con tàu này không được bảo trì, nhiều phần bị tháo dỡ như bánh lái và hệ thống vận hành, theo trang tin Asia Times.

Đến năm 1998, Ukraine bán đấu giá Varyag và một công ty ở Hongkong đã bỏ ra 20 triệu USD để mua con tàu này với ý định biến nó thành một sòng bạc nổi ở Macau. Tuy nhiên, Macau không phải là điểm dừng chân cuối cùng của Varyag.

Năm 2005, tàu được đưa đến cảng Đại Liên, cũng là nơi đóng trụ sở của Học viện Quân sự quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA). Tại đây vào năm 2008, nhóm binh sĩ đầu tiên bắt đầu tham gia chương trình huấn luyện trở thành phi công lái máy bay tác chiến cho tàu sân bay, theo Asia Times.

Từ 2009 đến nay, Bắc Kinh không ngừng học hỏi các kỹ thuật về tàu sân bay để “tái chế” lại con tàu này thành tàu sân bay mang thương hiệu Trung Quốc và được đặt tên là “Thi Lang”.

Theo kế hoạch tháng 7/2011, tàu sân bay có lượng giãn nước 60.000 tấn này sẽ được hạ thuỷ và việc trang bị các loại máy bay chiến đấu cho con tàu này cũng sắp hoàn thành. Cuối tháng 4/2011 máy bay chiến đấu J-15 được cho là sẽ trang bị cho tàu sân bay Trung Quốc đã “lộ diện”.

Trong vài tuần qua, Hải quân Trung Quốc đã đẩy nhanh tiến độ thi công để có thể nhanh chóng bố trí tàu sân bay điều này thể hiện rằng Trung Quốc là một “cường quốc” về tốc độ cải tạo.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Nhat-My-danh-gia-thap-tau-san-bay-Trung-Quoc/20115/144515.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #283 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:22:45 pm »

Radar MR-36A ( nhái trái phép MR-90 Front Dome Nga )




Radar MR-34



Radar MR-35

Logged
nguyenduong501
Thành viên
*
Bài viết: 129



« Trả lời #284 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2011, 02:10:05 am »

Tiếp tục J 20
http://www.youtube.com/watch?v=u4LN8jAZqek&feature=player_embedded#at=147







--------------------------------------------------
Lưu ý tách dòng tạo khoảng cách cho mỗi ảnh!
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Năm, 2011, 02:32:47 am gửi bởi daibangden » Logged

Nga không phải và vô đối
nhai quai dep
Thành viên
*
Bài viết: 225



« Trả lời #285 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2011, 01:54:35 am »





Xe sang, Biển đẹp là những khí tài mới của giới lãnh đạo PLA, riêng đồng chí Bí thư Quân ủy TW Trung Quốc thì sử dụng 1 con Mercedes với biển số 99999, các đồng chí còn lại thì khiêm tốn hơn với biển số 00001 hoặc 01001  nguồn: - http: // bbs.tiexue.net/post_5059814_1.html
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Năm, 2011, 02:00:52 am gửi bởi nhai quai dep » Logged

Đây Trường Sa, kia Hoàng Sa. Quần đảo tím hiên ngang thiên hùng ca ngời sáng...

( Nơi đảo xa, nhạc và lời: Thế Song)
architecto
Thành viên
*
Bài viết: 26


« Trả lời #286 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2011, 08:30:34 am »

Em không hiểu rõ ý cụ nhaiquaidep lắm, con Prado ảnh dưới và mấy con đời ơ kìa ở ảnh trên thì sang ở đâu. So với các sỹ quan oai hùng ở nước nọ thì còn phải ngước nhìn đến rơi cả mũ.
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #287 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2011, 11:47:56 am »

Khám phá khoảng trống giữa J11 tới J20 ( kỳ 1 )

Những cái tên J-10, J-11 và J-20 đã xuất hiện nhan nhản và tốn không ít giấy mực của báo chí, thế nhưng sự gián đoạn giữa chúng là những khoảng tối mà Trung Quốc không muốn nhắc đến.


Kể từ lúc ngành công nghiệp sản xuất máy bay Trung Quốc chập chững những bước đầu tiên trong việc sản xuất máy bay chiến đấu, khi mày mò lắp ráp chiếc Zhong-0101- chiếc J-5 đầu tiên - từ phụ tùng máy bay Mig-17 được Liên Xô viện trợ, nước này chưa bao giờ để lại khoảng trống khi đặt tên cho những thế hệ máy bay chiến đấu của mình.

Công nghiệp hàng không quân sự Trung Quốc lần lượt cho ra: J-6 (bản sao Mig-19), J-7, J-8 (>> chi tiết) (bản sao, nâng cấp của Mig-21), J-9 (tiêm kích hạng nhẹ một động cơ phát triển dựa trên máy bay Mig-21, đã ngừng phát triển từ những năm 1980 để nhường chỗ cho việc nâng cấp máy bay J-8), J-10 (>> chi tiết) (máy bay thế hệ thứ tư đầu tiên của Trung Quốc tự sản xuất dựa trên thiết kế máy bay Lavi của Israel và F-16 họ nhận được từ Pakistan), J-11 (bản sao của Su-27SK). (>> chi tiết)

Tuy nhiên, kể từ J-11, bỗng dưng truyền thông Trung Quốc im ắng rồi nhảy phắt một bước tới việc công bố máy bay thế hệ thứ 5 đầu tiên với tên gọi J-20. Phải chăng họ đã từ bỏ truyền thống này để thể hiện một sự nhảy vọt? Thực tế không phải vậy, những mẫu J-12 cho đến J-19 đã và đang tồn tại, nhưng một số đã đi vào ngõ cụt, số khác đang được gấp rút hoàn thành, mang theo mình những kỳ vọng không kém "ngôi sao" J-20.

Bài viết dưới đây xin lần lượt điểm lại các mẫu máy bay ít được truyền thông Trung Quốc nhắc tới:

J-12

Đối với máy bay chiến đấu, việc yêu cầu cất/hạ canh trên đường băng ngắn luôn là một tiêu chí đáng để tiếp cận. Loại máy bay nào có khả năng cất/hạ cánh ở đường băng càng ngắn, càng có thể bố trí chiến đấu ở nhiều khu vực hơn, nhất là những đảo nhỏ không thể xây dựng được đường băng dài.

Vào đầu những năm 1970, Trung Quốc quyết tâm chế tạo ra một loại máy bay chiến đấu có khả năng cất/hạ cánh trên đường băng ngắn để thay thế cho máy bay Mig-19 đang sử dụng.

Do trình độ khoa học kỹ thuật thời đó chưa đủ để chế tạo ra những động cơ mạnh, các kỹ sư Trung Quốc buộc phải là giảm khối lượng máy bay đến mức tối đa. Từ quan điểm này, J-12 ra đời tại Nhà máy Công nghiệp Không quân Nam Xương.


J-12 tại sân bay trong một buổi thử nghiệm

Xuất phát từ quan điểm chế tạo, J-12 có thể được xem là một trong những máy bay chiến đấu phản lực nhẹ nhất thế giới với khối lượng rỗng chỉ có 3,2 tấn, khối lượng cất cánh thông thường 4,5 tấn, tối đa  5,3 tấn.

Được trang bị một động cơ Wopen WP-6 (bản sao của động cơ RD-9BF của Liên Xô), J-12 chỉ yêu cầu đường băng cất hạ cánh có độ dài dưới 500m, đây là một tiến bộ lớn khi so sánh với các máy bay cùng thời.


Số phận của loại máy bay J-12 khá đen đủi, nó đi thẳng từ phòng thiết kế đến bảo tàng

Tuy nhiên, với khả năng thể hiện quá yếu kém: Tốc độ tối đa chỉ đạt 1.300 km/h; bán kính tuần tiễu 688 km; bán kính chiến đấu 405 km, khối lượng vũ khí mang theo chỉ đạt hơn 1 tấn treo trên ba mấu treo vũ khí, kém xa J-7 (bản sao của Mig-21 được Trung Quốc sản xuất đại trà sau đó nên năm 1977), dự án sản xuất J-12 đã bị đình chỉ vĩnh viễn để nhường "vốn" đầu tư cho J-7 và J-8.
....
( còn tiếp )
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Năm, 2011, 12:09:19 pm gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #288 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2011, 11:54:46 am »

Khám phá khoảng trống giữa J11 tới J20 ( kỳ 1 )
...
( tiếp theo )
J-13

Tương tự J-12, J-13 cũng là một đề án sản xuất máy bay của Trung Quốc nhằm thay thế biên đội J-6 (Mig-19) cũ kỹ của nước này vào đầu những năm 1970. Tuy nhiên, J-12 được thiết kế tại Nam Xương còn J-13 là sản phẩm của Tổng công ty máy bay Thẩm Dương.


Máy bay J-13 có thiết kế cửa hút gió hình bán cầu hẹp hai bên thân tương tự như Mirage F1 của Pháp

J-13 được thiết kế là máy bay tiêm kích đánh chặn hạng nhẹ một động cơ. Ban đầu, J-13 có thiết kế tương tự như máy bay Mirage F1 của Pháp với hai cửa hút gió hai bên ép sát thân.

Tuy nhiên, đến đầu những năm 1980, khi máy bay thế hệ thứ 4 xuất hiện, đội ngũ thiết kế J-13 được đặt nhiệm vụ phải tạo ra mẫu máy bay có tính năng tương đương để khắc Mig-29 của Liên Xô hay F-16 của Mỹ.

Trong giai đoạn này, phiên bản J-13V ra đời với thiết kế cửa hút gió hình chữ nhật, phía dưới thân tương tự như máy bay J-10 ngày nay.



Máy bay J-13V (phía dưới) có cửa hút gió hình chữ nhật dưới thân tương tự J-10 ngày nay

J-13 có chiều dài 17,5m, sải cánh 10,4m và có khối lượng cất cánh là 11,66 tấn. Loại máy bay này có thể mang theo 4,5 tấn vũ khí trên các giá treo ở thân và cánh. Được trang bị động cơ WS-6, J-13 có thể đạt tốc độ 3.000 km/h (Mach 2,45) với tầm hoạt động lên tới 2.340 km.

Tuy nhiên, đến khi công việc thiết kế cơ bản hoàn thành, J-13 trở lên lỗi thời, do đó chương trình phát triển J-13 bị hủy bỏ để nhường chỗ cho loại máy bay hiện đại hơn là J-10 của Nhà máy Thành Đô.

Tuy vậy, một số thành quả thiết kế của J-13 vẫn được áp dụng cho các loại máy bay sau này của Trung Quốc như kiểu cửa hút gió (áp dụng cho J-10).
...
( còn tiếp )
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Năm, 2011, 12:09:52 pm gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #289 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2011, 12:00:36 pm »

Khám phá khoảng trống giữa J11 tới J20 ( kỳ 1 )
...
( tiếp theo và hết )

J-14

J-14 là một trong những bước đầu tiên của Trung Quốc nhằm chế tạo máy bay thế hệ thứ 5. Được coi là một thiết kế rất thành công, thiết kế của J-10B đã được Xưởng thiết kế của Thành Đô sử dụng lại, sửa đổi và nâng cấp để chế tạo ra một loại máy bay tiêm kích đa năng hạng nặng, có hình dáng giảm thiểu phản xạ sóng radar.



Máy bay J-10B, nguyên mẫu dùng để để thiết kế J-14

Tuy J-14 thiết kế chủ yếu dựa trên J-10, nhưng người Trung Quốc còn thêm thắt một vài kiểu dáng và một số bộ phận của MiG 1.44 MFI (Nga). Phần thân máy bay phình to về phía đuôi để chứa khối động cơ của YF-23 Black Widow.

Toàn bộ phần thân trước của máy bay có thiết kế dẹt kiểu “mũi vịt” tương tự máy bay tiêm kích - ném bom Su-34 và các cửa khoang vũ khí, càng tiếp đất có hình răng cưa giống như F-22. Để giảm thiểu thể tích khoang chứa càng tiếp đất, các ống của càng tiếp đất có thể lồng vào nhau tương tự như Eurofighter Typhoon của châu Âu.

Cửa hút khí của J-14 được thiết kế dưới phần bụng của thân trước, chỗ lồi của cửa hút khí này cũng làm giảm thiểu khả năng phản xạ sóng radar khi sóng tới từ phía trước. Tuy nhiên, việc bố trí cửa hút khí của J-14 khiến luồng khí vào động cơ sẽ bị méo nếu một động cơ gặp sự cố. Điều này dẫn tới mất an toàn cho máy bay.

J-14 có nhiều đặc điểm thiết kế vay mượn các loại máy bay khác nhằm giảm thiểu phản xạ sóng radar

Về vũ khí, J-14 dự tính được trang bị một pháo 6 nòng cỡ 23 mm tương tự pháo GSh 6-23 được lắp trên MiG-31 hay Su-24. Các vũ khí khác được đặt trong hai khoang nhỏ hai bên thân và một khoang lớn dưới bụng gồm các tên lửa đối không tầm ngắn PL-8, R-73 hay tên lửa tầm trung R-77, PL-12.

J-14 cũng được trang bị radar có khả năng bắt bám nhiều mục tiêu và hệ thống trinh sát quang điện tử FLIR, hồng ngoại IRST.

Buồng lái của J-14 cũng được thiết kế tối ưu với các thông số hiển thị trên các màn hình LCD đa chức năng (MFD). Kiểu thiết kế “bong bóng” của buồng lái cũng giúp tăng khả năng quan sát của phi công.

Ngoài ra, phi công J-14 còn được trang bị mũ bay tiên tiến với hệ thống hiển thị thông tin ngay trên mũ (HUD).



Hình vẽ tổng thể máy bay J-14

Từng xuất hiện trên báo chí vào khoảng năm 2006, nhưng đến thời điểm hiện tại các thông tin về J-14 đã mờ nhạt và gần như lãng quên. Khả năng lớn nhất là dự án này đã bị đình lại để Trung Quốc dồn toàn lực vào việc phát triển J-20 và các loại máy bay sử dụng trên tàu sân bay như J-15 hay J-18.
link: http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Kham-pha-khoang-trong-giua-J11-toi-J20-ky-1/20115/144708.datviet

« Sửa lần cuối: 12 Tháng Năm, 2011, 12:10:29 pm gửi bởi thanhh63 » Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM