Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:39:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123495 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #60 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 11:55:56 pm »

“Trong số 150 trung đoàn của quân đội Pháp, có 10 trung đoàn người da trắng ở các thuộc địa, nghĩa là những người nửa bản xứ; 30 trung đoàn người châu Phi và 39 trung đoàn người bản xứ các thuộc địa khác” 1. Điều lưu ý là, bài báo không chỉ đề cập đến cơ cấu của quân đội Pháp, mà quan trọng hơn là đã đề cập đến vấn đề mà lúc đó các chiến sĩ cách mạng quốc tế ít biệt đến, đó là tính chất “nguy hiểm” của việc sử dụng lính thuộc địa đàn áp cách mạng ở thuộc địa lẫn cách mạng ở “chính quốc” một cách mù quáng, điều “mà người lính Pháp, giác ngộ hơn, có thể từ chối không chịu bước” 2.

Kết quả nghiên cứu đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Người còn phát triển thêm về các thủ đoạn săn bắt “thứ vật liệu biết nói” đó và tình cảnh của người lính bản xứ khi giải ngũ. Người viết: “Thế là những “cựu binh” - đúng hơn là cái xác còn lại - sau  khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lý, nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lý cả” 3. Còn thương binh Pháp và vợ tử sĩ Pháp thì “đều được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện”. 

Thế là trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm tới hai tội ác đối với nhân loại. Một mặt, họ vẫn chưa thoả khi tự tay làm cái việc bỉ ổi của kẻ đầu độc, mà còn muốn lôi kéo vào đây cả những nạn nhân đáng thương hại của cuộc huynh đệ tương tàn nữa. Mặt khác, họ coi rẻ tính mạng và xương máu của những kẻ đã bị họ lừa bịp, đến nỗi tưởng rằng chỉ cần quẳng cho những người này “khúc xương thối ấy” là đủ đền bù được một phần của cánh tay bị mất hoặc mạng của một người chồng.

Sau khi phân tích, kết án chính quyền thuộc địa về kinh tế chính trị, quân sự v.v., nêu rõ đặc trưng thống trị trực tiếp bằng bạo lực của chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Chủ nghĩa đế quốc hiện đại đặt nền móng trên sự bóc lột hàng triệu người lao động ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Bởi thế nó chỉ tan rã hoàn toàn và vĩnh viễn khi nào chúng ta phá bỏ được nền móng đó của lâu đài đế quốc chủ nghĩa” 4.
 
Quan điểm sử dụng bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng còn được Người diễn đạt súc tích, sinh động trong một đoạn vàn nổi tiếng chứa đựng một “lý thuyết” tổng hợp bao gồm luận điểm về chủ nghĩa thực dân và luận điểm cơ bản về mòi quan hệ giữa cách mạng vô sần ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc.

Người viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” 5.

Với hình tượng độc đáo: muốn giết chết con đỉa phải đồng thời cắt cả hai vòi của nó, Nguyễn Ái Quốc đã đúc kết cô đọng lý luận về chủ nghĩa đế quốc thực dân và mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc”, góp phần phát triển lý luận của Các Mác và Lênin về chiến lược đoàn kết giai cấp vô sản quốc tế và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới cùng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc thực dân.

Nghiên cứu cống hiến của Người trong thời kỳ này, Tạp chí Plamêta đã nhận định: “Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến lúc đó vượt hẳn tất cả những gì mà những nhà lý luận mác xít đề cập tới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên một tổng hợp những lý thuyết về sự giải phóng khỏi ách áp bức thực dân, có một sức mạnh không thể chối cãi được” 6.
 
Như vậy, từ năm 1919 đến năm 1925, với việc phân tích một cách khoa học bản chất gây chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp vào việc nâng cao nhận thức cho các chiến sĩ cách mạng, không mơ hồ về âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời góp phần làm phong phú thêm những luận điểm của Lênin về chủ nghĩa đế quốc.


______________________________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.l, tr.201 - 202, 102.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 29.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 126.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.120.
6. Tạp chí Plamêta - Ácxiông, Pa ri, tháng 3-1970.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #61 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2009, 12:00:27 am »

Với việc phân tích âm  mưu, thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa một cách hệ thống, có căn cứ xác thực, Nguyễn Ái Quốc đã làm cho nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp thấy rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, từ đó cảm thông, bênh vực, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Đó là một biện pháp tố cáo chính trị sắc bén.

Theo Lênin, tố cáo “kinh tế” là lời tuyên chiến đói với chủ xưởng thì tố cáo chính trị là lời tuyên chiến đối với chính phủ. Tố cáo chính trị là một trong những phương sách làm tan rã chế độ thù địch, tách kẻ địch ra khỏi những đồng minh ngẫu nhiên và tạm thời của nó. Hệ quả của sự kết án là: do chủ nghĩa thực dân tự bản thân nó đã là “bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”, nên muốn thoát khỏi ách áp bức thực dân, không có con đường nào khác là phải dùng “bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”.

Tư tưởng cách mạng bạo lực theo quan điểm Mác-lênin là một nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Tư tưởng bạo lực cách mạng của Người thống nhất biện chứng với chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, không hề đối lập với tinh thần yêu chuộng hoà bình, xa lạ với các xu hướng phiêu lưu, manh động, khủng bố cá nhân. 

Việc Nguyễn ái Quốc khẳng đình: cách mạng giải phóng thuộc địa phải giữ vững tính chủ động; muốn giết con đỉa phải đồng thời cắt cả hai vòi của nó bằng bạo lực cách mạng nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không những cổ vũ nhân dân Việt Nam đứng lên chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù, mà còn là một trong những cơ sở tư tưởng lý luận cho đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.

3. Tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân, làm cho “dân khí mạnh” để cách mạng thành công.

Sau khi khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản, thì vấn đề tiếp theo là xác định phương pháp cách mạng. Đây là một vấn đề cũng cực kỳ quan trọng, như sau này đồng chí Lê Duẩn trình bày có những trường hợp trong lịch sử, có khi đường lối đúng nhưng phương pháp sai, cách mạng không thể phát triển đi đến thắng lợi.

Để xác định chính xác phương pháp cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đọc nhiều tác phẩm lý luận. Điều mà Nguyễn ái Quốc đặc biệt lưu ý là kết luận của C.Mác, Ph.ăng ghen, V.I.Lênin về bạo lực là quy luật phổ biến của cách mạng và nó có thể diễn ra bằng khởi nghĩa vũ trang, bằng chiến tranh cách mạng hoặc kết hợp giữa các hình thức đó; lưu ý đến những quy tắc và nghệ thuật khởi nghĩa được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng khái quát sâu sắc. 

Người còn quan tâm đến nhiều bài học về khởi nghĩa ở nước Nga năm 1917 do Lêmn trực tiếp tổ chức và lãnh đạo. Nhưng, Người cũng nhận thấy rằng điều kiện đấu tranh dân tộc và giai cấp ở các nước thuộc địa chưa eo lực lượng giai cấp công nhân đông đảo để có thể giác ngộ, tổ chức thành lực lượng hùng hậu cho khởi nghĩa nổ ra ở thành phố như cách mạng Nga.

Bởi vậy, Người theo dõi sát sao các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân dưới các màu sắc khác nhau đang diễn ra lúc đó ở các nước thuộc địa.  Trong khoảng thời gian từ năm 1917 đến năm 1923, nhiều cuộc khởi nghĩa đã liên tiếp nổ ra ở nhiều nước thuộc địa, nhất là các thuộc địa của Pháp và Anh.

Từ thực tiễn của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, các cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào Nam Bộ (Việt Nam) đến các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đahômây, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, ấn Độ..., Nguyễn Ái Quốc đã viết một loạt bài báo phân tích nguyên nhân nổ ra và sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa đó. 

Qua khảo sát thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc rút ra hai kết luận quan trọng. Thứ nhất, theo quy luật, có áp bức có đấu tranh. Nhưng các cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa có những nét riêng biệt so với các cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước “chính quốc”. Họ bị kẻ thù đàn áp khốc liệt.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #62 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2009, 12:14:39 am »

Người viết: “Dân bản xứ, không nhịn nhục được nữa, vùng lên. Thế là cuộc đàn áp đẫm máu được tiến hành. Người ta dùng những biện pháp cương quyết. Người ta đưa quân đội súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến; người ta hạ lệnh giới nghiêm. Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt” 1.

Bởi vậy muốn tổ chức bạo động, phải có kế hoạch chu đáo, có quyết tâm cao, có tổ chức chặt chẽ. Thứ hai, trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa, lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện một lực lượng mới tham gia. Đó là giai cấp công nhân. Nguyễn Ái Quốc coi đó là “dấu hiệu mới của thời đại”. Vấn đề đặt ra là phải tăng cường tình đoàn kết giai cấp cùng chống kẻ thù chung.

Người cho rằng: “Chúng ta phải rút ra những kết luận nghiêm túc từ những sự kiện này 2, cụ thể là : trong các thuộc địa, công nhân đã bắt đầu hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp. Cần phải làm thế nào để cho công nhân da đen và da vàng cũng hiểu rằng: kẻ thù duy nhất của họ nằm ngay trong bản thân cái chế độ này, chế độ đang dẫn đến một chế độ nô lệ tinh vi hơn, nặng nề hơn và vô nhân đạo hơn chế độ trước đây” 3.

Từ những căn cứ lý luận và thực tiễn đó, năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng chính phương pháp cách mạng ở các nước thuộc địa thông qua việc khẳng định vị trí vai trò của khởi nghĩa vũ trang trong tiến trình cách mạng.

Theo Người, công cuộc giải phóng Việt Nam bằng khởi nghĩa vũ trang; khởi nghĩa vũ trang là một phương thức cơ bản để giành chính quyền thông qua việc lật đổ hệ thống chính quyền thực dân thuộc địa, chứ không phải bằng con đường cải cách dần, một cuộc đảo chính giản đơn, hay một cuộc cách mạng từ trên dội xuống như một số người thời đó quan niệm. 

Từ việc khẳng định vị trí, vai trò của khởi nghĩa vũ trang, Nguyễn Ái Quốc đã mường tượng, hình dung cuộc khởi nghĩa ở Việt Nam trong tương lai khi Người nói chuyện với một hoạ sĩ Thuỵ Điển tại Mátxcơva ngày 19 tháng 9 năm 1924.

Sau này Trích Giôhanxơ kể lại: “Được hỏi về suy nghĩ của Người đối với việc giải phóng Việt Nam, Người trả lời: bằng cách khởi nghĩa vũ trang trong cả nước... Người nói chuyện rất say sưa về tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của những người nông dân và công nhân tại Việt Nam. Đó là những “tế bào” có thể hợp thành nạn nhân của cuộc khởi nghĩa mà Người tin chắc chắn sẽ nổ ra” 4.
 
Tuy mới chỉ là nét phác hoạ đầu tiên, nhưng nó đã phản ánh sâu sắc về ý tưởng khởi nghĩa vũ trang của Người. Đó là việc coi trọng vai trò của một lực lượng mới nảy sinh từ chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân tham gia khởi nghĩa và vai trò của lực lượng quân sự trong tiến trình khởi nghĩa. Nhận thức đó ghi dấu son đầu tiên trong tư tưởng khởi nghĩa vũ trang và tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Người.

Cũng trong năm 1924, trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về cơ sở kinh tế, xã hội và tư tưởng phương Đông, Nguyễn Ái Quốc viết “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ”, đề cập đến một vấn đề mới lạ so với quan mềm của thời đó trong Quốc tế Cộng sản, đó là sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc.

Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước.  Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu ly biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917” 5.

Cũng trong báo cáo đó, vấn đề khởi nghĩa vũ trang lại được nêu ra . Người nhận xét rằng: cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương muốn thắng lợi “Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng. . .” 6.


____________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 173.
2. Những sự kiện từ cuộc khởi nghĩa ở Đahômây. Hai bài viết ngày 18 và 30-3-1923. 
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 170.
4. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Hồ Chí Minh - Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 19.
5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.466, 468-469. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #63 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2009, 12:25:54 pm »

Quan điểm đó là cơ sở lý luận của đường lối khởi nghĩa toàn dân trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám. Sau khi đã bước đầu nêu lên những quan điểm cơ bản thuộc về phương hướng chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, vấn đề đặt ra là phải có một đảng tiền phong để lãnh đạo cuộc khởi’ nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước, tiến lên giành những thắng lợi mới trong các giai đoạn tiếp theo. 

Thực hiện kế hoạch đó, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô sang Trung Quốc hoạt động. Ngày 11-11-1924, Người đến Quảng Châu. Trách nhiệm của Người trong đợt công tác này là thực hiện nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao phó: xây dựng phong trào công nhân và cộng sản ở Đông Nam á; thực hiện nhiệm vụ trước Quốc tế Nông dân là xây dựng phong trào nông dân châu á, nơi có nông dân chiếm phần lớn trong cơ dân.

Ngoài hai nhiệm vụ đó, Người đặt ra nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị các điều kiện tiến tới xây dựng chính đảng vô sản ở Việt Nam; trước mắt là mở những lớp huấn luyện cho những thanh niên yêu nước Việt Nam đang có mặt ở Quảng Châu về con đường giải phóng dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Đến Quảng Châu hoạt động, tuy không trực tiếp gặp cụ Phan Bội Châu, nhưng qua trao đổi thư từ do Hồ Tùng Mậu chuyển, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu ý kiến về đường lối hoạt động của Cụ, hướng các hoạt động đó vào con đường cách mạng vô sản. Cụ Phan Bội Châu rất khâm phục và tin tưởng Nguyễn ái Quốc, đã giao cho Người “một bản danh sách 10 người An Nam đã cùng ông hoạt động bấy lâu”1. Mười người đó chính là những thanh niên đầu tiên trong Tâm Tâm xã, trong đó có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, v.v.. 
 
Nguyễn Ái Quốc nghĩ rằng cần phải triển khai công tác tổ chức, hình thành một nhóm trung kiên để hoạt động. Thực hiện ý định đó, Người đã thành lập một nhóm thanh niên cách mạng đầu tiên gồm 9 người. Trong nhóm đó, Người kết nạp được 5 đảng viên dự bị. Người phái hai người về nước hoạt động, ba người ra tiền tuyến hoạt động trong quân đội của Chính phủ Tôn Dật Tiên, một người đi công cán quân sự. 

Tháng 6-1925, từ nhóm cách mạng đầu tiên đó, Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, một đoàn thể cách mạng có xu hướng Mác xít lêninnít, hạt nhân lãnh đạo Hội là những người cộng sản. Nhiệm vụ trước mắt của những người cộng sản trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên là phải tiến hành đấu tranh tư tưởng nhằm loại trừ chủ nghĩa cải lương, đồng thời phê phán khuynh hướng cách mạng nửa vời của giai cấp tiểu tư sản; giải thích cho quần chúng hiểu và phân biệt được tư tưởng cách mạng và tư tưởng cải lương. 

Công việc tiếp theo là phải tổ chức được hệ thống đường dây liên lạc với trong nước để đưa đón thanh niên trong nước đến Quảng Châu dự các khoá huấn luyện chính trị và quân sự. Về việc này, Nguyễn Ái Quốc dựa vào đường dây của Tâm Tâm xã Người chủ trương khai thác và sử dụng các trạm giao thông đưa người xuất dương đã hình thành từ thời các phong trào Cần Vương, Đông Du 2.
 
Hoạt động ở Quảng Châu trong thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc còn tranh thủ các điều kiện thuận lợi khác nhằm chuẩn bị trước đội ngũ cán bộ quân sự để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng sau này.

Trước đó, tháng 1-1924, Đại hội Quốc dân Đảng Trung Quốc thông qua Nghị quyết mời cố vấn quân sự xô viết và chủ trương xây dựng lực lượng vĩl trang theo mẫu hình quân đội Liên Xô do Lênin sáng lập. Kế đó, Chính phủ Tôn Dật Tiên quyết định xây dựng Trường Quân sự Hoàng Phố để đào tạo đội ngũ sĩ quan khung và giúp đỡ các nước láng giềng trong việc đào tạo, huấn luyện cán bộ. Nguyễn Ái Quốc cử nhiều cán bộ đi học ở Trường Quân sự Hoàng Phố.

Trường Quân sự Hoàng Phố tồn tại ba năm và đã đào tạo được 5 khoá.  Từ khoá ba đến khóa năm, khoá nào cũng có học sinh Việt Nam theo học. Theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng hơn 20 học viên  3  theo học ở trường này. Tại đây, các học viên được học những kiến thức quân sự cơ bản theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm những quan điểm mác xít về chiến tranh hiện đại, về nghệ thuật quân sự, về những nguyên lý xây dựng quân đội cách mạng, những kinh nghiệm tác chiến trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau của quá trình đấu tranh quân sự.


______________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 8.
2. Xem: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1924-1927), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 53.
3. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 114 . 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #64 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2009, 12:29:26 pm »

Nhiều người học ở Trường Quân sự Hoàng Phố sau này đã trở thành những nhà quân sự xuất sắc của cách mạng Việt Nam như Lê Quốc Vọng (Lê Thiết Hùng), Lý Đức Lan (Nguyễn Sơn), Mạnh Văn Liễu (Phùng Chí Kiên) v.v..

Bên cạnh cử cán bộ đi học quân sự ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Nguyễn Ái Quốc còn tổ chức Trường huấn luyện chính trị của cách mạng Việt Nam. Trường đặt tại ngôi nhà 13-13B đường Văn Minh nay là nhà 248 và 250): Nguyễn Ái Quốc là giảng viên chính, đồng thời là người lãnh đạo các khoá huấn luyện.

Tranh thủ điều kiện thuận lợi, Người đã mời nhiều cố vấn quân sự Xô viết bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên, trong số đó có Ga lin, sau này là nguyên soái Liên Xô, đến giảng dạy trong nhiều khoá. Từ đầu năm 1926 đến tháng 4-1927, Người đã trực tiếp mở ba khoá huấn luyện gồm 75 học viên. Nếu tính cả các khoá khác của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên mở mà Nguyễn Ái Quốc không trực tiếp giảng dạy (Người đã sang Liên Xô) thì có khoảng 200 người 1.

Số cán bộ được đào tạo tại Trường huấn luyện chính trị được trang bị kiến thức cơ bản về chính trị và quân sự. Đây là vốn quý của cách mạng Việt Nam, là vốn ban dầu để xây dựng quân đội cách mạng sau này.  Năm 1927, các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại Trường huấn luyện chính trị đã được Bộ tuyên truyền Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức á Đông tập hợp lại, in thành sách với nhan đề Đường Kách mệnh năm 1927.

Trong tác phẩm đó, Người đã tổng kết kinh nghiệm nhiều cuộc cách mạng điển hình trên thế giới như cách mạng tư sản Mỹ, Anh, Pháp... và Cách mạng Tháng Mười Nga.  Cách mạng tư sản Pháp và Mỹ là những cuộc cách mạng “không đến nơi, vì chưa giải phóng quần chúng lao động, chưa mang lại hạnh phúc cho số đông nhân dân. Cách mạng Nga là một cuộc cách mạng “đã thành công và thành công đến nơi”, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật” 2.

Người chỉ rõ cách mạng Việt Nam trước hết là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam.  Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đó có quan hệ mật thiết với cách mạng giải phóng giai cấp đánh đuổi tư bản, địa chủ, giải phóng giai cấp công, nông và các tầng lớp lao động khác.

Bởi vậy: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người.  Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” 3.

Tư tưởng đó là nền tảng cho đường lối chiến lược giải phóng dân tộc tiến lên xã hội chủ nghĩa. Trong tác phẩm Đường lách mệnh, Người khái quát sâu sắc những vấn đề then chốt nhất để thực hiện cuộc “cách mệnh đến nơi”. Đó là phải theo chủ nghĩa Mác - Lênin, phải có đảng “vững bền”, phải lấy “dân chúng (công nông) làm gốc” 4.

Thực hiện chiến lược đoàn kết quốc tế, cùng giúp đỡ nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Người đặc biệt nhấn mạnh công tác xây dựng Đứng nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: Trước hết phải có đảng cách mệnh. Đảng có vững cách mệnh mới thành công. Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” 5.

Khẳng định phương pháp cách mạng Việt Nam, Người nêu rõ: "Biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắn làm được" 6. Trong cuộc đấu tranh đó, quần chúng nhân dân có vai trò to lớn “cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc một hai người” 7. (dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại” 8.


____________________________
1. Theo: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1924-1927), Sđd, tr 57.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.280.
3, 4, 5, 6, 7, 8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 270, 280, 268, 267, 262, 274.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #65 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2009, 12:33:31 pm »

Người phê phán mọi hành động cực đoan, làm liều, ám sát cá nhân và cho rằng ám sát là làm liều, kết quả ít. Xác định chính xác động lực cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ: “Cách mạng thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được” 1; công nông là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn của cách mạng công nông. 

Ngoài ra, Người còn giới thiệu những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị, bãi công đến tổng bãi công chính trị, tiến lên khởi nghĩa vũ trang và nghệ thuật chọn thời cơ khởi nghĩa.

Người còn cổ vũ các chiến sĩ cách mạng và quần chúng tấm gương của nhân dân Pháp trong cuộc cách mạng tư sản “Dân Pháp tuy lương thực ít, súng ống thiếu, nhưng chỉ nhờ gan cách mệnh mà trong dẹp nổi loạn, ngoài phá cường quyền. Hồi ấy lính cách mệnh gọi là “lính không quần” *, người không có nón, kẻ không có giày, áo rách quần tua, mặt gầy, bụng đói. Thế mà lính ấy đến đâu, thì lính ngoại quốc thua đấy, vì họ gan liều hy sinh quá không ai chống nổi” 2 .

Trong tác phẩm Đường Kách mệnh Người còn đề cao tinh thần độc lập, chủ động, sáng tạo trong cách mạng, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” 3. Như vậy, tác phẩm Đường Kách mệnh đề cập đến nhiều vấn đề then chốt của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng chính trị bao trùm là thực hiện ở Việt Nam cuộc cách mạng “đến nơi” với mục tiêu cách mạng là độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu đó cũng là mục tiêu của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, gắn cứu nước với cứu dân, giải phóng Tổ quốc và xây dựng chế độ mới tốt đẹp 1. Quan điểm quân sự là xây dựng, phát huy sức mạnh toàn dân Việt Nam, làm cho “dân khí mạnh ‘ để giải phóng dân tộc. Quan điểm quân sự đó chi phối mọi hoạt động quân sự sau này; có dân thì có tất cả, “xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. 

Giữa năm 1927, tình hình Trung Quốc có nhiều biến động. Tập đoàn quân phiệt Tưởng Giới Thạch gây phản biến.  Trước tình hình đó, Nguyễn ái Quốc rời Quảng Châu sang Mátxcơva, rồi từ đó, Người sang Đức, bí mật trở lại nước Pháp, lại qua Đức, Bỉ, Italia, rồi từ Italia đáp tàu biển của Nhật Bản tới Thái Lan vào năm 1928. Trong thời gian ngắn ở Mátxcơva, Người viết tập sách nhan đề “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân” 4.

Trong tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra luận điểm quan trọng: cách mạng vô sản ở những nước nông nghiệp không thể thắng lợi nếu như giai cấp vô sản không được quần chúng nông dân tích cực ủng hộ. Do đó, giai cấp vô sản không được quên rằng cần phải có một chính sách đúng đắn để tập hợp phong trào nông dân, làm cho phong trào đó thoát khỏi tình trạng rời rạc, biệt lập, không có cương lĩnh chung.

Người khẳng định rằng: “Một phong trào cách mạng quan trọng trong nông dân, nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang chống lại chính quyền của bọn thống trị”, “phải hình thành các đội du kích nông dân” 5.

Trường quân sự của những người cộng sản Đức tại Mátxcơva dùng tác phẩm đó làm tài liệu giảng dạy. Đối với cách mạng Việt Nam, đây là những tri thức quý báu, về sau được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng.

Trong thời gian này, phong trào yêu nước và dân chủ ở trong nước có những chuyển biến mới. Thông qua cuộc vận động “vô sản hoá” của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên , phong trào công nhân trong cả nước ngày càng phát triển. Tuy nhiên, từ trong phong trào cách mạng, ở cả ba miền đã xuất hiện ba tổ chức cộng sản “cùng một mục đích nhưng chia rẽ về tổ chức và hành động” 6.


_______________________
* Quân đội cách mạng Pháp thành lập năm 1793, gồm phần lớn là nông dân và thợ thủ công nghèo. Họ không được trang bị quần ngắn như quân đội của bọn quý tộc. 
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 276, 272, 293.
4. Xem Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình hình thành và chiến thắng của quân đội ta. Tạp chí Cộng sản, số 24 tháng 12 năm 1999.
5. Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại trường Đại học Da xao năm 1990 ở Cộng hoà dân chủ Đức. Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh - Quá trình hình thành và phát triển, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1993, tr. 23.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #66 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2009, 12:41:41 pm »

Nhận được những tin tức về tình hình phân tán, cạnh tranh lẫn nhau của các nhóm cộng sản ở trong nước, với sự nhạy cảm chính trị và với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết, định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc khẩn trương chuẩn bị văn kiện và triệu tập Hội nghị hợp nhất các nhóm cộng sản, thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 3-2-1930, Hội nghị hợp nhất các nhóm cộng sản khai mạc tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc). Sau những ngày làm việc khẩn trương trong hoàn cảnh bí mật, các đại biểu dù Hội nghị “đều tán thành ý kiến của đại biểu quốc tế” 1, nhất trí thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt Sách luộc vắn tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.   

Chánh cương vắn tắt “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội  cộng sản” 2. Nhiệm vụ của cách mạng là đánh đuổi đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập nhân dân được tự do, lấy ruộng đất của thực dân Pháp và phong kiến chia cho nông dân nghèo. Thành lập chính phủ công nông binh. Tổ chức ra quân đội công nông.

Các nhiệm vụ đó bao hàm hai nội dung dân tộc và dân chủ, trong đó nổi lên mục tiêu trước mắt là giành lấy độc lập tự do cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Sách lược vắn tắt chủ trương Đảng phải hết sức thu phục, tập hợp được đông đảo quần chúng công nông, liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông v.v. để kéo họ tham gia cách mạng.

Còn với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ . Khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, nhất thiết không được nhân nhượng, thoả hiệp, có hại cho lợi ích của công nông, không được hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác.

Lời kêu gọi báo cho toàn thể nhân dân Việt Nam biết rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Từ nay, Đảng sẽ lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh “nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta” 3.
 
Phân tích âm mưu, thủ đoạn quân sự của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời chỉ rõ nguy cơ tiềm tàng của một cuộc đại chiến thế giới mới. Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: mâu thuẫn gay gắt về kinh tế giữa các nước đế quốc chủ nghĩa đã gây ra chiến tranh thế giới 1914-1918. Sau cuộc chém giết đẫm máu đó, thế giới chia ra làm hai mặt trận: mặt trận cách mạng gồm các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản bị bóc lột trên toàn thế giới và mặt trận của chủ nghĩa đế quốc, “tổng hành dinh là Hội Quốc liên” 4.

Lời kêu gọi viết tiếp: “Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị. Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác” 5. Đối với đế quốc Pháp, chúng ngày càng tăng cường quân đội để giết hại cách mạng Việt Nam, chuẩn bị cuộc chiến tranh đế quốc nữa ở Thái Bình Dương nhằm chiếm thêm thuộc địa.

Sau cùng, Người khẳng định: sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quốc Pháp đã làm cho đồng bào hiểu rằng có cách mạng thì sống, không có cách mạng thì chết. Chính vì vậy, phong trào cách mạng ngày càng mạnh, nhân dân cả nước vùng dậy chống bọn đế quốc . 

Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt Lời kêu gọi là những văn kiện thuộc Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Với Cương lĩnh đầu tiên đó, cách mạng Việt Nam đã có một đường lối mang bản chất cách mạng và khoa học mà nội dung cốt lõi và bao trùm là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đường lối đó giải quyết nhiệm vụ dân tộc dân chủ trên lập trường giai cấp công nhân, nhuần nhuyễn quan điểm dân tộc với quan điểm giai cấp quan điểm quốc gia với quan điểm quốc tế, nhấn mạnh việc quy tụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, của nhân dân cả nước “vùng dậy chống bọn đế quốc” 6. 


___________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr 10.
2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 216.
4, 5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 14, 15.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Năm, 2009, 12:51:47 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #67 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2009, 12:59:57 pm »

Trong khi Nguyễn Ái Quốc xác định chính xác đường lối, mục tiêu, động lực cách mạng Việt Nam, xác định đúng đối tượng của cách mạng thì, Quốc tế Cộng sản do thiếu thông tin, thiếu thực tế về phương Đông và tình hình các nước thuộc địa ở Đông Nam Á, hơn nữa trong thời điểm sau Đại hội VI (1928) khuynh hướng “tả” giữ vai trò chủ đạo nên chưa thấy đúng khả năng và lực lượng các giai cấp và tầng lớp khác ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân, chủ trương không liên minh với tư sản dân tộc và phú nông.

Tiếp đó, Người lại bị đế quốc Anh bắt giam trái phép ở Hồng Công (6-1931). Sau khi thoát ra khỏi nhà tù (1-1933), Người trở lại Liên Xô, nhưng trong “tình trạng” 1 không được giao nhiệm vụ. Mặc dù đây là thời kỳ Người gặp thử thách gay go và kiên trì quan điểm tư tưởng của mình (1931-1940), nhưng Người vẫn rất quan tâm đến tình hình trong nước nêu nhiều ý kiến với Quốc tế Cộng sản và Trung ương Đảng nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam trong nước phát triển.

Trong những năm 1930-1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, nhưng từ phong trào cũng bộc lộ thiếu sót và bị kẻ thù sử dụng vũ lực đàn áp khốc liệt. Cuối năm 1930, trong một báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc trình bày rõ quan điểm của mình là hoan nghênh chính quyền xô viết và coi đó là sáng kiến to lớn của quần chúng cách mạng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nhưng Người không tán thành chủ trương bạo động vì chưa có đủ điều kiện thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa.

Người cho rằng đường lối chung của cách mạng Việt Nam trong nhưng năm 1930- 1931 là “Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân, chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa ở địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền)”.

Theo Người, tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc dấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia .  “Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân” 2.

Người phê bình việc giải tán các đội tự vệ ở một số địa phương, coi đó là điều sai lầm. Để các đội tự vệ hoạt động đúng, phải làm cho các đội viên và quần chúng nhận rõ “mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình” 3.

Sau khi phát biểu quan điểm không tán thành chủ trương bạo động do chưa có đủ điều kiện thắng lợi trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh và nêu quan điểm về tổ chức và hoạt dộng của lực lượng tự vệ, Nguyễn Ái Quốc khẩn thiết đề nghị Quốc tế Cộng sản, các đảng cộng sản trên thế giới quan tâm hơn nữa đồi với phong trào cách mạng Việt Nam bằng cách viết thư động viên, cổ vũ phong trào, góp ý kiến trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ tinh thần và vật chất, làm hậu thuẫn vững chắc cho phong trào cách mạng Việt Nam.

Người còn yêu cầu Quốc tế Cộng sản ra lời hiệu triệu các Đảng Cộng sản, nhất là với Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và nhân dân lao động then thế giới mở một chiến dịch lên án thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp dã man các cuộc biểu tình: khủng bố và đốt phá làng mạc ở Việt Nam. 

Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và sự chỉ đạo sát hợp với tình hình của Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng trong cả nước tập trung đấu tranh chống khủng bố trắng, bảo vệ Xô viết Nghệ - Tĩnh, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống mọi thủ đoạn lừa bịp của địch. 

Năm 1934, sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc, sang Liên xô, Người gặp lại Đ. Manuinxki, P.Míp, V.Valaxihêva... và sau đó gặp Đimitơrốp và nhiều thành viên khác của Quốc tế Cộng sản. Nhận thấy sự non yếu trong nhận thức lý luận cách mạng của phần đông đảng viên cộng sản ở các nước thuộc địa, ngày 16-1-1935, Người viết thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản đề xuất một yêu cầu “tuyệt đối cần thiết” là phải tạo điều kiện để các đồng chí trẻ Việt Nam và các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á tiếp thu những kiến thức sơ đẳng nhất, kể cả về quân sự mà mỗi chiến sĩ cách mạng cần phải có.


________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 90.
2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.567.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #68 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 09:37:15 pm »

Trong khi Nguyễn Ái Quốc xác định chính xác đường lối, mục tiêu, động lực cách mạng Việt Nam, xác định đúng đối tượng của cách mạng thì, Quốc tế Cộng sản do thiếu thông tin, thiếu thực tế về phương Đông và tình hình các nước thuộc địa ở Đông Nam Á, hơn nữa trong thời điểm sau Đại hội VI (1928) khuynh hướng “tả” giữ vai trò chủ đạo nên chưa thấy đúng khả năng và lực lượng các giai cấp và tầng lớp khác ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân, chủ trương không liên minh với tư sản dân tộc và phú nông.

Tiếp đó, Người lại bị đế quốc Anh bắt giam trái phép ở Hồng Công (6-1931). Sau khi thoát ra khỏi nhà tù (1-1933), Người trở lại Liên Xô, nhưng trong “tình trạng” 1 không được giao nhiệm vụ. Mặc dù đây là thời kỳ Người gặp thử thách gay go và kiên trì quan điểm tư tưởng của mình (1931-1940), nhưng Người vẫn rất quan tâm đến tình hình trong nước nêu nhiều ý kiến với Quốc tế Cộng sản và Trung ương Đảng nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam trong nước phát triển.

Trong những năm 1930-1931, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, nhưng từ phong trào cũng bộc lộ thiếu sót và bị kẻ thù sử dụng vũ lực đàn áp khốc liệt. Cuối năm 1930, trong một báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc trình bày rõ quan điểm của mình là hoan nghênh chính quyền xô viết và coi đó là sáng kiến to lớn của quần chúng cách mạng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nhưng Người không tán thành chủ trương bạo động vì chưa có đủ điều kiện thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa.

Người cho rằng đường lối chung của cách mạng Việt Nam trong nhưng năm 1930- 1931 là “Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân, chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa ở địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền)”.

Theo Người, tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc dấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia .  “Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân” 2.

Người phê bình việc giải tán các đội tự vệ ở một số địa phương, coi đó là điều sai lầm. Để các đội tự vệ hoạt động đúng, phải làm cho các đội viên và quần chúng nhận rõ “mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình” 3.

Sau khi phát biểu quan điểm không tán thành chủ trương bạo động do chưa có đủ điều kiện thắng lợi trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh và nêu quan điểm về tổ chức và hoạt dộng của lực lượng tự vệ, Nguyễn Ái Quốc khẩn thiết đề nghị Quốc tế Cộng sản, các đảng cộng sản trên thế giới quan tâm hơn nữa đồi với phong trào cách mạng Việt Nam bằng cách viết thư động viên, cổ vũ phong trào, góp ý kiến trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ tinh thần và vật chất, làm hậu thuẫn vững chắc cho phong trào cách mạng Việt Nam.

Người còn yêu cầu Quốc tế Cộng sản ra lời hiệu triệu các Đảng Cộng sản, nhất là với Đảng Cộng sản Pháp, giai cấp công nhân và nhân dân lao động then thế giới mở một chiến dịch lên án thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp dã man các cuộc biểu tình: khủng bố và đốt phá làng mạc ở Việt Nam. 

Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và sự chỉ đạo sát hợp với tình hình của Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng trong cả nước tập trung đấu tranh chống khủng bố trắng, bảo vệ Xô viết Nghệ - Tĩnh, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống mọi thủ đoạn lừa bịp của địch. 

Năm 1934, sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc, sang Liên xô, Người gặp lại Đ. Manuinxki, P.Míp, V.Valaxihêva... và sau đó gặp Đimitơrốp và nhiều thành viên khác của Quốc tế Cộng sản 4. Nhận thấy sự non yếu trong nhận thức lý luận cách mạng của phần đông đảng viên cộng sản ở các nước thuộc địa, ngày 16-1-1935, Người viết thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản đề xuất một yêu cầu “tuyệt đối cần thiết” là phải tạo điều kiện để các đồng chí trẻ Việt Nam và các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á tiếp thu những kiến thức sơ đẳng nhất, kể cả về quân sự mà mỗi chiến sĩ cách mạng cần phải có.


______________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 90.
2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.567.
4.  Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1993, t.2, tr 45.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Sáu, 2009, 09:42:06 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #69 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 09:41:17 pm »

Người đề nghị Ban phương Đông xuất bản những cuốn sách nhỏ viết về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề khởi nghĩa vũ trang. Do tư tưởng đúng đắn và hoạt động có hiệu quả, nên uy tín và ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc trong Đảng rất lớn. Đại hội I của Đảng ở Ma Cao (1935) đã cử Nguyễn Ái Quốc là đại biểu chính thức của Đảng cùng với Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Nọn đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản.

Đến những năm 1937, 1938, tình hình thế giới ngày càng biến đổi sâu sắc. Loài người đứng trước ngưỡng của của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cuối năm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Diên An (Trung Quốc) rồi từ đó đi cùng một đơn vị Hồng quân công nông vượt lục địa xuống Hoa Nam công tác.

Trong thời gian ở Hoa Nam, lấy bí danh là Hồ Quang, Người cùng với Diệp Kiếm Anh tham gia huấn luyện “lớp đào tạo cán bộ du kích Nam Nhạc” 1 khoá II từ ngày 20-6 đến ngày 20-9-1939. Vừa hoạt động trong Tập đoàn quân thứ 18 Bát lộ quân Trung Quốc, Người vừa tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước. 

Trong nửa đầu năm 1939, với bút danh P.C.Linh, Người viết nhiều bài gửi về nước đăng trên tuần báo Tiếng nói của chúng ta (Notre voix), tờ tuần báo công khai của Đảng viết bằng tiếng Pháp xuất bản tại Hà Nội.

Nhằm loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa Trốtxki để tăng cường khối đoàn kết toàn dân trong đấu tranh cách mạng, Nguyễn Ái Quốc viết ba bài đề cập đến vấn đề trốtkít.  Người tập trung phân tích nguồn gốc, biểu hiện những thủ đoạn hoạt động hèn hạ của chúng và giới thiệu kinh nghiệm thành công chống chủ nghĩa Trốtxki ở nhiều nước.

Người truyền đạt về nước chỉ thị của Quốc tế Cộng sản mà Người nhớ (do hoạt động bí mật): “Đối với bọn trốtkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị” 2.

Sở dĩ vấn đề được lưu ý như vậy, vì Người nắm chắc tình hình trong nước. Thực tế trong nước lúc đó bọn trốtkít do Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh. . . cầm đầu đang ráo riết hoạt động, gây nhiều tiêu cực, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân.

Trong bối cảnh đó, những bài viết của Người về vấn đề trên đã cung cấp cho Đảng ta nhiều kinh nghiệm quý của quốc tế, có giá trị lớn trong việc củng cố, tăng cường lực lượng cách mạng.  Bên cạnh ba bài viết đề cập đến vấn đề trốtkít, phần lớn các bài viết khác, Nguyễn Ái Quốc bàn về vấn đề quân sự. 

Trong các bài “Người Nhật Bản muốn khai hoá Trung Quốc như thế nào”, “Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật”, “Những khó khăn của quân đội Nhật”, “Tổng kết sau hai năm đấu tranh” v.v..  Người đã tập trung phân tích những âm mưu, thủ đoạn quân sự của chủ nghĩa phát xít Nhật, đồng thời nêu rõ những vấn đề cơ bản đảm bảo cho cuộc kháng chiến chống phát xít giành được thắng lợi.

Về nhiệm vụ cơ bản của cơ quan lãnh đạo kháng chiến, Người cho rằng, trước hoạ xâm lăng, sứ mạng lịch sử của cơ quan lãnh đạo kháng chiến là “đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đôi với việc động viên và tổ chức nhân dân” 3.

Nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân là kiên quyết tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, khắc phục mọi khó khăn, tăng cường lực lượng kháng chiến. Sự đoàn kết, nhất trí giữa cơ quan lãnh đạo kháng chiến với nhân dân là điều cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy.

Muốn kháng chiến thắng lợi, nhân dân phải toàn tâm đóng góp sức mạnh vật chất và tinh thần, tăng cường đoàn kết, tích cực xây dựng đất nước. Phải đấu tranh chống lại mọi khuynh hướng thoả hiệp, đầu hàng.



__________________________
1. Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nxb. Quân giải phóng, Bắc minh, 1990, bản dịch lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.138.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 101
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM