Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:08:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kissinger-Những biên bản hội đàm tuyệt mật chưa công bố  (Đọc 173139 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #220 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2010, 08:40:08 pm »

Kít-sinh-gơ; Về vấn đề quân đội thông thường, mỗi bên đều có nổi lo riêng. Nhưng về vấn đề hải quân, tôi tin rằng chúng tôi có ưu thế hơn nhiều.

Đặng Tiểu Bình: Tốc độ phát triển của Liên Xô rất nhanh. Nếu Liên Xô phát động cuộc chiến, thì có khả năng không phải là chiến tranh hạt nhân, nhiều khả năng là chiến tranh thông thường, vì vậy không thể coi thường vũ khí thông thường trong tình hình này.

Kít-sinh-gơ: Tôi hoàn toàn đồng ý. Các nước châu Âu tồn tại vấn đề này không phải là hải quân, mà là quân đội thường trực mặt đất. Nhưng tôi xin lưu ý Ngài, gần đây chúng tôi tăng thêm vài sư đoàn.

Đặng Tiểu Bình: Nhưng tỷ lệ tăng quân của các Ngài ít hơn Liên Xô rất nhiều.

Kít-sinh-gơ: Đúng là như vậy. Theo tôi, đây là điều nguy hiểm đối với Liên Xô. Trước tiên không đánh lớn, Liên Xô sẽ không thể giành được thắng lợi quyết định ở châu Âu. Và chúng tôi sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân trong tình huống này.

Đặng Tiểu Bình: Trong tình huống đó, sức công phá của Liên Xô ngang với các Ngài, liệu các Ngài, còn quyết định được dễ dàng không?

Kít-sinh-gơ: Sức công phá của Liên Xô khác với chúng tôi .

Đặng Tiểu Bình: Không đủ thực lực để đối phó với cuộc tấn công đầu tiên?

Kít-sinh-gơ: Đúng vậy. Tôi xin giải thích qua với Ngài về cấu tạo của lực lượng vũ trang, bởi hiện nay ở Mỹ có một số người ăn nói lung tung với dụng ý xấu gây nên sự hiểu nhầm.

Chúng tôi có 1054 tên lửa phóng đi từ căn cứ bờ biển, có 656 tên lửa phóng đi từ tầu ngầm, 435 máy bay ném bom B-52, 300 máy bay ném bom F-111. Chúng tôi chưa kiểm lại vì nhiều lý do. Đó chỉ là vũ khí chiến lược. Ngoài ra chúng tôi còn có 4500 máy bay đóng tại châu Âu, và hơn 700 chiếc trên các hàng không mẫu hạn. Chúng tôi đã có kế hoạch bắt đầu từ năm 1979 ít nhất là sản xuất thêm 240 tên lửa "Tri-dơn" trang bị cho tàu ngầm.

Đặng Tiểu Bình: Chẳng phải là các Ngài đang vi phạm Hiệp ước ư?

Kít-sinh-gơ: Không phải. Lát nữa tôi sẽ giải thích về Hiệp ước. Chí ít là sản xuất thêm 250 máy bay ném bom B-1. Nhưng 240 hay 250 chỉ là con số trên kế hoạch. Một khi đi vào sản xuất thì chúng tôi muốn có bao nhiêu thì sản xuất bấy nhiêu. Về tên lửa, khoảng 1000 tên lửa phóng đi từ căn cứ bờ biển. Năm 73 trở về trước không có chuyện này. Lát nữa tôi sẽ giải thích với Ngài về nguyên nhân.

Trước đó, chúng tôi duy trì sản xuất tên lửa "Tri-dợn", đến năm 1979 sẽ xuất hiện hàng loạt tên lửa "Tri-dơn". Chúng tôi không nhất thiết dùng nó để trang bị cho tàu ngầm. Nếu muốn, chúng tôi có thể đặt nó trên mặt đất. Vì thế, Liên Xô muốn tấn công vào 1000 tên lửa, trong khi chúng tôi có hơn 1500 tên lửa, thì quả là một hành động ngu xuẩn, cho dù họ có đập tan tất cả các căn cứ phóng ở bờ biển, mà đó là điều họ không bao giờ làm được.

Đặng Tiểu Bình: Vì vậy, bất kể là bên nào nếu sử dụng vũ khí hạt nhân tấn công đối phương, thì đó là điều phải xem xét cực kỳ thận trọng.

Kít-sinh-gơ: Đó là điều không cần nghi ngờ gì nữa. Tôi đang trả lời về vấn đề liệu Liên Xô có thực hiện được đòn tấn công đầu tiên không. Theo quan điểm của tôi, không có khả năng đó, chúng ta hãy xem xét từ mặt trái của vấn đề.

Tên lửa của Mỹ có khoảng 30% là tên lửa phóng từ căn cứ bờ biển, ngoài ra là tên lửa đặt trên biển và trên máy bay. Tôi xin nói với các Ngài chúng tôi có ý định trang bị tên lửa tầm xa cho máy bay. Về điểm này Liên Xô không thể thực hiện được, bởi máy bay của họ không đủ to.

Lực lượng quân sự của Liên Xô có 85% là tên lửa trên mặt đất. Cho đến nay, tên lửa đặt ở căn cứ trên biển còn rất tồi. Liên Xô chỉ có 120 máy bay có thể bay tới Mỹ, hơn nữa theo tôi biết máy bay đó còn hạn chế về mặt huấn luyện.

Căn cứ theo Hiệp định, thì họ phải giảm số lượng của họ. Họ đã xây dựng lực lượng quân sự của họ một cách tùy hứng. Hiệp định quy định, mỗi bên giữ 2400 máy bay con, số này thấp hơn mức của họ, cao hơn mức của chúng tôi, nếu không tính gộp cả vũ khí trên biển. Do vậy họ phải cắt giảm lực lượng quân sự, theo tôi, họ sẽ tiêu hủy máy bay của mình, nhưng chúng tôi không thể biết được.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #221 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2010, 08:40:56 pm »

Đặng Tiểu Bình: Nhưng sau khi họ giành được sự tiến triển về chất, họ sẽ không vi phạm Hiệp ước.

Kít-sinh-gơ: Chúng tôi cũng sẽ như vậy.

Đặng Tiểu Bình: Chính vì vậy, các Ngài vẫn tiếp tục chạy đua.

Kít-sinh-gơ: Chúng tôi đã quy hoạch xong lực lượng quân sự của những năm 80, mà họ chỉ mới làm xong quy hoạch những năm 70. Đầu những năm 80, lực lượng quân sự mặt đất dễ bị chọc thủng bởi một đòn tấn công. 85% lực lượng quân sự của họ là trên mặt đất, còn chúng tôi chỉ có 35%.

Ngoài ra, từ xưa đến nay họ chú trọng phát triển lực lượng quân sự mặt đất, rất dễ bị tấn công. Còn chúng tôi luôn luôn phát triển lực lượng quân sự hải quân và không quân, những lực lượng quân sự có thể nói khá lợi hại sắc bén. Ví dụ: Họ chưa thí nghiệm nhiều đầu đạn trên tầu ngầm, có nghĩa họ chưa có khả năng đi vào sản xuất trước năm 1980, cũng có nghĩa chúng tôi vượt trước họ 10-15 năm về độ chính xác và kỹ thuật.

Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi ủng hộ các Ngài giữ vững ưu thế đối với Liên Xô về các mặt trên.

Kít-sinh-gơ: Tôi xin nhắc lại, nếu ra đòn phủ đầu chống Liên Xô, chúng tôi sẽ sử dụng lực lượng quân sự trên biển. Lực lượng này sẽ bổ sung vào lực lượng quân sự chiến lược như tôi đã nói với Ngài.

Đặng Tiểu Bình: Theo tôi, hôm nay chúng tôi tìm hiểu vấn đề vai trò của vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường.

Kít-sinh-gơ: Tôi vừa rồi định trả lời Ngài Ngoại trưởng, có khả năng họ ra tay đánh chúng tôi trước. Quả thật, sử dụng vũ khí hạt nhân bây giờ khó khăn hơn nhiều so với 15 năm trước đây. Đó là sự thật.

Kiều Quán Hoa: Ý tôi nói là, nếu Liên Xô sử dụng vũ khí thông thường phát động chiến tranh thì chưa rõ quy mô lớn hay quy mô vừa, trong trường hợp đó các Ngài rất khó quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân.

Kít-sinh-gơ: Giờ đây khó hơn nhiều so với 10-15 năm trước, còn phải xem địa điểm xảy ra tấn công.

Kiều Quán Hoa: Như chúng ta đã trao đổi ở Niu-oóc. Nếu Nam Tư xảy ra sự biến, họ không cần trực tiếp tấn công, nhưng nếu họ khuyến khích phần tử thân Liên Xô sản xuất trang bị quân sự kiểu Xô viết, thì Ngài sẽ tính sao

Kít-sinh-gơ: Nam Tư ư? Sau cuộc hội đàm, tôi đã đến Nam Tư trao đổi vấn đề này với Ti-tô và cộng sự của ông ta. Trước tiên, bắt đầu từ năm tới chúng tôi sẽ bán vũ khí cho Nam Tư. Hiện nay chúng tôi đang nghiên cứu sẽ hành động ra sao nếu xảy ra chuyện. Chúng tôi khẳng định, nhất định phải làm. Nam Tư không giống Tiệp Khắc và Hung-ga-ri, nhưng chúng tôi chưa quyết định sẽ áp dụng biện pháp cụ thể nào.

Nhưng chúng tôi tin rằng nếu quân đội Liên Xô được phép bành trướng thì đó là cái hố không đáy Chính vì vậy, chúng tôi đã phản ứng mạnh mẽ về việc Liên Xô động viên các sư đoàn nhẩy dù trong thời kỳ khủng khoảng Trung Đông. Chúng tôi tin như vậy, một khi được phép phát động cuộc chiến tranh ở ngoài xa biên giới quốc gia, thì Liên Xô lún sâu vào đầm lầy.

Đặng Tiểu Bình: Theo chúng tôi, không chỉ Trung Đông, mà bán đảo Ban-căng cũng là một thùng thuốc súng. Đó là chiến lược cũ xưa của Sa Hoàng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #222 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2010, 08:41:58 pm »

(Sau đó, Kít-sinh-gơ nói. Nếu năm 1975 tổ chức Hội nghị Hợp tác An nính châu Âu (CSCE), Pho sẽ có ý định đi thăm Ru-ma-ni và Nam Tư "chứng tỏ Mỹ quan tâm đến nền độc lập của hai quốc gia trên. Nhưng chúng tôi chưa công khai tin này”. Đặng Tiểu Bình và Kít-sinh-gơ đồng ý sẽ tiếp tục trao đổi khi đủ người dự.

Một tiếng đồng hồ sau đó Đặng Tiểu Bình đã nói về quan hệ Trung-Mỹ và nêu rõ "Mát-xcơ-va tiếp tục răn đe về quân sự và tiến hành lật đổ chống Trung Quốc". Khi Đặng Tiểu Bình hỏi về CSEE, Kít-sinh-gơ nói, “hội nghị này không có khả năng thành công, không thể đạt được bất kỳ một Hiệp định nào có thực chất”. Trở lại vấn đề tranh chấp với Mát-xcơ-va, Đặng Tiểu Bình muốn thuyết phục Kít-sinh-gơ tin rằng "chúng tôi không quan tâm nhiều đến sự đe doạ của Liên Xô.

Đặng Tiểu Bình: Lực lượng quân sự Liên Xô ở phương Đông, nhằm vào hạm đội 7, nhằm vào lực lượng hải quân, không quân của các Ngài.

Kít-sinh-gơ: Người Trung Quốc còn nhiều ưu điểm khác.

Đặng Tiểu Bình: Người Trung Quốc còn có "tiểu mạch và súng trường" cộng với địa đạo.

Kít-sinh-gơ: Tôi chưa bao giờ nhìn thấy địa đạo.

Đặng Tiểu Bình: Đại sứ Bút-sơ không dẫn Ngài đi xem ư? ông ta quên cả nhiệm vụ rồi.

Đại sứ Bút-sơ: Chưa có. Tôi rất vui nếu được đi xem địa đạo.

Đặng Tiểu Bình: Lần sau, Ngài có thể gửi Tiến sĩ một bản báo cáo về địa đạo.

Kít-sinh-gơ: Xin đừng cổ vũ ông ta. Tôi chỉ đọc được bức điện đã đăng trên báo của ông ta trao đổi với Đại sứ Pa-nít Mo-ny-han ở Ấn Độ. . .

Đặng Tiểu Bình: Xem ra, sáng nay chúng ta đã làm việc quá lâu rồi, cần phải ăn cái đã, nếu không cái dạ dày sẽ nổi lên làm cách mạng đấy?

(Sau giờ giải lao, ăn trưa, buổi chiều Đặng Tiểu Bình và Kít-sinh-gơ có cuộc trao đổi rộng rãi về vấn đề quốc tế, bao gồm vấn đề châu Âu, Trung Đông, Nam Á, và Đông Nam Á, vấn đề dầu lửa. Dưới đây trích dẫn một đoạn đối thoại, trong đó Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh việc lập ra Liên minh châu Âu lớn mạnh, nhằm răn đe Liên Xô và mối quan hệ quy luật Âu-Mỹ cần xây dựng trên cơ sở "bình đẳng”)

Kít-sinh-gơ: Tôi đồng ý quan điểm của Ngài. Tôi luôn luôn nói rằng, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là người bạn tốt nhất của chúng tôi trong NATO (cười). Nếu Ngài dự cuộc hội thảo của các Bộ trưởng châu Âu, tôi sẽ chỉ cho Ngài thấy một số vị thu được nhiều lợi lộc nhất. (cười) Các Ngài chắc có ảnh hưởng tốt đối với Thủ tướng Đan Mạch, tuy nhiên các Ngài khó mà kiểm soát được thần kinh của ông ta.

Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi đã có nhiều buổi trao đổi rất tốt.

Kít-sinh-gơ: Rất tốt.

Đặng Tiểu Bình: Thực ra, Thủ tướng Đan Mạch rất sợ chiến tranh.

Kít-sinh-gơ: Bất cứ ai có ý định tấn công Đan Mạch cũng không cần thiết chuẩn bị đánh tới 20 năm, cũng như xây dựng nhiều địa đạo như vậy (cười). Nhưng nói nghiêm túc chúng tôi được biết cuộc trao đổi của các Ngài với các Bộ trưởng châu Âu là rất có kết quả. Chúng tôi cảm thấy thú vị.

(Tiếp sau đó hai bên chuyển sang vấn đề chủ nghĩa Cộng sản châu Âu, vấn đề này đang làm cho Kít-sinh-gơ lo lắng, bởi Đảng Cộng sản I-ta-li và Pháp đang thực hiện một chiến lược "rất có trách nhiệm và được lòng người")
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #223 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2010, 08:44:13 pm »

Kít-sinh-gơ: Phân tích chính sách đối ngoại của chúng tôi, các Ngài nên hiểu rằng chúng tôi phải làm những việc không chỉ nhằm đánh đổ phái tả, mà còn nhằm chống lại phái tả ở châu Âu, nói những điều phù hợp với mục tiêu đó. Song chúng tôi phản đối và kiềm chế Chính phủ các nước châu Âu bao che cho phái tả. Chúng tôi làm như vậy ở Bồ Đào Nha, bởi chúng tôi không muốn Bồ Đào Nha nêu gương cho các nước khác. Chúng tôi cũng làm như vậy ở I-ta-li và cả ở Pháp.

(Tuy Đặng Tiểu Bình tỏ vẻ lạnh nhạt với chủ nghĩa Cộng sản ở châu Âu, cho rằng đó là “bài học phản diện", Kít-sinh-gơ vẫn nhấn mạnh quyết tâm của Chính phủ Mỹ trong hành động "kiềm chế”, bởi nếu Đảng Cộng sản giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử ở Pháp hoặc ở I-ta-ly, thì sẽ có ảnh hưởng mạnh về chính trị đối với NATO và Đức. Ông ta cho rằng, "Nếu Đảng Cộng sản I-ta-ly hoặc Pháp thu được thành công sẽ tăng thêm ảnh hưởng cho Đảng Xã hội dân chủ cánh tả ở Đông Đức".

Sau đó, hai bên trao đổi về tình hình Trung Đông và ý đồ đàm phán của Mỹ. Đặng Tiểu Bình chủ trương cần có một giải pháp "công bằng”. Kít-sinh-gơ đồng ý và cho rằng phải làm nhiều việc hơn nữa, nhằm tỏ rõ coi trọng mục tiêu của các nước Ả-rập, nhưng ông ta cảnh báo rằng "Sẽ có nhiều gay go, nhất là khi 15 quốc gia Ả-rập dồn vào một căn nhà, mà họ thì không phân biệt được đâu là sử thi, đâu là chính sách ngoại giao". Đặng Tiểu Bình đề. nghị Kít-sinh-gơ không nên đánh giá thấp các nước Ả-rập).

Đặng Tiểu Bình: Điểm yếu nhất trong lập trường của Mỹ về vấn đề Trung Đông là các Ngài ủng hộ It-xra-en, nhưng cũng là điểm mạnh nhất của chúng tôi. Bởi lời nói bay theo gió, không thể thay đổi các quốc gia Ả-rập, cũng như Liên Xô. Tất cả những ai mong muốn tiến bộ trong đó có cả người Pa-le-xtin đều đến với chúng tôi.

(Về vấn đề Nam Á, Đặng Tiểu Bình và Kít-sinh-gơ đều cho rằng, Mỹ cần thiết phải khai chiến với Ấn Độ nhằm đẩy Ấn Độ về phía Mát-xcơ-va, khiến cho Oa-sinh-tơn dễ dàng cung cấp viện trợ quân sự của Pa-ki-xtan. Còn các vấn đề khác về thế giới thứ ba, hai bên đã không đi đến nhận thức chung. Đặng Tiểu Bình đã bác bỏ đề nghị của Kít-sinh-gơ về lập một Chính phủ liên hiệp bao gồm Xi-ha-núc và Lon-non cùng với những người ủng hộ ông ta. Về vấn đề năng lượng, Kít-sinh-gơ cảnh báo Đặng Tiểu Bình rằng, Trung Quốc ủng hộ các quốc gia sản xuất dầu lửa, sẽ nguy hại đến châu Âu và Nhật Bản, do đó, ảnh hưởng tới nền an ninh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình làm thinh.

Cuối cùng, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh ba nguyên tắc về bình thường hóa: chỉ có thể tuân theo mô thức Nhật Bản một khi Oa-sinh-tơn chấm dứt Hiệp ước phòng vệ với nhà đương cục Đài Loan, "vấn đề Đài Loan sẽ trở thành do công việc nội bộ do người Trung Quốc tự giải quyết "Trong quá trình này, chúng tôi, không chấp nhận bất kỳ một sự bình luận nào và cam kết nào cũng như bất kỳ sự dính dáng nào". Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình nói, nếu Oa-sinh-tơn thấy cần Đài Loan hơn hoặc có "khó khăn trong nước" Bắc Kinh có thể chờ đợi)

Đặng Tiểu Bình: Theo tôi, chúng ta khó mà kết thúc được cuộc trao đổi về vấn đề này.

Kít-sinh-gơ: Tôi nghĩ vậy.

Đặng Tiểu Bình: Buổi trao đổi dừng lại ở đây. Ngài giải lao một chút. Sau đó tôi mời Ngài đến Nhà hàng thưởng thức món lẩu dê Bắc Kinh.

Kít-sinh-gơ: Tôi cũng đang đợi đây. Tôi chưa được thưởng thức món này.

(Sau khi hoàn tất bước chuẩn bị cuối cùng cho thông cáo họ thỏa thuận hôm sau có cuộc gặp lại với số thành phần hạn chế).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #224 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2010, 08:45:40 pm »

Sáng hôm sau, Kít-sinh-gơ đi tham quan Tử Cấm Thành. Buổi chiều có cuộc gặp với Đặng Tiểu Bình. Họ trao đổi cụ thể về vấn đề đàm phán Trung Đông, trên cơ sở đó điểm lại quan hệ song phương, bao gồm vấn đề sở hữu và vấn đề tài sản. Đặng Tiểu Bình phản đối Mỹ áp đặt luật pháp Mỹ trong đàm phán, nói rằng: "Luật pháp Mỹ không thể chi phối Trung Quốc”. Kít-sinh-gơ bướng bỉnh nói: "Nhiều nghị sĩ cho rằng Trung Quốc chỉ bằng khu ngoại ô của Chi-ca-gô".

Để né tránh "cuộc đàm phán căng thẳng”, Kít-sinh-gơ bày tỏ thông cảm với nỗi lo lắng của Đặng Tiểu Bình về vấn đề bình thường hóa, Kít-sinh-gơ phát hiện Đặng Tiểu Bình không hề thay đổi lập trường. Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh ba nguyên tắc cơ bản và bổ sung thêm: Mình làm mình chịu, Bắc Kinh sẵn sàng chờ đợi cho đến khi Oa-sinh-tơn chuẩn bị xong để giải quyết vấn đề dựa theo 3 nguyên tắc, nhưng đối với Kít-sinh-gơ, vấn đề không phải ở chỗ chấp nhận, mà là thực hiện như thế nào ba nguyên tắc đó.

Đặng Tiểu Bình tuyên bố. Về phương diện quốc nội, Trung Quốc sẽ không đưa ra bất kỳ cam kết hoặc bất kỳ hứa hẹn nào. Kít-sinh-gơ đề nghị ra một tuyên bố chung về vấn đề Đài Loan, trong đó bày tỏ ý muốn "đơn phương của các Ngài”. Đặng Tiểu Bình hỏi: "Thế chúng tôi nói gì trong tuyên bố?" và ông từ chối trao đổi tiếp vấn đề này.

Trong phần trao đổi về tình hình thế giới căng thẳng, Đặng Tiểu Bình trở lại vấn đề Liên Xô đe doạ phương Tây: "Con gấu Bắc cực đang rượt đuổi các Ngài”, "Đại chiến thế giới là một nguy cơ, nhưng chưa chắc đã là một chuyện xấu "Chuyện xấu có thể chuyển hóa thành chuyện tốt".

Nội dung biên bản trích đoạn dưới đây cho thấy, Đặng Tiểu Bình muốn có một sự hoán vị lớn về vai trò của Mỹ trong nền chính trị thế giới. Đặng Tiểu Bình phát biểu về vấn đề này trên lập trường "tuyến đầu Oa-sinh-tơn". Còn Kít-sinh-gơ thì khuyên khéo Đặng Tiểu Bình không nên tự nổ súng vào mình.

Đặng Tiểu Bình: Còn một chuyện nữa... Tiến sĩ nhiều lần đề cập vấn đề nổ súng, xem ra Ngài rất quan tâm chuyện bom đạn.

Kít-sinh-gơ: Xưa nay tôi vẫn cho đào hầm trú ẩn thật sâu.

Đặng Tiểu Bình: Tôi tán thành điểm này. Nhưng cần phải nổ súng. Như Tiến sĩ nói, tần số và độ chính xác của pháo đều đã nâng cao, độ chính xác nâng cao rồi, sẽ khó mà đảm bảo pháo có dừng lại được hay không. Theo chúng tôi cần thiết phải nghiên cứu việc nổ súng có lý do hay không. Vì vậy, tôi nêu lên điểm này để lưu ý các Ngài là điều hữu ích.

Nói một cách khác, hiện nay Mỹ đang đứng ở tuyến đầu trong hàng loạt vấn đề. Tại đây, Tiến sĩ nhiều lần đề cập đến vấn đề năng lượng và thực phẩm. Ngài nói, Tây Âu, Nhật Bản và một số nước khác bị ảnh hưởng rất lớn bởi cuộc khủng hoảng, nhưng họ không ở tuyến đầu.

Kít-sinh-gơ: Về quốc phòng họ cũng không đứng ở tuyến đầu.

Đặng Tiểu Bình: Tất nhiên, không phải trong mọi vấn đề Mỹ đều đứng ở tuyến đầu. Nhưng thời gian gần đây các Ngài đã phải đứng trên tuyến đầu trong nhiều vấn đề. Ngược lại, Liên Xô lùi lại tuyến sau. Ví dụ: Vấn đề Síp và Trung Đông cũng thấy rằng dù nhìn nhận vấn đề Trung Đông ra sao, Mỹ đang dung túng It-xra-en thực hiện bành trướng, nên đã đối đầu với 120 triệu người A-rập. Xét về góc độ chính trị, các Ngài ở vào thế yếu!

Đúng, Tiến sĩ nhiều lần giải thích rằng, đó là do nguyên nhân trong nước, nhưng cho dù nguyên nhân nào đi chăng nữa, một khi các nước Ả-rập không thu hồi được phần lãnh thổ đã mất, thì vấn đề nguyên tắc vẫn chưa được giải quyết. Sách lược không giải quyết được vấn đề, thông cáo cũng không giải quyết nổi vấn đề. Vấn đề Trung Đông, vấn đề Đông dương, vấn đề Triều Tiên đều có một cái chung! Tôi nghĩ rằng, chắc Tiến sĩ không coi quan điểm đó mang ác ý chứ.

Kít-sinh-gơ: Không đâu. Thưa Ngài Phó Thủ tướng. Tôi đã tổng kết lại quan điểm của chúng tôi trên những vấn đề này. Chắc Ngài đã nói xong rồi chứ?

Đặng Tiểu Bình: Đúng vậy.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #225 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2010, 08:45:49 pm »

Kít-sinh-gơ: Tôi đã tổng kết quan điểm của Mỹ về vấn đề này. Tôi chỉ nói hai, ba câu thôi. Trước tiên, tôi tán thành quan điểm của Mao Chủ tịch. Dù sao, chuẩn bị để nhanh chóng chống chiến tranh là điều quan trọng. Chính sách của chúng tôi là phòng ngừa điều bất trắc, chứ không tin ở lời cam kết hoặc hứa hẹn về hoà bình. Nói theo kiểu nói trích dẫn của Ngài, chúng tôi tán thành sự phân tích của Chủ tịch về toàn bộ tình hình. Về phương diện này, phương Đông hay phương Tây bị tấn công chỉ là vấn đề thứ yếu. Bởi cho dù bên nào bị tấn công, cuối cùng chúng tôi cũng phải xem xét.

Tôi tán thành phân tích của Ngài. Nếu phương Tây bị tấn công, phương Đông sẽ bị ảnh hưởng và ngược lại! Và tình huống nào cũng ảnh hưởng tới chúng ta, điều đó không phải là bất đồng giữa chúng ta. Thi hành một biện pháp giống nhau cho nhiều tình huống sẽ để lại hậu quả cho chúng ta. Còn về việc nước Mỹ đứng trên tuyến đầu, là sự nhấn mạnh đặc biệt của các Ngài với chúng tôi trong khi phân tích tình hình.

Ngài Phó Thủ tướng đã vạch ra một cách chính xác rằng, cho dù là nạn nhân chính, nhưng châu Âu và Nhật Bản không đứng trên tuyến đầu của cuộc khủng hoảng năng lượng. Và theo sự phân tích của các Ngài, họ cũng không đứng ở tuyến đầu trong vấn đề quốc phòng. Về nguyên nhân, có rất nhiều, có dịp thỉnh thoảng chúng ta trao đổi vấn đề này cũng rất thú vị. Các quốc gia này đã có được vai trò chủ yếu và họ tiếp tục tồn tại, dựa vào sự ủng hộ to lớn của Mỹ. Đó là sự thực lịch sử. Vì vậy, trong tình hình đó, dựa vào bản thân, họ không thể trở thành thế giới thứ hai. Nếu quả thật họ trở thành thế giới thứ hai, thì thuận tiện cho chúng ta biết mấy.

Dù sao, chúng tôi cũng tin vào lời nói của Ngài về vấn đề bình đẳng trong quan hệ bè bạn. Vì thế, về vấn đề năng lượng, tôi xin nói rõ quan điểm của tôi, đó là: Châu Âu và Nhật Bản đều không thể có được vai trò chiến lược như tôi và Ngài đã tán đồng, nếu họ không thể đẩy lùi sức ép kinh tế đang lung lay. Đó là nguyên nhân vì sao chúng tôi lại đứng trên tuyến đầu.

Về vấn đề Trung Đông, tôi đã giải thích với Ngài về sách lược phức tạp của chúng tôi. Tôi tán thành quan điểm của Ngài. Nếu không có giải pháp cơ bản, thì phương án sách lược không thể lâu dài. Vì vậy, chúng ta có nhận thức chung trên điểm này. Tôi đã nói rõ với Ngài, chiến lược trong tương lai chúng tôi là gì rồi, và chiến lược của họ sẽ sản sinh ra giải pháp cơ bản bền bỉ. Ngài Phó Thủ tướng đã hiểu mình qua cuộc đời làm chính trị và quân sự, và biết rằng những biến đổi nhỏ tích tụ được khá nhiều, sớm muộn sẽ tạo ra sự biến đổi lớn

Về vấn đề vị trí của Síp, Trung Đông và Liên Xô, theo tôi Liên Xô không làm gì, chỉ to tiếng thế thôi. Trong những vấn đề này, chúng tôi thà không đứng ở tuyến đầu. Trong vấn đề Síp chúng tôi từng có ý định đẩy nước Anh lên tuyến đầu, nhưng lại nảy sinh những vấn đề phức tạp. Còn vấn đề nổ súng, chúng tôi thừa nhận là cần thiết. Chúng tôi có hầm trú ẩn của mình. Chắc các Ngài không nổ súng vào hầm trú ẩn của mình chứ?

Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi chưa bao giờ làm như vậy

Kít-sinh-gơ: Tôi không nói các Ngài đã từng làm như vậy vì vậy chúng tôi dựa vào Ngài để làm.

Đặng Tiểu Bình: Ngài có thể nghiên cứu đại bác của chúng tôi.

Kít-sinh-gơ: Nói chung, chúng tôi sẽ không trả đòn. Nhưng điều quan trọng hơn là, chúng ta đã có cuộc hoán vị rất hữu ích, rất tuyệt. Và theo tôi, chúng ta đã trao đổi với tinh thần hữu hảo về nhiều vấn đề phù hợp với lợi ích chung...

Tối hôm đó, Kít-sinh-gơ đã mở tiệc chiêu đãi người Trung Quốc. Nhận xét cá nhân của Kít-sinh-gơ về Kiều Quán Hoa và qua lời chúc rượu đã tinh tế vẽ nên hiện trạng quan hệ Trung-Mỹ ở thời điểm sắp kết thúc năm 1974. Kít-sinh-gơ miêu tả lời chúc rượu của Kiều Quán Hoa là "Hữu hảo và chính xác". Còn về lời chúc rượu của mình, ông ta nói "Tôi đã cẩn thận lựa chọn từ ngữ để thể hiện được sự lạc quan vừa đủ”. Cho dù tiếng đại bác ầm vang trong suốt năm đó, nhưng ý thức do một kẻ thù chung tạo nên đã khiến mói quan hệ trở nên chặt chẽ nhưng lại thiếu màu sắc tình cảm, được tiếp tục duy trì.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #226 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2010, 08:08:56 pm »

chương VII
SỰ HOÀ HOÃN ĐẦY KHÓ KHĂN
OA-SINH-TƠN - MÁT-XCƠ-VA
(1974-1975)

Khi quan hệ với Trung Quốc nguội lạnh đi, thì việc hoà hoãn trong quan hệ Mỹ Xô phải chịu một sức ép ngày càng lớn, đó chính là điều Tổng thống Pho mới nhậm chức sau khi Ních-xơn từ chức vào ngày 8 tháng 8 năm 1974, không hề mong muốn. Pho là một đảng viên Đảng Cộng hoà tương đối bảo thủ, ông đã học được sự thận trọng trên vấn đề chính trị trong mấy năm tại Hạ nghị viện.

Cũng giống như Ních-xơn, Pho đã không thể thoái thác việc gánh vác nhiệm vụ hoà giải, ông đã giữ lại Kít-sinh-gơ trong quá trình xây dựng phương hướng. Trong thời điểm quan trọng của cuộc tái bầu cử lần này, ngoài những sức ép liên tục từ phía thượng nghị sĩ Giắc-xơn và Lầu Năm Góc, vị Tổng thống mới này cũng không muốn mình bị bóc trần trước sự phê phán của thế lực cánh hữu.

Ngay cả trong tình hình "Hiệp ước Hen-xin-ki" được ký kết trong Hội nghị An ninh và châu Âu đang trong thời khắc quan trọng trong lịch sử hoà hoãn, cũng không sao chống lại nổi áp lực của lực lượng đã làm phức tạp hoá tình hình hoà hoãn trong thời gian từ năm 1974 đến 1975.

Khuyết điểm của Kít-sinh-gơ chính là trong vấn đề đàm phán với Quốc hội Mỹ. Tiêu chuẩn kép về hoà hoãn kinh tế của ông và sự từ chối của ông ta không để cho Liên Xô tham gia vào tiến trình hoà bình Trung Đông, cũng đã không làm cho tình hình khá hơn lên chút nào, ông ta thừa nhận, Mỹ có trách nhiệm chuyện này. Tháng 8 năm 1974 sau khi nghe xong những lời oán trách dài dòng của Brê-giơ-nhép đối với chính sách của Mỹ, Kít-sinh-gơ trả lời: "Điều làm tôi phiền lòng là rất nhiều điều Ngài Tổng Bí thư nói đều là sự thật".

Vài tuần trước khi từ chức, Ních-xơn đã đến Mát-xcơ-va tiến hành cuộc hội đàm cấp cao cuối cùng với Brê-giơ-nhép. Cuộc hội đàm giữa họ không có những tiến triển mang tính thực chất, nhưng sự thoả hiệp ở một phần nội dung tương đối thứ yếu trong vấn đề Hiệp định chống tên lửa đạn đạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân lại có lợi cho việc mang lại "cơ hội nhỏ" cho việc hòa hoãn quan hệ Mỹ- Xô

Tuy nhiên, "Cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí chiến lược giai đoạn 2" (tức SALT 2) vẫn lún sâu trong xình lầy. Ních-xơn tin rằng nó rất quan trọng cho việc hạn chế lực lượng hạt nhân của Liên Xô, nhưng dù là ông ta hay Brê-giơ-nhép đều không thể đi đến nhất trí được về số lượng bệ phóng tên lửa MIRV. Mặc dù vậy, họ vẫn ước hẹn là Brê-giơ-nhép đến thăm Oa-sinh-tơn vào năm 1975. Trong lúc giao thời, họ sẽ tiến hành một cuộc "hội đàm mini", tại nước thứ ba nhằm đi đến nhất trí về cuộc đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược.

Tuy nhiên, khi Tổng thống Pho chuẩn bị tham gia tranh cử năm 1976, các thế lực chống đối hòa hoãn quan hệ Mỹ-Xô ngày càng tăng ở trong nước, đã làm cho ông ta trở nên cực kỳ thận trọng trong vấn đề quan hệ Mỹ-Xô. Một số thiên hướng của bản thân ông ta ví dụ như sự ràng buộc bản năng đối với thái độ quân sự mạnh mẽ, mối lo ngại về một ý đồ của Liên Xô và sự từng trải lâu dài trong Quốc hội Mỹ, khiến ông ta nặng về nhìn vấn đề chính sách ngoại giao qua lăng kính chính sách trong nước trước đã đều đã tăng thêm thái độ thận trọng kể trên.

Trên thực tế, sự thận trọng này của Pho cuối cùng đã ngăn cản được mục đích của Ních-xơn và Brê-giơ-nhép, hòng nhanh chóng đi đến thoả thuận về đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược. Mặc dù Kít-sinh-gơ buộc phải thích ứng với phong cách chế định chính sách của Tổng thống mới, nhưng hai người vẫn hợp tác với nhau rất vui vẻ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #227 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2010, 08:09:34 pm »

Ngày 19 tháng 9 năm 1974, Kít-sinh-gơ đã đưa ra một tuyên bố quan trọng trước Uỷ ban quan hệ đối ngoại của Thượng viện, nhằm chứng tỏ sự cam kết của Tổng thống mới trong vấn đề hòa hoãn quan hệ Mỹ-Xô, đồng thời cũng nhằm khuyến cáo thuyết phục phái chống đối. Tuyên bố này bao gồm cả nội dung ủng hộ cuộc tranh luận đối với nguyên nhân gây ra nền kinh tế bị kiềm chế của Liên Xô, nhưng ông vẫn không thể thuyết phục được thượng nghị sĩ Giắc-xơn.

Ngày 18 tháng 8, nghĩa là vài ngày trước Kít-sinh-gơ phải đi hội đàm với Brê-giơ-nhép, Giắc-xơn đã phá hoại kế hoạch của Nhà Trắng hòng giành quy chế tối huệ quốc cho Liên Xô mà Kít-sinh-gơ và Đô-brư-nin đã dày công sắp đặt trước đó. Giắc-xơn đã tiết lộ những thư từ được coi là cơ mật giữa ông ta với Kít-sinh-gơ và nói rằng Kít-sinh-gơ hy vọng giảm bớt áp lực qua việc đưa ra một số điều đảm bảo, thế nhưng lại rất mơ hồ về sự chuyển biến đối với chính sách Liên Xô.

Khi công bố những lá thư này, ông Giắc-xơn nói rằng ông ta đã biết được "một nhận thức lịch sử đối với nhân quyền" và Liên Xô đã đồng ý rằng số dân di cư người Do thái ra đi hàng năm vào khoảng 60000 người. Về số lượng, Liên Xô chưa hề tỏ thái độ rõ ràng, họ cảm thấy sửng sốt về trò bịp của Giắc-xơn và sự bất lực của Nhà Trắng trong việc ngăn chặn Giắc-xơn. Khi thông qua dự luật thương mại được Quốc hội Mỹ thông qua đã giữ nguyên vẹn dự luật Giắc-xơn Va-nich và bao gồm cả một dự luật về ngân hàng xuất nhập khẩu, trên thực tế chính là Quốc hội Mỹ muốn cắt giảm các khoản tiền cho Liên Xô vay.

Điều khiến cho Liên Xô càng thêm kinh ngạc hơn, là Kít-sinh-gơ và Pho đã ngầm chấp nhận sự việc trên rồi. Chính là như An-na-tô-li Đô-brư-nin viết mấy năm sau đó Brê-giơ-nhép và người cộng sự của ông ta đã "không thể tưởng tượng nổi một Tổng thống Mỹ lại không phải là người thống trị cao nhất".

Liên Xô đã trở nên bất an hơn khi họ ý thức được rằng Kít-sinh-gơ không hề có biện pháp chống lại đạo luật hạn chế cho vay: ông ta đã hoàn toàn mơ hồ trong vấn đề trọng đại này. Nếu như trước đây Kít-sinh-gơ đã từng nhìn thấy một áp lực chính trị trong nước nảy sinh do việc lấy giới hạn trần cho vay làm một con bài, thì hiện nay ông đã mất đi quyền tự do nêu ra lợi ích kinh tế này và ông cũng tin rằng phải quan tâm đến việc hạn chế đối với Liên Xô.

Thất bại thảm hại trong việc quyết định cho vay thương mại lần này, đã nói lên đầy đủ sự khủng hoảng quản lý hành chính dành cho một con người vừa là Bộ trưởng lại vừa là Cố vấn An ninh quốc gia như Kít-sinh-gơ sự nghi ngờ đối với độ tin cậy của người bạn Oa-sinh-tơn đã gây ra những tổn thất khôn lường cho việc hòa hoãn quan hệ Mỹ-Xô

Đối với Kít-sinh-gơ, dự luật Giắc-xơn Va-nich là hình thức tiếp nối tồi tệ nhất, vì nó đã phủ nhận quyền lực chi phối lợi ích kinh tế của ông ta, nhằm đưa ra "mồi nhử" hạn chế tế nhị trong việc xây dựng quan hệ hợp tác với Mát-xcơ-va và chính sách ngoại giao đối với Liên Xô. Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ và Nga quyết định triển khai hợp tác dưới tiền đề giảm thiểu rõ nét kiểu ngoại giao kinh tế, nhưng làm như vậy đã khiến con đường hợp tác giữa hai bên bị bó hẹp lại.

Mặt khác, sự bất lực của Kít-sinh-gơ trong việc ngăn cản Giắc-xơn và những người ủng hộ ông ta còn sẽ thêm đem lại cho Kít-sinh-gơ một trong những mối lo chính yếu, đó là: mối liên hệ giữa Liên Xô và Đông Âu sẽ càng thêm khăng khít. Xu thế này đã gây ra tác động lớn vào lúc bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh hồi năm 1980.

Tại một khu vực then chốt - Trung Đông, sự hợp tác lớn đã trở nên không thể có được, vì Kít-sinh-gơ đã quyết định tiến hành bàn bạc giữa các đối thủ chính về hòa ước hạn chế trong khu vực này, do đó đã gạt Liên Xô ra ngoài. Mặc dù Brê-giơ-nhép đã tỏ ra bình tĩnh hơn so với hồi tháng 3, nhưng bản sao của Hội nghị tháng 10 đã cho ông một tín hiệu về sự mất ổn định của khu vực này, khu vực được coi là "một thùng thuốc súng nổ và ông cũng kiên trì phải họp lại Hội nghị Giơ-ne-vơ nhằm thừa nhận vai trò của Mát- xcơ va và trong tiến trình hoà bình Trung Đông.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #228 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2010, 08:10:03 pm »

Người ta cũng nghi ngờ rằng, việc Kít-sing-gơ lấy lòng đối với ông Tổng Bí thư bằng cách tuyên bố rằng: "Không có một sự lợi dụng nào sẽ nhận được lợi ích lâu dài, trong khi làm tổn hại đến lợi ích của đối phương (trong khu vực này)", lại sẽ đem lại được một niềm an ủi. Brê-giơ-nhép hầu như hoàn toàn hiểu hết ý của Kít-sinh-gơ, là không hề từ bỏ những lợi ích ngoại giao ngắn hạn mà ông ta đã khổ công xây dựng từ hồi diễn ra cuộc chiến tranh tháng 10.

Khả năng đi đến thỏa thuận về vấn đề kinh tế và vấn đề Trung Đông thật mong manh. Giữ được quyền kiểm soát ở khu vực có những tiến triển trọng đại này mang ý nghĩa toàn cục. Khi Kít-sinh-gơ đến Mát-xcơ-va vào ngày 24 tháng 10 năm 1974, hai bên đều cố tìm các phương kế để phá vỡ cục diện bế tắc trong tiến trình hòa đàm về hạn chế vũ khí chiến lược.

Trên thực tế, sự nhất trí cơ bản đạt được trong tháng 10 giữa Kít-sinh-gơ, Brê-giơ-nhép và Grô-mư-cô đã đặt nền móng cho Brê-giơ-nhép và Pho đạt được thoả thuận chung vào tháng 1 tại Vla-đi-vô-stốc. Hai bên không những đi đến thoả thuận về giới hạn trần của tổng số tên lửa chiến lược và máy bay ném bom là 240, mà còn đi đến nhất trí trong một số vấn đề đã khiến cho Brê-giơ-nhép và Kít-sinh-gơ rơi vào cảnh bế tắc trong tháng 3, như quy định hạn chế tên lửa MIRV chẳng hạn.

Mặt khác, lưu ý đến những oán trách trước đó của Brê-giơ-nhép trong vấn đề vũ khí hạt nhân ở khu vực Địa Trung hải, Pho đã dành cho ông ta một bảo đảm là: Oa-sinh-tơn sẽ đóng cửa căn cứ tàu ngầm Ro-ta bên bờ biển Tây Ban Nha, nơi đã từng là khu vực diễn tập đông tiến đến vịnh Gi-bran-ta của tàu ngầm Pô-sêi-đôn. Đối với Pho và Brê-giơ-nhép, việc bàn bạc và cuối cùng hoàn tất hòa ước Vla-đi-vô-stốc vẫn còn bao hàm những cuộc đấu tranh chính trị, trong hai người không một ai có thể dựa vào vành nguyệt quế của mình để bắt đầu chuẩn bị một cuộc hội đàm cấp cao ở Oa-sinh-tơn, để đạt tới một hiệp nghị về SALT2.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô Nguyên soái Gơ-rét-sơ-kô và các cộng sự của ông ta đều biết rất rõ thế yếu của Liên Xô trên phương diện tên lửa MIRV, họ chống lại mạnh mẽ sự cưỡng ép trong thể chế về tên lửa đạn đạo vượt đại dương; nhưng Brê-giơ-nhép có thể bắt buộc các nhà quân sự phải tuân theo.

Ít lâu sau, thỏa thuận Vla-đi-vô-stốc cũng nảy ra vấn đề tại Oa-sinh-tơn, làn sóng chống đối hòa đàm ngày một lên cao ở nước Mỹ đã khiến cho việc xác định thỏa thuận trở nên gian nan hơn. Trên thực tế, Giắc-xơn đã công kích thỏa thuận này ngay từ gốc rễ, ông ta cho rằng, quy định số lượng phương tiện vận tải đầu đạn ở mức 2400 là quá cao, giống như hành động của một kẻ kiểm soát quyền lực quá rộng lượng. Giắc-xơn đã yêu cầu phải cắt giảm hơn nữa và xuống mức 1700 để nhằm đạt được mục đích hạn chế lực lượng quân sự của Liên Xô. Cuối cùng thì các bộ ngành hành chính của Mỹ vẫn đem lại sự ủng hộ đầy đủ và giữ nguyên vẹn được con số trong thỏa thuận.

Các quan chức ở Lầu Năm Góc tán đồng con số do Kít-sinh-gơ nêu ra, nhưng họ vẫn cứ theo dõi rất chặt hành động của Kít-sinh-gơ, do lo ngại phong cách đàm phán của ông ta. Việc xử lý của Kít-sinh-gơ đối với loại máy bay ném bom Bách-kơ-phai chính là vấn đề trọng đại mà các quan chức quân sự đều đặc biệt cảnh tỉnh, nó được Rây-mom Giắc-sơn miêu tả một cách sắc sảo là “hàng rào của đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược".

Liên Xô rắp tâm sử dụng “Bách-kơ-phai" vào các kế hoạch khu vực ở châu Âu và châu Á; mặc dù loại máy bay ném bom này phải được tiếp thêm nhiên liệu trong quá trình bay, nhưng nó vẫn có thể đi đến đích là phần lục địa của Mỹ. Mặc dù Liên Xô vốn không đủ lực lượng hỗ trợ cho loại máy bay ném bom Bách-kơ-phai trong một nhiệm vụ có phạm vi rộng lớn như vậy, nhưng Lầu Năm Góc vẫn kiên trì cho rằng Liên Xô đã chuẩn bị xong kế hoạch công kích trung hạn và dài hạn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #229 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2010, 08:10:41 pm »

Kít-sinh-gơ thừa nhận khả năng có hạn của máy bay ném bom Bach-kơ-phai, đã loại nó ra khỏi giới hạn trần được quy định trong cuộc đàm phán "SALT2" khi gặp gỡ các nhà lãnh đạo Liên Xô vào tháng 10. Mặc dù ông ta đã nói với các phóng viên Mỹ rằng "Loại máy bay ném bom Bach-kơ-phai có thể trở thành một chủng loại hoàn toàn khác” trong một cuộc họp báo không công khai vào tháng 12 năm 1974, nhưng hành vi của ông trên lập trường này là rất khả nghi; sau đó ông ta lợi dụng việc kiểm duyệt đoạn ghi chép chứng cứ này để phủ nhận mình đã từng cam kết như vậy.

Việc Lầu Năm Góc yêu cầu Bach-kơ-phai nằm trong tổng số vũ khí, cuối cùng đã buộc ông ta không thể không đẩy lùi điểm đó trên bàn đàm phán trong sự bất mãn của Mát-xcơ-va.

Những sự bất nhất này trong vấn đề Bach-kơ-phai đã kéo lùi việc ký kết thoả thuận đàm phán về hạn chế vũ khí chiến lược, thí dụ sự khác biệt rất lớn về đăng cấp của tên lửa Crui-se, nhất là trong việc giải trình về tên lửa đất đối không. Từ cuối năm 1973, nếu không phải là sớm hơn, Kít-sinh-gơ coi những tên lửa Crui-se phóng từ trên không đó vừa là một điều kiện mặc cả trong đàm phán về hạn chế vũ khí chiến lược, vừa để bảo vệ cho các máy bay ném bom Mỹ đối với sức phòng ngự trên không của các mục tiêu quan trọng của Liên Xô.

Mối bất đồng nghiêm trọng trong vấn đề tên lửa Crui-se nảy sinh từ việc các quan chức Mỹ và Liên Xô bắt đầu hồi tưởng lại và miêu tả bản thỏa thuận mà Brê-giơ-nhép và Pho đã đạt được tại Vla-đi-vô-tốc. Tổng số trong "SALT2" do Mỹ đưa ra, lẽ ra chỉ bao gồm những tên lửa đạn đạo phóng từ trên không đánh vào Liên Xô; còn Liên Xô thì coi tên lửa Crui-se là một "con đường mới" của chạy đua vũ trang hạt nhân do đó muốn đưa tổng số tên lửa có tầm phóng trên 600 dặm Anh này được khống chế trong phạm vi 2400.

Mặc dù hai bên đều kiên trì những nguyên tắc của mình và điều đó khiến họ cuối cùng đã đạt được nội dung này, nhưng Kit-sinh-gơ và Lầu Năm Góc đều từ chối có những hạn chế lớn đối với việc triển khai tên lửa Crui-se phóng từ trên không.

Mặc dù ý tứ được trình bày trong "SALT2" làm cho những người tham gia hiệp thương đều ngán ngẩm, nhưng cả Mát-xcơ-va, và Oa-sinh-tơn đều đã chấp nhận lần đàm phán này và không để nó có nguy cơ thất bại.

Trong một lĩnh vực khác, tức là trong sự nhất trí quan trọng về việc hai bên hứa hẹn cùng nhau hợp tác tại Trung Đông, mặc dù điều này chẳng có tác dụng gì đối với Kít-sinh-gơ, nhưng "họ có thể ghi những gì tôi quan tâm vào bản thoả thuận tại Hội nghị về An ninh và hợp tác châu Âu”.

Mặt khác, Brê-giơ-nhép giữ thái độ lo lắng về cuộc Hội nghị và về nghi thức tham gia việc ký kết cấp cao lần này. Đối với Liên Xô, việc đạt tới sự nhất trí trong vấn đề biên giới châu Âu bất khả xâm phạm chứng minh một di chứng do Đại chiến thế giới lần thứ hai để lại là vấn đề phân chia lãnh thổ, đây chính là mục đích cơ bản của Hội nghị An ninh và hợp tác châu Âu trong con mắt của họ.

Grô-mư-cô đã thuyết phục được Bộ Chính trị Liên Xô, do đã có khả năng đến một thoả thuận cuối cùng, và nhìn chung Hội nghị An ninh và hợp tác châu Âu vẫn có lợi cho Mát-xcơ-va vì nó đã thừa nhận đường biên giới sau Đại chiến thế giới lần thứ 2 và đem lại khả năng hợp tác kinh tế với phạm vi rộng lớn hơn. Khi Hội nghị An ninh hợp tác châu Âu đảm bảo quyền lực của mỗi quốc gia, Glô-mư-cô đã trao đổi với Brê-giơ-nhép, cộng sự của ông ta và nêu rằng: Các quy định về nhân quyền của Hội nghị An ninh hợp tác châu Âu không thể làm suy yếu hệ thống chính trị của Liên Xô. "Chúng ta đang kiểm soát ngôi nhà của mình"- ông nói với Bộ Chính trị như vậy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM