Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:48:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pháo Binh Thế Kỷ 20 - Phần 2  (Đọc 387796 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #230 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2010, 02:32:30 am »

 LARS:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #231 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2010, 02:33:04 am »

 LARS trong trạng thái chiến đấu:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #232 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2010, 03:31:24 pm »

23. “Valikiri”

    Nam Phi thực hiện việc thiết kế các hệ thống tên lửa nhiều nòng vào năm 1977 – câu trả lời cho việc các nước láng giềng của Nam Phi được trang bị nhiều cả về số lượng lẫn chủng loại các hệ thống tên lửa bắn loạt của Liên Xô. Thiết bị mới bắt đầu gia nhập quân đội Nam Phi từ năm 1981, và được sử dụng lần đầu vào năm 1982 trên biên giới với Angola. Thiết bị phóng được biên chế trong một đại đội gồm 8 xe được sử dụng để chống lại các đội du kích. “Valikiri” có 24 ống dẫn hướng (ba hàng với 8 ống dẫn hướng trên mỗi hàng) và được lắp trên gầm xe vận tải hai trục hạng nhẹ SAMIL, trang bị khung có vải bạt phủ kín toàn bộ hệ thống, nhằm chống lại việc xác định được chúng từ xa hoặc từ trên không. Đạn tên lửa có cánh 127mm hoạt động bằng nhiên liệu rắn. Đầu đạn ngoài thuốc nổ còn chứa 8600 viên bi (quả cầu) thép, khi nổ rải ra diện tích 1500 mét vuông. Đầu đạn có ngòi nổ từ xa hoặc ngòi chạm nổ, để triển khai hệ thống cần tổng cộng 10 phút. “Balikiri” là thiết bị phóng tên lửa cơ động và hiệu quả trong các khu vực biên giới và chống lại các cuộc nổi dậy. Đặc việt là hệ thống này rất dễ ngụy trang trên các xe vận tải dân sự.

    Các thông số kỹ thuật chính:
Nơi sản xuất: Nam Phi
Cỡ nòng: 127mm (5 inch) 
Khối lượng thiết bị phóng: 6440kg
Chiều dài đạn: 2,68m
Khối lượng đạn: 53,5kg
Đầu đạn: đạn nổ mảnh – hình quạt/18kg
Sơ tốc đầu nòng: 250m/s
Tầm bay xa: 22 700m   

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #233 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2010, 03:31:53 pm »

 "Valikiri":

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #234 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2010, 03:32:21 pm »

 "Valikiri" phiên bản Mk 2:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #235 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2010, 03:32:50 pm »

 "Valikiri" phóng tên lửa:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #236 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2010, 03:35:17 pm »

Từ điển thu nhỏ

1. Độ xuyên giáp: Khả năng của viên đạn xuyên qua giáp bảo vệ. Trong sách, độ xuyên giáp được viết theo công thức AAA/BB/C. Trong đó: AAA – độ dày của giáp bị xuyên (mm); BB- khoảng cách để viên đạn đạt độ xuyên giáp tốt nhất (AAA); C – góc chạm nổ hiệu quả nhất giữa viên đạn và giáp bảo vệ.

2. Đạn xuyên giáp: đạn chống tăng, có mũi hình nón được cấu tạo từ hợp kim cứng và mang theo lượng chất nổ lớn.

3. Toa tàu bọc thép: toa của đoàn tàu bọc thép, được bọc thép và trang bị pháo hoặc súng máy. Theo tiêu chuẩn, một đoàn tàu bọc thép bao gồm một số toa tàu bọc thép, đầu máy bọc thép với một số toa hỗ trợ cùng và khung không được bọc thép.

4. Pháo nòng trơn: pháo với nòng không có rãnh xoắn bên trong. Thường được sử dụng để bắn đạn có cánh (mìn) hoặc đạn tên lửa, sự quay của viên đạn trong quá trình bay được đảm bảo bởi góc của thiết bị vòi phun của động cơ tên lửa.

5. Bộ hãm lùi: có thể được bố trí ở cuối nòng pháo, có nhiệm vụ đẩy khói súng theo hướng ngược lại, làm giảm độ giật khi bắn

6. Cỡ nòng: đường kính phía trong nòng súng. Đây là đại lượng đồng thời được sử dụng để so sánh với chiều dài nòng súng (pháo), bởi vì chiều dài nòng trên cỡ nòng thường có tính tỷ lệ với nhau bởi sơ tốc đầu nòng của viên đạn

7.   Đạn nổ lõm: đạn nổ theo hướng, đầu đạn chứa thuốc nổ có dạng hình nón, đảm bảo khả năng xuyên giáp bằng tia lửa. Độ xuyên giáp của loại đạn này không phụ thuộc vào tốc độ bay của nó, vì thế, đạn nổ lõm được sử dụng nhiều trong các dòng súng phóng lựu xách tay hoặc các thiết bị phản lực hạng nhẹ. Tuy nhiên, hiệu quả của luồng nổ lõm sẽ bị yếu đi rất nhiều nếu góc chạm nổ khác góc 90 độ, và bị suy giảm hoàn toàn nếu như khi gặp phải giáp bảo vệ, viên đạn tiếp xúc với những chướng ngại vật nhẹ, làm giảm hiệu quả ngòi nổ. Ví dụ như trong thời kỳ cuối Chiến tranh Vệ quốc, để chống lại các loại súng phóng lựu chống tăng của Đức, các xe tăng Liên Xô đã được trang bị những tấm thép thông thường, trên những giá treo đặc biệt bao quanh xe trong mọi hướng. Ngoài ra, hiệu quả của luồng nổ lõm còn bị suy giảm bởi sự quay của đạn, vì thế, để bắn đạn nổ lõm, các xe tăng phải được trang bị pháo nòng trơn, khi đó để đảm bảo sự ổn định trong khi bay, các viên đạn được lắp thêm cánh.

8. Lót/đệm nòng (pháo)
: ống có rãnh xoắn, được đặt trong nòng pháo. Thiết bị này có thể thay đổi theo độ mài mòn, nhưng không thay thế được nòng pháo.

9.   Đạn trên cỡ nòng: đạn pháo, có đường kính đạn lớn hơn nòng pháo. Có tầm bắn không xa, nhưng uy lực lớn (so với kích cỡ của vũ khí).

10. Pháo rãnh xoắn: pháo, nòng có rãnh hình xoắn ốc bên trong, đảm bảo cho sự quay của viên đạn trong khi bay, làm tăng khả năng ổn định của đạn trong không khí và độ chính xác.

11. Đạn nổ mảnh: đạn, mang lượng lớn thuốc nổ, chứa bên trong thân đạn làm từ kim loại giòn. Thân đạn có thể bị phá thành nhiều mảnh một cách dễ dàng, nhằm tiêu diệt các lực lượng bộ binh và các thiết bị bay. Thỉnh thoảng, loại đạn này còn chứa bên trong các chất dễ cháy – các mũi tên kim loại hoặc các quả cầu/viên bi nhỏ.

12. Đạn dưới cỡ nòng: đạn pháo, cỡ nòng của bộ phận cơ bản nhỏ hơn so với cỡ nòng pháo. Thường có lõi dài và kim loại có độ cứng cao, được trang bị vòng găng/đệm hoặc các vòng đặc biệt, cũng kích cỡ với nòng pháo. Đạn dưới cỡ nòng được sử dụng nhằm tiêu diệt các phương tiện kỹ thuật hạng nặng, có giáp bảo vệ dày, nhưng rất ít hoạt tính nổ - nổ mảnh (hầu như không có chất nổ và chi mang theo các thành phần chất cháy), vì thế, khi trúng loại đạn này, không đảm bảo việc xe bị trúng đạn có thể bị loại ra khỏi vòng chiến.

13. РГЧ ИН (RGCh IN): bộ phận đầu đạn có sự dẫn bắn riêng (các đầu đạn tên lửa đạn đạo)

14. Đạn nổ: đạn, có thân mỏng, bên trong có chứa thuốc nổ với liều lượng cao nhât. Được tiếp nhận để phá hủy các căn cứ và công sự, có hiệu quả thấp trong việc chống lại bộ binh.

15. Đạn trái phá: đạn phá mảnh, được trang bị ngòi nổ từ xa và nổ trên mặt đất, rất hiệu quả trong việc tiêu diệt bộ binh không có các phương tiện kỹ thuật che chắn và bảo vệ.

16. Tầm bắn hiệu quả theo chiều cao: tầm cao tối đa, tại vị trí mà đạn pháo phòng không cỡ nhỏ có khả năng bắn hạ mục tiêu

17. Tầm bắn hiệu quả: khoảng cách xa nhất mà viên đạn có thể bay tới mục tiêu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #237 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2010, 06:57:56 pm »

Hình dạng cách mạng của vũ khí

Vào năm 1909, tại Đức đã diễn ra một cuộc triển lãm lớn về các thiết bị kỹ thuật hàng không. Trong trình tự của mình, các thợ quân giới đã giới thiệu những thiết bị bảo vệ khỏi những mối nguy hiểm từ trên khôn – những khẩu pháo bắn nhanh, được lắp trên gầm xe vận tải. Bằng hình thức này, vấn đề về việc vận chuyển các loại pháo tới khu vực chiến sự đã xuất hiện và câu hỏi về khả năng chống lại các vật thể bay đã được quyết định (trên lý thuyết). Tuy nhiên, nó không có phải là vấn đề cấp bánh trong các quân đội vào thời điểm, khi mà sự tin cậy rằng máy bay rất hữu ích trong công tác trinh sát đang chiếm ưu thế, nhưng tuyệt đối không đem lại thuận lợi trong các hoạt động quân sự kháci. Vì vậy, mặc dù vấn đề về chống lại các phương tiện trinh sát trên không của đối phương đã được đánh giá là vấn đề trước mắt, toàn bộ các loại pháo “chống khinh khí cầu” vẫn còn rất ít.

Vào 10 năm cuối cùng của thế kỷ 19, nhà công nghiệp “Krupp” của Đức đã thiết kế một vài mẫu lựu pháo hạng nặng để phòng thủ bờ biển, sau đó, chúng được hiện đại hóa với một trong các mục đích là trở nên thuận lợi hơn cho việc vận chuyển ra chiến trường bằng đường sắt. Nhưng khí đó, phía quân đội cho rằng đường sắt không thường xuyên gần với khu vực chiến sự và mẫu thiết bị kéo “Daimler – Benz” được hãng “Krupp” giới thiệu sử dụng nhằm cho mục đích này. Trong đó, hãng “Krupp” đã thiết kế lựu pháo cỡ nòng 42mm, có thể được đưa ra chiến trường theo từng bộ phận và lắp ghép với nhau theo sự hỗ trợ của cần trục tự hành. Lựu pháo được sử dụng cho khả năng tấn công các pháo đài, có khả năng bắn đạn cỡ 24mm (9,5 inch) – vào thời điểm đó là cỡ nòng lớn nhất dành cho đại bác, được vận chuyển trên lưng ngựa. Quân đội rất tán thành công trình của “Krupp”, còn loại pháo đó được mang tên “Bertha lớn” – theo tên gọi của con gái nhà công nghiệp.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #238 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2010, 07:50:20 pm »

Vào thời điểm giữa những năm từ 1914 đến 1918, nhiều mẫu pháo mới đã xuất hiện. Một trong những số đó là các loại cối dã chiến hạng nặng, bắn theo quỹ đạo rất cao, cho phép viên đạn rơi vào các đường giao thông hào sâu. Loại súng cối này có thể bắn các loại đạn đặc biệt để tạo màn khói, ngụy trang cho các đơn vị di chuyển; sử dụng đạn pháo sáng để làm sáng trận địa và đạn màu để thông báo các loại tín hiệu khác nhau. Đôi lúc, đạn cũng được nạp hơi ga. Bởi vì chiến tranh kéo theo vào nó một số lượng lớn về con người, vai trò của các loại pháo càng trở nên quan trọng. Sẽ có những khoảng không gian lớn được mở ra trong khu vực hoạt động của pháo binh trên hướng của đối phương, các khẩu đại bác hạng nặng sẽ phá hủy các nhà ga xe lửa, , các pháo đài và các địa điểm dân cư, biến khu vực của các trận đánh trở thành những bãi đổ nát khổng lồ. Sau đó, xuất hiện các loại siêu pháo hoạt động trên đường sắt dọc theo các tuyến chiến trường, cự ly bắn đạn của chúng lên tới 20 dặm. Loại pháo hạng nặng nhất trong số này là “pháo Pari” của Đức, bắn vào thủ đô của nước Pháp với tầm bắn gần 70 dặm.

Chiến tranh làm tiêu hao rất nhiều tiền tệ, người và nguồn tài nguyên của quân đội các nước dân chủ, vì thế, việc tái vũ trang chỉ được bắt đầu từ cuối những năm 30 của thế kỷ 20. Trong 10 năm cuối cùng, các công trình sư và các nhà thiết kế đã có những thành quả đáng kể, thiết kế những mẫu vũ khí mới và hiện đại hóa các loại pháo cũ. Đến năm 1939, hầu hết quân đội được trang bị các loại pháo mới một lần nữa – mặc dù, cũng như trước đó, trong thành phần dự trữ vẫn có các mẫu pháo đã lỗi thời, được tiếp nhận từ những năm 1918. Chỉ có quân đội Anh được cơ giới hóa hoàn toàn. Quân đội Đức và Nga đến năm 1945 mới sử dụng các loại pháo ngựa kéo, Mỹ vào năm 1940 còn sử dụng kỵ binh cho các nhiệm vụ trinh sát.

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #239 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2010, 08:30:36 pm »

Pháo binh trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai

Theo so sánh, pháo binh trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ hai không vượt trội một cách hoàn toàn so với pháo binh trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Điểm khác biệt cơ bản là sự tiếp nhận các phương tiện kéo một cách phổ biến, đồng thời sử dụng các lốp bơm hơi và tiếp nhận các loại đạn mới, có hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, còn đánh dấu những bước tiến chắc chắn trong công nghiệp luyện kim, đem lại những tiến bộ đáng kể về tính năng của pháo. Các loại pháo chống khinh khí cầu và các vật thể bay trên không đã mở đầu cho lớp pháo phòng không. Được trang bị các loại ra đa không mấy hiện đại, sau này là ngòi nổ từ xa, chúng trở thành những vũ khí hiệu quả, sức mạnh mà trước đây chưa có. Sự tiếp nhận phổ biến các phương tiện kỹ thuật bọc thép dã dẫn đến sự thiết kế dòng pháo mới – pháo chống tăng. Bởi vì giáp của các phương tiện thiết giáp thường xuyên được gia cố, vì vậy, các thiết bị chống tăng cũng phải được cải tiến, và kết quả là đến cuối chiến tranh, các loại pháo chống tăng đã trở nên cồng kềnh và không thuận lợi khi sử dụng. Không nhìn vào những điểm như pháo chống tăng có tính thuận lợi, cơ động và dễ ngụy trang, những mẫu pháo chống tăng cuối cùng xuất hiện vào năm 1945 có khối lượng trên 10 tấn và chúng dần bị loại khỏi lực lượng vũ trang.

Một dòng pháo khác được thiết kế, vào năm 1918 cũng được ghi nhận: pháo không giật. Trong các hệ thống này, một bộ phận lớn khói súng được phụt về phía sau, bù lại cho sức giật, và đẩy viên đạn về phía trước. Trong trường hợp không có hệ thống này, để sức giật bị triệt tiêu, cần có các cơ chế phục hồi đặc biệt và sự cần thiết những khung pháo khối lượng lớn, khối lượng làm giảm độ rung, xuất hiện khi bắn. Sự xuất hiện cơ chế này có thể tăng đáng kể tốc độ bắn của pháo. Ngoài ra, sự phát triển của các thiết bị bảo vệ đã thúc đẩy các nhà thiết kế chạy tới việc tạo ra những phương pháp xuyên giáp mới bằng cách tăng tốc độ hơn là khối lượng viên đạn.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM