PHẦN KẾT
Trong sổ tay của chính uỷ
Trên giá sách của giáo sư kiêm nhà văn Trương Đình Lân, bên cạnh cuốn sách của Thiếu tướng Phạm Xuân Ban còn có một cuốn sổ tay bìa màu xanh, đóng toàn bằng thứ giấy pôluya viết thư của lính. Cuốn sổ dày tới hơn hai trăm trang, đã ghi chép gần hết. Đó là cuốn sổ ghi chép, giống như một thứ nhật ký mặt trận của chính ủy Lương Xuân Báo. Thời gian và mưa nắng đã khiến cho một số trang trong cuốn sổ đã úa vàng, nét chữ phai mờ rất khó đọc. Cái bìa bằng ngôn màu xanh cũng bị giòn và mủn ra. Để bảo quản cuốn sổ quí giá này, giáo sư Lân đã phải đem đi đóng bìa cứng, rồi dày công dùng bút chì bi h mẩn tô lại những nét chữ đã bị mờ. Có thể nói cuốn sổ ghi chép của chính ủy Lương Xuân Báo giống như một khối ký ức đã cô đặc lại, mỗi lần mở ra đọc lại một trang thì giáo sư Lân lại có cảm giác như mình vừa được sống lại với những khoảng khắc, những năm tháng hào hùng, được gặp lại những gương mặt bạn bè đồng chí thân quen, thậm chí có cảm giác như có thể ngửi thấy mùi bom đạn, mùi chết chóc, mùi lương khô, mùi gạo rang, mùi mắm kem cô đặc, mùi ca-la-thầu hay mùi thuốc lọc nước Phăngtôxit... vậy? Và, cũng phải thú nhận rằng, những trang ghi chép của chính ủy Báo đã giúp ông lấy lại được cảm hứng để bắt tay vào việc viết tiếp cuốn tiểu thuyết về chiến tranh mà ông đã bỏ dở từ mấy năm nay. Đôi lúc ông còn cảm thấy tiếc vì Hùng Phong đã đưa cho ông cuốn ghi chép này hơi muộn. Khi đọc kỹ cuốn ghi chép ông mới hiểu vì sao mãi đến tận những ngày đầu năm vừa rồi, tướng Hùng Phong mới quyết định giao cho ông giữ cuốn sổ quí giá này.
Chừng một tháng sau cái đêm giao thừa thiên niên kỷ mà tướng Hùng Phong được xuất hiện trên cầu truyền hình như một trong số những nhân vật nổi bật của thế hệ ra trận chống Mỹ cứu nước, ông bỗng lại tìm đến nhà giáo sư Lân. Sau vài ba câu chuyện, ông rút trong cặp ra một cái hộp sắt tây choáng lộn, loại hộp bánh sô-cô-la, sản phẩm cao cấp của một Hãng bánh kẹo vừa mới liên doanh với nước ngoài, dạo này thường thấy xuất hiện liên tục trên chương trình quảng cáo của đài truyền hình, khiến người ta tin rằng chỉ cần được ăn loại bánh này một lần thì có chết cũng đáng đời lắm rồi! Nhưng nghe nói, giá của mỗi hộp bánh như thế này bằng giá cả một gánh gạo.
- Tôi muốn ông giữ hộ cái này! - Tướng Hùng Phong rụt rè nói.
Giáo sư Lân thận trọng đẩy cái vật khả nghi ấy ra.
- Nhưng... là cái gì mà quí thế?
- Ông mở ra xem khắc biết!
Giáo sư Lân thận trọng mở chiếc hộp ra, bên trong là một cái bọc vai đỏ. Mở tiếp lớp vải đỏ ra, giáo sư Lân ngạc nhiên nhìn thấy cuốn sổ màu xanh trứ danh của chính ủy Lương Xuân Báo.
- Cuốn sổ ghi chép của ông Báo - ông Lân thốt lên - Nghe nói ông Báo có ba cuốn sổ, cuốn đen ghi tên các liệt sĩ, cuốn đỏ ghi công lao, khen thưởng của mọi người, còn cuốn xanh... không ai biết ông ấy ghi chép những gì.
Tướng Hùng Phong nháy mắt cười:
- Ông cứ đọc đi, rồi khắc biết!
Giáo sư Lân tâm sự:
- Hồi còn ở chiến trường anh em trong đơn vị thường đùa tôi vì thấy tôi cũng hay hí húi ghi chép. Họ bảo “Cậu định rắp tâm làm nhà văn mà chỉ có một cuốn sổ thì mèng lắm. Chính trị viên Báo có những ba cuốn sổ kia, mà ngày nào cũng ghi ghi chép chép nhé.
Coi chừng ông ấy thành nhà văn trước cả cậu đấy!”. Trong thời gian còn làm tiểu đội trưởng trinh sát, được ở gần ông ấy, tôi đã có lần tò mò định xem trộm xem ông ấy ghi chép những gì, nhưng đúng như ông nói, tôi cũng chỉ ngó trộm được vào hai cuốn sổ kia thôi. Chứ, cái cuốn sổ này thì... hôm nay tôi mới được mó vào đấy. Mà này, làm sao mà ông lại có được của quí này vậy?
Tướng Hùng Phong bỗng trở nên tư lự:
- Đêm giao thừa vừa rồi, ông có hỏi thăm tôi về chính ủy Báo. Tôi đã kể cho ông nghe về những năm tháng cuối đời buồn bã và cô đơn của ông ấy. Nhưng, tôi vẫn còn giấu ông một chuyện... Đó là chuyện... có một người đàn bà ở trong cái xóm nhỏ ở thành phố Việt Trì, nơi mà ông Báo trở về sống những năm cuối đời đã rất yêu ông ấy. Bà ta là giáo viên cấp 1, và cũng là vợ một liệt sĩ, nhà nằm kề hàng rào với nhà ông Báo. Bà ấy kể rằng, khi trở về, ông Báo sống lặng lẽ như một người ở ẩn. không tham gia công tác gì ở địa phương, cũng không làm thêm việc gì mà chỉ sống bằng tiền lương hưu của mình. Đều đặn, cứ mỗi tuần một lần vào thứ bảy ông ấy lại lên tàu xuôi Hà Nội. Khi đi thì vui vẻ hy vọng, nhưng khi về bao giờ cũng mệt mỏi, rã rời.
Thời gian đầu, bà giáo cứ tưởng ông có vợ con ở Hà Nội, vì chuyện khúc mắc nào đó mà bỏ về đây chăm nom hương khói cho các cụ và sống một mình, cuối tuần thì mới về thăm vợ con. Nhưng rồi, sau một lần ông Báo bị sốt rét tái phát, bà giáo qua lại chăm sóc, mới dần dần được ông Báo kể cho nghe gia cảnh của mình. Thì ra, hàng tuần ông về Hà Nội, là để xem vợ con ông có nhắn nhe gì về không. Trước khi bỏ về Trung Quốc, vợ con ông đã bán hết nhà cửa, tài sản, nhưng ông hy vọng rằng, nếu còn nghĩ tới ông thì thế nào bà Lý Hảo Hảo cũng nhắn tin về qua hàng xóm và bạn bè ở Hà Nội. Nhưng, năm này qua năm khác vẫn bặt vô âm tín. Ông Báo ngày càng tuyệt vọng. Bà giáo rất thương ông, rồi yêu ông lúc nào không biết. Có lần bà đã vượt qua tất cả sự tự trọng của một người đàn bà để thổ lộ nỗi lòng với ông, mong ông từ nay sẽ sống chung với bà, hai người sẽ nương tựa vào nhau mà sống những năm cuối đời. Nhưng dĩ nhiên là ông Báo không chịu rồi. Trước sau ông ấy vẫn cứ nói “Tôi đã có vợ con rồi. Vợ con tôi sớm muộn cũng sẽ trở về tìm tôi thôi”.
Giáo sư Trương Đình Lân lắc đầu thở dài:
- Đúng là ông Báo... ? Không ai có thể lay chuyển được những điều mà ông ấy đã tin đâu. Mà... . cái con bé Hảo “tàu lai” ấy cũng quá thể thật đấy! Ngày xưa học cùng với chúng mình nó cũng lì lợm ra phết rồi! Cậu còn nhớ cái lần nó đánh nhau với con Đào không?
- Nhớ - Tướng Hùng Phong bỗng bật cười - Nhưng là con Đào xông vào xé nó trước đấy chứ. Chỉ vì... tớ nhờ Hảo gà cho mấy chữ trong giờ kiểm tra Trung văn chứ có to tát gì đâu!
-... Và để trả công, trong giờ ra chơi cậu đã khen hai cái lúm đồng tiền của con Hảo là có duyên chứ gì?
- Cũng có chuyện đó... Mà nó có duyên thật đấy chứ. Vì thế nên chính ủy Báo nhà mình mới chết chìm vì hai cái lúm đồng tiền ấy - Tướng Hùng Phong nói vậy rồi bỗng trở nên đăm chiêu - Nhưng suy cho cùng... cũng là lỗi tại tôi cả. Hồi đó, nếu tôi và Thanh không đùa giỡn, giới thiệu con quỉ cái ấy với ông Báo thì có lẽ...
- Thôi không nhắc lại chuyện đó nữa - Giáo sư Lân giục - Ông kể tiếp về cái bà giáo nào đó và cuốn sổ này đi.
- Chuyện về bà giáo với ông Báo nhà ta chỉ có vậy thôi. Dù sao, những ngày cuối đời, ông Báo cũng không phải chết trong cô đơn. Người đàn bà ấy đã chăm nom săn sóc ông cho tới phút cuối cùng, và bây giờ vẫn hương khói và chăm nom phần mộ cho ông ấy.
Vào lần thứ hai tôi ghé về thăm mộ ông Báo, bà giáo đã mời tôi về nhà ngồi chơi rồi mang ra đưa cho tôi cái bọc vải đỏ này rồi nói rằng “Trong những năm tháng sống gần anh Báo tôi chẳng thấy anh ấy có tài sản gì quí giá. Có mấy gian nhà các cụ để lại thì sau khi ông Báo qua đời, thằng cháu con cô em gái anh ấy cũng đã bán đi rồi. Nhưng trong những ngày ốm đau, tôi thường thấy anh ấy không rời cuốn sổ này, thi thoảng lại mang ra đọc. Có lần anh ấy còn đọc cho tôi nghe một vài đoạn. Toàn là chuyện trận mạc cả. Nhưng tôi biết với anh ấy, đó là những năm tháng đẹp nhất. Trước khi mất, anh ấy đưa cho tôi cuốn sổ này và dặn rằng, nếu anh ấy chết thì hãy giữ giùm anh ấy, khi nào các con anh ấy tìm về thì hãy đưa cho chúng. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ chúng chẳng về nữa đâu. Và nếu có về thì chắc gì chúng nó đã hiểu được giá trị của những gì mà anh ấy đã viết trong cuốn sổ này. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tốt nhất là giao nó lại cho các anh, những người đồng đội của anh ấy. Chắc chắn anh sẽ hiểu và trân trọng những giá trị của nó”... Thế đấy, và mình đã có trong tay cuốn sổ này.
- Vậy sao hôm nay ông lại quyết định trao nó cho tôi?
Tướng Hùng Phong đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng, suy nghĩ một lát rồi nói:
- Tôi nói thực, khi đọc lại cuốn sổ này... có nhiều đêm tôi đã không ngủ được. Có những sự việc diễn ra trong chiến tranh mà hồi đó chúng ta không hề chú ý tới hoặc có thể cho qua một cách đơn giản. Nhưng bây giờ đọc lại, bỗng thấy sợ. Chẳng hạn như chuyện... hành quyết thằng T... vì tội đã đầu hàng địch và chỉ điểm cho B52 đánh vào kiềng của trung đoàn. Cái thằng mà sau đó trong trận tập kích đầu mùa mưa vào căn cứ biệt kích ở Động Nóc, chúng ta bắt lại được ấy...