Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:21:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài nét về quân đội Trung Quốc (tài liệu tham khảo) phần 4  (Đọc 421944 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #160 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 09:00:52 am »




Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #161 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 09:07:35 am »

Đám tang cấp Nhà nước  của " Cha đẻ " Chu Quang Á của chương trình bom hạt nhân và bom khinh khí Trung Quốc













Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #162 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 08:09:23 pm »

Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #163 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 08:18:09 pm »











Tàu Hải quân Trung Quốc hộ tống tàu chở 4000 lao động trong đó có lao động Việt Nam sang lánh nạn tại Crete , Hy Lạp
Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #164 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 04:43:26 pm »





Logged
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #165 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 08:37:26 pm »

Zhi-15 ( EC 175 )






WZ-10 tại nhà máy sản xuất

Logged
su22 m4
Thành viên
*
Bài viết: 850



« Trả lời #166 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2011, 04:09:48 am »

Vài nét về máy bay tiêm kích Thành Đô J - 7 (Chengdu J - 7)
   Máy bay Tiêm kích J - 7 là một bản sao toàn diện của máy bay Tiêm kích Mig - 21 do Tập đoàn công nghiệp hàng không Thành Đô của Trung Quốc sản xuất.

  Cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỉ 20, Trung Quốc được Liên Xô giúp đỡ xây dựng nhà máy sản xuất máy bay tiêm kích Mig - 21 theo giấy phép và linh kiện được nhập khẩu từ Liên Xô. Năm 1961 khi Tổng Bí thư ĐCS Liên Xô Breznhep lên năm quyền, quan hệ ngoại giao giữa LX và TQ xấu đi nghiêm trọng. Dẫn đến các dự án do Liên Xô giúp đỡ TQ bị hủy bỏ trong đó có cả dự án sản xuất máy bay Mig - 21. Trước khó khăn đó ĐCS TQ đã ra quyết định giao cho phòng thiết kế máy bay Thành Đô tiếp túc dự án sản xuất máy bay tiêm kích Mig - 21 với tên gọi mới là J - 7. Chuyến bay đầu tiên của J - 7 được tiến hánh vào năm 1962 và tới năm 1966 thì chính thức được chấp nhận đưa vào trang bị cho KQ TQ và KQ HQ TQ. J - 7 bản đầu tiên là bản sao chính xác của Mig - 21 - f13, máy bay này được trang bị động cơ được trang bị động cơ R - 11 cùng các thiết bị điện tử hàng không nguyên bản của do Liên Xô cung cấp.

 
 
  J - 7 có các phiên bản J -7A; J - 7B; J - 7M; J - 7EB; J - 7EH và J - 7G  và phiên bản huấn luyện JJ - 7 cùng các phiên bản xuất khẩu tương ứng được kí hiệu là F - 7. Phiên bản J - 7A được sản xuất vào năm 1970, J - 7A được trang bị hệ thống phanh dù và động cơ WP - 7 các hệ thông điện tử hàng không được giữ nguyên như J - 7. Vũ khí của J - 7A bao gồm pháo đối không 23mm và 2 tên lửa đối không dẫn hồng ngoại nhái tên lửa K - 13 của Liên Xô.
 J - 7B Bắt đầu được sản xuất vào năm 1980, phiên bản này được nâng cấp các hệ thống điện tử hàng không của phương tấy như màn hình hiển thị trung tâm HUD và máy tinh radar, thiết bị tìm kiếm hồng ngoại... nó được trang bị động cơ WP - 7B.
 J - 7M phiên bản nâng cấp của J - 7B được trang bị động cơ WP - 13, cùng radar tìm kiếm mục tiêu JL - 7 có khả năng theo dõi mục tiêu ở khoảng cách 30Km khóa mục tiêu ở khoảng cách 20km, các hệ thống điện tử hàng không khác được giữ nguyên như trên J - 7B. Phiên bản này được trang bị 4 tên lửa không đối không.
 J - 7EB máy bay thử nghiệm trang bị vũ khí chống tầu không được sản xuất.
 J - 7EH đây là phiên bản được phát triển từ J - 7EB, J - 7EH được trang bị cho KQHQ TQ dùng làm máy bay chống tầu nó có thể mang được 1 tên lửa chống hạm. Tuy nhiên yếu điểm của J - 7EH là radar tìm kiếm mục tiêu bị hạn chế do đó khi mang tên lứa chống hạm J - 7EH cần có máy bay khác đi kèm để dẫn bắn tên lửa hoặc phải mang tên lửa có khả năng tự dẫn.
 J - 7G đây là phiên bản cuối cùng trong gia đình nhà J - 7, phiên bản này được trang bị động cơ WP - 13F và được trang bị máy tính cùng các thiết bị điện tử hàng không kỹ thuật số. Phiên bản này cũng được trang bị loại radar PD KLJ-6E, sao chép loại radar EL/M-2001 của Israel. J - 7G bắt đầu được sản xuất vào năm 2002.   
 Máy bay J - 7 còn được tiếp tục sản xuất ở TQ và tiếp tục được KQ TQ sử dụng cho tới năm 2025 và hiện J - 7 đã được xuất khẩu sang 1 số nước như: Pakitan; Myanmar; Triều Tiên; Nizeria...
 
 

Thông số kỹ thuật của máy bay J - 7
Máy bay: J - 7
Hãng sản xuất: Thành Đô
Năm sản xuất: 1966 đến nay
Năm đưa vào trang bị: 1966

Phi hành đoàn: 1 người
Chiều dài máy bay: 15.000mm
Chiều cao máy bay: 4000mm
Chiều dài sải cánh: 8000mm
Diện tích cánh: 23.000mm2
Trọng tải cất cánh tối đa: 8000kg
Động cơ: 1 động phản lực tubofan đốt 2 lần: Loại R - 11; WP - 7; WP-7B; WP - 13 và WP - 13F tùy phiên bản

Tốc độ bay tối đa: 2.0Mach
Tốc độ chòng chành: 200km/h
Tốc độ tiết kiệm nhiên liệu: 800km/h
Tốc độ leo cao: 120m/s
Trần bay: 15000m
 
1 pháo đối không 23mm cùng 120 viên đạn
4 tên lửa đối không, 2 dẫn radar và 2 tầm nhiệt
Ngoài ra máy bay còn có thể mang Bom; rocket; tên lửa chống hạm có hoặc không có điều khiển
Logged

MRK
hoangpilot
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #167 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2011, 10:39:26 am »

Kịch bản đáp trả lại nếu TQ bị tấn công từ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương








Trong đó S-300 hay HQ-9 vẫn là xương sống của hệ thống PK TQ , Su-27/30 hay J-11 , J-20 sẽ phòng thủ bầu trời  Cheesy
Logged
nguyenduong501
Thành viên
*
Bài viết: 129



« Trả lời #168 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2011, 11:08:11 am »

Phiên bản J-7I



Chengdu đã bắt đầu thiết kế cải tiến J-7 từ 1969 tới 1975. Kết quả là biến thể J-7I được đưa ra giới thiệu tháng 6 năm 1976.

J-7I khác với thiết kế cơ bản J-7 ở chỗ nó có hai nòng pháo đặt bên trong máy bay. Máy bay mang hai tên lửa không đối không tầm ngắn PL-2 (copy K-13/AA-2) dẫn đường IR. Sử dụng động cơ phản lực WP-7.

Một vài chiếc J-7I khi nghỉ hưu đã được PLAAF cải tạo trở thành máy bay không người lái làm mục tiêu để thử nghiệm vũ khí và huấn luyện. Ghế của phi công trên áy bay được bỏ đi và thay vào đó là trang bị bộ điều khiển vô tuyến điện. Máy bay mục tiêu J-7 có thể bay với vận tốc siêu âm.


Phiên bản J-7II




PLAAF không có nhu cầu với J-7I, nên sau 1970 Chengdu đã tiến hành sản xuất cung cấp phiên bản mới J-7II. Phiên bản này đã trở thành seri đầu tiên của J-7 được đưa vào sản xuất hàng loạt.

J-7II có bốn cải tiến quan trọng:
-Thứ nhất, máy bay đã thay thế hệ thông ghế phóng khẩn cấp. Ghế phóng khẩn cấp của J-7 và J-7I được copy từ thiết kế của Liên Xô trên MiG-21F-13. J-7II đã được thay thế loại ghế phóng cũ lạc hậu này bằng một hệ thống ghế phóng mới, loại ghế phóng này sử dụng động cơ rocket HTY-2 với sự an toàn cao hơn và độ đáng tin cậy lớn hơn. Đã có khoảng 300 cuộc thử nghiệm ở trên mặt đất và trên không đã chứng minh được rằng loại ghế phóng này khi phóng ở độ cao bằng 0, nó đã phóng đi với vận tốc thấp nhất 250-850km/h.

-Thứ hai, thay thế mẫu động cơ nguyên bản WP-7 bằng WP-7B, được tăng thêm về lực đẩy (lực đẩy cao nhất 12.8% và cao nhất khi sử dụng buồng đốt lần hai 70%)

-Thứ ba, thay thế thùng nhiên liệu phụ 480lit bằng thùng 720lit, bên trong máy bay có thể mang nhiều nhiên liệu hơn và tầm hoạt động được tăng lên.

-Thứ tư, đã có những cải tiến mới giúp máy bay cất cánh ở tốc độ cao trên đường băng ngắn. Máy bay có thể cất cánh ở một đoạn đường ít hơn 800m.

J-7II là một trong những phiên bản được sử dụng phổ biến trong gia đình J-7.

Phiên bản xuất khẩu F-7B

F-7B là phiên bản xuất khẩu của J-7II. Máy bay cất cánh lần đầu ngày 16 tháng 5 năm 1982. Phiên bản này chỉ mang được hai quả tên lửa không đối không tầm ngắn PL-2 French Magic R.550 treo trên cánh. F-7B được cung cấp ghế phóng mới và hê thống điện tử trong buồng lái hiện đại hơn. Có 90 chiếc được xuất khẩu tới Iraq và 22 chiếc được đưa tới Sudan những năm 80.

Phiên bản J-7IIA



Phiên bản J-7IIA bay lần đầu ngày 7 tháng 3 năm 1984. J-7IIA giống tương tự J-7II, nhưng nó được cung cấp hệ thống điện tử hàng không theo công nghệ phương tây.

Phiên bản J-7IIH



J-7IIH (sau này được đặt tên lại J-7H) là một phiên bản sản xuất từ J-7II. Bay lần đầu tháng 3 năm 1985. J-7IIH mang hai quả tên lửa không đối không mới PL-8 dẫn đường IR và bom không điều khiển. Những cải tiến khác nằm ở bộ phận hạ cánh và động cơ.

Phiên bản xuất khẩu F-7M Airguard



F-7M là phiên bản xuất khẩu, bay lần đầu tháng 8 năm 1983 và chính thức được công nhận tháng 11 năm 1984. Đây là phiên bản thương mại khá thành công. Đã có 169 chiếc được bán cho Bangledesh, Iran, Myanmar và Zimbabwe năm 1985.

Bảy thiết kế GEC-Marconi đã hợp thành hệ thống điện tử hàng không của F-7M, bao gồm Type 956 HUDWAC (màn hình hiển thị và máy tính điều khiển vũ khí), radar không đối không Skyranger, máy tính truyền dẫn dữ liệu trên không, radar đo độ cao, thiết bị nhận biết friend or foe (IFF) và hệ thống thông tin liên lạc điện tử.

Máy bay cũng có 8 cải tiến do Trung Quốc thưc hiện bao gồm việc cải tiến động cơ điện cung cấp cho thiết bị điện tử mới; mang thêm hai giá treo trên cánh; cung cấp động cơ WP-7B (BM), tấm kính buồng lái chống đạn; bộ càng hạ cánh vững chắc; có thể mang tên lửa Magic R550 của Pháp và PL-7 của Trung Quốc

Phiên bản xuất khẩu F-7P Skyboth

F-7P Skybolt là phiên bản cải tiến của F-7MP được sử dụng cho không quân Pakistani (PAF). Phiên bản này cũng có những sự thay đổi gồm khả năng mang bốn tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinders và ghế phóng khẩn cấp Martin-Baker MK 10L ở Mĩ. Biến thể sau đó là F-7MP cũng mang các cải tiến khác như buồng lái được kết cấu lại và hệ thống dẫn đường được hợp thành từ các thiết bị Collins AN/ARN-147 VOR/ILS, AN/ARN-149ADF và Pro Line II DME-42. Thiết bị điện tử hàng không (hợp đồng đặt mua 100 bộ đã được chuyển giao cho Trung Quốc năm 1989). Sau này phiên bản radar Skyranger của British GEC-Marconi đã được thay thế bởi loại radar điều khiển hỏa lực FIAR Grifo 7 của Italian (tầm hoạt động hơn 55km).
Logged

Nga không phải và vô đối
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #169 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2011, 02:36:01 pm »

Phiên bản J-7I



Chengdu đã bắt đầu thiết kế cải tiến J-7 từ 1969 tới 1975. Kết quả là biến thể J-7I được đưa ra giới thiệu tháng 6 năm 1976.

J-7I khác với thiết kế cơ bản J-7 ở chỗ nó có hai nòng pháo đặt bên trong máy bay. Máy bay mang hai tên lửa không đối không tầm ngắn PL-2 (copy K-13/AA-2) dẫn đường IR. Sử dụng động cơ phản lực WP-7.

Một vài chiếc J-7I khi nghỉ hưu đã được PLAAF cải tạo trở thành máy bay không người lái làm mục tiêu để thử nghiệm vũ khí và huấn luyện. Ghế của phi công trên áy bay được bỏ đi và thay vào đó là trang bị bộ điều khiển vô tuyến điện. Máy bay mục tiêu J-7 có thể bay với vận tốc siêu âm.


Phiên bản J-7II




PLAAF không có nhu cầu với J-7I, nên sau 1970 Chengdu đã tiến hành sản xuất cung cấp phiên bản mới J-7II. Phiên bản này đã trở thành seri đầu tiên của J-7 được đưa vào sản xuất hàng loạt.

J-7II có bốn cải tiến quan trọng:
-Thứ nhất, máy bay đã thay thế hệ thông ghế phóng khẩn cấp. Ghế phóng khẩn cấp của J-7 và J-7I được copy từ thiết kế của Liên Xô trên MiG-21F-13. J-7II đã được thay thế loại ghế phóng cũ lạc hậu này bằng một hệ thống ghế phóng mới, loại ghế phóng này sử dụng động cơ rocket HTY-2 với sự an toàn cao hơn và độ đáng tin cậy lớn hơn. Đã có khoảng 300 cuộc thử nghiệm ở trên mặt đất và trên không đã chứng minh được rằng loại ghế phóng này khi phóng ở độ cao bằng 0, nó đã phóng đi với vận tốc thấp nhất 250-850km/h.

-Thứ hai, thay thế mẫu động cơ nguyên bản WP-7 bằng WP-7B, được tăng thêm về lực đẩy (lực đẩy cao nhất 12.8% và cao nhất khi sử dụng buồng đốt lần hai 70%)

-Thứ ba, thay thế thùng nhiên liệu phụ 480lit bằng thùng 720lit, bên trong máy bay có thể mang nhiều nhiên liệu hơn và tầm hoạt động được tăng lên.

-Thứ tư, đã có những cải tiến mới giúp máy bay cất cánh ở tốc độ cao trên đường băng ngắn. Máy bay có thể cất cánh ở một đoạn đường ít hơn 800m.

J-7II là một trong những phiên bản được sử dụng phổ biến trong gia đình J-7.

Phiên bản xuất khẩu F-7B

F-7B là phiên bản xuất khẩu của J-7II. Máy bay cất cánh lần đầu ngày 16 tháng 5 năm 1982. Phiên bản này chỉ mang được hai quả tên lửa không đối không tầm ngắn PL-2 French Magic R.550 treo trên cánh. F-7B được cung cấp ghế phóng mới và hê thống điện tử trong buồng lái hiện đại hơn. Có 90 chiếc được xuất khẩu tới Iraq và 22 chiếc được đưa tới Sudan những năm 80.

Phiên bản J-7IIA



Phiên bản J-7IIA bay lần đầu ngày 7 tháng 3 năm 1984. J-7IIA giống tương tự J-7II, nhưng nó được cung cấp hệ thống điện tử hàng không theo công nghệ phương tây.

Phiên bản J-7IIH



J-7IIH (sau này được đặt tên lại J-7H) là một phiên bản sản xuất từ J-7II. Bay lần đầu tháng 3 năm 1985. J-7IIH mang hai quả tên lửa không đối không mới PL-8 dẫn đường IR và bom không điều khiển. Những cải tiến khác nằm ở bộ phận hạ cánh và động cơ.

Phiên bản xuất khẩu F-7M Airguard



F-7M là phiên bản xuất khẩu, bay lần đầu tháng 8 năm 1983 và chính thức được công nhận tháng 11 năm 1984. Đây là phiên bản thương mại khá thành công. Đã có 169 chiếc được bán cho Bangledesh, Iran, Myanmar và Zimbabwe năm 1985.

Bảy thiết kế GEC-Marconi đã hợp thành hệ thống điện tử hàng không của F-7M, bao gồm Type 956 HUDWAC (màn hình hiển thị và máy tính điều khiển vũ khí), radar không đối không Skyranger, máy tính truyền dẫn dữ liệu trên không, radar đo độ cao, thiết bị nhận biết friend or foe (IFF) và hệ thống thông tin liên lạc điện tử.

Máy bay cũng có 8 cải tiến do Trung Quốc thưc hiện bao gồm việc cải tiến động cơ điện cung cấp cho thiết bị điện tử mới; mang thêm hai giá treo trên cánh; cung cấp động cơ WP-7B (BM), tấm kính buồng lái chống đạn; bộ càng hạ cánh vững chắc; có thể mang tên lửa Magic R550 của Pháp và PL-7 của Trung Quốc

Phiên bản xuất khẩu F-7P Skyboth

F-7P Skybolt là phiên bản cải tiến của F-7MP được sử dụng cho không quân Pakistani (PAF). Phiên bản này cũng có những sự thay đổi gồm khả năng mang bốn tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinders và ghế phóng khẩn cấp Martin-Baker MK 10L ở Mĩ. Biến thể sau đó là F-7MP cũng mang các cải tiến khác như buồng lái được kết cấu lại và hệ thống dẫn đường được hợp thành từ các thiết bị Collins AN/ARN-147 VOR/ILS, AN/ARN-149ADF và Pro Line II DME-42. Thiết bị điện tử hàng không (hợp đồng đặt mua 100 bộ đã được chuyển giao cho Trung Quốc năm 1989). Sau này phiên bản radar Skyranger của British GEC-Marconi đã được thay thế bởi loại radar điều khiển hỏa lực FIAR Grifo 7 của Italian (tầm hoạt động hơn 55km).


Tồng chí này lấy bài từ chỗ khác nhưng "quên" ghi nguồn Cool Vả lại bài dịch được lấy về ở trên cũng rất lởm khởm Ví dụ mấy đoạn bôi đỏ:

- loại ghế phóng này khi phóng ở độ cao bằng 0, nó đã phóng đi với vận tốc thấp nhất 250-850km/h.: đúng ra phải là "có khả năng thoát hiểm từ cao độ bằng không và điều kiện tốc độ thấp từ 250 tới 850km/h".

Đây là loại ghế phóng chỉ bảo đảm an toàn cho phi công khi thoát hiểm từ máy bay hoạt động trong dải tốc độ dòng khí nhất định và ở một cao độ nhất định. Điều này có nghĩa ghế phóng này vẫn rất nguy hiểm nếu phi công muốn thoát hiểm khi máy bay còn trên đường băng với tốc độ dòng khí dưới ngưỡng an toàn. Cải tiến hệ thống thoát hiểm cho phi công ở J-7II nếu có chỉ có thể là việc hất bỏ nắp buồng lái trước khi kích hoạt đạn phóng ghế.

Ở hệ thống thoát hiểm cũ (SK-1) của máy bay Mig-17 và Mig-21F/PF, nắp buồng lái gắn được gắn với ghế tạo thành lồng chụp bảo vệ phi công khi đạn phóng ghế kích hoạt đưa phi công thoát khỏi máy bay. Tới phiên bản ghế phóng mới hơn của Mig-21 (KM-1 và KM-1M), nắp buồng lái được hất bỏ trước khi đạn phóng ghế kích hoạt. Cải tiến ghế phóng trên máy bay J-7II được học theo thiết kế ghế phóng mới của Mig-21PFM nhưng với độ an toàn thấp hơn. Tốc độ dòng khí thấp nhất cho phép phi công sử dụng ghế phóng KM-1 thoát hiểm an toàn từ máy bay Mig-21PFM ở cao độ bằng không là 140km/h, trong khi ở ghế phóng của J-7II là 250km/h. Phi công lái J-7II sẽ chết ngay trên đường băng nếu phóng ghế thoát hiểm ở tốc độ dòng khí dưới 250km/h.

-Thứ tư, đã có những cải tiến mới giúp máy bay cất cánh ở tốc độ cao trên đường băng ngắn. Máy bay có thể cất cánh ở một đoạn đường ít hơn 800m. J-7II không có cải tiến nào giúp nó cất cánh trên đường băng ngắn. Thực tế loại J-7II được cải tiến hệ thống dù hãm cho phép mở dù hãm tốc ở tốc độ tiếp đất cao hơn so với máy bay J-7 cũ. Điều này giúp giảm độ dài đường chạy đà hạ cánh của J-7II xuống còn 800m.
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM