Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:43:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài nét về quân đội Trung Quốc (tài liệu tham khảo) phần 4  (Đọc 421915 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
trungfbi
Thành viên
*
Bài viết: 1153


Luôn tự hào để nói:"tôi là người Việt Nam"


« Trả lời #330 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2011, 09:30:20 am »

Bốn 'tử huyệt' của tàu sân bay Trung Quốc

Một là, tàu sân bay này sẽ hoạt động ở Thái Bình Dương nơi hiện đã tập trung hơn 10 tàu sân bay và tàu chở máy bay của Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ.

Hai là, tiêm kích trên hạm của Trung Quốc J-15 là hàng nhái máy bay Su-33 của Nga, có tính năng chiến đấu thua xa các tiêm kích F/A-18E/F Super Hornet của Mỹ, ngoài ra, Thi Lang không có các máy bay báo động sớm, tác chiến điện tử và vận tải, và khoảng cách này theo thời gian chỉ có tăng lên.

Ba là, tàu sân bay Trung Quốc có hệ thống phòng vệ cực kỳ yếu kém, không có lực lượng tàu hộ tống hiệu quả gồm các tàu nổi và tàu ngầm.

Bốn là, Trung Quốc đã không giải quyết được vấn đề chế tạo hệ thống động lực tin cậy cho tàu sân bay.

Dưới đây là phân tích cụ thể về các điểm yếu lớn nhất của tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc:

Đơn độc giữa "bầy sói"

Thi Lang sẽ hoạt động ở Thái Bình Dương lúc nhúc tàu sân bay. Thứ nhất, tại đây có các tàu sân bay Mỹ: 5 siêu tàu sân bay hạt nhân đóng tại California, Washington và Nhật Bản, cộng với 6 tàu đổ bộ chở trực thăng ở California và Nhật Bản.

Tổng lượng giãn nước của các tàu sân bay Mỹ là không dưới 700.000 tấn và có thể chở 600 máy bay. “Hải quân Mỹ có thể chở số máy bay trên biển nhiều gấp 2 lần toàn thế giới còn lại cộng lại”, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates phát biểu năm 2010. Trong khi tàu sân bay Trung Quốc chỉ có lượng giãn nước 60.000 tấn và chở được không quá 40 máy bay và trực thăng.
Nhật Bản có 2 tàu sân bay trực thăng/đổ bộ 18.000 tấn, cộng một chiếc nữa đang đóng. Hiện tại, chúng chỉ chở một ít trực thăng, song chúng cũng có thể chở các tiêm kích tàng hình hạ cánh thẳng đứng F-35B. Cũng có những khả năng tương tự là 4 tàu sân bay 14.000 tấn mà Hàn Quốc dự định đóng và 2 tàu sân bay 30.000 tấn của Australia đang đóng.

Tàu sân bay 12.000 tấn Chari Naruebet là kẻ đứng ngoài vì nó quá nhỏ, chở được một nhóm nhỏ máy bay, nhưng dĩ nhiên nó vẫn có khả năng chở được một số máy bay cất/hạ cánh thẳng đứng cổ lỗ sĩ Harrier.

Ấn Độ và Nga đều có các tàu sân bay thật sự chở các tiêm kích phản lực. Tàu Đô đốc Kuznetsov thực tế là tàu cùng loại, cao tuổi ơn của Thi Lang. Tàu chở khoảng một tá Su-33.

Gần đây, Đô đốc Kuznetsov chủ yếu hoạt động ở Địa Trung Hải. Tàu sân bay 30.000 tấn Viraat của Ấn Độ với 30 chiếc Harrier và trực thăng của nó hoạt động chủ yếu ở Ấn Độ Dương.

Trong tổng số 22 tàu sân bay đang và sẽ hoạt động ở Thái Bình Dương, không có tàu nào thuộc về một quốc gia mà Trung Quốc có thể coi là đồng minh thân cận. Hiện nay, chẳng là lạ khi nhìn thấy các tàu sân bay Mỹ chạy trong hội hình hỗn hợp với các tàu sân bay của Nhật, Hàn, Thái Lan và Ấn Độ. Bắc Kinh chỉ có thể mơ đến chuyện tập hợp được một sức mạnh hải quân quốc tế hùng mạnh nhường ấy dù có hay không có Thi Lang.

Ngoáo ộp không nang vuốt

Tàu sân bay chỉ có sức mạnh khi có không đoàn trên tàu hùng mạnh. Vì thế, Hải quân Mỹ chi hàng năm trung bình 15 tỷ USD cho các máy bay mới, gần như tương đương Không quân Mỹ. Các máy bay hoạt động hiệp đồng về tuần tra, bám và tấn công mục tiêu bên dưới mặt nước và mặt nước và bên trên mặt nước chở người và tiếp cận đến và từ tàu sân bay.

Thi Lang không hề có thứ gì gần giống với sự kết hợp các loại máy bay và khả năng đó. Tiêm kích trên hạm J-15 của Trung Quốc chỉ có thể gần tương đương với F/A-18, nhưng với tầm hoạt động ngắn hơn, các sensor thô sơ hơn và ít lựa chọn vũ khí hơn. Trực thăng Ka-28 săn tàu ngầm giống như trực thăng H-60. Trung Quốc cũng không có các máy bay gây nhiễu radar, máy bay cảnh báo sớm.

Một tàu sân bay hạt nhân Mỹ mang trên boong 70 máy bay và trực thăng, trong đó có các tiêm kích F/A-18, máy bay tác chiến điện tử EA-6B hoặc E/A-18G, các máy bay báo động sớm E-2, các máy bay vận tải C-2 và trực thăng H-60. Tàu sân bay của Trung Quốc thua xa khi so với một tiềm lực đa dạng như vậy.

Có tin Trung Quốc đang phát triển máy bay báo động sớm trên hạm dạng Е-2 của Mỹ, song Thi Lang không có máy phóng máy bay bằng hơi nước để giúp các máy bay đó cất cánh. (>> chi tiết)

Trung Quốc cũng đang phát triển trực thăng báo động sớm Z-8, nhưng khả năng của nó làm sao sánh được với tính năng của Е-2. Trong thập kỷ tới, khoảng cách sẽ chỉ có rộng thêm vì Hải quân Mỹ sẽ triển khai các máy bay không người lái trên hạm các loại.

Phòng vệ yếu kém

Để bảo vệ các tàu sân bay trị giá 10 tỷ USD và lực lượng máy bay trên tàu, Hải quân Mỹ huy động nhiều tàu trong số 83 tàu khu trục trục và tàu tuần dương chạy kèm hộ tống mỗi tàu sân bay. Các tàu hộ tống được trang bị các radar AEGIS siêu hiện đại và có thể mang mỗi tàu 100 tên lửa phòng không trở lên. Một cụm tàu sân bay chiến đấu Mỹ sở hữu số radar công suất mạnh và tên lửa trên biển nhiều hơn toàn bộ hải quân của đa số các nước khác.

Hiện nay, Trung Quốc chỉ có thể sử dụng 2 tàu khu trục Type 052C trang bị hệ thống phòng thủ hơi giống AEGIS của Mỹ để hộ tống tàu sân bay. Đây là 2 tàu khu trục có tính năng gần gần với các tàu chiến Aegis của Mỹ, mặc dù một số tàu khác đang được đóng.
Thế nhưng Type 052C chỉ mang số tên lửa bằng nửa tàu khu trục Mỹ, radar của nó không thể sánh với khả năng bắt bám đồng thời nhiều mục tiêu của AEGIS. Trên mặt biển, Thi Lang sẽ là chiếc tàu được bảo vệ... theo tiêu chuẩn Trung Quốc.

Tình hình với tàu ngầm bảo vệ tàu sân bay Trung Quốc còn tồi tệ hơn. Trong khi mỗi tàu ngầm Mỹ được hộ tống bởi ít nhất 1 tàu ngầm hạt nhân tấn công có nhiệm vụ tuần tra phía trước tàu sân bay, ngăn chặn các chiến hạm đối phương, nhất là các tàu ngầm, thì hải quân Trung Quốc chỉ có 2 tàu ngầm nguyên tử Type 093, có khả năng tuần tra tầm xa. Con số này quá ít cho nhiệm vụ hộ tống tàu sân bay, cộng thêm các nhiệm vụ khác được giao cho lực lượng tàu ngấm tấn công Trung Quốc.

Nhưng vấn đề khó khăn cho Trung Quốc là hơn là liên lạc tàu ngầm. Để điều phối tàu nổi và tàu ngầm, Mỹ và các hải quân tiên tiến khác dựa vào sự kết hợp các vô tuyến điện tần số cực thấp lắp trên các máy bay chuyên dụng và các vô tuyến điện tần số cao hơn để liên lạc từ tàu nổi đến tàu ngầm.

Trung Quốc không có hệ thống liên lạc hoàn thiện như vậy. Họ không có hệ thống liên lạc tàu ngầm hiện đại do các hệ thống liên lạc vô tuyến điện do Trung Quốc chế tạo không đủ hoàn thiện.
 
“Do hạn chế về công nghệ liên lạc tàu ngầm, hải quân Trung Quốc hiện chỉ có thể kiểm soát chiến thuật tương đối hạn chế đối với các tàu ngầm của họ”, Garth Heckler, Ed Francis và James Mulvenon viết trong cuốn sách “Lực lượng tàu ngầm hạt nhân tương lai” của Trung Quốc (China’s Future Nuclear Submarine Force) năm 2007.

Như vậy, có lẽ tàu Thi Lang không thể dựa vào các tàu ngầm Trung Quốc để bảo vệ chống tàu ngầm đối phương.

GS Bernard Cole thuộc Học viện Quốc phòng Mỹ bình luận: Với tư cách một sĩ quan hải quân, tôi rất thích nhìn thấy họ (Trung Quốc) xây dựng một hạm đội tàu sân bay ngày càng trở thành mục tiêu ngon ăn cho tàu ngầm.

Mới đây, có tin xưởng đóng tàu Trung Quốc Changxingdao đã lắp cho tàu Thi Lang các đài radar, một số hệ thống điện tử và vũ khí. Cụ thể, tàu đã được lắp 4 anten mạng pha chủ động do Trung Quốc sản xuất. Chủng loại radar lắp trên tàu sân bay không được tiết lộ. (>> chi tiết)

Theo Strategy Page, radar lắp trên tàu Thi Lang có các tham số kỹ thuật giống với các radar của hệ thống Aegis của Mỹ. Ngoài ra, trang thiết bị điện tử cũng đã được đưa lên tàu. Dự đoán, trên tàu Thi Lang sẽ triển khai một hệ thống thông tin-máy tính.

Thi Lang cũng đã được trang bị hệ thống pháo cao tốc Type 730 cải tiến. Đây là pháo 30 mm với 10 nòng quay. Hệ thống vũ khí tầm gần (CIWS) Phalanx của Hải quân Mỹ chỉ có 6 nòng. Pháo mới được chế tạo dựa trên một loại pháo cũ 7 nòng của Trung Quốc, Type 730 có khả năng bắn 5.800 phát/phút.

Đây không phải là hệ thống phòng thủ điểm duy nhất trên tàu Thi Lang. Trên tàu cũng đã lắp hệ thống tên lửa phòng không FL-3000N (hệ thống RAM), có khả năng tiêu diệt mục tiêu bay ở cự ly đến 9 km.

Hệ thống này gồm 1 bệ phóng với 24 tên lửa có đường kính 0,12 m, chiều dài 2 m. Một số bức ảnh được đăng tải cho thấy, tàu này còn được lắp ít nhất một bệ phóng tên lửa phòng không FL-3000N (dường như có một bệ phóng như vậy được che bạt bên phải, phía dưới, trên ảnh).

Hệ thống tên lửa phòng không này kiểu này được xem là hiệu quả hơn các hệ thống CIWS sử dụng pháo cao tốc. Các hệ thống phòng không hiện đại này được liên kết với một hệ thống radar mạng pha mới rõ ràng là sao chép của Nga.

Động cơ tậm tịt

Việc chế tạo động cơ phản lực hiện đại cho các máy bay chiến đấu và động cơ turbine khí cho hạm tàu luôn là những nhiệm vụ nan giải nhất về kỹ thuật và công nghệ. Lầu Năm góc đang vấp phải những vấn đề tương tự khi phát triển động cơ cho tiêm kích tàng hình cất cánh đường băng ngắn/hạ cánh thẳng đứng F-35B, và động cơ cho tàu sân bay trực thăng/đổ bộ lớp San Antonio.

Khó khăn với động cơ đã làm chậm việc phát triển trực thăng chiến đấu WZ-10 gần 10 năm, tiêm kích tiên tiến thế hệ mới J-20 đang được trang bị 2 loại động cơ turbine phản lực lưỡng mạch có tăng lực AL-31F của Nga và WS-10A của Trung Quốc.

Có tin Trung Quốc đã mua được hệ thống động cơ cho tàu sân bay Thi Lang từ Ukraine. Tuy chắc chắn tốt hơn bất kỳ động cơ nào do Trung Quốc sản xuất, song các động cơ thủy của Ukraine vẫn kém tin cậy theo tiêu chuẩn phương Tây.

Tàu Kuznetsov lắp động cơ Ukraine do những vấn đề về động cơ mà buộc phải giam chân phần lớn thời gian trong 30 năm qua ở bến cảng để bảo dưỡng vì hỏng hóc liên tục. Mỗi khi tàu này ra khơi, lại có một tàu kéo to tướng chạy kè kè phía sau phòng khi tàu sân bay bị hỏng. Rất có thể tình trạng tương tự cũng xảy ra với tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc, vốn là tàu cùng lớp với tàu sân bay Nga. Nếu cũng như vậy, Thi Lang sẽ là con tàu có bề ngoài hoành tráng với nội thất ọp ẹp.

Nhà nghiên cứu ĐH Quốc gia Chengchi, Đài Loan Arthur S. Ding nói rằng, “Trung Quốc với những lợi ích đang gia tăng trên biển sẽ buộc phải chờ đợi để chế tạo được những tàu sân bay mạnh hơn và tin cậy hơn”.

Bù nhìn giữ dưa: Tàu sân bay dùng để dọa tàu đánh cá

Trong buổi điều trần tại Thượng viện Mỹ vào tháng 4.2011, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, đô đốc Robert Willard đã tuyên bố rằng, ông ta không lo lắng với “khả năng quân sự của tàu sân bay Trung Quốc”.

Tàu sân bay này chỉ có thể là bệ mang huấn luyện để huấn luyện nhân lực, mà có thể mất nhiều năm và thậm chí nhiều thập kỷ thì mới xuất hiện những tàu sân bay nội địa Trung Quốc đầu tiên thực sự hiệu quả về mặt chiến đấu.

Ngay cả khi Thi Lang được sử dụng trong chiến đấu thì khả năng chiến đấu của nó cũng sẽ là tối thiểu. Tuy nhiên, tuần tra các vùng biển tranh chấp thì nó có thể và về mặt này tàu sân bay sẽ gia tăng đáng kể tầm hoạt động của hải quân Trung Quốc.
Bản tin uy tín TTU №801, 11/5/2011 của Pháp thì cho rằng, không được lẫn lộn hiệu ứng công chúng từ sự xuất hiện của tin tức nào đó với hiện thực chiến lược. Đa số các chuyên gia vũ khí và chiến lược hải quân có thái độ hoài nghi đối với tin nói về việc hạ thủy tàu sân bay của Trung Quốc.

Theo thông tin của tình báo Hải quân Nhật, hiệu ứng chiến lược từ việc hạ thủy con tàu sẽ bị hạn chế về thời gian bởi vì để đối phó với hạm đội Mỹ, Trung Quốc sẽ cần phải xây dựng một cụm tàu sân bay vốn gồm nhiều tàu chiến, mà đến được lúc đó thì còn xa.

Lầu Năm góc chú ý hơn đến thành phần không quân của cụm tàu sân bay chiến đấu và cho rằng, tiêm kích trên hạm J-15 chỉ có khả năng sẵn sàng chiến đấu vào năm 2015 và chính thời điểm đó mới có thể coi là thời điểm thực sự hạ thủy tàu Thi Lang.

Trong khi chờ đợi, tàu này sẽ được dùng để huấn luyện nhân lực, sử dụng trực thăng và máy bay cất/hạ cánh thẳng đứng giống như J-18 Đại bàng đỏ mới được thử nghiệm vào tháng 4/2011.

Đài Loan thì cho rằng, tình thế này là mối đe dọa thực sự đối với họ và cho rằng, trong thời gian này, Trung Quốc sẽ bắt tay đóng một tàu sân bay động lực hạt nhân theo thiết kế nội địa với thời điểm hoàn thành khoảng năm 2020.

Trước đây đã có tin vào cuối năm 2011 sẽ bắt đầu chạy thử tàu thi Lang và có thể nhận tàu vào cuối năm 2012. Bộ quốc phòng Trung Quốc dự tính đóng hàng loạt tàu sân bay nội địa dựa trên thiết kế tàu Varyag/Thi Lang.

http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/kythuatquansu/Bon-tu-huyet-cua-tau-san-bay-Trung-Quoc/20116/148644.datviet

Đọc tham khảo được! Dù rằng vẫn chưa được khách quan cho lắm  Roll Eyes
Logged

"Tôi muốn cho tất cả mọi người, bất kể là ai, biết được sự thật. Vì không có thông tin, công chúng sẽ không thể đưa ra được những quyết định chuẩn xác" - Bradley Manning (chuyên gia tình báo của Bộ Quốc Phòng Mỹ)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #331 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2011, 05:21:02 pm »

Trung Quốc trấn an hay dằn mặt ASEAN?

Trung Quốc cam kết hòa bình và ổn định trong khu vực thông qua hợp tác an ninh, nhưng không nên tham gia vào bất kỳ liên minh nhằm chống lại bên thứ 3.
Trấn an hay dằn mặt?

Trong một bài phát biểu dài 45 phút tại diễn đàn an ninh châu Á, đối thoại Shangri-la 2011, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nhắc đi nhắc lại điệp khúc “Sự phát triển của quân đội Trung Quốc không phải là mối đe dọa với các nước trong khu vực”.

Hãng tin Channel News Asia dẫn lời bài phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt, “Trung Quốc ủng hộ dân chủ trong quan hệ quốc tế và tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau, đó là một mối quan tâm lớn để duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực."

Theo đó, Sự lớn mạnh của quân đội Trung Quốc đơn giãn là để đảm bảo an ninh quốc phòng của Trung Quốc. "Trung Quốc tuân thủ một chính sách quốc phòng là tự vệ trong tự nhiên. Tôi biết nhiều người đang có xu hướng tin rằng sự tăng trưởng kinh tế, cùng với sự phát triển của quân đội Trung Quốc sẽ trở thành một mối đe dọa quân sự. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, đó không phải là lựa chọn của chúng tôi, Trung Quốc sẽ không bao giờ tìm kiếm quyền bá chủ hay đe dọa bất cứ nước nào”, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nói.


Sự phát triển của quân đội đặc biệt là hải quân Trung Quốc cùng với những gì họ đã và đang làm khiến các nước trong khu vực không khỏi lo lắng.
Trong bài phát biểu nhằm trấn an các nước trong khu vực trước những phát biểu cho rằng, Trung Quốc đang trở thành một “kẻ bắt nạt trên biển Đông”. Bộ trưởng Lương Quang Liệt không quên nhấn mạnh một điều rằng: “Các nước trong khu vực không nên tham gia vào bất cứ liên minh nào nhằm chống lại một bên thứ 3 nào đó”. Tuy nhiên, Bộ trưởng Lương Quang Liệt không đi vào chi tiết của vấn đề này.

Trước đó, trong bài phát biểu của mình tại Đối thoại Shangri-la 2011, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã tái khẳng định cam kết hiện diện quân sự lâu dài tại châu Á-Thái Bình Dương. Như vậy có thể thấy rằng, bài phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt là một thông điệp nhằm cảnh báo các nước trong khu vực đối với cam kết của Washington.

Sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Á, đặc biệt là ASEAN là một trở ngại rất lớn đối với chiến lược hướng ra biển lớn của Trung Quốc.

Bài phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt, một mặt trấn an các nước trong khu vực trước những diễn biến phức tạp trên biển Đông trước thềm đối thoại Shangri-la nhưng cũng không ngoài mục đích cảnh báo các nước châu Á, đặc biệt là ASEAN không nên đi quá xa trong mối quan hệ với Washington.

Nói một đường làm một nẻo

Dù lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng, “Quân đội Trung Quốc không phải là mối đe dọa với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, giữa tuyên bố của lãnh đạo cấp cao và hành động cấp dưới có một khoảng cách rất lớn.

Ngay trước thềm đối thoại Shangri-la, Trung Quốc liên tiếp có những hành động "chơi rắn" trên biển Đông.

Ngày 26/5/2011 tàu hải giám của Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm lãnh hải Việt Nam, cắt cáp thăm dò của tàu thăm dò dầu khí Bình Minh-02 thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Tiếp đó, nổ súng uy hiếp ngư dân Việt Nam đang đánh bắt trên vùng biển thuộc quân đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tàu hải quân Trung Quốc cũng đã có những hành động uy hiếp tàu đánh cá của ngư dân và tàu thăm dò dầu khí của Phillippine.

Nếu quân đội Trung Quốc không phải là mối đe dọa với các nước trong khu vực. Vậy đâu là lời lý giải cho những hành động ngang ngược này?


Tàu hải giám Trung Quốc xâm nhập lãnh hải Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.
Trong bài phát biểu của mình, Bộ trưởng Lương Quang Liệt nhấn mạnh đến vấn đề "Xây dựng hòa bình và ổn định trong khu vực thông qua sự hợp tác và tin tưởng lẫn nhau". Nhưng với những gì mà lực lượng hải giám và Hải quân Trung Quốc đã và đang làm thì đâu là cơ sở để xây dựng lòng tin lẫn nhau giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước đang có tranh chấp trực tiếp về chủ quyền biển đảo?

Theo toàn văn bài phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt được đăng tải trên trang Web của IISS có đoạn như sau: "Chúng tôi phản đối bất kỳ hành động có thể dẫn đến bất ổn trong khu vực". Nhưng chính những hành động của Trung Quốc đang tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn có thể dẫn đến bất ổn trong khu vực.

Phía Trung Quốc cho rằng, hành động của tàu hải quân và tàu hải giám nước này là để thực thi pháp luật trên vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. Điều nghịch lý là Trung Quốc không thể chứng  minh được tính hợp pháp của đường lưỡi bò chiếm đến 80% diện tích biển Đông.

Hành động không đi đôi với lời nói, Trung Quốc đang dần làm nản lòng các nước ASEAN, đặc biệt là các nước có tranh chấp về chủ quyền biển đảo,  về những tuyên bố của mình.

Tại đối thoại Shangri-la 2011, các nước ASEAN một lần nữa nhắc lại sự cần thiết phải tôn trọng các Tuyên bố về cách ứng xữ trên biển Đông DOC mà ASEAN đã ký kết với Trung Quốc năm 2002. Sự quan trọng của việc ký kết bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC để các tranh chấp không lâm vào ngõ cụt, tránh nguy cơ xung đột. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn “im lặng” với COC.

Các nước ASEAN đã đạt được sự nhất trí, cố gắng sẽ đạt được sự ký kết Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC vào năm 2012, nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày ký kết Tuyên bố ứng xử trên biển Đông DOC  giữa ASEAN và Trung Quốc.

Việc COC có được ký kết vào năm 2012 hay không phụ thuộc rất lớn vào động thái của Trung Quốc, tuy nhiên theo nhìn nhận của một số chuyên gia nghiên cứu về biển Đông, lộ trình này rất khó đạt được.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/phantich/Trung-Quoc-tran-an-hay-dan-mat-ASEAN/20116/148729.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #332 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 08:38:51 am »

Trung Quốc bán 8 máy bay huấn luyện Y-8 cho Venezuela


Công ty chế tạo máy bay Xin thuộc tập đoàn công nghiệp hàng không Trung Quốc (AVIC) đã ký với tập đoàn xuất – nhập khẩu CATIC của nước này hợp đồng cung cấp cho Venezuela 8 máy bay vận tải quân sự tầm trung Y-8C Shaanxi.
Giá trị của thỏa thuận không được tiết lộ. Dự kiến, những máy bay được cung cấp theo một số lô khác nhau sẽ được giao vào năm 2012.

Venezuela đã trở thành khách hàng tiếp theo mua máy bay vận tải quân sự Y-8 sau Shri – Lanka, Sudan, Myanmar, Ai Cập, Tanzania và một số quốc gia khác. Đến thời điểm này, Trung Quốc đã xuất khẩu 25 máy bay vận tải quân sự Y-8, trong đó có 13 chiếc đã được giao cho khách hàng.

Bộ Quốc phòng Venezuela đã tuyên bố về ý định mua máy bay vận tải của Trung Quốc vào tháng 11/2010. Các cuộc hội đàm cung cấp máy bay với Venezuela đã kéo dài trong khoảng gần 1 năm. Ban đầu, Venezuela tuyên bố muốn mua từ 10-12 chiếc Y-8 của Trung Quốc. Những chiếc Y-8 sẽ thay thế một phần máy bay C-130H Hercules của Mỹ đã cũ – chúng không thể vận hành đầy đủ vì Mỹ từ chối cung cấp phụ tùng cho Venezuela.

Hợp đồng cung cấp 8 chiếc Y-8C cho Venezuela là đơn hàng lớn nhất trong số những hợp đồng đã nhận của CATIC. CATIC dự định mở rộng số lượng khách hàng và tính đến việc ký những hợp đồng mới cung cấp Y-8 trong đó có các nước khu vực Mỹ Latinh.

Máy bay vận tải quân sự Y-8 có thể chở được 96 người hoặc 20 tấn hàng. Máy bay được trang bị 4 động cơ tuốc bin cánh quạt. Y-8 có thể bay với vận tốc trung bình 670km/h, tầm bay xa 5615km.

Từ năm 2005, Không quân Venezuela đã mua của Trung Quốc 18 máy bay huấn luyện chiến đấu K-8W và 10 radar di động tìm kiếm tầm xa (7 phiên bản của radar JYL-1 và 3 phiên bản của JY-11B). Ngoài ra, khả năng mua máy bay chiến đấu J-10 và thêm 7 máy bay huấn luyện chiến đấu K-8W.

Nguồn http://vitinfo.vn/MMuctin/Quansu/THSK/LA89355/default.html
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #333 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 11:10:48 pm »

Trung Quốc, Indonesia khai mạc diễn tập "Sharp Knife 2011"

VIT - Ngày 06/6, các lực lượng đặc biệt của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Lực lượng Vũ trang Quốc gia Indonesia đã khai mạc một cuộc diễn tập huấn luyện quân sự chung tại thành phố Bandung, thủ phủ tỉnh Tây Java, Indonesia.

Cuộc diễn tập quân sự chung, mang mật danh "Sharp Knife 2011" là cuộc diễn trận chung đầu tiên trong lịch sử giữa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Lực lượng Vũ trang Quốc gia Indonesia.

Sự kiện này được mong đợi sẽ củng cố hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Indonesia, cũng như giữa quân đội hai nước. Cuộc diễn tập này còn nhằm nâng cao sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, thúc đẩy trao đổi và hợp tác thực tế giữa hai quân đội.

69 sĩ quan và binh lính thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sẽ tham gia tất cả 3 giai đoạn trong cuộc tập chung này, bao gồm: trao đổi thông tin và triển lãm vũ khí, huấn luyện đội hình hỗn hợp, và diễn tập toàn diện.

Binh lính Trung Quốc sẽ phối hợp với các binh lính thuộc lực lượng đặc biệt Quân đội Quốc gia Indonesia huấn luyện và diễn tập với một tình huống giả định là một nhóm khủng bố đang tiến hành bắt cóc con tin.

Phần chính của cuộc huấn luyện này là các khoa mục diễn tập chung trên chiến trường về nhiệm vụ chống khủng bố như cứu các con tin bị bắt cóc. Cuộc diễn tập dự kiến sẽ kết thúc vào ngày 17/6.

Ông Zhao Zongqi, Tham mưu trưởng Quân khu Tế Nam của Trung Quốc, và ông Lodewijk F. Paulus, Tư lệnh lực lượng đặc biệt Quân đội Quốc gia Indonesia, đã tham dự buổi lễ khai mạc cuộc diễn tập chung.

Hai quan chức quân sự này đã có bài phát biểu trước lễ khai mạc và đi thăm quan cuộc triển lãm các trang thiết bị quân sự và vũ khí của nhau.
Linh Trang (Theo THX)
Tin dịch

Nguồn: http://vitinfo.vn/MMuctin/Quansu/THSK/LA89431/default.html
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #334 vào lúc: 07 Tháng Sáu, 2011, 11:48:34 pm »

Năm con rồng khuấy động biển cả

Bài viết của Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ phân tích, đánh giá chi tiết  chức năng, nhiệm vụ của 5 đơn vị mà tác giả gọi là “Năm con rồng” hình thành nên lực lượng chấp pháp trên biển của Trung Quốc .


Trong thời đại mà sự phô trương lực lượng giữa các cường quốc diễn ra rất tinh vi, bảo vệ bờ biển có vai trò mới và quan trọng trên vũ đài thế giới. Khi Washington muốn thể hiện sự hối lỗi và muốn tiếp viện Gru-di-a đang bị bao vây mà không làm gia tăng căng thẳng vốn đã nóng bỏng ở quanh Hắc Hải, USCGC Dallas, một tàu tuần duyên lớn của Mỹ đã được phái đi.1 Xu hướng này đã trở nên rõ ràng từ lâu ở châu Á. Lần sử dụng các lực lượng chết người rộng rãi nhất của Tokyo sau chiến tranh thế giới II là hành động của lực lượng tuần duyên Nhật Bản chống lại một tàu thăm dò Bắc Hàn.2 Gần đây hơn, một tàu tuần duyên Nhật Bản đã đánh chìm một tàu cá Đài Loan trong một vụ va chạm gần đảo Senkaku/Điếu Ngư Đài đang tranh chấp ở vùng biển Hoa Đông, châm ngòi cho những tranh chấp ngoại giao tương đối nghiêm trọng.3 Những lực lượng tuần duyên hùng mạnh nhất châu Á này đang đặt ra một tiền lệ xấu. Ví dụ, Ấn Độ đã thông báo một vụ mua máy bay chiến đấu dài hạn táo bạo phục vụ cho việc tuần tra biển vào mùa thu 2008.4 Đội tuần duyên đã được cải thiện của Hàn Quốc, trong khi đó, đã mời các phóng viên nước ngoài tiến hành một chuyến du lịch gần các đảo do Hàn Quốc quản lý nhưng Nhật Bản cũng tuyên bố chủ quyền, làm cho chuyến tham quan mang ý nghĩa hiếu chiến.5

Với những thông tin trên, cùng với sự đồng thuận rộng rãi rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc là một trong những hiện tượng quan trọng nhất ảnh hưởng đến an ninh quốc tế trong thế kỷ 21, điều lạ lùng là cơ cấu tổ chức, khả năng, văn hóa dịch vụ hay triển vọng của lực lượng tuần duyên Trung Quốc này hầu như không được biết đến. Trong khi lực lượng tuần duyên Nhật Bản đã thu hút đáng kể sự chú ý gần đây của giới học giả trong lĩnh vực này, những sự phát triển tương tự của Trung Quốc đã không được chú ý, mặc dù những tài liệu nguồn về vấn đề này ở Trung Quốc là rất dồi dào.6 Đáng chú ý là một chuyên gia hàng đầu về “phòng vệ biên giới” của Trung Quốc gần đây đã nhận định rằng công trình của ông “chỉ xem xét cách tiếp cận của Trung Quốc trong việc bảo vệ biên giới đất liền của nước này…Những nghiên cứu trong tương lai nên nghiên cứu cách tiếp cận của Trung Quốc đối với việc phòng vệ biển.”7 Tất nhiên, các học giả cũng đã tương đối chú ý đến sự phát triển của hải quân Trung Quốc, và điều này là hoàn toàn hợp lý.8 Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự phát triển của hải quân Trung Quốc có xu hướng tập trung vào những tình huống tranh chấp xa bờ và căng thẳng, bao gồm những cuộc khai phá dưới biển và những cuộc tập trận đổ bộ, cũng như những tiềm năng trong tương lai với việc bảo vệ đường biển mở rộng, triển khai sức mạnh và răn đe hạt nhân. Một vụ việc được biết đến rộng rãi năm 2009 liên quan đến tàu do thám Mỹ và các tàu hải giám của Trung Quốc (cùng với các tàu đánh cá Trung Quốc) cũng đã làm rõ hơn sự hiểu biết về khả năng giám sát hàng hải phi quân sự của Trung Quốc.

Nhìn chung, các vấn đề bảo vệ bờ biển và đặc biệt là các vấn đề liên quan đến cái được gọi là an ninh phi truyền thống đã không được xem xét đầy đủ trong bối cảnh hàng hải Trung Quốc. Nếu nhận thức của Trung Quốc về vấn đề quản lý và giám sát bờ biển, an ninh cảng, cướp biển, buôn lậu ma túy, bảo vệ môi trường, tìm kiếm và giải cứu tiếp tục ít được biết đến bên ngoài Trung Quốc, hợp tác giữa các cường quốc biển Đông Á có thể cũng sẽ tiếp tục kém phát triển.9 Việc triển khai quân chưa từng có tiền lệ tháng 12 năm 2008 của hải quân Trung Quốc cùng với các lực lượng hải quân khác ở Vịnh Aden trong hoạt động chống cướp biển, không còn nghi ngờ gì nữa, là một bước tiến rõ rệt theo đúng hướng. Tuy nhiên, còn rất nhiều điều có thể và nên được thực hiện để tìm ra điểm chung với Trung Quốc trong việc đối phó với các mối đe dọa phi truyền thống.

Ngày nay, Trung Quốc còn khá yếu trong lĩnh vực trung tâm cực kỳ quan trọng - sức mạnh hàng hải, là sự kết hợp giữa năng lực thương mại và sức mạnh quân sự cứng và liên quan đến quản lý hàng hải, tức là thực thi luật pháp của một quốc gia và đảm bảo “trật tự tốt đẹp” ngoài khơi của quốc gia đó.10 Mặc dù đã có những tiến bộ lớn lao trong thập kỷ vừa qua, các cơ quan cưỡng chế hàng hải Trung Quốc vẫn chia rẽ và tương đối yếu. Nhiều chuyên gia Trung Quốc đã miêu tả tình trạng này một cách khá châm biếm là có quá nhiều “những con rồng khuấy động biển cả.”11 Ở Đông Bắc Á, khả năng tuần tra hàng hải yếu của Trung Quốc là ngoại lệ, đặc biệt nếu đem so sánh với khả năng tuần duyên của Nhật Bản (hay ở ngoài khu vực là Mỹ). Thật vậy, lực lượng tuần duyên của Nhật Bản gần đây đã được miêu tả là gần như, nếu không muốn nói là hoàn toàn, là hải quân thứ hai của Tokyo.12

Sự yếu kém tương đối của Trung Quốc trong lĩnh vực này là một điều bí ẩn và đã đặt ra câu hỏi nghiên cứu của bài này. Tình trạng yếu kém tương đối này được nêu ở phần một của nghiên cứu. Phần hai lần lượt miêu tả và phân tích tình trạng hiện tại của năm bộ máy thẩm quyền chịu trách nhiệm giám sát và quản lý hàng hải ở Trung Quốc ngày nay. Phần ba đưa ra câu hỏi là các cơ quan này, và bất kỳ một lực lượng tuần duyên thống nhất nào của Trung Quốc trong tương lai, có mối quan hệ như thế nào đối với hải quân Trung Quốc. Trước khi đưa ra tác động và triển vọng, phần bốn sẽ đi sâu phân tích một loạt những lý giải vĩ mô cho sự yếu kém của các cơ quan tuần tra bờ biển Trung Quốc hiện nay. Phần năm phân tích các khả năng cho việc hợp tác an ninh hàng hải trong tương lai, bằng cách xem xét kỹ sự tham gia hàng hải dân sự Mỹ-Trung giữa các thực thể tuần duyên trong thập kỷ vừa qua. Phần cuối cùng làm rõ ba gợi ý chiến lược khả thi cho việc tăng cường khả năng tuần duyên của Trung Quốc. Toàn bộ nghiên cứu này dựa trên hàng trăm nguồn tài liệu tiếng Trung, các cuộc phỏng vấn tại Trung Quốc, và đặc biệt là một điều tra rất chi tiết và cực kỳ trung thực vào năm 2007 của giáo sư He Zhonglong và ba thành viên khác tại Học viện cảnh sát tuần tra biển Trung Quốc tại Ninh Ba.13

Sự phát triển đang diễn ra của các thực thể tuần duyên Trung Quốc thành những cơ quan quản lý hàng hải đồng bộ và hiệu quả đặt ra cả thách thức và cơ hội cho an ninh và ổn định ở Đông Á. Việc mở rộng khả năng sẽ tự nhiên dẫn đến sự thực thi chặt chẽ hơn các tuyên bố biển của Trung Quốc trước các nước láng giềng.14 Tuy nhiên, một kết quả triển vọng tốt đẹp hơn là việc tăng cường khả năng quản lý hàng hải của Trung Quốc sẽ dẫn đến việc Bắc Kinh sẽ sẵn sàng ủng hộ các quy tắc an ninh và an toàn hàng hải như một “nhân tố hàng hải” đủ năng lực và thiết yếu.

Sự yếu kém tương đối trong môi trường láng giềng mạnh

Những yếu kém của lực lượng tuần duyên Trung Quốc là nguồn tư liệu phong phú cho các nhà phân tích về biển Trung Quốc. Xem xét quy mô phát triển hàng hải của Trung Quốc, những nhà phân tích này cho rằng tiềm lực của lực lượng tuần duyên nước này là nhỏ bé và rời rạc. He Zhonglong và những cộng sự của ông viết: “Các lực lượng cảnh sát biển của chúng ta…không tương xứng với vị thế và hình ảnh của một siêu cường”.15 Ông và các tác giả nói thêm: “Hiện nay, trong hải đội của lực lượng tuần duyên, đa số là các tàu tuần tra có trọng tải nhỏ hơn 500 tấn, và con số trực thăng hải vận càng cho thấy lực lượng này không đạt đến những yêu cầu của một lực lượng chấp pháp trên biển toàn diện”.16 Các giáo sư của Học viện Cảnh sát Biển Ninh Ba cũng khẳng định rằng tình hình hiện nay là không thể chấp nhận được: “Trung Quốc là quốc gia có dân số đông, và các nguồn tài nguyên trên đất liền của nước này là không đủ. Các đại dương có thể thay thế và bổ sung không gian cho đất liền, và đối với các nguồn tài nguyên thì biển cũng có trữ lượng tiềm năng khổng lồ cùng với ý nghĩa chiến lược.”17

Ngược lại, những cường quốc ở Thái Bình Dương khác, đặc biệt là Mỹ và Nhật, duy trì các lực lượng tuần duyên rất mạnh. Các nhà phân tích hàng hải Trung Quốc ghi nhận đầy đủ và thấu hiểu thực tế so sánh bất lợi này. Quả thật, mức độ hiểu cặn kẽ của phía Trung Quốc về tiềm lực tuần duyên Mỹ và Nhật là rất ấn tượng, điều này ngay lập tức gợi cho người ta đồng thời sự đố kỵ lẫn ngưỡng mộ.19 Ví dụ như, để minh họa cho sự yếu kém của lực lượng tuần duyên Trung Quốc, He Zhonglong đã chỉ ra rằng Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ (USCG) được trang bị 250 máy bay các loại, trong khi phía Nhật có 75 máy bay. Các đơn vị tuần duyên Trung Quốc, với tiềm lực không quân trực thuộc kém phát triển hơn, chắc chắn không thể triển khai nhiều hơn 36 máy bay các loại.20 Máy bay rất quan trọng một mặt trong việc tuần tra tầm xa và mặt khác trong các nhiệm vụ cứu hộ phức tạp. Hơn nữa, những yêu cầu mang tính chuyên nghiệp đòi hỏi lực lượng tuần duyên của một quốc gia phải duy trì các đơn vị không quân mạnh là rất lớn. Do đó, các con số kể trên phản ánh được khoảng cách rất lớn giữa lực lượng tuần duyên Trung Quốc và lực lượng tuần duyên của các quốc gia Thái Bình Dương khác, điều này được ghi nhận rõ ràng bởi các nghiên cứu của Học viện Ninh Ba.21 Bảng 1 minh họa rằng dù các đơn vị tuần duyên của CHND Trung Quốc (PRC) có tương đối nhiều tàu tuần tra loại nhỏ và rất nhỏ (dưới 1,500 tấn), Bắc Kinh vẫn có ít hơn cả Washington và Tokyo về số tàu loại vừa (1,500 – 3,000 tấn) và loại lớn (trên 3,500 tấn).22 Nghiên cứu của Học viện Ninh Ba chỉ thêm rằng Hàn Quốc (ROK) đã tiến hành thành công vào năm 1996 chiến dịch thống nhất các đơn vị chấp pháp trên biển riêng lẻ thành một Lực lượng tuần duyên Hàn Quốc thống nhất, hùng mạnh theo mô hình của Mỹ và Nhật.23

Động lực để Bắc Kinh nâng cấp năng lực tuần duyên của mình rõ ràng liên quan đến mục tiêu chiến lược tổng thể của nước này là tăng cường tiềm lực hàng hải nói chung và do đó, hoàn toàn phù hợp với sự phát triển nhanh của hải quân Trung Quốc. Quả thực, tác động của sáng kiến này đối với an ninh Đông Á là rất quan trọng và sẽ được phân tích ở phần kết luận của bài nghiên cứu này. Sắc thái trong các bài phân tích của Học viện Ninh Ba rõ ràng gợi cho chúng ta thấy tầm quan trọng của yếu tố an ninh quốc gia trong tư tưởng của người Trung Quốc về tiềm lực tuần duyên. Ví dụ, những tác giả của phân tích kể trên nhìn nhận rằng “ngày nay, tư duy có từ thời Chiến tranh Lạnh vẫn tồn tại ở nhiều quốc gia… Vẫn có những thái độ thù địch”24. Xét đến vấn đề nhạy cảm liên quan đến chủ quyền ở Biển Đông, phân tích kể trên chỉ ra rằng: “Một mặt, Trung Quốc và 10 quốc gia thuộc khối ASEAN đã ký Quy tắc ứng xử trên Biển Đông ở Phnôm Pênh, [nhưng] ở mức độ nào đó, những gì đã diễn ra đó là chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc đang tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng”25. Động cơ kể trên hoàn toàn không có gì bất ngờ và phù hợp trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc đang tồn tại mạnh mẽ trong giới trí thức Trung Quốc và trong các phân tích về chính sách nói chung.

Tuy nhiên, một luồng tư tưởng lớn khác liên quan đến việc xây dựng tiềm lực tuần duyên của Trung Quốc đang tồn tại rõ rệt mà nhận thức rõ về quá trình toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau càng nhiều giữa các quốc gia. Theo luồng tư tưởng này, cũng có thể tìm thấy rõ ràng và chi tiết trong phân tích của Học viện Ninh Ba, chúng ta có thể nhận thấy một khái niệm tinh tế và đáng khích lệ rằng lực lượng tuần duyên, dựa trên tính chất linh hoạt của nó, có thể hoạt động như một bước đệm giữa các lực lượng hải quân khác, hỗ trợ trong việc làm dịu đi tranh chấp giữa các quốc gia có thể xảy ra tại Đông Á. Theo dòng tư tưởng đó, khái niệm này càng được củng cố thêm, He Zhonglong và các cộng sự kết luận: “Mọi người sống với nhau trên cùng một hành tinh, và cùng đương đầu với những đe dọa chung, và có cùng những lợi ích chung”26. Một phân tích khác cũng chỉ ra tương tự rằng những mối quan hệ quốc tế mà các lực lượng tuần duyên khác đã gầy dựng được “rất nhiều lần thành công trong việc đẩy lùi các hoạt động tội phạm xuyên quốc gia”.27 Nghiên cứu của Học viện Ninh Ba cuối cùng cũng chỉ ra nguyên nhân nằm ở yếu tố tổ chức khi giải thích các yếu kém của lực lượng chấp pháp biển Trung Quốc. Như các tác giả của bản nghiên cứu viết:

“Mô hình tổ chức quản lý trên biển của Trung Quốc là chưa lý tưởng. Trong khoảng thời gian rất lâu, đã tồn tại một tình trạng “nhóm rồng lũng đoạn vùng biển”: trong tất cả các tình huống, luôn có rất nhiều bên tham gia, mỗi bên có quyền lực riêng của mình, với thẩm quyền chồng chéo, cũng như những lỗ hổng rõ ràng. Về mặt bên trong, điều này gây ra những vấn đề trong việc thi hành pháp luật sao cho phù hợp, trong khi xét về bên ngoài, không thấy có sự thống nhất trong các nỗ lực. Kết quả là cho ra đời một lực lượng thụ động, yếu kém và không hiệu quả.28

Trong khi bản thân lý giải này đã là khá thuyết phục, bài phân tích sẽ xem xét thêm một số nguyên nhân tiềm năng của sự yếu kém này, bên cạnh việc nghiên cứu những triển vọng cho việc cải tổ, tiềm năng cho việc phát triển xa hơn nữa hợp tác quốc tế về an ninh biển, và các gợi ý mang tính chiến lược liên quan đến an ninh Đông Á.

Phần tiếp theo Con rồng thứ nhất: Lực lượng Cảnh sát Biển của Trung Quốc

Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ

Hiếu Minh, Ngọc Trang, Hà Tuyên (dịch)

Đỗ Thị Thủy (hiệu đính)

Bản  gốc tiếng Anh "Five Dragons Stirring Up the Sea - Challenge and Opportunity in China's Improving Marritime Enforcement Capabilities ", Tạp chí Nghiên cứu biển Trung Quốc, số 5, tháng 4/2010, Trường Cao đẳng Hải chiến, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/1377-nam-con-rong-khuay-dong-bien-ca
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #335 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 12:08:54 am »

Con rồng thứ nhất: Lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc

Lực lượng Cảnh sát Biển là một bộ phận của Cục Quản lý Biên phòng, vốn là đơn vị trực thuộc tinh nhuệ của Lực lượng Cảnh sát vũ trang Nhân dân, thuộc Bộ Công An. Mô hình này có vẻ được sao chép từ Liên Xô, nước cũng từng thiết kế lực lượng biên phòng của mình như một nhánh độc lập và tinh nhuệ. Lực lượng Cảnh sát Biển Trung Quốc được trang bị chủ yếu là tàu cao tốc và tàu thủy loại nhỏ.


Năm Con Rồng Bảo vệ biển cả của Trung Quốc.

Nhìn chung, “năm con rồng lũng đoạn biển cả” của Trung Quốc – đó là năm đơn vị hình thành nên lực lượng chấp pháp trên biển của nước này – có tổng cộng khoảng 40 ngàn quân, dựa trên phân tích của Học viện Ninh Ba.29

 

Bảng 2:  Yêu cầu lập kế hoạch cho các tàu tuần tra trên biển Trung Quốc
 
                                 Vịnh         Biển           Hoàng Hải            Vịnh          Biển Đông           Tổng
                               Bắc Bộ     Hoa Đông                              Bột Hải
   

 Tàu tuần tra
loại lớn (> 3,500 T)       -               4                -                       -                 4                    8
      
Tàu tuần tra
loại vừa (> 1500 T)      2               6                5                       1                 5                   19
   
Tàu tuần tra
loại nhỏ (> 500 T)       20             30               30                      26               43                149
   
Thuyền nhỏ
(> 100 T)                  26             95                          103                            80                304

Nguồn: He Zhonglong và các cộng sự, Nghiên cứu về việc xây dựng lực lượng tuần duyên Trung Quốc, tr. 142.

Chương tiếp theo đây sẽ miêu tả ngắn gọn tổ chức, sứ mệnh và tiềm lực của từng “con rồng”. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng, trong khi Cơ quan quản lý về An toàn hàng hải (MSA) hoạt động rất minh bạch, các đơn vị khác, những tổ chức nhỏ hơn rất khó tiếp cận và do đó khó có thể hiểu biết cặn kẽ hơn về họ.

Lực lượng Cảnh sát Biển của Cục Quản lý Biên phòng (BCD)

Lực lượng Cảnh sát Biển ((公安边防海警部门) là một bộ phận của Cục Quản lý Biên phòng, vốn là đơn vị trực thuộc tinh nhuệ của Lực lượng Cảnh sát vũ trang Nhân dân, thuộc Bộ Công An. Mô hình này có vẻ được sao chép từ Liên Xô, nước cũng từng thiết kế lực lượng biên phòng của mình như một nhánh độc lập và tinh nhuệ. Lực lượng Cảnh sát Biển Trung Quốc được trang bị chủ yếu là tàu cao tốc và tàu thủy loại nhỏ. Trên tàu thường được trang bị súng máy và pháo loại nhỏ. Cần nhấn mạnh rằng trong khi một số “con rồng” quan trọng khác không được vũ trang, việc lực lượng này được vũ trang đã dẫn đến một loạt rắc rối. Chủ lực của hạm đội Cảnh sát Biển hiện nay là chiếc tàu tuần tra cao tốc tên là Hải cẩu (海豹) HP1500-2. Những chiếc tàu nhỏ này có thể đạt tốc độ lên đến 52 hải lý, tầm hoạt động trong khoảng 250 km, và thủy thủ đoàn từ 6 đến 8 người. Những nhiệm vụ mà chúng đảm nhận bao gồm hộ tống, thăm dò trên biển, và tìm kiếm cứu nạn. Cano tiêu chuẩn mới của Cảnh sát Biển là Loại 218. Thiết kế này có chiều dài 41m, có sườn máy dài 6.2m, chuyên chở được 130 tấn; tốc độ tối đa lên đến 25 hải lý, thủy thủ đoàn gồm 23 người; và được trang bị một đại liên 14,5 ly. Một cano tuần tra lớn loại 718 của Cảnh sát Biển đã được hạ thủy vào năm 2006. Nó có trọng tải 1,500 tấn, chiều dài 100m, có sân đậu trực thăng và có pháo 37 ly. Lực lượng Cảnh sát Biển gần đây cũng đã được sử dụng hai khu trục hạm loại Jianghu cũ của Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), sau khi hai tàu này đã được đại tu và đổi tên thành Hải cảnh 1002 và Hải cảnh 1003. Thời điểm hiện tại, Cảnh sát Biển không có đơn vị không quân.30

Ảnh 1: Cano 1000 tấn loại 718, Hải cảnh 1001, hoạt động cùng với Lực lượng Tuần duyên của Bộ Công An. Con tàu này được hạ thủy vào năm 2006 và có trang bị súng 37 ly trên boong. Đây là tàu chiến hiện đại nhất của Tuần duyên Trung Quốc. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)



Ảnh 2: Hải cảnh 1002 là một trong hai tàu cano của Tuần duyên Trung Quốc được chuyển giao cho Bộ Công An từ Hải quân PLA. Trước đây, chúng là các khu trục hạm tên lửa loại Jianghu. Cơ quan thăm dò hàng hải Trung Quốc là một đơn vị hàng hải dân sự khác nhận tàu từ Hải quân PLA. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)


Cơ sở huấn luyện chính cho Cảnh sát biển nằm ở Ninh Ba. Tuy nhiên, không phải tất cả sinh viên của Học viện Ninh Ba đều là cảnh sát biển; sinh viên ở đây phải học một chương trình chung dành cho lính biên phòng trong những năm đầu và có vẻ chỉ bắt đầu được chọn chuyên ngành hàng hải sau khi hoàn thành nửa chương trình. Cơ sở huấn luyện ở Học viện Ninh Ba rất ấn tượng, đặc biệt là các máy mô phỏng điều khiển và lái tàu, những máy này sử dụng phần mềm tiên tiến để tạo ra độ chuẩn xác cao như các máy mô phỏng sử dụng ở phương Tây.

Ảnh 3: Một tàu tuần tra nhỏ đang hoạt động cùng với Lực lượng Tuần duyên Trung Quốc. Các cơ quan quản lý hàng hải dân sự Trung Quốc thiếu xuồng lướt sóng có gắn động cơ cho các chiến dịch giải cứu và hiện đang lên kế hoạch mua từ nước ngoài. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)



Sứ mệnh chính của Cảnh sát Biển là phòng chống tội phạm, nhưng gần đây còn bao gồm cả việc đấu tranh chống những đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố và nạn cướp biển. Tuy rằng chưa có vụ việc nào liên quan đến khủng bố hàng hải được ghi nhận ở Trung Quốc, mối lo ngại đã lên cao từ sau cuộc tấn công 11-9 vào nước Mỹ, từ những bất ổn liên tục trong nhóm sắc tộc thiểu số ở Trung Quốc mà đã dùng đến chiến thuật khủng bố, và từ sự quan ngại tăng cao một cách tự nhiên trong kì Thế vận hội Olympic ở Bắc Kinh. Trong kì Thế vận hội, Cảnh sát Biển có vẻ đã phải cho xuất kích 30 tàu mỗi ngày và chặn hay bắt giữ hơn một ngàn tàu.31

Ảnh 4: Các lực lượng của Bộ Công An tham gia diễn tập trên một xuồng cano của Tuần duyên Trung Quốc. Hầu hết các cơ quan hàng hải khác của Trung Quốc không được vũ trang. Điều này đã gây nên một vài sự ngạc nhiên, ví dụ như việc tàu thuộc Bộ Chỉ huy Lực lượng Chấp pháp Ngư nghiệp thiếu tiềm lực để răn đe hay thi hành pháp luật. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)



Khi bàn đến tính dễ bị tấn công dọc bờ biển, He Zhonglong và các cộng sự viết, “Các thành phố của chúng ta như Hong Kong, Ma Cao, Thượng Hải, Quảng Đông và các thành phố quan trọng khác dọc bờ biển… có thể trở thành mục tiêu chủ yếu của một cuộc tấn công bất ngờ của bọn khủng bố quốc tế”32. Một nhà phân tích các vấn đề hải quân của Trung Quốc khác nhìn nhận mối quan ngại tương tự rằng “các nhóm vũ trang đến từ Trung Đông đang dần quan tâm hơn đến các đợt tấn công khủng bố trên biển bất ngờ”.33 Quả thực, các phân tích quân sự và hải quân Trung Quốc đã rất nghiêm túc rút kinh nghiệm nghiên cứu bài học trong vụ tấn công khủng bố tháng 11/2008 ở Mumbai, nơi có sự tham gia của tàu thủy. Lịch sử hàng hải Trung Quốc cũng đầy những khó khăn đến từ nạn cướp biển, vì thế có lẽ không có gì ngạc nhiên khi chứng kiến sự quan tâm lớn đến chủ đề này trong các xuất bản liên quan đến hàng hải ở Trung Quốc.34

Hơn nữa, điều đáng quan tâm là động lực thúc đẩy cho cuộc diễn tập chống khủng bố tại vịnh Aden tháng 12/2008 của một đơn vị đặc nhiệm hải quân Trung Quốc được khởi xướng một phần bởi các cơ quan hàng hải dân sự Trung Quốc.35 Trên thực tế, nạn cướp biển từ lâu đã là mối quan ngại chính của giới phân tích hàng hải Trung Quốc. Một bài báo về chủ đề này nhấn mạnh sự gần gũi của vấn đề: “Trong 124 vụ cướp biển trong năm 2005, 60% diễn ra tại khu vực Biển Đông”36 Một phân tích khác của Trung Quốc liên quan đến vấn đề cướp biển kết luận: “Bọn cướp biển có rất nhiều vũ khí hiện đại, được trang bị thiết bị thông tin liên lạc tiên tiến, và có những móc ngoặt bí mật với các tổ chức tội phạm quốc tế và cả với các tổ chức khủng bố”37. Tuy nhiên, một nguồn tin khác thì nhìn nhận rằng tàu thuyền của Trung Quốc ở xa bờ đang là mục tiêu của bọn cướp biển.38 Do đó, không có gì ngạc nhiên khi thấy nhiều đơn vị thực thi pháp luật trên biển khác nhau của Trung Quốc sẽ hoạt động trong những chiến dịch tương lai chống cướp biển, có lẽ là sẽ phối hợp với Hải quân PLA.

Với tư cách là đơn vị vũ trang chủ yếu của các con rồng tuần duyên biển Trung Quốc, BCD – thường được gọi là “Tuần duyên Trung Quốc” – được mong đợi sẽ đi đầu trong việc đối phó với những thách thức đã nêu. Hiện nay, theo nghiên cứu của Học viện Ninh Ba, BCD có quân số 10,000 người – chiếm khoảng ¼ tổng số quân thuộc năm con rồng.39 Một điểm rất đáng quan tâm đó là BCD được thiết kế như “con rồng đầu đàn” trong việc quan hệ và trao đổi với Tuần duyên Hoa Kỳ - mối quan hệ này sẽ được bàn sâu hơn trong phần 5 của nghiên cứu này.

 
Phần tiếp theo “Cơ quan An toàn Hàng hải (MSA)”

Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ
Hiếu Minh, Ngọc Trang, Hà Tuyên (dịch)
Đỗ Thị Thủy (hiệu đính)
Bản  gốc tiếng Anh "Five Dragons Stirring Up the Sea - Challenge and Opportunity in China's Improving Marritime Enforcement Capabilities ", Tạp chí Nghiên cứu biển Trung Quốc, số 5, tháng 4/2010, Trường Cao đẳng Hải chiến, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/1378-luc-luong-canh-sat-bien-cua-trung-quoc
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #336 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 11:28:21 am »

Con rồng thứ hai: Cơ quan an toàn Hàng hải Trung Quốc

Con rồng duy nhất có thể so sánh về sức mạnh lẫn uy thế với Lực lượng cảnh sát biển (BCD) của Trung Quốc là Cơ quan An ninh Hàng hải (MSA) trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Xét về nhân lực, MSA có quân số gấp đôi so với BCD – khoảng 20,000 – gần phân nửa tổng số quân của 5 đơn vị chấp pháp hàng hải. (Phần 1; Phần 2)

Sứ mệnh của MSA bao gồm thanh tra và đăng ký tàu thuyền của Trung Quốc và nước ngoài neo đậu ở cảng Trung Quốc, điều tra các vụ tai nạn đường biển, huấn luyện và cấp phép cho thủy thủ, giám sát giao thông đường biển, duy trì sự hỗ trợ cho các chuyến hải hành, thi hành luật hàng hải quốc tế và nội địa, và làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển. Có tất cả 14 cơ quan MSA ở địa phương, đặt chủ yếu ở các tỉnh ven biển và một số ở các trung tâm cảng sông trong nội địa, và ở một vài tỉnh ven biển khác có các trung tâm cứu nạn.40 Tác giả đã may mắn được thăm Trung tâm Điều phối Cứu nạn Thượng Hải (RCC) vào tháng 11/2007. Để phục vụ tốt cho một trong những cảng biển sầm uất nhất thế giới, RCC Thượng Hải được trang bị hệ thống quản lý tàu bè hiện đại và đồng bộ. Ngoài RCC, cảng Thượng Hải còn được hỗ trợ bởi ít nhất 11 trạm rada và 2 trung tâm dò tìm tàu thủy41. Những hệ thống này được hỗ trợ từ Hệ thống Định danh Tự động (AIS), mà theo quy định của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), đòi hỏi tàu bè có trọng tải trên 300 tấn phải tự động báo cáo vị trí, hải trình và tốc độ của tàu tại thời điểm đó.42 Những hệ thống này đã cách mạng hóa việc điều hành giao thông tàu thủy và nâng cao mối quan tâm về hàng hải lãnh thổ trên tất cả các đại dương, đặc biệt là dọc bờ biển Trung Quốc; một bước tiến quan trọng đã được thi hành để xây dựng nên các trung tâm AIS dọc theo suốt chiều dài của các hải trình bận rộn.43 Một cách thức dò tìm tàu thủy khác được các cơ quan có thẩm quyền Trung Quốc sử dụng là hệ thống Thông báo tàu thuyền Trung Quốc (CHISREP). Hệ thống này yêu cầu tàu thủy mang cờ Trung Quốc phải thông báo vị trí thường xuyên cho trung tâm điều phối. Có nét gì đó giống với hệ thống Amver (Hệ thống cứu nạn tàu tương trợ tự động) của Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ, nơi được coi là “đầu mối” về vị trí của tàu thương mại trên toàn cầu, CHISREP có tầm quan trọng rõ rệt trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, bên cạnh một số ứng dụng khác có thể thấy được – ví dụ như trong việc kiểm soát ô nhiễm. Một công nghệ quan trọng khác được đưa ra giới thiệu ở RCC Thượng Hải trong chuyến thăm của tác giả là hệ thống truyền hình khép kín bao phủ khắp khu vực cảng của sông Hoàng Phố, điều này đã nâng cao độ an toàn, an ninh và khả năng quản lý cảng. Tuy có được hệ thống tương trợ lẫn nhau đa dạng này, một số vấn đề cũng xuất hiện, đặc biệt là trong lĩnh vực điều phối. Ví dụ, các nhân viên của RCC Thượng Hải thừa nhận rằng trong khi các màn hình định vị có thể dễ dàng xác định vị trí của tài sản thuộc kiểm soát của MSA, họ khó có thể xác định tàu thuyền của BCD/Tuần duyên Trung Quốc trong cùng một khu vực.

Vị thế quan trọng của MSA trong số các con rồng chấp pháp của Trung Quốc được xác nhận thông qua việc đầu tư vốn cho cơ quan này – nhiều tàu và máy bay mới. (Cần lưu ý rằng tàu của MSA không được vũ trang – khác hẳn so với Tuần duyên Hoa Kỳ và các lực lượng tuần duyên trên thế giới) Việc hạ thủy tàu Haixun 31 tương đối lớn (3,000 tấn) vào năm 2004 mở đầu cho việc chuyển dần sang các tàu cứu nạn có thể đi trên đại dương. Tuy rằng những tàu này được báo cáo là cũng có vấn đề, cụ thể là thiết bị thông tin, loại tàu này được chú ý không chỉ bởi tải trọng lớn của nó mà còn là tàu đầu tiên của MSA có thể chuyên chở trực thăng.44 Một cuộc tập trận vào tháng 6/2008 để tuần tra vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc tại Biển Đông đã được truyền thông phương Tây đưa tin đầy đủ.45 Hai tàu ra đời sau là Haixun 21 và Haixun 11, trong đó tàu Haixun 11 được đưa vào hoạt động từ tháng 9/2009 và có trọng tải tương đương 3,000 tấn. Có vẻ như Haixun 11 đang được neo ở cảng Uy Hải, tỉnh Sơn Đông.46

Thêm ba tàu mới, trọng tải lớn vừa được MSA đưa vào sử dụng, bao gồm chiếc Nanhaijiu 101, Nanhaijiu 112 và Beijhaijiu 111. Những chiếc tàu rất lớn này – Nanhaijiu 101 có trọng tải 6,257 tấn, và tất cả các tàu đều có chuyên chở trực thăng – mang những nét đặc trưng trong thiết kế của loại Haixun 31. Với boong trước mũi tàu và cấu trúc phần trên tàu nổi bật cùng với sàn sau đuôi tàu rất thấp, các tàu này giống với những chiếc tàu kéo khổng lồ, hơn hẳn những loại tàu tương tự của Lực lượng Tuần duyên Nhật Bản. Các loại tàu cũng được trang bị những thiết bị hiện đại nhất, ví dụ như loại chân vịt biến bước giúp cho việc điều khiển các tàu lớn được thuận tiện hơn. Chủ trương hiện nay của MSA là cho phần lớn các tàu của mình ra khơi trong 2 tuần, sau khi chỉ dành 1 ngày neo ở cảng để tiếp nhiên liệu trước khi trở lại nhiệm vụ. Có khoảng 2 thủy thủ đoàn cho mỗi tàu, mỗi đoàn ra khơi cùng tàu trong hai tháng liên tục, sau đó lên bờ một tháng. Thủy thủ đoàn sẽ ở trên biển khoảng 8 tháng/năm.47

Ảnh 5. Tàu loại lớn Haixun 11 của MSA được hạ thủy vào tháng 9/2009 ở Thanh Đảo. Xét về nhân lực và nguồn lực, MSA, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, có vẻ như là cơ quan quản lý hàng hải dân sự có ảnh hưởng nhất Trung Quốc. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)



Đối với các tàu nhỏ hơn, một thiết kế mang tính đột phá khác đã được sử dụng cho tàu Beihaijiu 201 mới hạ thủy. Chiếc tàu nhỏ này là loại thuyền hai thân cao tốc, thiết kế theo mô hình các thuyền phà thương mại hiện đại.48 MSA hiện vẫn thiếu các thuyền lướt có động cơ loại nhỏ và hiện đang tiến hành mua một vài chiếc loại này từ Anh Quốc.49

Ảnh 6. Thuyền hai thân, Donghai Jiu 201, đang được Cục cứu hộ và trục vớt thuộc Cơ quan quản lý an toàn hàng hải Trung Quốc sử dụng. Các loại thuyền hai thân đang được sử dụng rộng rãi như những chiếc phà chuyên chở và cũng được Hải quân PLA sử dụng. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)



Tuy nhiên, việc hạ thủy vào năm 2008 ở Vũ Hán một tàu thủy 40m dùng cho các nhiệm vụ cứu hộ ở sông Trường Giang đã chứng tỏ sự quan tâm của MSA đến các loại tàu nhỏ.50 Quá trình trang bị các thiết bị cứu hộ không vận diễn ra chậm hơn. Chắc chắn là, các nhà phân tích hàng hải Trung Quốc thừa nhận tầm quan trọng của trực thăng trong công tác tuần duyên hiện nay.51 Các tác giả của nghiên cứu từ Học viện Ninh Ba kết luận: “Một chiếc trực thăng hoạt động từ tàu mẹ có giá trị rất lớn… nhất là trong việc thực thi pháp luật trên đại dương.”52 Tuy nhiên, khả năng tìm kiếm cứu hộ bằng máy bay hiện nay đang được xây dựng lại một cách thực chất từ đầu. Tuy hàng loạt các căn cứ phi cơ của MSA được thành lập năm 2004, có vẻ như không quá 12 máy bay đang được hoạt động.53  Điểm thú vị là, MSA cũng sở hữu một số lượng trực thăng Sikorsky. Một số phi vụ giải cứu bằng trực thăng có diễn ra, nhưng các phi vụ bay đêm đều bị hạn chế. Theo các nhân viên của MSA, vấn đề mấu chốt ngăn cản việc mở rộng các phi vụ bay của MSA là việc huấn luyện cho cả phi công và các người nhái cứu hộ. Trong cả hai lĩnh vực này, Trung Quốc đã có những đề xuất táo bạo như đề nghị sự giúp đỡ từ phía Tuần duyên Hoa Kỳ (USCG), tuy nhiên, USCG hiện không có phản ứng gì. Cho đến nay, các đơn vị Tuần duyên Trung Quốc chủ yếu được trợ giúp huấn luyện bởi các cơ quan hộ tống và cứu hộ không vận của Hong Kong. Theo một kế hoạch của MSA công bố đầu năm 2003, mục tiêu của tổ chức này là phải đạt đến việc tìm kiếm cứu nạn hiệu quả trong phạm vi 50 dặm từ bờ biển, với thời gian phản ứng là 150 phút; cho đến năm 2020, thời gian ứng cứu phải được cải thiện còn không quá 90 phút. Phạm vi của các chiến dịch tìm kiếm cứu nạn phải được mở rộng đáng kể để bao trùm lên toàn bộ vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.64 Công tác cứu hộ trên biển của Trung Quốc đã có bước tiến dài trong thời gian ngắn. Vào năm 1999, MSA đã phải đương đầu với một thảm họa giống với dạng thảm họa Titanic khi phà chở khách Dashun bị đánh đắm do thời tiết xấu cách bờ biển Hoàng Hải vài dặm. Chỉ có 22 người sống sót trong số 304 hành khách và thủy thủ đoàn.55 Tai nạn này, được xem là một thảm kịch lớn, đã thôi thúc những nỗ lực thiết lập các đơn vị giải cứu hàng hải có chất lượng hơn.

Ảnh 7. Việc tìm kiếm cứu nạn là một nhiệm vụ quan trọng của MSA và lực lượng phi cơ hiện nay đang là ưu tiên phát triển của MSA và các cơ quan quản lý hàng hải dân sự Trung Quốc nói chung. Tuy nhiên, phi cơ hải vận hiện là một khái niệm tương đối mới đối với các cơ quan quản lý hàng hải dân sự Trung Quốc. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)


Ảnh 8.Một phi vụ cứu nạn bằng trực thăng của Cơ quan quản lý an toàn hàng hải. Trung Quốc bắt đầu sử dụng trực thăng cho các chiến dịch cứu nạn hàng hải dân sự từ năm 2006. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)


Như thuyền trưởng Bernard Moreland của Tuần duyên Hoa Kỳ, từng là tùy viên quân sự của Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh, viết vào năm 2007, “Trong chưa đầy 10 năm sau thảm kịch Dashun, Trung Quốc đã có đơn vị tìm kiếm cứu nạn hàng hải chuyên nghiệp và thường trực.”56 Thực tế, MSA có thể phấn đấu đạt một số chỉ tiêu, như việc trong vòng 10 năm giảm 1/3 số người chết trong tai nạn hàng hải trong mỗi quý. Một mạng lưới cứu hộ mới được thiết lập dọc sông Trường Giang trong năm 2001.57 Trong hai năm 2002-2003, MSA đã tiến hành 520 phi vụ cứu hộ, với 1,303 lượt tàu xuất kích, 25 lượt máy bay; trong tổng 14,901 người gặp nạn, 13,997 đã được cứu thoát, bao gồm trong đó 787 công dân nước ngoài.58

Một thành tố quan trọng trong việc thúc đẩy tính chuyên nghiệp của MSA là tờ tạp chí chuyên ngành có chất lượng của cơ quan này, tờ Các vấn đề biển Trung Quốc (Trung Quốc Hải sự). Điểm đáng chú ý là tạp chí thường sử dụng rất nghiêm túc phương pháp tình huống: các vụ tai nạn được mô tả, phân tích và đưa ra những bài học có thể ứng dụng trong công tác tương lai.59 Không chỉ miêu tả các vụ tai nạn diễn ra trong vùng biển của Trung Quốc, tạp chí này còn nghiên cứu các sự kiện diễn ra khắp thế giới, như vụ đắm phà chở khách gần đây của Ai Cập ở Biển Đỏ, gây thiệt hại lớn về người.60 Hơn nữa, một điểm nổi bật lớn của tạp chí này là việc học tập kinh nghiệm, quy trình của công tác cứu hộ và an toàn hàng hải ở các quốc gia khác.61

Một nội dung phổ biến khác của Các vấn đề biển Trung Quốc là cho đăng tải các luật mới công bố, các vấn đề liên quan đến ô nhiễm nguồn nước, ứng phó khẩn cấp với bão, các công nghệ mới và giới thiệu các đơn vị cứu hộ nước ngoài.62 Nói về công tác ứng phó bão, Trung Quốc đã nhận được nhiều khen ngợi trong những năm gần đây vì sự chuẩn bị chu đáo và việc thi hành các kế hoạch khẩn cấp ứng phó với các cơn bão từ biển đổ vào đất liền.63 MSA đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Trung Quốc sẵn sàng ứng cứu và làm sạch các vụ tràn dầu. Vào tháng 9/2008, Trung Quốc đã kí cam kết hỗ trợ lẫn nhau cùng với Nhật, Nga và Hàn Quốc về ứng phó với các vụ tràn dầu.64 Cam kết này là kết quả của sự kiện tràn dầu vào tháng Mười Hai 2007 của tàu dầu Hebei Spirit của Hong Kong ở ngoài khơi bờ biển Triều Tiên; Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc đã cử 2 tàu đến trợ giúp việc làm sạch.65

Không giống với BCD, MSA không có một học viện chính thức. Các trường đại học hàng hải chính ở Đại Liện, Thượng Hải, và Hạ Môn rõ ràng là nguồn đào tạo để MSA tuyển dụng. So với các trường tương đương của Hoa Kỳ, như King’s Point và Học viện Hàng hải Maine, các trung tâm học thuật này của Trung Quốc dường như khá ấn tượng.66

Phần tiếp theo “Cơ quan Đảm bảo Thi hành Luật Ngư nghiệp”


Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ
Hiếu Minh, Ngọc Trang, Hà Tuyên (dịch)
Đỗ Thị Thủy (hiệu đính)

Bản  gốc tiếng Anh "Five Dragons Stirring Up the Sea - Challenge and Opportunity in China's Improving Marritime Enforcement Capabilities ", Tạp chí Nghiên cứu biển Trung Quốc, số 5, tháng 4/2010, Trường Cao đẳng Hải chiến, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/1389-con-rong-thu-hai-co-quan-an-toan-hang-hai-trung-quoc-msa
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #337 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 05:08:02 pm »

Trung Quốc phát triển hệ thống chỉ huy tác chiến không gian

Trung Quốc đang nghiên cứu phát triển Hệ thống Chỉ huy tác chiến không gian thông qua hệ thống C4ISR.

C4ISR là hệ thống chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc tình báo và trinh sát.

Hệ thống này có khả năng phòng thủ trước sự tấn công trong tác chiến điện tử, đồng thời có đủ khả năng chi viện trực tiếp, duy trì hiện đại hóa hệ thống vũ khí và các loại tên lửa của Quân đội Trung Quốc.

Hệ thống này có 3 ưu điểm nổi bật:

Một là, được trang bị loại máy bay cảnh báo đường không thế hệ mới. Hiện Quân đội Trung Quốc đã trang bị máy bay cảnh báo đường không thế hệ mới cho hệ thống C4ISR.

Hai là, kết hợp với tuyến cáp quang hiện đại sẽ duy trì được an ninh thông tin liên lạc ở tốc độ cao. Hệ thống này có thể đáp ứng được mọi yêu cầu của hệ thống C4ISR trong Quân đội Trung Quốc.

Do hệ thống cáp quang được đặt sâu dưới lòng đất, nên cùng lúc có thể chuyển tải các tín hiệu và cung cấp các dải tần băng thông rộng cho Quân đội Trung Quốc theo yêu cầu nhiệm vụ, góp phần tăng cường khả năng tác chiến, đối phó kịp thời với các thủ đoạn gây nhiễu điện tử.

Ba là, C4ISR sẽ nâng cao khả năng tác chiến của lực lượng tên lửa tiến công của Trung Quốc.




Mô phỏng hệ thống chỉ huy tác chiến không gian.

Hiện Quân đội Trung Quốc đã có khả năng sử dụng thành thạo hệ thống mạng cáp quang dưới lòng đất kết hợp với máy tản xạ được bố trí trên tầng đối lưu để chi viện cho hoạt động tác chiến của tên lửa phòng không.

Tuy nhiên, dù phạm vi trinh sát của hệ thống radar này rất rộng, nhưng lại chịu sự tác động rất lớn của điều kiện khí hậu.

Vì vây, lực lượng tên lửa Trung Quốc rất cần sự chi viện của hệ thống thông tin điện tử từ máy tản xạ trên tầng đối lưu, để định vị chính xác mục tiêu cần tiêu diệt; khả năng tác chiến điện tử của Quân đội Tung Quốc sẽ được nâng lên một tầm cao mới.

Nam Hoàng (theo China-defense)

link: http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Trung-Quoc-phat-trien-he-thong-chi-huy-tac-chien-khong-gian/20116/149094.datviet
Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #338 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 11:41:27 pm »

Con rồng thứ ba: Cơ quan Ngư chính Trung Quốc

Cơ quan Ngư chính của Trung Quốc (FLEC), trực thuộc Bộ Nông nghiệp, chỉ có khoảng một nghìn nhân viên. Nhiệm vụ của cơ quan này là thực thi pháp luật ở các ngư trường, đảm bảo thi hành các quy định nhằm duy trì sự ổn định, làm tái tạo lại các nguồn cá.

Cơ quan Ngư Chính (FLEC)

Do thực hiện đánh bắt cá trên toàn cầu, ngành công nghiệp đánh bắt cá của Trung Quốc trong thập kỷ trước đã gặp nhiều khó khăn do sự tàn phá môi trường bắt nguồn từ nạn đánh bắt hết cá. Trong khi sự phát triển trong ngành nuôi trồng thủy sản đã làm dịu bớt một phần nào đó cơn khủng hoảng này, ngư dân dọc bờ biển Trung Quốc đã phải trải qua một sự chuyển đổi khó khăn. Như một nghiên cứu của Trung Quốc cho thấy, “Thực tế rất rõ ràng là sự phát triển ngành công nghiệp đánh bắt cá của đất nước chúng ta đã đạt đến điểm nút cực kỳ quan trọng. Hầu hết – nếu không nói là tất cả - các ngư trường đều đã bị khai thác hết, và nhiều trong số đó đã hoàn toàn cạn kiệt.”67  Một nghiên cứu công khai khác cho thấy tầm vóc của vấn đề. Từ những năm 1960, các loài cá trong vùng Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông đã giảm từ 487 xuống 238. Khối lượng dự trữ chạm đến mức thấp nhất năm 1998, chỉ bằng 16,7% so với năm 1962; các nguồn dự trữ cá đã phần nào phục hồi từ đó.6

Ảnh 9. Tàu thăm dò FLEC 44183 đang tuần tra. So với các cơ quan thực thi pháp luật trên biển khác, đội quân đảm bảo thi hành ở các ngư trường đã không có những nguồn lực tương đương, ít nhất đến thời điểm này, và có thể cũng còn thiếu thủy thủ trầm trọng. Tấm áp phích lớn trên tàu đề: “Hãy Bảo vệ các Nguồn tài nguyên Ngư nghiệp Quốc gia.” Như đối với nhiều quốc gia, những nỗ lực bảo tồn các ngư trường đã trở thành một nhiệm vụ cực kỳ nhiều thách thức đối với chính phủ Trung Quốc. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)


Ảnh 10. Một nhân viên của FLEC, hợp tác với Lực lượng tuần duyên của Hoa Kỳ, đã bắt một tàu đánh cá của Trung Quốc bị nghi là đánh bắt cá bằng lưới thả trái phép tại một vùng biển sâu rộng lớn ở Bắc Thái Bình Dương, vào ngày 12/09/2008. (Ảnh Chính thức của USCG)


Những điều kiện như vậy đã tăng áp lực lên các cơ quan và nhân viên thực thi pháp luật ở các ngư trường do yêu cầu phải đảm bảo thi  hành các qui định mới một cách nghiêm ngặt để làm đầy lại các nguồn cá. Kế hoạch “tăng trưởng bằng không” (“zero growth” plan) cho tàu đánh bắt cá được khởi xướng vào năm 1999. Đến năm 2004, tám nghìn tàu đánh cá đã bị loại bỏ, và đến năm 2010 kết quả đạt được là tổng số tàu đánh bắt cá của Trung Quốc giảm xuống 192.000 tàu. Việc ngừng hoạt động vào mùa hè hiện được áp dụng ở hầu hết tất cả các vùng ven biển Trung Quốc.69 Nhiệm vụ này thậm chí trở nên phức tạp hơn do sự chồng lấn ngày càng tăng các vùng đặc quyền kinh tế ở Tây Thái Bình Dương, đó là chưa nói đến tính di cư trên diện rộng của các nguồn cá ở khu vực.

Với một mẻ lưới tổng cộng mười bảy nghìn tấn năm 2007, số cá bắt được của Trung Quốc bằng bốn lần nguồn thu của đối thủ kế cận nhất.70 Các số liệu chính thức cho thấy rằng Trung Quốc gần đây có khoảng tám nghìn ngư dân. Trong số các loại cá có vảy, Trung Quốc đa phần bắt cá trống, cá sòng Nhật Bản, cá hố, cá croaker vàng nhỏ; dùng lưới, dây thép, và móc, và lưới kéo dạng túi. Các ngư trường biển và các ngành công nghiệp liên quan của Trung Quốc được xếp là ngành lớn nhất trong các ngành công nghiệp biển chính của nước này. Quảng Đông và Sơn Đông là hai tỉnh dẫn đầu, tính theo sản lượng đầu ra; Phúc Kiến và Chiết Giang ngay sát phía sau.71

Cơ quan Đảm bảo Thi hành Luật Ngư nghiệp của Trung Quốc (农业部下属的渔政部门), trực thuộc Bộ Nông nghiệp, chỉ có khoảng một nghìn nhân viên.72 Tác động chiến lược của thực trạng năng lực đảm bảo thi hành ngư nghiệp của Trung Quốc đã được đề xuất vào đầu năm 2009, khi các tàu đánh bắt và nuôi trồng cá dính líu vào một loạt các vụ việc quốc tế với các nước láng giềng khu vực và Hoa Kỳ.73 Dấu hiệu về hiệu suất thấp và tính vô hiệu quả đã được vạch rõ trong nghiên cứu của Viện Ninh Ba mà đã lấy việc thực thi luật ngư nghiệp làm ví dụ minh chứng cho sự rối loạn giữa năm con rồng. Giáo sư He Zhonglong và các đồng nghiệp của ông khẳng định rằng:

Tồn tại hiện tượng “có thẩm quyền, nhưng không có khả năng hoặc có khả năng mà không có thẩm quyền…” Cục cưỡng chế ngư nghiệp có chức năng bảo vệ các tàu đánh cá, nhưng do họ không được trang bị vũ khí nên thiếu khả năng ngăn chặn và cưỡng chế thi hành, và bởi thế họ gặp nhiều khó khăn khi giải quyết các tình huống bất ngờ xảy ra…

Trong khi đó, mặc dù có chức năng cảnh sát và được trang bị tất cả các loại vũ khí, có thuận lợi trong bất kỳ trường hợp nào liên quan đến việc đuổi theo tàu đánh cá, cảnh sát và công an biển có thể chỉ đóng vai trò hỗ trợ và lâm vào tình thế khó xử do giới hạn về thẩm quyền. Khó có thể bảo vệ các quyền và lợi ích về hàng hải của đất nước cũng như danh dự quốc gia trong những hoàn cảnh như vậy.74

Một điều cũng quan trọng nữa là cùng với các chính sách khuyến khích nuôi trồng thủy sản, trong những năm gần đây Bắc Kinh đã đẩy mạnh phát triển hạm đội đánh bắt xa bờ. Đến năm 2006, hạm đội này đã tăng lên khoảng hai nghìn tàu và đang hoạt động ở vùng biển cả cũng như vùng đặc quyền kinh tế của ba mươi lăm quốc gia.75 Ví dụ, nghiên cứu của Viện Ninh Ba đề cập đến sự phát triển này và khẳng định rằng “Nếu nước ta tìm kiếm phương pháp giải quyết vấn đề lương thực trong nước thì cần phải khai thác tặng phẩm của biển cả, thông qua… việc phát triển ngành đánh bắt cá nước sâu.”76 Cụ thể các tàu đánh bắt cá của Trung Quốc hiện là một hình ảnh thường thấy ở các vùng nước ở châu Phi và châu Mỹ La tinh – đó là một hiện tượng đã dẫn đến nhiều tranh cãi.

Từ góc nhìn của Trung Quốc, đã có một số vấn đề đặt ra như là làm thế nào để bảo vệ ngư dân Trung Quốc ví dụ như để chống lại các cuộc tấn công của cướp biển ở những nơi xa xôi như vậy.”77 Đến lượt vấn đề này lại dẫn dắt các nhà phân tích hàng hải xem xét liệu những khả năng tuần duyên biển của Trung Quốc có trải ra toàn cầu tương xứng với lợi ích thương mại hàng hải toàn cầu của quốc gia này hay không và nếu có thì điều đó sẽ ăn khớp như thế nào với chiến lược phát triển hải quân của Trung Quốc vốn đã và đang đảm nhiệm sứ mạng chống cướp biển. Một vấn đề thậm chí nhạy cảm hơn đã nảy sinh liên quan đến thực tiễn đánh bắt cá gần bờ Trung Quốc. Khi lượng dữ trữ cá xung quanh khu vực giảm, ý thức về chủ nghĩa dân tộc trong các vùng đánh bắt cá lại tăng lên. Quả thực, một phân tích gần đây về các ngư trường của Trung Quốc kết luận rằng “Mặc dù đất nước của chúng ta đã ký lần lượt hết thỏa thuận này đến thỏa thuận khác với các quốc gia láng giềng, số vụ việc về an toàn đánh bắt cá liên quan đến người nước ngoài đã không ngừng tăng lên… Một vài [quốc gia] thậm chí còn gửi tàu chiến đến đâm và làm chìm thuyền đánh cá của bên ta.”78 Căng thẳng bùng lên vào mùa hè năm 2009 khi các cơ quan tuần duyên biển của Trung Quốc tuần tra đuổi bắt tàu nước ngoài vi phạm các qui định nghiêm ngặt mới về đánh cá trong khu vực biển Đông nhạy cảm.79 Như đã được đề xuất gần đây, nếu việc xây dựng các tàu lớn, có khả năng chở trực thăng cho đơn vị Biển Đông của FLEC đang được tiến hành thì các chính sách của Bắc Kinh về đánh bắt cá trong khu vực sẽ trở nên có trọng lượng hơn.80

Phần tiếp theo "Tổng cục Hải quan, Cơ quan Hải dương học Nhà nước – Hai trong năm con rồng của Trung Quốc"

Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ
Hiếu Minh, Ngọc Trang, Hà Tuyên (dịch)
Đỗ Thị Thủy (hiệu đính)

 
Bản  gốc tiếng Anh "Five Dragons Stirring Up the Sea - Challenge and Opportunity in China's Improving Marritime Enforcement Capabilities ", Tạp chí Nghiên cứu biển Trung Quốc, số 5, tháng 4/2010, Trường Cao đẳng Hải chiến, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ

Nguồn: http://www.nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/1405-co-quan-ngu-chinh-trung-quoc
Logged
thanhh63
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2188


« Trả lời #339 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2011, 08:28:57 am »

Tàu sân bay Trung Quốc sẽ không đi vào hải phận nước khác?

VietnamDefence - Tàu sân bay được mua từ Ukraine đang được đóng hoàn thiện và hiện đại hóa, nhưng công việc chưa hoàn tất, tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức cho hay. Như vậy, Trung Quốc đã chính thức xác nhận đóng tàu sân bay.


Tàu sân bay Thi Lang (machtres.com)

Tàu được cho là có tên Thi Lang hiện đang nằm tại cảng Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh. Các nguồn tin giấu tên cho hay, tàu sân bay này sẽ được hạ thủy muộn nhất là vào cuối tháng 6.2011.

Theo lời trợ lý tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Tôn Kiến Quốc (Qi Jianguo), tàu sân bay này, theo chiến lược quốc gia, sẽ không đi vào hải phận các quốc gia khác.

Trước đó có tin Trung Quốc dự định sử dụng tàu sân bay hoàn toàn để huấn luyện phi công trên hạm và làm cơ sở để đóng các tàu sân bay nội địa trong tương lai.

Varyag được khởi đóng ở Nikolayev đầu thập niên 1980. Năm 1998, thông qua một công ty Macao, Trung Quốc mua lại con tàu hoàn thành 76% với giá sắt vụn 20 triệu USD với lý do giả là “làm sòng bạc nổi”. Các chuyên gia cho rằng, khi mua tàu, Trung Quốc đã ẵm được toàn bộ tài liệu thiết kế kỹ thuật con tàu. Từ năm 2002, tàu được đưa về xưởng đóng tàu ở Đại Liên.

Đầu tháng 6.2011, có tin, bên trong con tàu đã được khôi phục hoàn toàn, vỏ tàu và mặt boong cũng đã được sửa chữa, hãng đóng tàu Changxingdao Shipyard phụ trách hoàn thiện con tàu, đã lắp đặt khí tài radar, vũ khí và một số hệ thống máy tính.

Phỏng đoán, cuối năm 2011, tàu Thi Lang sẽ bắt đầu chạy thử và vào năm 2012 sẽ được nhận vào biên chế hải quân Trung Quốc.

Trong khuôn khổ chương trình tàu sân bay, yếu tố then chốt của tương lai phát triển hải quân Trung Quốc, tàu sân bay nội địa đầu tiên sẽ được hãng Changxingdao đóng.

Ở giai đoạn 1, dự kiến hoàn thành 2 tàu sân bay động lực thông thường vào năm 2015-2016, thành lập 2 cụm tàu sân bay đầu tiên vào năm 2020. Đồng thời, tiến hành phát triển tiêm kích trên hạm.
Ở giai đoạn 2, sẽ đóng 2 tàu sân bay có lượng giãn nước trung bình 65.000 tấn, sử dụng động lực hạt nhân.

Trong tương lai, hải quân Trung Quốc dự định thành lập 4 cụm tàu sân bay để triển khai ở Biển Đông và biển Hoa Đông. Nhiệm vụ chính của chúng là giành ưu thế quân sự trên các vùng biển và đại dương gần, cũng như bảo vệ trên không cho các binh đoàn tàu, chi viện cho các chiến dịch đổ bộ.

Tuy vậy, Trung Quốc hiện vẫn chưa có máy bay trên hạm. Họ đang phát triển tiêm kích trên hạm J-15. Tháng 12.2009, Trung Quốc đã thử nghiệm J-15. Đây được cho là mẫu sao chép máy bay Su-33 của Nga dựa trên mẫu chế thử Т-10К mà Trung Quốc mua lại từ Ukraine năm 2005. Còn phía Trung Quốc khẳng định, J-15 là thiết kế cải tiến của J-11B (sao chép Su-27). J-15 đang tiến hành bay thử nghiệm và dự đoán có thể được nhận vào trang bị từ năm 2015.

Trung Quốc cũng đang xây dựng 2 trung tâm mặt đất huấn luyện phi công tàu sân bay ở các tỉnh Liêu Ninh và Thiểm Tây.

Nguồn: Lenta, Armstrade, 8.6.2011.

Link: http://vietnamdefence.com/Home/tintuc/Tau-san-bay-Trung-Quoc-se-khong-di-vao-hai-phan-nuoc-khac/20116/50556.aspx



Logged

Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM