Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:26:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài nét về quân đội Trung Quốc (tài liệu tham khảo) phần 4  (Đọc 421889 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
trungfbi
Thành viên
*
Bài viết: 1153


Luôn tự hào để nói:"tôi là người Việt Nam"


« Trả lời #490 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2011, 11:33:06 am »

Nó chả đặt là thịlang rồi chả nhẽ lại đổi? Mà thịlang này là 1 vị tướng mà.

Đó chỉ là thông tin "ngoài lề" thôi! Chưa có chính thức. Nhưng nếu nghĩ lại thì đặt tên là " Thị Lang" cũng hợp lý. Vì Trung Quốc đã công khai là tàu sân bay này chỉ giành cho công tác huấn luyện nên nếu căn cứ theo cách đặt tên thì cũng tương đối đúng ^^
Logged

"Tôi muốn cho tất cả mọi người, bất kể là ai, biết được sự thật. Vì không có thông tin, công chúng sẽ không thể đưa ra được những quyết định chuẩn xác" - Bradley Manning (chuyên gia tình báo của Bộ Quốc Phòng Mỹ)
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #491 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2011, 12:37:54 am »

Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc?

Bài trên trang China News về 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc sẽ phát động trong 50 năm tới. Sau khi dùng vũ lực thống nhất với Đài Loan thì mục tiêu tiếp theo là phát động chiến tranh để thu hồi các đảo ở Biển Đông.

Trung Quốc là một nước lớn chưa thống nhất, đây là nỗi nhục của dân tộc Hoa Hạ, là nỗi hổ thẹn của con cháu Viêm Hoàng để thống nhất đất nước và sự tôn nghiêm của dân tộc, trong vòng 50 năm tới, Trung Quốc cần phải tiến hành 6 cuộc chiến tranh.

Cuộc chiến tranh thứ nhất : Thống nhất Đài Loan (giai đoạn 2020 - 2025)

Mặc dù, quan hệ hai bờ hiện nay đang có xu hướng đi vào hòa hoãn, nhưng đừng hy vọng nhà đương cục Đài Loan (cho dù là Quốc dân đảng hay Dân tiến đảng) muốn thống nhất hòa bình với Trung Quốc đại lục, vì điều này không phù hợp với lợi ích tranh cử của đảng cầm quyền tại Đài Loan, cho nên trong thời gian dài sẽ tiếp tục nêu chủ trương giữ nguyên hiện trạng với Trung Quốc đại lục (như vậy đều có lợi cho hai đảng, Dân tiến đảng hung hăng một chút, Quốc dân đảng hòa hoãn một chút, cả hai đều giành được lợi ích chính trị trên chính trường Đài Loan), “độc lập” nhưng không dám “độc lập” thật sự, chỉ có thể kích động dư luận để kiếm lợi, trong khi đó “thống nhất” cũng sẽ là không “thống nhất” thật sự, chỉ có thể là đề cập chung chung. Đài Loan không thống nhất, đây là một tổn thương lớn nhất của Trung Quốc.

Cho nên trong 10 năm tới, tức trước năm 2020, Trung Quốc cần phải nắm cho được phương châm chiến lược thống nhất, tuyên bố trước Đài Loan về thời hạn cuối cùng để thống nhất đất nước là năm 2025, hoặc là Đài Loan chấp nhận thống nhất hòa bình (đây là kết quả mà toàn thể người Hoa trên khắp thế giới mong đợi), hoặc là phải sử dụng vũ lực để thống nhất (đây là sự lựa chọn duy nhất mà Trung Quốc đại lục buộc phải làm). Để thống nhất, Trung Quốc phải làm tốt công tác chuẩn bị từ 3 đến 5 năm (thời điểm này, Trung Quốc hoàn toàn có đủ thực lực quân sự để thống nhất Đài Loan, như hàng không mẫu hạm của Trung Quốc chính thức được đưa vào biên chế, máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 4 được hoàn thiện…), khi thời điểm đến, cho dù là sử dụng phương thức thống nhất như thế nào, Trung Quốc vẫn nhất định phải thống nhất, đây là một sứ mệnh lịch sử của dân tộc Hoa Hạ.

Theo phân tích tình hình hiện nay, Đài Loan tất sẽ cự tuyệt thống nhất, Trung Quốc đại lục duy nhất chỉ có con đường sử dụng vũ lực để thống nhất. Cuộc chiến tranh thống nhất này là một cuộc chiến tranh đích thực mang ý nghĩa hiện đại hoá kể từ sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, là một cuộc chiến tranh kiểm nghiệm toàn diện sức chiến đấu hiện đại hoá của quân đội Trung Quốc. Trong cuộc chiến này, Trung Quốc có thể dễ dàng giành chiến thắng, nhưng cũng có thể sẽ gian nan giành chiến thắng. Tình hình này phụ thuộc vào quyết định tham chiến của Mỹ, Nhật Bản đối với Đài Loan. Mỹ, Nhật Bản viện trợ cho Đài Loan, thậm chí xuất quân phản công Đại lục, Trung Quốc buộc phải sử dụng tổng lực để đối kháng Mỹ, Nhật Bản, như vậy sẽ trở thành cuộc đại chiến gian khổ và kéo dài. Nếu Mỹ, Nhật Bản không dám đối kháng với Trung Quốc, để Trung Quốc đại lục thu hồi Đài Loan, quân đội Đài Loan đương nhiên không thể chống đỡ, nhiều nhất là 3 tháng là có thể kiểm soát hoàn toàn Đài Loan.

Mặc dù hiện nay ai cũng cho là Trung Quốc có đủ khả năng chống lại các thế lực can thiệp, nhưng trước khi thu hồi Đài Loan, tốt nhất là tiến hành bố trí thế cục, để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến, như vậy Trung Quốc mới có thể thần tốc đánh chiếm Đài Loan. Vậy phải bố trí thế cục như thế nào để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến? Tốt nhất là gây ra một, hoặc hai cuộc chiến tranh trước đó, ví dụ như chiến tranh Ixraen-Iran, chiến tranh Nga-Nhật, chiến tranh Ấn Độ-Pakixtan, hay đối đầu giữa hai miền Triều Tiên, như vậy Mỹ, Nhật Bản khó có thể kịp thời hoặc không dám tham chiến.

Đương nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, cuối cùng Trung Quốc đều giành chiến thắng, đây là điều không phải nghi ngờ. Nhưng khác biệt ở chỗ, nếu Mỹ, Nhật Bản tham chiến, nguyên khí kinh tế của Trung Quốc sẽ bị tổn thương nặng nề; nếu Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không tham chiến, kinh tế của Trung Quốc sẽ không bị tổn thất. Tuy nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, về mặt quân sự, Trung Quốc sẽ có bước phát triển mang tính nhảy vọt. Vì sau khi thống nhất Đài Loan, hợp nhất kỹ thuật quân sự của Đài Loan, trong vòng từ 5 đến 10 năm, kỹ thuật quân sự của Trung Quốc sẽ có bước phát triển vượt bậc.

Trong cuộc chiến này, Mỹ không tham chiến còn có thể giữ được địa vị độc bá của mình, một khi tham chiến, địa vị độc bá tất bị lung lay. Sau khi bị tổn thất nặng nề trong cuộc chiến này, địa vị bá chủ thế giới của Mỹ sẽ bị các nước nghi ngờ, đặc biệt là các nước nhỏ Đông Nam Á, đối diện với một Trung Quốc láng giềng hùng mạnh, buộc các nước này không thể không tính toán lại xem đi theo hướng nào, đi theo ai. Mỹ không tham chiến còn có thể duy trì địa vị bá chủ thế giới khoảng 40 năm nữa, trong 40 năm này, Trung Quốc sẽ không có cớ thách thức bá quyền của Mỹ, Trung Quốc chỉ có thể tiếp tục chuyên tâm vào sự nghiệp thống nhất đất nước.

Điểm có lợi nhất của cuộc chiến thống nhất Đài Loan là Trung Quốc đã phá vỡ chuỗi đảo bao vây thứ nhất của Mỹ, để hướng ra Thái Bình Dương, như vậy Trung Quốc từ đó có thể tiến quân ra đại dương, mở rộng lợi ích thiết thân của Trung Quốc.

Cuộc chiến tranh thứ hai : Thu hồi các đảo tại Biển Đông (giai đoạn 2025-2030)

Sau khi Trung Quốc thống nhất Đài Loan, nghỉ ngơi chỉnh đốn nhiều nhất là 2 năm, trong khoảng thời gian này Trung Quốc tuyên bố với các nước có tranh chấp tại Biển Đông về thời hạn cuối cùng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo là năm 2028, tất cả các nước có thể đàm phán với Trung Quốc trong khoảng thời gian này. Trung Quốc sẽ xuất phát từ quan điểm láng giềng hữu nghị và phong cách nước lớn, Trung Quốc còn có thể bảo đảm một phần lợi ích kinh tế của các nước xung quanh đã đầu tư vào các đảo ở Biển Đông, nếu không Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo, đồng thời tịch thu toàn bộ lợi ích kinh tế, cũng như các khoản đầu tư trên các đảo này.

"Còn nữa"

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/1902-sau-cuoc-chien-tranh-trong-50-nam-toi-cua-trung-quoc
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #492 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2011, 12:40:17 am »

Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc? (tiếp theo)

Cuộc chiến tranh thứ ba: Thu hồi Nam Tây Tạng (giai đoạn 2035-2040)

Hai mươi năm sau, mặc dù thực lực quân sự của Ấn Độ không bằng Trung Quốc, nhưng khi đó cũng sẽ là một trong số không nhiều nước lớn trên thế giới, vì vậy “đá chọi với đá” chắc chắn sẽ chịu nhiều tổn thất, cho nên tác giả cho rằng tốt nhất là ngay từ bây giờ Trung Quốc phải tìm mọi cách khiến Ấn Độ bị chia cắt thành mấy nước nhỏ, để Ấn Độ không còn sức đối kháng với Trung Quốc, tuy nhiên sách lược chia cắt Ấn Độ không chắc chắn thực hiện được, nhưng ở mức độ thấp nhất cũng phải làm cho bang Assam tiếp giáp với Nam Tây Tạng (Ấn Độ gọi là bang Arunachal Pradesh) và Sikkim bị Ấn Độ xâm chiếm được độc lập, làm suy yếu thực lực của Ấn Độ trong đối kháng với Trung Quốc, như vậy mới là thượng sách.

Trung sách là chuyển một lượng lớn vũ khí quân sự tiên tiến sang Pakixtan, trong khoảng thời gian năm 2035, ngầm giúp Pakixtan tấn công khu vực phía Nam Casơmia của Ấn Độ, giúp đỡ Pakixtan hoàn thành đại nghiệp thống nhất lãnh thổ. Tất nhiên, trong khi Ấn Độ và Pakixtan chưa thể kết thúc chiến tranh, Trung Quốc thần tốc tấn công Ấn Độ thu hồi khu vực Nam Tây Tạng bị chiếm đóng. Ấn Độ sẽ không thể cùng lúc tác chiến với hai cuộc chiến tranh, kết cục đều gặp thất bại, như vậy Trung Quốc có thể dễ dàng lấy lại khu vực Nam Tây Tạng, Pakixtan cũng có thể hoàn thành việc kiểm soát hoàn toàn Casơmia. Đây là trung sách, là một biện pháp hay có thể thực hiện. Nếu tất cả các sách lược trên đều không thể thực hiện, Trung Quốc có thể tấn công trực diện Ấn Độ để thu hồi Nam Tây Tạng.

Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh thứ nhất và thứ hai, Trung Quốc đã có thời gian khôi phục và tiếp tục phát triển trong vòng 10 năm, khi đó Trung Quốc đã là cường quốc mang tầm thế giới cả về kinh tế lẫn quân sự, duy chỉ có Mỹ và châu Âu là có thể xếp trên Trung Quốc (thời điểm đó nhiều khả năng châu Âu sẽ hoàn thành nhất thể hoá). Vì vậy, sau khi thống nhất Đài Loan và thu hồi các đảo tại Biển Đông, kỹ thuật quân sự của Trung Quốc đã có bước phát triển nhạy vọt, các trang thiết bị vũ khí hải, lục, không quân và vũ trụ đều có bước tiến dài, nhiều kỹ thuật quân sự ở vào trình độ dẫn đầu thế giới, khi đó sức mạnh quân sự của Trung Quốc chỉ có thể xếp sau Mỹ. Với thực lực như vậy, trong cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng, Ấn Độ chắc chắn chịu một cuộc đại bại. Thứ nhất, sức mạnh tổng hợp của Ấn Độ yếu hơn nhiều so với Trung Quốc. Ấn Độ không có khả năng nghiên cứu, phát triển cũng như độc lập sản xuất các loại vũ khí mũi nhọn kỹ thuật cao. Năng lực động viên kinh tế cho thời chiến của Ấn Độ không bằng 1/10 của Trung Quốc, cho nên trong cuộc chiến với Trung Quốc, Ấn Độ không thể duy trì chiến tranh lâu dài, trong khi đó khả năng chiến tranh thần tốc của Ấn Độ lại kém xa so với Trung Quốc, vì vậy trong cuộc chiến này, Ấn Độ thất bại là điều không phải nghi ngờ. Thứ hai, trong cuộc chiến này, tuyệt đối không có quốc gia nào dám công khai giúp đỡ Ấn Độ. Khi đó, Trung Quốc đã là cường quốc thế giới, không có nước nào (kể cả Mỹ) dám công khai coi Trung Quốc là kẻ thù, nhiều khả năng nhất chỉ có 3 nước là Mỹ, Nga, Nhật Bản sẽ ngấm ngầm cung cấp vũ khí cho Ấn Độ, nhưng động thái này sẽ không gây ra những vấn đề lớn; ngược lại Pakixtan có thể nhân cơ hội này tấn công Ấn Độ. Thứ ba, Ấn Độ không dám và không thể sử dụng vũ khí hạt nhân. Mặc dù nói Ấn Độ đã có vũ khí hạt nhân, nhưng trong cuộc chiến này, Ấn Độ không dám sử dụng vũ khí hạt nhân, vì vũ khí hạt nhân của Ấn Độ không đủ để huỷ diệt Trung Quốc; đã không thể huỷ diệt, một khi sử dụng, khả năng phản kích của Trung Quốc có thể huỷ diệt vĩnh viễn Ấn Độ. Sau khi thu hồi Nam Tây Tạng, Trung Quốc sẽ đóng trọng binh tại đây, Ấn Độ sẽ không dám phản công, cuối cùng phải thừa nhận là lãnh thổ của Trung Quốc, đồng thời tích cực triển khai hợp tác với Trung Quốc, như vậy vẫn có thể bảo toàn thực lực nước lớn tại khu vực.

Cuộc chiến tranh thứ tư : Thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (giai đoạn 2040 - 2045)

Thời điểm đến giữa thế kỷ 21, Trung Quốc đã là cường quốc thế giới thật sự, khi đó Nhật Bản, Nga suy yếu; Mỹ, Ấn Độ không phát triển, Trung Quốc và châu Âu đồng thời nổi lên, là thời cơ tốt nhất để Trung Quốc thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (Nhật Bản gọi là Okinawa) bị Nhật Bản chiếm đóng.

Nói tới đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu, có lẽ nhiều người chỉ biết rằng đảo Điếu Ngư là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc, nhưng lại không biết Nhật Bản đã xâm chiếm Lưu Cầu. Hiện nay, bất luận là trong diễn đàn nhân dân hay cấp trung ương, khi đề cập đến vấn đề Đông Hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản, đề cập đến cái gọi là “đường trung tuyến” do Nhật Bản hoạch định, hay vấn đề Lưu Cầu, đều bị Nhật Bản dẫn giải sai lầm về lịch sử và chính trị - tức cho rằng Lưu Cầu là lãnh thổ của Nhật Bản.

Nhật Bản đã xâm chiếm đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu của Trung Quốc nhiều năm qua, đánh cắp phi pháp nhiều tài nguyên tại Đông Hải của Trung Quốc, vì vậy đây sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại từ tay Nhật Bản. Vì thời điểm đó Mỹ muốn can dự cũng khó, châu Âu càng không quan tâm đến vấn đề này, trong khi đó Nga cũng chỉ có thể ngồi nhìn. Nhiều nhất là trong vòng nửa năm, cuộc chiến có thể kết thúc, Trung Quốc đại thắng, Nhật Bản đành phải thừa nhận kết cục thất bại - đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu trở về vô điều kiện với Trung Quốc. Đông Hải trở thành nội hải của Trung Quốc.

Cuộc chiến tranh thứ năm : Thống nhất Ngoại Mông (giai đoạn 2045 - 2050)

Mặc dù, hiện nay có người cổ vũ Ngoại Mông (Mông Cổ) trở về Trung Quốc, nhưng điều này có hiện thực không?

Trung Quốc chỉ có thể sau khi thống nhất Đài Loan, lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ. Như vậy sẽ có người hỏi, vì sao phải lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ? Làm như vậy khác nào nói Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bị Trung Hoa Dân Quốc thống nhất? Nói như vậy không có gì vô nghĩa cả, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc cũng là Trung Quốc, không cần quan tâm ai thống nhất ai, làm người Trung Quốc, chỉ cần tổ quốc thống nhất, không bị làm nhục là tốt nhất. Cũng phải biết rằng hiện nay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thừa nhận nền độc lập của Ngoại Mông, nếu lấy hiến pháp và bản đồ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa làm căn cứ để thống nhất Ngoại Mông, thì rõ ràng đây là hành động đi xâm lược, cho nên chỉ có thể lấy hiến pháp và bản đồ của Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ để tiến hành thống nhất Ngoại Mông, như vậy xuất quân mới danh chính ngôn thuận. Trung Quốc cần đề xuất đại cương thống nhất với Ngoại Mông, tạo dựng bầu không khí dư luận xã hội Ngoại Mông trở về Trung Quốc, đồng thời tìm kiếm những tộc người tại Ngoại Mông có mong muốn sáp nhập vào Trung Quốc để ra sức giúp đỡ, cố gắng để họ có thể tiếp cận tới tầng lớp có quyền quyết sách, nhằm chuẩn bị tốt cho sự nghiệp thống nhất Ngoại Mông. Bên cạnh đó, sau khi thu hồi Nam Tây Tạng (dự kiến vào năm 2040) Trung Quốc cũng phải tuyên bố với các nước trên thế giới rằng Ngoại Mông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Đương nhiên, Ngoại Mông có thể ra điều kiện để trở về, như vậy là điều tốt nhất so với việc phải sử dụng vũ lực để thống nhất. Nếu thế lực bên ngoài can dự hoặc Ngoại Mông cự tuyệt thống nhất, Trung Quốc cần phải làm tốt mọi sự chuẩn bị về trang bị vũ khí nhằm thống nhất Ngoại Mông. Tài liệu cho rằng Trung Quốc vẫn có thể áp dụng mô hình như đã thống nhất Đài Loan, đưa ra thời hạn cuối cùng để thống nhất là vào năm 2045, để Ngoại Mông có thời gian mấy năm suy nghĩ, khi đến thời điểm nếu không chủ động chấp nhận trở về, cuối cùng mới sử dụng vũ lực thống nhất.

Tới thời điểm đó, 4 cuộc chiến tranh đã kết thúc, Trung Quốc đã có đầy đủ thực lực về chính trị, quân sự và ngoại giao để thống nhất Ngoại Mông. Mỹ, Nga suy yếu sẽ không dám tham chiến, chỉ có thể tiến hành phản đối bằng ngoại giao, trong khi đó châu Âu sẽ giữ thái độ nước đôi, Ấn Độ không lên tiếng. Không đến 3 năm, Trung Quốc có thể hoàn thành thống nhất mang tính tuyệt đối đối với Ngoại Mông. Sau khi thống nhất Ngoại Mông, tuyến đầu sẽ bố trí trọng binh nhằm ngăn chặn Nga, đồng thời trong vòng 10 năm, ra sức tiến hành xây dựng mang tính nền tảng và thiết bị quân sự, để chuẩn bị cho sau này tiến hành thu hồi lãnh thổ do Nga xâm chiếm.

Cuộc chiến tranh thứ sáu : Thu hồi lãnh thổ bị Nga xâm chiếm (giai đoạn 2055 - 2060)

Hiện nay, Trung-Nga được coi là láng giềng hữu nghị, song chẳng qua là vì có cùng mục tiêu chống Mỹ, thực chất vẫn tồn tại sóng ngầm và cảnh giác lẫn nhau.

Sau khi giành thắng lợi trong 5 cuộc chiến tranh trước đó (khoảng năm 2050), Trung Quốc phải lên tiếng đòi Nga phải trả lại lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc từ đời nhà Thanh, tạo dư luận trên toàn thế giới có lợi cho Trung Quốc, nhưng tốt nhất là khiến Nga một lần nữa bị giải thể, tách thành nhiều nước nhỏ.

Trước đây, Nga đã xâm chiếm tổng cộng khoảng 1,6 triệu km2 lãnh thổ của Trung Quốc, tương đương 1/6 tổng diện tích lãnh thổ lục địa của Trung Quốc hiện nay, Nga vẫn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Trung Hoa, cho nên sau khi kết thúc 5 cuộc chiến tranh trước, sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại lãnh thổ bị Nga xâm chiếm từ đời Thanh.

Mặc dù thời điểm này các phương diện về hải, lục, không quân và vũ trụ của Trung Quốc đã vượt Nga, nhưng rõ ràng đây là một cuộc chiến tranh nhằm vào một cường quốc hạt nhân, cho nên lúc đó Trung Quốc phải huy động mọi khả năng hạt nhân, như các loại vũ khí có khả năng đánh chặn hạt nhân tầm xa, tầm trung và tầm ngắn. Khả năng Nga đánh trả khi tiếp cận Trung Quốc là không thể, vì vào thời điểm này Nga đã không còn là đối thủ của Trung Quốc, chỉ có thể chấp nhận trả lại phần lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc, nếu không cái giá phải trả là quá đắt.

Sau khi kết thúc 6 cuộc chiến tranh, Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế và quân sự duy nhất trên thế giới, Trung Quốc cùng với châu Âu, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, châu Phi và Braxin thiết lập trật tự thế giới mới do Trung Quốc chủ đạo./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/1902-sau-cuoc-chien-tranh-trong-50-nam-toi-cua-trung-quoc
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #493 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2011, 02:00:22 am »

Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc?

Bài trên trang China News về 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc sẽ phát động trong 50 năm tới. Sau khi dùng vũ lực thống nhất với Đài Loan thì mục tiêu tiếp theo là phát động chiến tranh để thu hồi các đảo ở Biển Đông.


Bài viết này chứng tỏ tác giả không phải nhà ngoại giao hoặc nhà quân sự, lại mắc bệnh vĩ cuồng.

"Đả thạch dị, đả nhân nan", câu này xài rất được.
Logged
trungfbi
Thành viên
*
Bài viết: 1153


Luôn tự hào để nói:"tôi là người Việt Nam"


« Trả lời #494 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2011, 08:38:13 am »

Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc?

Bài trên trang China News về 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc sẽ phát động trong 50 năm tới. Sau khi dùng vũ lực thống nhất với Đài Loan thì mục tiêu tiếp theo là phát động chiến tranh để thu hồi các đảo ở Biển Đông.


Bài viết này chứng tỏ tác giả không phải nhà ngoại giao hoặc nhà quân sự, lại mắc bệnh vĩ cuồng.

"Đả thạch dị, đả nhân nan", câu này xài rất được.

Đọc bài viết mà cười bể bụng  Grin. Đủ chứng tỏ trình độ người Viết như thế nào?  Roll Eyes
Logged

"Tôi muốn cho tất cả mọi người, bất kể là ai, biết được sự thật. Vì không có thông tin, công chúng sẽ không thể đưa ra được những quyết định chuẩn xác" - Bradley Manning (chuyên gia tình báo của Bộ Quốc Phòng Mỹ)
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #495 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2011, 01:28:02 am »

Sáu ý nghĩa của tàu sân bay đối với hải quân Trung Quốc

Theo “Tín báo” (Hồng Công), việc Bộ Quốc phòng Trung Quốc chính thức công bố về tàu sân bay Varyag một lần nữa làm dấy lên sự quan tâm chú ý của dư luận quốc tế đối với kế hoạch phát triển tàu sân bay của Trung Quốc. Liên quan đến vấn đề này, Tiến sĩ Mã Nghiêu - Cố vấn của Ủy ban Quỹ Năng lượng Trung Hoa (Hồng Công) - cho rằng tàu sân bay có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Hải quân Trung Quốc

Thứ nhất, có thể tổng hợp lực lượng tàu chiến của Hải quân Trung Quốc. Trung Quốc có lực lượng tàu chiến nổi quy mô lớn nhất châu Á, bao gồm 75 chiến hạm chủ lực, 55 tàu lưỡng cư loại lớn và vừa, khoảng 85 tàu tuần tra trang bị tên lửa… Với lực lượng trên biển khá đông và đa dạng như vậy, nếu chỉ dựa vào việc chỉ huy trên bờ thì hiệu quả tác chiến giảm nhiều, không thể phát huy ưu thế tác chiến tập thể. Một khi có tàu sân bay, Hải quân Trung Quốc có thể thành lập biên đội tác chiến tàu sân bay, lợi dụng tàu sân bay để thống nhất tác chiến trên biển, từ đó hình thành sức mạnh tác chiến liên hợp nhất thể hóa, nâng cao năng lực chiến đấu.

Thứ hai, có thể cung cấp năng lực phòng không tầm xa cho Hải quân Trung Quốc. Do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như chiến lược hải quân, thực lực kinh tế và trình độ kỹ thuật, binh chủng Hải quân Trung Quốc thời kỳ đầu lấy việc phát triển tàu ngầm, không quân-hải quân và tàu cao tốc làm chủ đạo. Tuy nhiên, kết cấu binh lực hải quân kiểu phòng ngự biển gần này không phù hợp cho việc thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu viễn dương, không thể bảo vệ quyền lợi biển và lợi ích ở bên ngoài của Trung Quốc. Do đó, Hải quân Trung Quốc đã bắt đầu tập trung tiến hành thiết kế và trang bị đội tàu chiến loại lớn, và đại diện của nó là tàu sân bay. Giành quyền kiểm soát trên biển là tiền đề để hạm đội hải quân hiện đại tác chiến hữu hiệu, song sau khi ra khỏi phạm vi bảo vệ của lực lượng phòng không trên đất liền, hải quân cần có một hệ thống bảo vệ phòng không đáng tin cậy. Là một sân bay và trung tâm chỉ huy tác chiến trên không di động trên biển, tàu sân bay hiện là biện pháp duy nhất có thể bảo vệ phòng không hữu hiệu cho hạm đội tác chiến ở biển xa. Trong khoảng thời gian rất dài sau này, lực lượng phòng không trên biển mà tàu sân bay cung cấp vẫn sẽ là lực lượng tất yếu đối với hải quân viễn dương.

Thứ ba, có thể nâng cao trình độ thông tin hóa của Hải quân Trung Quốc. Sau khi hình thái kỹ thuật chiến tranh nhân loại bước vào chiến tranh thông tin hóa, kỹ năng C4I (thông tin, chỉ huy, kiểm soát, tình báo và tin học) trực tiếp quyết định sự thành bại. Là một tổ hợp tác chiến nổi lớn nhất trên biển, không gian của tàu sân bay lớn, tính cơ động cao, lại có thể tự cung cấp nguồn điện đầy đủ, dung nạp nhiều thiết bị điện tử, nhờ đó nó trở thành trung tâm thông tin, chỉ huy, kiểm soát, tình báo và tin học lý tưởng nhất ở ngoài khơi.

Thứ tư, có thể nâng cao năng lực tấn công tầm xa trên biển của Hải quân Trung Quốc. Sang thế kỷ mới, ứng dụng của kỹ thuật cao đang tạo bước đột phá mang tính lịch sử đối với uy lực và hiệu suất của các loại vũ khí, mở rộng từ phạm vi chiến dịch tới phạm vi chiến lược. Tấn công trên biển trở thành một trong những mô hình quan trọng của tác chiến hải quân hiện đại. Trong quá trình tác chiến trên biển, tàu sân bay vừa có thể lợi dụng các máy bay mà nó chuyên chở để tấn công chính xác các mục tiêu (cả trên biển và trên bộ), vừa có thể lợi dụng hệ thống C4I có khả năng hướng dẫn và đánh giá hiệu quả của các loại tên lửa hành trình được bắn đi từ biên đội tàu sân bay. Có thể nói rằng Hải quân Trung Quốc khi được trang bị tàu sân bay sẽ nâng cao được năng lực tấn công chiến lược tầm xa, từ đó hình thành “chuỗi tấn công trên biển” hoàn chỉnh.

Thứ năm, sẽ nâng cao năng lực sinh tồn của lực lượng hạt nhân trên biển. Trong hệ thống tấn công hạt nhân “3 trong 1”, lực lượng hạt nhân trên biển có tính ẩn náu tốt, khả năng sinh tồn trên chiến trường và tấn công liên tục cao… nên được các nước đặc biệt coi trọng phát triển. Với kết cấu binh lực hải quân biển gần, Trung Quốc không thể bảo vệ hữu hiệu cho tàu ngầm hạt nhân của mình thâm nhập đại dương, song với các biên đội tàu sân bay, vấn đề sẽ được giải quyết, năng lực sinh tồn trên chiến trường của tàu ngầm cũng như uy lực của vũ khí hạt nhân sẽ được nâng lên.

Thứ sáu, nâng cao năng lực của Hải quân Trung Quốc trong việc đối phó với các nguy cơ phi truyền thống. Cùng với tiến trình toàn cầu hóa, các vấn đề an ninh phi truyền thống trên biển ngày càng nổi trội, tàu sân bay có khả năng khống chế trên biển cực lớn, hỏa lực mạnh, là vũ khí lý tưởng để đối phó với hải tặc và thế lực khủng bố trên biển. Bên cạnh đó, tàu sân bay cũng có tác dụng vượt trội trong công tác cứu hộ cứu nạn thiên tai, điều này đã được minh chứng trong thảm họa sóng thần năm 2004./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/1932-sau-y-ngha-ca-tau-san-bay-i-vi-hi-quan-trung-quc
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #496 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2011, 01:33:02 am »

Trung Quốc dùng tàu sân bay để giải quyết tranh chấp lãnh thổ?

Chỉ một ngày sau khi chiếc Varyag được hạ thủy, Trung Quốc đã gián tiếp đe dọa có thể sử dụng chiếc tàu sân bay này trong các tranh chấp vùng biển. Tờ "Giải phóng Quân báo" - cơ quan ngôn luận của quân đội Trung Quốc - đã không ngần ngại cho rằng chiếc tàu sân bay của Trung Quốc cần phải được dùng vào các chiến dịch bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Nhà báo này đặt câu hỏi: “Đóng tàu sân bay để làm gì nếu chúng ta không có đủ dũng khí và quyết tâm sử dụng phương tiện này để xử lý các tranh chấp lãnh thổ? Đóng tàu sân bay là để bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc trên biển một cách hiệu quả hơn. Chúng ta sẽ tự tin và quyết tâm hơn trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ sau khi có được hàng không mẫu hạm”. Theo ông này, “việc dùng tàu sân bay hay bất cứ loại tàu chiến nào để giải quyết tranh chấp là một điều hợp lý”. Lời lẽ đầy tính hăm dọa này hoàn toàn trái ngược với các tuyên bố đầy tính trấn an của giới chức lãnh đạo Trung Quốc từ trước đến nay khi nói về chiếc tàu này, rằng họ chỉ dùng con tàu vào mục đích nghiên cứu và huấn luyện, sự tồn tại của phương tiện chiến tranh mới này không hề thay đổi chính sách quốc phòng mà Bắc Kinh tự nhận là "hiếu hòa".

Theo giới phân tích, bài viết này có thể được coi là một tín hiệu hù dọa mới của Trung Quốc nhằm vào các nước đang có tranh chấp với họ tại Biển Đông như Việt Nam hay Philíppin, hoặc tại vùng biển Hoa Đông như Nhật Bản. Bắc Kinh từng mượn lời các phương tiện truyền thông trong tay họ để tung ra các tín hiệu hăm dọa nhằm vào các nước có tranh chấp thời gian gần đây. Hãng tin Pháp AFP nhận định báo chí hoặc các trang web nhà nước của Trung Quốc thường được kiểm tra chặt chẽ, do đó bài viết được đăng tải nói trên chắc chắn đã được thông qua ở cấp cao hơn, cho dù không hẳn đã phản ánh đúng quan điểm chính thống của Bắc Kinh. Theo AFP, một số chuyên gia phân tích độc lập cho rằng Trung Quốc đang muốn lợi dụng việc chiếc tàu được hạ thủy để chơi trò chiến tranh tâm lý trong khu vực, vào lúc họ đang tranh chấp chủ quyền với hầu hết các nước có cùng một vùng biển với họ.

Ngày 10/8, Oasinhtơn đã bày tỏ thái độ quan ngại trước việc Trung Quốc hạ thủy tàu Varyag (Thi Lang) với danh nghĩa là cho chạy thử. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ, bà Victoria Nuland, nói rằng cần phải làm rõ vì sao Trung Quốc cần đến một phương tiện như hàng không mẫu hạm. Đối với phía Mỹ, vấn đề này là đáng quan ngại vì Trung Quốc thiếu minh bạch trong lĩnh vực quốc phòng, trong việc trang bị vũ khí cũng như trong việc tăng ngân sách quân sự. Cũng như Mỹ, sự phát triển quân sự nhanh chóng của Trung Quốc đã khiến các nước láng giềng châu Á lo ngại. Tuần trước, Nhật Bản lên tiếng bày tỏ quan ngại về "ngân sách quốc phòng mập mờ" của Trung Quốc cũng như việc nước này ngày càng mở rộng sự hiện diện của hải quân trên các vùng biển.

Tuy nhiên, ông Russell Smith - cựu Tùy viên Quân sự Ôxtrâylia tại Trung Quốc, Giám đốc phụ trách bộ phận an ninh và quốc phòng châu Á-Thái Bình Dương của Công ty Tư vấn IHS - cho rằng trong bối cảnh hiện nay, việc chạy thử tàu sân bay không nhằm mục đích giải quyết những xung đột ở Biển Đông, nguyên nhân là vì Trung Quốc đã có một căn cứ không quân có thể hỗ trợ hoạt động của quân đội nếu nước này quyết định tiến xa hơn trong vấn đề biển Đông. Ông nói: “Tôi cho rằng lợi ích quốc gia của Trung Quốc đang nằm ở phạm vi toàn cầu. Vì vậy, đương nhiên nước này phải tăng cường quân đội để tự bảo vệ lợi ích của mình và việc phát triển hàm không mẫu hạm là một điều hết sức quan trọng nhằm phục vụ mục tiêu đó”. Theo ông, động cơ chính trị của Trung Quốc lần này là nhằm phô trương sức mạnh với các nước trên thế giới. Theo đó, tàu sân bay Varyag có tầm quan trọng lớn về mặt quân sự bởi nó thể hiện khả năng tác chiến của quân đội nước này. Trên thực tế, hiện nay Trung Quốc cũng đang phát triển các loại vũ khí khác để đảm bảo rằng hệ thống chỉ huy quân sự sẽ có thể vận hành trên mọi phương diện. Ông nói thêm: “Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn cần thời gian mới có thể đạt được khả năng tác chiến toàn diện”./.

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1961-trung-quc-dung-tau-san-bay-giai-quyet-tranh-chap-lanh-tho
Logged
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #497 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2011, 08:59:12 am »

Đối đầu với Mỹ, tàu sân bay Trung Quốc chỉ 'sống' được vài giờ

Những lợi ích, nhược điểm chiến lược của tàu sân bay Trung Quốc, các sứ mệnh tương lai và tác động chiến lược.


Trong cuộc đối đầu cường độ cao với kẻ thù có khả năng về tàu ngầm, không quân và tàu chiến bố trí trên tàu nổi/đất liền,
tuổi thọ dự tính của một tàu sân bay Trung Quốc có thể sẽ được tính bằng giờ.

Chương trình đóng tàu sân bay của Trung Quốc tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi trong các nhà quan sát Trung Quốc và nước ngoài. Tàu sân bay Varyag của Liên Xô mà Trung Quốc mua từ Ukraine năm 1998 và cải tạo lại thành tàu sân bay đầu tiên của họ với tên Thi Lang có lẽ là sự khởi đầu khiêm tốn và tập trung cho nhiệm vụ huấn luyện cho một nhóm tàu sân bay chuyên dụng thế hệ 1 của Trung Quốc và sẽ sử dụng các máy bay trên hạm tự phát triển như J-15 Flying Shark.

Trung Quốc có thể sẽ đóng 3-4 tàu sân bay để ít nhất có 1 tàu hoạt động trên biển, trong khi các tàu khác được sử dụng cho huấn luyện hoặc cải tiến, sửa chữa.

Trong bối cảnh đó, một việc có ý nghĩa quan trọng là đưa ra một hình dung chiến lược chân thực và đánh giá những ưu và nhược điểm của việc phát triển và triển khai các tàu sân bay Trung Quốc. Một năng lực tàu sân bay đáng kể chắc chắn sẽ tạo ra những tiền đề đưa khả năng tung sức mạnh lên một cấp độ mới.

Nhận thức rõ những ưu thế và điểm yếu của các tàu sân bay của hải quân Trung Quốc sẽ giúp Mỹ và các cường quốc khu vực khác hoạch định các kế hoạch và chiến lược hiệu quả hơn để đối phó với khả năng tàu sân bay phôi thai của Trung Quốc.

Những lợi ích chiến lược

1) Mở rộng ảnh hưởng ngoại giao trong khu vực.

Một cụm tàu sân bay sẽ mang lại những lợi thế ngoại giao lớn trong việc tạo ra sự hiện diện hải quân dễ thấy của Trung Quốc ở Biển Đông Việt Nam, Đông Nam Á, dọc theo các tuyến đường biển then chốt ở Ấn Độ Dương, và phục vụ các sứ mệnh nhân đạo như phản ứng với trận sóng thần năm 2004 ở Ấn Độ Dương. Một số cụm tàu sân bay sẽ cần để có sự hiện diện ổn định ở các khu vực này và cho phép thực hiện bảo dưỡng định kỳ.

2) Cải thiện khả năng của Trung Quốc bảo vệ công dân của họ và những lợi ích kinh tế riêng quan trọng tại những khu vực bất ổn giữa Biển Đỏ và Hong Kong.

Tiến lên phía trước, năng lực của Trung Quốc nhiều khả năng sẽ được hoạch định chuyên để đối phó với các mối đe dọa đối với công dân Trung Quốc và các lợi ích của Trung Quốc ở hải ngoại. Chúng bao gồm các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như hải tặc và khủng bố, cũng như rối loạn nội bộ như đang thấy ở Libya.

Quân đội Mỹ, mặt khác, đang nắm giữ năng lực viễn chinh thực sự toàn cầu và mạnh mẽ, giúp họ tiến hành các cuộc chiến tranh lớn hầu như bất cứ đâu trên thế giới.

3) Các tàu sân bay đem lại một tổ hợp những khả năng thay đổi tùy biến để ứng phó với hàng loạt những tình huống bất ngờ.

Các tàu sân bay và hạ tầng hoạt động bảo đảm thực hiện được các sứ mệnh phức tạo cũng có thể vận dụng để ứng phó với các sứ mệnh an ninh phi truyền thống như cứu trợ nhân đạo sau trận sóng thần năm 2004 ở Ấn Độ Dương hay trấn áp hải tặc ngoài khơi Somalia. Quân đội Trung Quốc đang cải thiện khả năng đối phó với các mối đe dọa quy mô nhỏ hơn, không đòi hỏi phải dùng sức mạnh tiến vào một khu vực thù địch, song vẫn đòi hỏi sự triển khai lực lượng tầm xa. Khả năng thể hiện sự hiện diện được cải thiện và trợ giúp các chiến dịch nhân đạo và các hoạt động quân sự phi tác chiến có khả năng cho phép có được một năng lực viễn chinh quân sự hạn chế để đem lại những lợi ích ngoại giao lớn cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rằng, tiềm lực hải quân, không quân và lục quân thực hiện các hoạt động bên ngoài khu vực của Trung Quốc có lẽ vẫn còn phải mất ít nhất 15 năm nữa mới đạt được mức độ phản ứng tùy biến với các mối đe dọa cường độ cao và thấp mà Bộ Quốc phòng Mỹ hiện có.

Những nhược điểm chiến lược

1) Các tàu sân bay vốn dễ bị tấn công và tổn thương.

Trong một cuộc điều trần tại Thượng viện Mỹ, khi được hỏi các tàu sân bay Mỹ sẽ sống sót được bao lâu trong một cuộc chiến tranh lớn chống các lực lượng Soviet, Đô đốc Hyman Rickover đã có câu trả lời trứ danh: “khoảng 2 ngày”.

Trong cuộc đối đầu cường độ cao với kẻ thù có khả năng về tàu ngầm, không quân và tàu chiến bố trí trên tàu nổi/đất liền, tuổi thọ dự tính của một tàu sân bay Trung Quốc có thể sẽ được tính bằng giờ.

Khả năng tác chiến chống ngầm có lẽ là điểm yếu chí mạng nhất mà Trung Quốc cần phải khắc phục để bảo vệ các tàu sân bay tương lai. Nhiều láng giềng của Trung Quốc, trong đó có Việt nam, Indonesia và  Malaysia, tất cả đều đã mua hoặc đã ký hợp đồng mua các tàu ngầm diesel tiến công khá hiện đại trong những năm gần đây và hải quân các nước Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia tất cả đều có khả năng tấn công tàu ngầm rất mạnh.

2)  Các tàu sân bay cùng các tàu và hạ tầng yểm trợ cho chúng là rất đắt tiền.

Đó một phần là vì tính dễ bị tấn công của tàu sân bay và một phần vì cần có nhiều hệ thống hỗ trợ khác nhau để bảo đảm cho một tàu sân bay có thể hoạt động với hiệu quả tối đa. Nếu hải quân Trung Quốc có ý định tiến hành các hoạt động tàu sân bay đáng kể ở các vùng biển xa, họ chắc chắn sẽ phải mua sắm các tàu phòng không tiên tiến, tăng cường khả năng tiếp vận trên biển và mua sắm nhiều tàu ngầm hạt nhân tiến công hơn và tích hợp tốt hơn các máy bay chỉ huy/báo động sớm (AWACS) và máy bay tiếp dầu với lực lượng máy bay trên tàu sân bay.

3) Khả năng tác chiến bằng tàu sân bay của Trung Quốc chắc chắn sẽ làm các láng giềng của Trung Quốc lo ngại và có khả năng giúp thúc đẩy các liên kết an ninh chính thức hơn nhằm đối trọng với sức mạnh quân sự gia tăng của Trung Quốc.

Các tàu sân bay vốn là công cụ tung sức mạnh. Các láng giềng của Trung Quốc và các đối thủ chiến lược chắc chắn sẽ tìm cách ngăn chặn cái mà họ coi như tín hiệu của tham vọng có được khả năng hải quân hùng mạnh của Trung Quốc vốn có thể nhanh chóng chuyển từ các sứ mệnh mềm sang các sứ mệnh cứng.

4) Quãng thời gian còn dài cho đến lúc các tàu sân bay Trung Quốc có khả năng hoạt động thực sự giúp các địch thủ khu vực của Trung Quốc có thời gian để xây dựng các biện pháp ứng phó mà thường là rẻ tiền hơn và có thể mua sắm tương đối nhanh.

Hạ tầng đóng tàu lớn và tích cực cũng như nền tảng nhân lực của Trung Quốc chắc chắn sẽ làm giảm chi phí đóng và trang bị cho tàu sân bay so với Mỹ chẳng hạn. Tuy vậy, các tàu sân bay tự đóng trong nước vẫn sẽ đắt đỏ với giá cuối cùng chắc chắn sẽ bằng mấy chiếc tàu đổ bộ chở trực thăng lớp Type 071 vốn rất thích hợp để đối phó với các tình huống bất ngờ mà Trung Quốc nhiều khả năng phải đối mặt nhất trong những năm tới và sẽ ít gây lo sợ trong các nước láng giềng của Trung Quốc hơn là một tàu sân bay thực sự.

Nguồn http://vietnamdefence.com/Home/phantich/Doi-dau-voi-My-tau-san-bay-Trung-Quoc-chi-song-duoc-vai-gio/20118/50763.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #498 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2011, 09:58:27 am »

'Nhị pháo' Trung Quốc tập chiến thuật mới

Thời gian gần đây, lực lượng nhị pháo (*) Trung Quốc liên tục tập luyện chiến thuật mới: tấn công tiêu diệt lực lượng tên lửa đạn đạo của đối phương.
(*) Còn gọi là lực lượng pháo binh số 2, cách Trung Quốc gọi lực lượng tên lửa mặt đất.

Phản pháo là một trong những kỹ năng cổ điển của lực lương pháo binh và tất nhiên nó cũng được áp dụng với lực lượng tên lửa đạn đạo. Gần đây Trung Quốc đang cố gắng luyện tập kỹ thuật này với khả năng cao hơn: tấn công phủ đầu các bệ phóng tên lửa đạn đạo di động của đối phương.

Đây là một việc rất khó vì các hệ thống phóng tên lửa đạn đạo này có kích thước nhỏ và rất cơ động. Dù vậy, Trung Quốc tin rằng họ sẽ luyện tập thành công khả năng này trong một tương lai gần.

Lực lượng pháo binh số hai của Trung Quốc đã được mở rộng rất nhiều so với trước đây. Trong đó, mới đây họ đã tăng thêm 2 lữ đoàn sử dụng tên lửa đạn đạo chống hạm tầm siêu xa DF-21D, nâng tổng số lữ đoàn sử dụng tên lửa DF-21 của lực lượng này lên 10 lữ đoàn, cùng với một số lữ đoàn sử dụng các loại tên lửa đạn đạo khác.

Mỗi lữ đoàn DF-21 được biên chế gồm 6 tiểu đoàn tên lửa (với 2 xe phóng tên lửa cho mỗi tiểu đoàn), 2 tiểu đoàn bảo dưỡng, sửa chữa, 1 tiểu đoàn chỉ huy, 1 tiểu đoàn trinh sát và 1 tiểu đoàn đối kháng điện tử (ECM). Tên lửa DF-21D được cho là để chống lại các hàng không mẫu hạm của quân đội Mỹ.


Công nghệ dẫn đường tên lửa đạn đạo chính xác không những giúp Trung Quốc chế tạo tên lửa diệt tầu sân bay mà nó còn giúp nước này có năng lực đánh phủ đầu các lực lượng tên lửa đạn đạo đối phương.

Các tên lửa DF-21 được sử dụng trong 8 lữ đoàn còn lại đều là các mẫu đã cũ. Đây là loại tên lửa nhiên liệu rắn 2 tầng đẩy, có chiều dài 10,7m, đường kính 1,4m và khối lượng 15 tấn.

Các tên lửa này có tầm bắn từ 1.700 km đến 3.000 km tùy theo biến thể, với khả năng mang đầu đạn hạt nhân hay thuốc nổ thông thường nặng từ 500 - 2.000 kg.

Tên lửa DF-21 loại này thường dùng để nhắm vào các mục tiêu quan trọng ở Đài Loan vì với tốc độ rất cao ở pha cuối, DF-21 sẽ có khả năng vượt qua tầng phòng thủ của các tên lửa Patriot-PAC3 đang bố trí trên hòn đảo này.

Dù chưa có một cuộc thử nghiệm tổng thể nào đối với tên lửa DF-21D, nhưng các cuộc thử nghiệm từng phần đã được diễn ra trong suốt 2 năm vừa qua và có vẻ chúng hoạt động tốt.

Trung Quốc cũng đã có thêm nhiều động thái khẳng định việc vận hành chính thức tên lửa DF-21D như việc phóng các vệ tinh địa tĩnh dẫn đường với quỹ đạo cao 600 km trên bầu trời Thái Bình Dương.

Mỗi vệ tinh này có trang bị các radar và camera viễn thám có độ phân giải thấp ( ích cỡ điểm ảnh 20m) có khả năng bao quát một vùng rộng 10.000km2 hay các camera độ phân giải trung bình (kích cỡ điểm ảnh 3m) có khả năng bao quát diện tích 1.600km2.


Với tên lửa DF-21D, Trung Quốc có thể đe dọa phần lớn biển Ấn Độ Dương, Tây Thái Bình Dương, biển Đông và eo biển Malacca.

Trong 6 năm qua, Trung Quốc đã làm việc không ngừng nghỉ để chế tạo các hệ thống dẫn đường giúp tên lửa đạn đạo có khả năng đánh trúng các mục tiêu di động. Các bộ dẫn đường này có thể sử dụng đầu dò hồng ngoại cho pha cuối tấn công.

Với các phương tiện trinh sát như vệ tinh, máy bay trinh sát, Trung Quốc có khả năng phát hiện sơ bộ vị trí của hàng không mẫu hạm hay hệ thống tên lửa đạn đạo đối phương, sau đó, các đầu đạn được dẫn đường sẽ lo nốt phần còn lại.

Hiện tại, Trung Quốc đã chế tạo thành công các bộ dẫn đường này và lắp đặt trên tên lửa DF-21D với tầm bắn 3.000 km, điều này cũng mở ra khả năng lắp đặt chúng lên các tên lửa tầm xa hơn, có khả năng vươn tới các căn cứ tên lửa của Nga, Ấn Độ hay Mỹ.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Nhi-phao-Trung-Quoc-tap-chien-thuat-moi/20118/161046.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #499 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2011, 10:05:19 am »

Bí ẩn sau tai nạn của tiêm kích J-10

Đối với các nước trên thế giới, thông báo về tai nạn máy bay là điều bình thường, nhưng với Trung Quốc đó là những bí mật không bao giờ công bố.
Đối với sự phát triển của bất kỳ hệ thống vũ khí nào, khó khăn trong phát triển, trục trặc kỹ thuật, thậm chí là tai nạn chết người là điều khó tránh khỏi. Những khó khăn, tai nạn trong quá trình phát triển là kinh nghiệm quý báu để các nhà thiết kế khắc phục các vấn đề tương tự trong tương lai. Đó là điều không cần gì phải che giấu.

Bí ẩn đằng sau những tai nạn

Nhưng đối với sự phát triển của các hệ thống vũ khí của Trung Quốc, đặc biệt là phát triển máy bay. Tai nạn trong quá trình phát triển là bí mật không bao giờ được công bố. Nhất là đối với "tiêm kích con cưng", "xương sống Không quân", chiến đấu cơ J-10 do Trung Quốc phát triển.


Một chiếc J-10 bị rơi vào năm 2007 tại Quế Lâm do động cơ đột ngột chết máy.

Theo thông tin từ trang mạng của Ấn Độ và các diễn đàn quốc phòng như Defence.pk và airline.net, Trung Quốc đã giấu kín thông tin về  vụ tai nạn của máy bay J-10 trong năm 2010. Chiếc máy bay gặp nạn này nằm trong số các máy bay sẽ xuất khẩu cho Pakistan.

Vậy tại sao điều khá bình thường đối với các nước trên thế giới lại là điều không bình thường đối với Trung Quốc. Phải chăng đằng sau những tai nạn này chứa đựng những bí mật không thể công bố.

Theo đó vụ tai nạn xảy ra vào ngày 13/4/2010, tại một địa điểm không được công bố gần thành phố cảng Thiên Tân, cách Bắc Kinh 130km về phía Đông. Theo nguồn tin, vụ tai nạn làm đại tá chỉ huy sư đoàn không quân số 9 của Không quân Trung Quốc thiệt mạng.

Tang lễ của ông ta được tổ chức quá long trọng khiến nhà cầm quyền không thể bưng bít được thông tin về tai nạn này. Trang tin địa phương cho biết, có đến 200 chi tiết trong thiết kế của J-10 làm việc không hiệu quả dẫn đến tai nạn thảm khốc này.

Các vụ tai nạn khác

Ban đầu J-10 được dự định sẽ chính thức đưa vào sản xuất loạt vào năm 1998, tuy nhiên, nguyên mẫu đầu tiên đã bị rơi chỉ ít phút sau khi cất cánh. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn được cho là do hệ thống “fly-by-wire” do Trung Quốc chế tạo không hoạt động.

Sự cố này ảnh hưởng rất lớn  đến quá trình phát triển của J-10, mãi đến năm 2005, máy bay mới được giới thiệu, đến năm 2007 các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc mới công bố các bức ảnh chính thức đầu tiên về tiêm kích này.

Vụ tai nạn tiếp theo xảy ra vào năm 2007, tại sư đoàn không quân số 2 đóng tại tỉnh Quế Lâm. Vụ tai nạn thứ 3 của J-10 xảy ra vào tháng 8/2009, phi công Meng Fansheng đã buộc phải thoát ra ngoài khi động cơ của máy bay đột ngột chết máy.

Nguyên nhân của tai nạn này được các nguồn tin quân sự Trung Quốc công bố ra bên ngoài dưới dạng không chính thức. Theo đó, hệ thống điện tử kiểm soát động cơ đã không hoạt động, khiến động cơ đột ngột chết máy trong khi phi công đang thực hiện một pha nhào lộn.


Chiếc máy bay bị rơi xuống và gảy làm đôi, rất may phi công đã thoát ra ngoài an toàn.

Cũng trong năm 2009, đã xảy ra một sự cố khác, toàn bộ hệ thống điện tử của chiếc J-10A đột ngột ngưng hoạt động khi phi công đang tiến hành một bài tập chiến thuật. Rất may phi công điều khiển trung tá Li Feng đã hạ cánh an toàn mà không có sự hỗ trợ của bất kỳ thiết bị điện tử nào.

Vụ tai nạn vào năm 2010 được cho là thảm khốc nhất, nguyên nhân của vụ tai nạn sau khi không thể bưng bít được đổ lỗi cho phi công điều khiển. Song các ý kiến hầu hết trên các trang mạng ngoài Trung Quốc đều nghi ngờ về điều này.

Bản thân phi công là một đại tá, chỉ huy của cả một sư đoàn không quân, kinh nghiệm bay của ông ta rõ ràng không ít chút nào. Những lỗi trong thao tác là điều rất khó xảy ra. Có một số nguồn tin cho rằng, nếu nguyên nhân chính của vụ tai nạn được công bố, có thể dẫn đến sự phá sản trong hợp đồng xuất khẩu 36 chiếc tiêm kích J-10 trị giá 1,4 tỷ USD cho Pakistan.

Đốt cháy giai đoạn để chứng minh khả năng?

Có một số nguồn tin cho rằng, sự phát triển của J-10 bị "đốt cháy giai đoạn" do Trung Quốc muốn chứng minh năng lực của nền công nghiệp hàng không với thế giới.

Theo đó, mẫu tiêm kích thế hệ thứ 4 hiện đại do Trung Quốc sản xuất, có thể so sánh với các tiêm kích tiên tiến trên thế giới là một minh chứng hùng hồn cho sự lớn mạnh của công nghiệp hàng không Trung Quốc.

Sự phát triển của tiêm kích J-10 được cho là đã bỏ qua các chỉ số an toàn bay cơ bản để đạt được cột mốc thử nghiệm như dự tính ban đầu.


Số hiệu của máy bay đã bị xóa khi đưa lên mạng.

Trên diễn đàn Defence.pk, một diễn đàn quân sự của Pakistan, đa số các thành viên đều cho rằng, J-10 là một bản thiết kế chắp vá không hoàn hảo. Hình dáng khí động học sao chép lại mẫu tiêm kích Lavi của Israel, động cơ mua từ Nga, các thiết bị điện tử được chắp vá từ nhiều nguồn khác nhau.

Sự không đồng bộ trong vận hành là điều khó tránh khỏi, cùng với đó các sản phẩm mà Trung Quốc sao chép lại từ các mẫu của nước ngoài không hoàn toàn giống với bản gốc. Rủi ro trong các công nghệ sao chép là điều rất dễ xảy ra, đặc biệt đối với những công nghệ hiện đại, độ rủi ro càng cao hơn.

Như thường lệ thông tin và nguyên nhân về các vụ tai nạn của tiêm kích J-10 cũng như các hệ thống vũ khí khác không bao giờ được công bố một cách chính thức. Điều đó cho thấy rằng phía sau những vụ tai nạn, có thể ẩn chứa những bí mật “động trời” liên quan đến công nghệ chế tạo vũ khí của Trung Quốc. Nếu được công bố có thể dẫn đến sự phá sản của các mẫu vũ khí do Trung Quốc sản xuất với thị trường trong và ngoài nước.

Tất cả những gì mà thế giới biết được đều dưới dạng các nguồn tin không chính thức, thực hư của các vấn đề này mãi vẫn là những ẩn số như chính bản thân những hệ thống vũ khí do Trung Quốc sao chép từ các công nghệ bên ngoài.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Bi-an-sau-tai-nan-cua-tiem-kich-J10/20118/161288.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM