Trở về Củ Chi Chúng tôi trở lại Đồng Dù vào ngày 10/5/1975 . Thực ra chỉ có trung đoàn tôi trở lại đây muộn như thế còn các E 48, E52, E54 , Lữ công binh 7 và các đơn vị trực thuộc cùng sư đoàn bộ đã ở đó ngay từ ngày đầu tiên giải phóng . Trung đoàn tôi đánh tới dinh Độc lập rồi ở đó tới 6/5 thì kéo về Củ Chi . Chiều 6/5 đến Tân Phú Trung thì dừng lại tổ chức trận tập kích truy diệt bọn tàn binh chừng trăm tên trong ấp bàu Trâm .
Khi về tới Đồng Dù phải qua ba bốn lần chuyển quân trong 2 ngày trời mới điều chỉnh xong vị trí . Khiếp , căn cứ cũ của sư 25 Tia chớp Nhiệt đới rộng quá . 8 ki lô mét vuông bằng đúng khu gang thép Thái nguyên thời ấy . Điện nước trường trạm đủ tận răng . Vườn hoa cây cảnh xanh ngời . Các con đường trong căn cứ trải nhựa như phố xá . Ở rừng mới về nhìn cái gì cũng lạ cũng thích cứ như mình đang sống ở nước ngoài vậy . Mãi về sau này càng nghĩ càng thấy quân mình ấu trĩ vô cùng . Chả cứ gì lính đến mấy ông cán bộ cũng tò te trước các trang thiết bị quân sự , trước tiện nghi dân sự . Việc làm được đáng “ nể “ nhất của lính là phá phách những đồ dùng sang trọng mà không phù hợp với lính , sau nữa là vất bớt tủ giường sa lông .. thậm chí cả quạt điện cũng không được dùng riêng . Thu gom lại cả hàng đống quạt bàn nộp lên E , kho quân tiếp vụ cũng ùn ùn nộp E chúng tôi bắt đầu làm lấy giường nằm theo gu của lính . Dỡ trần nhà lấy gỗ ván ép làm giường và rồi tự mình chịu cái nóng Củ Chi hầm hập … Buồn cười thế , chả cái dại nào giống cái dại nào . Bao lâu nay đói . bây giờ được ăn uống đầy đủ tôi lên cân vù vù . Chỉ sau hai tháng lên được 7 kí . Ước mong được ra quân cháy bỏng ruột gan .
Chuyện trở về Củ Chi không phải là để kể chuyện phá phách trong căn cứ Đồng Dù . Kể chuyện đó biết bao giờ hết cười hết buồn . Tôi muốn kể về con người Củ Chi về những ngày tháng sống với đồng bào Nam bộ , về những xuy nghĩ của mình về tuổi trẻ miền Nam mới giải phóng .
Lần đầu tiên trong đời tôi nghe tới cụm từ ‘ Gia binh “. Tất nhiên là tôi hiểu ngay gia binh là gì . Nơi chúng tôi tiếp quản từng vị trí cấp C ,đều là trong gia binh . Đây đó ngổn ngang bát đĩa áo quần nồi niêu , ngổn ngang tủ giường đồ dùng gia đình . Đêm 10/5/75 tôi dọn dẹp nơi ở của mình , dọn dẹp thì ít mà ngồi xem sách vở giấy tờ thì nhiều . Lần đầu tiên tôi đọc những cuốn sách giáo khoa miền Nam . Lần đầu tiên tôi được xem những bài viết của học sinh trung học ở chế độ VNCH . Cứ ngồi lặng đi đọc các bài luận của học trò . Cũng vẫn là những bài dậy cho trò lòng yêu nước . Cũng vẫn là những bài máu đỏ da vàng . Ngạc nhiên hơn cả là trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn chương của Tạ Tỵ thì viết hầu hết về các nhà văn miền Bắc . Ngạc nhiên nữa là bài thơ Đồng chí của Chính Hữu cũng có trong chương trình . Đêm ấy cứ bâng khuâng , đêm ấy cứ nhìn nét chữ của đứa trò nào đấy con của binh sĩ VNCH đang ở đâu ? nó liệu có được đi học lại không ? Nhìn những nồi niêu vung vãi nhìn những bộ áo quần chưa kịp gói chạy loạn mà lũ chúng tôi bần thần . Hồi ấy tôi rất kiêng kị dùng một thứ đồ gì trong vô vàn đồ dùng ở khu gia binh . Đêm , nằm trong căn cứ khuya lắm vẫn nghe tiếng Hon da è è ngoài xa và khi bình minh ưng ửng là tiếng xe bên ngoài hàng rào rộn rã . Gần bốn mươi năm nay cứ khi nào nghĩ tới miền Nam là tôi lại hình dung ra tiếng xe máy lúc trời sắp sáng ở Đồng Dù Củ Chi
Chúng tôi lao vào ổn định chỗ ở , ổn định tư tưởng được mươi ngày thì có lệnh hành quân di chuyển . Lại tất cả trang bị vũ khí và cơ sở vật chất chuyển đi . Nơi chúng tôi đến là xã Phú Hòa Đông . Thì ra để đề phòng Mỹ sẽ có thể đánh quay trở lại nên các căn cứ cũ đều phải bố trí thế trận của mình . Chúng tôi đóng ở nhà dân hoặc làm lán lợp mái tôn trong rẫy hoặc ngoài đồng . Mới gần một tháng thôi mà nay qauy về với cuộc sống cũ mà sao đã thấy khổ , thấy chán nản thế . Quen với gian khổ thì lâu nhưng quen với an nhàn sung sướng thì nhanh thế . Bốn năm nay mang tiếng đi chiến đấu ở miền Nam đã bao giờ tôi ở cùng với dân nam bộ một ngày . Bây giờ , tận mắt tôi thấy cuộc sống của họ . Người Củ Chi chịu đựng gian khổ đến phi thường . Cố hình dung với đời cũng không thể hiểu nổi làm sao mà họ vượt qua được những ngày Mỹ càn quét với đủ quân binh chủng với hàng chục ngàn lính . Suốt một dải Phú Hòa Đông Nhuận Đức Phú Mĩ Hưng không thấy một ngôi nhà cho ra cái nhà . Chỉ thấy cỏ hoang lau lách và lục bình loang tím . Mươi ngày nay bà con đang lục tục kéo về làng cũ . Chúng tôi mắc võng ngoài vườn một gia đình nông dân hai vợ chồng chừng bốn mươi tuổi . Trong căn nhà tuyênh toang ấy có một cái giường độc nhất cho người vợ ốm nặng còn người cha và hai đứa con mắc võng vào những cây cột chôn xuống đất . Tôi mắc võng vào hai cây trứng gà nằm nhìn những con ong bu lên những trái cây rơi dập vỡ vàng ươm dưới đất . Nghe tiếng rên của người đàn bà ốm não nề . Sao giống người dân quê mình đến vậy ? Rồi tôi hỏi trẻ con ở đây không có trạm xá à ? Lũ trẻ không hiểu trạm xá là gì , tôi giải thích mãi chúng à à .. nhà thương . Lấy đâu tiền đi nhà thương hả ông Giải phóng ?
Chiều mưa . Tôi vẫn nằm võng ngoài vườn . Nước tom tom trên mái tăng . Ngó mấy con gà gầy sơ sác trú mưa dưới gầm võng buồn ghê . Nhớ nhà muốn bay về ngay miền Bắc . Chợt có tiếng rên rẩm . Thằng Hai kêu mấy ông vô nhà nằm , nằm ngoải mắc ốm quá . Thì ra người đàn bà ốm đau đang thương chúng tôi ngoài mưa . Mưa cứ ầm ầm , tiếng người đàn bà chìm vào sấm chớp . Hôm sau , đến giờ nghỉ trưa tôi chạy bộ ngược lên phía đằng bờ sông Sài gòn . Tìm bạn tôi là y tá C24 vốn trước khi đi bộ đội là sinh viên năm 4 y khoa . Tôi bảo Sỹ . Mày có thuốc bổ không mày xuống tiêm cho bà chủ nhà tao mũi , nhà ấy không hề có viên thuốc nào. Sỹ cũng gói kim tiêm rồi giữa trưa nắng chạy theo tôi . Tôi cũng không ngờ gia đình nhà chủ tôi lại xúc động đến thế . Sỹ tiêm cho chị ấy ống B12 rồi kéo tôi ra . Tao về đây . Nó ngoái vào , chị ơi chị cố ăn cho chóng khỏe , em về . Ra đường nó bảo tôi , bà ấy chả sống được đâu , gan cổ chướng đấy . Rồi , nó đi như chạy sợ về muộn đơn vị lại cho là mò vào nhà dân tụt tạt . CŨng hôm ấy tôi thấy người đàn bà bệnh tật ấy ngồi dậy mà nói , cả đời tôi bây giờ tôi mới được chích mũi thuốc , thấy người khỏe liền . Trưa ấy nắng lắm . Tôi nằm võng nghe trái trứng gà chín nũm rơi bình bịch . Mấy đứa trẻ ngồi gốc cây ngó tôi thật lạ . Chiều tối nghe hai vợ chồng nói chuyện với nhau , người vợ bảo hổng biết ông giải phóng chích thuốc chi mà tui thấy khỏe lẹ vậy ông à . Lại nhớ lời thằng Sỹ nói hồi trưa chả sống được đâu . Thấy buồn quá . Bao người dân hi sinh hết cho cách mạng không tính đếm cả thân xác mình đến lúc sắp chết vẫn không hề biết viên thuốc mũi tiêm , bao nhiêu thuốc men gom được đều ủng hộ hết cho cách mạng .
Hai tuần sau chúng tôi lại kéo quân về Đồng Dù . Lại bắt đầu ngày thao trường tối hội họp bình xét . Lính thì bận kiểu lính cán bộ bận kiểu cán bộ . Cắn cứ Đồng Dù ngoài Sư đoàn tôi còn thêm cả E công Binh 7 cả D xe cơ giới quân đoàn và một E pháo binh quân đoàn nữa . Đông nghịt người và đêm đêm đèn điện sáng như phố phường . Khu gia binh giờ phá hết những dãy bếp những mảnh vườn chỉ để trụi thùi lụi những ngôi nhà ở đập thông tường nối với nhau dài dằng dặc . Tháng 6/75 đội văn nghệ Sư đoàn được thành lập . Tôi cũng được gọi lên đó tập tành gấp rút trong nửa tháng để rồi đi biểu diễn với bà con trong huyện Củ Chi . Lúc này nhạc cụ lấy được của đoàn quân nhạc trong Đồng Dù nhiều lắm . Chả có trình độ mà chơi những loại nhạc cụ cao siêu , lính chỉ lấy ghi ta , trống và chũm chọe lùng bùng lèng phèng suốt ngày . Mới giải phóng nên đội Văn nghệ được cưng lắm . Một tối chúng tôi đi diễn dưới Tân Qui . Đang lúc hát hợp ca Bác cùng chúng cháu hành quân nghe cái bịch trên sàn gỗ sân khấu . Bà con la ré lên chúng tôi nằm bẹp ngay xuống sàn . Quả lựu đạn không nổ . Lí do thật đơn giản lựu đạn chưa rút chốt . Đêm ấy cuộc diễn vẫn không dừng lại . Du kích dàn hàng đứng kín sân khấu còn các má thì bảo các con không sợ các má có chết cũng bao bọc được các con . Tới tiết mục của tôi , tôi hát bài Mẹ vẫn đào hầm mà nước mắt cứ đầm đìa . Các mạ thấy chúng tôi khóc cũng khóc . Quanh tôi , cả dưới bãi cỏ kia chỉ thấy toàn cụ già , trẻ nhỏ và du kích . Thanh niên đâu không thấy ? Chúng tôi hát trên mảnh đất mà chỉ hơn một tháng trước là khu dày đặc những lính CH . xa vài năm trước dày đặc những là lính Mỹ , chúng tôi hát trên một vùng du kích nhiều bao nhiêu thì ác ôn của địch cũng nhiều bấy nhiêu . Chúng tôi hát trên vùng đất mà giặc Mỹ đã càn quét bằng đủ quân binh chủng có tới vài chục ngàn quân hàng tháng liền , đốt sạch phá sạch mà người Củ Chi vẫn sống , vẫn chiến đấu . Chiến đấu thật kiên cường và sống thật mãnh liệt sống nhân hậu
( còn tiếp )
