Các quê thân mến!
Chúng ta đã được đọc của LTN- NTL khá nhiều. Cả thơ, cả văn và cả... nhạc nữa. Không biết mọi người thấy thế nào? Còn tôi, đã hơn một lần nhận xét: "Đó là một người tài hoa". Có khá nhiều đồng đội cũng nhất trí với tôi. Tuy nhiên, đó mới chỉ là nhận xét rất cảm tính của những người đồng đội với nhau. Còn cánh nhà văn chuyên nghiệp họ nhận xét thế nào thì không biết. Họ có nghề, họ có chuyên môn, họ có lý luận v.v... mà. Chắc phải khác với cánh lính nhà ta
Mới đây, LTN- NTL của chúng ta đã tập hợp một số bài viết- mà hầu hết chúng ta đã được đọc trên diễn đàn- thành cuốn "Những người bạn lính" để in ở NXB Hội nhà văn. Nhặt được bài giới thiệu cuốn sách này của nhà văn quân đội Sương Nguyệt Minh, mặc dù chưa được phép của LTN-NTL tôi cũng cứ gửi đại lên đây để anh em ta xem những người có nghề đánh giá đồng đội của chúng ta như thế nào? Có giống với nhận xét của mình không? Mời các quê cùng đọc:
NHỮNG CÂU CHUYỆN KÍ ỨC THỜI TRẬN MẠC
(Nhân đọc Những người bạn lính, tập truyện ký của Nguyễn Trọng Luân - NXB Hội Nhà Văn, năm 2012)
Nhà văn Sương Nguyệt Minh
Nhà văn Nguyễn Trọng Luân thuộc lớp sinh viên tài hoa ra trận năm 1972 đỏ lửa. Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, người còn người mất, lúc ra trận tóc còn xanh, bây giờ tất cả đều đã điểm sương trên đầu, nhưng các ông dường như vẫn chưa thoát khỏi chiến tranh. “Mỗi chuyến đi công tác, đi du lịch qua miền Trung – Tây Nguyên hay miền Nam, bọn trẻ chỉ ào đi kiếm chỗ nhậu chỗ vui, đàn bà thì tìm mua đặc sản; còn mình cứ lang thang mơ mẩn tìm về trận địa cũ, làng cũ, người cũ...” Chợt nhớ những người bạn lính. Thế là... viết!
Chiều muộn, trên đường vào Tây Nguyên, anh lính già Nguyễn Trọng Luân nhìn hoa cúc quỳ vàng xuộm ven đường. Cái màu vàng xao xuyến lay động cả một thời trai trẻ đánh giặc lãng mạn và bi thương. Thế là... viết!
Tâm trạng người lính già Nguyễn Trọng Luân cứ dày vò, cắn dứt không yên về những xưa cũ, kỉ niệm chiến tranh trỗi dậy, tâm trạng “buồn, nhưng cứ phải nói ra, cứ phải viết lại, nếu không cho đến lúc già quá rồi vẫn chẳng hết cắn cứa trong lòng”
Thao thức này là mạch cảm xúc là tâm trạng của cả một thế hệ cầm súng may mắn sống sót trở về. Cái cách giải toả nỗi lòng trĩu nặng kí ức trận mạc là kể chuyện với người khác, là viết, không viết không kể thì không chịu được. Một anh lính tên Đằng chiến đấu dũng cảm, được huân chương, bị sốt rét đi viện, nhưng lại tự thương, chẳng ai hiểu nổi vì sao anh ta huỷ hoại bàn tay phải? Chỉ có Nguyễn Trọng Luân biết: trước ngày nhập ngũ, Đằng bị vợ phản bội, tình địch là tên y sĩ cháu ông giám đốc cứ nhơn nhơn thách đố mà uất ức bất lực trong nghẹn ngào, bởi Đằng lép vế không phải là đảng viên, không có thế lực. Vậy là... tình nguyện nhập ngũ. Đằng chiến đấu, vinh quang và chỉ muốn trở về ngay nhà trong hình hài một anh thương binh ngực lấp lánh huân chương chiến công... để con vợ lăng loàn, để kẻ tình địch biết thế nào là... lễ độ. Nhà văn Nguyễn Trọng Luân lưu ý hậu thế rằng: có vô vàn cách ra trận và động cơ ra trận. Chiến tranh mang trong lòng nó những cái bình thường và cả những cái bất bình thường. (Ba người bạn lính).
Chiến tranh cũng thật lạ kì, nhưng không mấy khó hiểu, “nó đưa trai tráng, nông dân, công nhân, nhà khoa học, thầy giáo, sinh viên...vào trong một đội hình không phân biệt sang hèn, nhiều chữ hay ít chữ, bằng nhau tuốt tuột và cùng cầm lấy súng” Thầy trò cùng đánh giặc. Chớp lửa. Tiếng nổ inh tai. Thầy đứng tì súng vào vai nghiến răng bắn 12,7 li thẳng vào cửa mở, học trò chạy dưới làn đạn vừa tấn công vừa yểm trợ của thầy để lên đột phá khẩu. Thầy bị thương lủng ruột, máu chảy ướt hai ống quần quân phục. Nguyễn Trọng Luân đã dựng lên một bức hoạ trận mạc bi hùng, một cái đẹp hiếm hoi đặc sắc mang tên chiến tranh Việt Nam. (Thầy Đấu).
Con người thật lạ kì! Đôi khi, người ta có thể quên bẵng một dáng hình, một gương mặt đã từng quen, từng thân, từng nhớ nhung, nhưng thần thức tình yêu, hình ảnh tình yêu thì vẫn khắc khoải nhớ không bao giờ dứt. Mô týp nghệ thuật này không phải là phát hiện của Nguyễn Trọng Luân, mà chỉ là một quan sát tinh tế, rồi suy ngẫm đến đau đớn buốt giá. Tác giả kể về một người trung đội trưởng hoả lực DKZ nằm viện thầm yêu cô bác sĩ, âm thầm nhặt hoa pơlang đỏ thắm kết tên mình và tên cô gái. Hai năm sau, vẫn cái bệnh viện ấy, anh đã là đại đội trưởng, thêm lần nữa bị thương sọ não làm anh không nhận ra cô bác sĩ mình thầm yêu. Nhưng, những bông hoa pơlang rực đỏ, anh ngồi hí hoáy xếp thành tên cô và tên anh thì chẳng bao giờ anh quên. Tình yêu người lính kì vĩ lãng mạn và hư thực ấy còn được tác giả đẩy xa hơn đến tận cùng, khi người thương binh trở về với cuộc sống thường nhật bên sông Hồng vẫn nhặt hoa gạo đỏ cháy, anh kết thành tên người con gái thầm yêu thuở chiến trường đến tận khi...nhắm mắt xuôi tay. (Chuyện về bông hoa Pơlang).
Thế giới nhân vật của nhà văn Nguyễn Trọng Luân rất gần gũi, chân thật. Họ là anh trung đội trưởng DKZ, là lính sinh viên Cơ điện có đến gần chục người làm tiểu đội trưởng trinh sát, là người mẹ 80 tuổi ôm hài cốt đứa con, là B trưởng Dương sau chiến tranh kiên quyết từ chối chức vụ cán bộ đại đội để về học tiếp đại học...vv.
Sự thực thì Nguyễn Trọng Luân cũng là một nhân vật - nhân vật tôi đi suốt thời trận mạc. Bỗng một ngày cùng bạn sinh viên, bạn lính - y tá Đinh Ngọc Sỹ sau mấy chục năm đã thành phó giáo sư, tiến sĩ, viện trưởng. Họ trở lại chiến trường xưa mắc võng ngủ đêm sống thời hoa lửa nằm rừng “nghe sông Sài Gòn thì thầm với lục bình trôi” và trò chuyện với linh hồn đồng đội. (Chúng tôi cùng tiểu đội).
Hòn Vọng phu dưới chân núi Nhồi mang hình ảnh nghệ thuật dân gian chờ đợi muôn thuở. Còn nhân vật “Hòn vọng phu” của Nguyễn Trọng Luân lại là những liên tưởng đau đớn với mất mát đợi chờ trong số hàng chục cô gái làng đang đứng cười vui, khóc mếu chia tay những người lính ra trận. Bởi rất có thể trong vài ba đêm tạm trú ở làng - làng cũng “bom đạn Mỹ nhiều hơn cơm gạo”, những người lính vừa quen vừa lạ đã vội vã ra trận có kịp để lại những đứa con? Rồi sẽ lại có thêm những “người đàn bà cõng con trên lưng nở căng từng đường nét..., cái dáng đứa trẻ con gục đầu trên lưng mẹ ai oán làm sao” bằng da thịt, ánh mắt mòn mỏi chứ không phải là... đá Vọng phu. (Dưới chân Hòn vọng phu).
Cặp cây me cũng trở thành hai Ông Me buồn bã, đau đớn cùng Nguyễn Trọng Luân chứng kiến “Dưới gốc cây là ba xác lính và một người dân”, cạnh đó là người sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà “chết gục trên vô lăng” và người vợ “chết ngửa người ở ghế bên...vắt cong lên tấm dựa lưng phơi mảng bụng xám ngắt”. Nguyễn Trọng Luân còn phải tiếp tục hành tiến theo bước chân thần tốc chiến trận, chỉ còn lại hai Ông Me vẫn xanh lá cho những linh hồn xấu số chết trận trú ngụ. (Hai ông me vẫn sống).
Cái ăng gô lồi đáy cũng có linh hồn nhân vật, nó cũng đau đớn bởi người lính đói ăn cố lèn cá khô đến mức lõm đáy lồi chôn. Thương cái ăng gô và thương cả người lính sống rất thật rất đời. (Chiếc Ăng gô lồi đáy)...vv.
Nhà văn Nguyễn Trọng Luân quan sát rất tinh tế, ông có vốn từ vựng khá phong phú, đặc sắc và diễn tả những điều lạ chỉ ông nhìn thấy: “Rừng thâm như màu mắm tôm”, hoặc: “Chiều. Mưa day dả”, “Trong ba cô thì hai cô cởi trần vú vênh lên như cặp ngà voi, nhưng màu nâu sẫm”... Các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật ấn tượng và ngôn ngữ lính chẳng lẫn đi đâu được. Không uốn éo, điệu đà, làm duyên làm dáng câu chữ, văn Nguyễn Trọng Luân bật ra từ cảm xúc dào dạt chân thật nồng nàn như hương đất phù sa, hương bùn non ngái ngái, hương cỏ cây rừng hoang dại ngan ngát toả rộng lan xa; và cả, mùi máu tươi, mùi mồ hôi chua nồng, mùi khét thuốc đạn... dậy lên trong từng trang viết.
Tháng 7/2013- SNM
He...He...! Nói tóm lại họ có nghề hơn