UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:10:55 pm » |
|
Tranh thủ đình chiến, nghĩa quân bổ sung lực lượng, liên kết nhân tài, phát triển và củng cố tổ chức, chờ thời cơ đánh giặc Pháp. Trong thời kỳ hưu chiến lần thứ hai này, Hoàng Hoa Thám đã làm được nhiều việc hơn thời kỳ hưu chiến thứ nhất; trong đó đã gặp gỡ tại bản doanh của mình và hội đàm với các nhà yêu nước tiêu biểu lúc bấy giờ là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, đặc biệt là đã hỗ trợ cho vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội.
Thực tế, sau các cuộc hội kiến với các nhà yêu nước, Hoàng Hoa Thám không tuyên bố theo con đường tư sản dân chủ, cũng như chẳng bao giờ chính thức tuyên bố tôn phò một quan vương nào. Đó là nét đặc biệt của phong trào nông dân Yên Thế: Vũ trang yêu nước không có một xu hướng chính trị rõ rệt dẫn đường trong khi việc chiến thắng một kẻ thù dân tộc là chủ nghĩa đế quốc lại rất cần có một xu hướng chính trị mới chỉ đạo cho phong trào - một phong trào “tự mình không lãnh đạo được giai cấp mình đi tới thắng lợi” là phong trào nông dân.
Chiến thuật “đàm rồi lại đánh” này của nghĩa quân Yên Thế kéo dài được hơn một chục năm (26-11-1897 - 29-1-1909). Trong hưu chiến, nghĩa quân vừa bồi dlưỡng lực lượng quân sự, vừa mở rộng giao tiếp về chính trị, đã đem lại kết quả cụ thể. Hoàng Hoa Thám tham gia Hội Duy Tân, dung nạp nghĩa sĩ Trung kỳ và ứng viện khi Trung Kỳ bạo động vũ trang. . .
Bước đầu, đồn Tú Nghệ được xây dựng ở Yên Thế và đón Tùng Nham, Hoàng Hành - những nghĩa sĩ Trung Kỳ đầu tiên đến để hợp tác với nghĩa quân Yên Thế.
Trong những năm 1907 - 1908, nghĩa quân không bó hẹp hoạt động trong vùng Yên Thế, mà chủ động mở rộng địa bàn về vùng đồng bằng và đô thị, vũ trang tiêu diệt địch ở nhiều nơi, trong đó nổi bật là tham gia vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội.
Nghĩa quân Yên Thêm tham gia vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (1908).
Cuộc đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội,tháng 6-1908 là một sự kiện có ý nghĩa chính trị, quân sự. Đây là cuộc bạo động nổ ra ở Hà Nội - đầu não của cả thuộc địa Đông Dương, đánh ngay vào lực lượng vũ trang chủ chốt của thực dân Pháp là sĩ quan, binh lính trung đoàn pháo binh 4 và trung đoàn bộ binh 9 quân thuộc địa Pháp.
Tham gia cuộc bạo động gồm đại diện của nhiều tổ chức chính trị, quân sự: một số yếu nhân của phong trào Đông Du, Duy Tân như Nguyễn Quyền, Phan Tuấn Phong..., một số nhà quân sự thuộc nghĩa quân Đề Thám; những binh lính người Việt trong quân đội Pháp được giác ngộ; một số trí thức, tiểu tư sản, tiểu thương, kế cả phụ nữ ở thủ đô Hà Nội. Còn hành động quân sự, thì mới trong kế hoạch và chỉ thực hiện được việc đầu độc chưa giết được kẻ địch nào, cuộc bạo động đã bị dập tắt.
Vì vậy, trong lịch sử quân sự, đây là cuộc chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang đánh chiếm các công sở, đồn binh, đầu mồi giao thông, bưu điện, tạo thành một cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, trong đó nghĩa quân Yên Thế đóng một vai trò quan trọng. Tinh thần yêu nước của một số sĩ quan và binh lính người Việt trong quân đội Pháp đã được sự tham gia về quân sự và hưởng ứng viện binh của nghĩa quân Đề Thám khi bạo động nổ ra.
Một số thủ lĩnh dưới quyền Đề Thám là Đội Hổ, Chánh Tĩnh (tức Chánh Song) đã tham gia vào việc tổ chức, cùng với các binh sĩ yêu nước trong quân đội Pháp. Hội kín được thành lập gồm phần đông là quân nhân như Đội Bình, Đội Bộ, Đội Nhân, Cai Ngà, Bốp Hiền, Bếp Xuân, Nguyễn Tác A thuộc cơ binh pháo thủ số 9 và các nhà yêu nước ngoài quân đội Pháp thuộc các nhóm chính trị - quân sự khác nhau như Đồ Chánh, Đội Hổ, Cai Tôn, Cai Xe, Lái Kinh, Lang Seo, Chánh Song, Đồ Đảm (tức Đồ Hà Nam hay Đỗ Hải). Thời gian khởi sự bị hoãn đi hoãn lại nhiều lần, trước định ngày 15-11-1907, nhưng do chưa thống nhất kế hoạch tác chiến, nên phải hoãn đến 16-5-1908, cuối cùng quyết định là ngày 27-6-1908.
Kế hoạch nổi dậy với chiến thuật “nội công, ngoại kích” được vạch ra cụ thể, gồm cả sự viện binh của nghĩa quân Đề Thám, nhưng mới là trên giao ước. Mấu chốt của cuộc bạo động là phải đầu độc cho được bộ phận quân đội Pháp kể trên, nhân có tiệc chiêu đãi các sĩ quan và binh lính Pháp vào hồi 8 giờ tối ngày 27-6-1908. Việc bỏ thuốc độc vào thức ăn làm một số lính Pháp bị hôn mê đã thực hiện được, nhưng tác dụng lại quá ít ỏi. Vì thuốc độc làm bằng cà độc dược nên chỉ đủ gây mê rất nhẹ. Thế cho nên, mặc dù đã có 125 lính Pháp thuộc hai cơ lính kể trên bị trúng độc nhưng thực dân Pháp đã cấp tốc cứu chửa một cách dễ dàng. Liền lúc đó, chúng tước khí giới binh linh người Việt, khám xét, tra hỏi và ra lệnh giới nghiêm, vây bắt những người bị tình nghi.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:12:40 pm » |
|
Vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội (còn gọi là vụ Hà Thành đầu độc) hoàn toàn thất bại. Hàng trăm người tham gia bạo động bị Pháp bắt. Ngày 30-6-1908, thực dân Pháp thành lập hội đồng đề hình xử tử 13 người và 4 người khổ sai chung thân.
Lịch sử dân tộc ta ghi nhận tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của các nhà yêu nước tham gia bạo động. Đồng thời cũng rút ra những bài học lịch sử bổ ích, trong đó binh vận, hên kết các lực lượng yêu nước, chính trị kết hợp chặt chẽ với quân sự, chống phiêu lưu bạo động, nhất là vấn đề binh vận, tập hợp lực lượng và vấn đề thời cơ, điều kiện cho một cuộc bạo động vũ trang thắng lợi.
Đối với nghĩa quân Yên Thế, sau hai lần hoà đàm và hưu chiến với thực dân Pháp, chỉ là tạm thời, tình thế đã dẫn đến chỗ: phải tiếp tục chiến đấu quyết liệt với quân thù.
Đợt quyết chiến của nghĩa quân Yên Thế (1-1-1909 đến 2-1913)
Sau khi đàn áp xong nghĩa quân ở Tam Đảo và phát hiện nghĩa quân Hoàng Hoa Thám tham gia vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội (l908), toàn quyền Đông Dương Klôbuycốpski (Klobukowski) quyết định tập trung một lực lượng lớn quân đội, mở cuộc càn quét quy mô lớn vào Yên Thế hòng tiêu diệt nghĩa quân.
Chiến trận diên ra ác liệt trong khoảng hai năm 1909 - 1910, trong đó nghĩa quân đã tỏ rõ tinh thần quyết chiến biểu lộ ở các hoạt động:
- Vừa phát triển lực lượng vũ trang bằng cách chiêu mộ nghĩa sĩ ở nhiều nơi đến Phồn Xương, vừa cày ruộng vừa luyện tập.
- Củng cố công sự phòng thủ đồn Phồn Xương bằng một chiến luỹ đá ong, dày 1m trên phủ đất và cỏ, có gai găng chằng chịt leo trên và chông nhọn cắm dày đặc mặt đất...
- Bí mật triển khai một kế hoạch đánh toả đi các vùng Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phúc Yên..., phân công người phụ trách để đề phòng khi buộc phải rời cứ điểm Phồn Xương đã có các địa bàn khác hoạt động hỗ trợ.
- Khẳng định một ý chí quyết chiến. Khi Pháp đưa ra yêu sách phải nộp vũ khí và biết chúng chuẩn bị tiến công, lãnh tụ nghĩa quân là Hoàng Hoa Thám còn phân vân “nên hàng hay nên đánh”, thì các thủ lĩnh dưới quyền như Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh, Cả Tuyển, Cai Sơn, Ba Biểu, Lý Thu, bà Ba Cẩn... đều ủng hộ ý chí cuối cùng của chủ tướng là “quyết đánh, không hàng”.
Cuộc chiến đã được cả hai phía dự định bắt đầu vào sau Tết âm lịch (tháng 2-1909), nhưng thực dân Pháp đã tiến công bất ngờ vào ngày 29-1-1909 nhằm giành thế chủ động. Có thể chia cuộc chiến này ra hai thời kỳ, trong đó mỗi bên đều ít nhiều thay đổi chiến thuật trong từng đợt:
Lực lượng ta và địch
Phía nghĩa quân, theo báo cáo của Pháp, có khoảng 200 người gồm toàn những người can đảm, trung thành với thủ lĩnh, quen biết địa hình, địa thế và giỏi chiến thuật du kích. Vũ khí gồm phần nhiều là súng kiểu 1874, nhưng dùng đạn 1886 kết hợp với vũ khí thô sơ. Cấp chỉ huy là một đội ngũ thủ lĩnh đầy tài năng và mưu lược, còn nghĩa quân có tinh thần quyết chiến với quân thù.
Phía địch, có 4 trung đội rưỡi bộ binh thuộc địa với 1 đại liên; 5 trung đội khố đỏ; 1 đội lê dương với 1 đại bác 75 ly; 1 moócchiê 80 ly; 1 trung đội công binh và 1 đội kỵ binh để tiếp tế do Đại tá Ba tay (Bataille) chỉ huy với bộ phận tham mưu đứng đầu là Đại uý Tétsiê (Tessier).
Ngoài ra còn các đội lính khố xanh và lính dõng tại các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên, tổng số ước khoảng 15.000 quân.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:13:47 pm » |
|
Diễn biến cuộc chiến đấu
Đợt giao chiến thứ nhất (từ 29-1 đến 25-2-1909)
Địch dùng chiến thuật bí mật, bất ngờ công đồn Phồn Xương, bằng cách bố trí hai cánh quân cơ động tiến công vào Phồn Xương và Am Động.
Cánh quản thứ nhất, gồm trung đội thứ 8 của đạo quân thuộc địa thứ 10 có một đại liên (ngoài súng trường) và trung đội thứ sáu thuộc đạo quân Bắc Kỳ thứ ba, có một moócchiê 80 ly, cùng nửa trung đội công binh và 100 lính dõng hỗ trợ. Tất cả từ Đáp Cầu tiến lên Nhã Nam.
Cánh quân thứ hai gồm trung đội thứ chín của đạo quân thứ 10 và trung đội thứ nhất của đạo quân Bắc Kỳ thứ hai có một moócchiê, cùng nửa trung đội công binh, 100 lính dõng phối hợp, từ phủ Lạng Thương và Kép tập trung lên Bố Hạ.
Ngoài ra, địch còn năm toán quân khác vây quanh Yên Thế từ các phía, hy vọng chặn đường tiếp tế và rút lui của nghĩa quân. Mỗi cánh quân đều tập trung đúng hạn ngày 29-1 với dự định dùng chiến thuật “tốc chiến tốc quyết”, phá đồn vào ngày 30-1. Nhưng ý đồ đó của chúng đã bị lộ, do sáng sớm ngày 29-1, viên đại uý Nhã Nam muốn lập công đầu đem quân khố xanh đến đánh trước, bị nghĩa quân đánh cho tan tác. Sau đó, nghĩa quân chủ động rút lui theo kế hoạch đã định. Ngày 30-1 các đạo quân của Ba tay bắt đầu tiến công thì đã muộn. Chúng lập đại bản doanh ở chợ Gồ và cho quân truy kích.
Nhiều trận “tao ngộ chiến” đã diễn ra. Phía địch càn quét phía ta chống càn với các trận rừng Phe (1-2), Đồng Đăng, Sơn Quả (11-2), Đồn Đến (21-2-1909).
Về chiến thuật, do nắm vững địa hình, lại được nhân dân giúp đỡ che chở, nên đến đâu nghĩa quân cũng bố trí trận địa phòng ngự, như đắp công sự, đào hầm hào, dựa vào tường hào và các luỹ tre làng sẵn có nhằm vừa phòng ngự, vừa có thể tiến công khi có điều kiện.
Địch bao vây càn quét, đẩy thân binh, lính khố xanh, lính dõng đi trước đỡ đạn và dùng hoả lực mạnh như moócchiê, liên thanh tiến công. . .
Nghĩa quân chiến đấu rất gan dạ, mưu trì, diệt được nhiều địch. Trong trận Đồng Đăng, nghĩa quân diệt 5 tên Pháp (trong đó có 2 hạ sĩ quan người Âu), làm bị thương 11 tên có 3 sĩ quan Pháp); trận Đồn Đến, quân Pháp bị diệt 5 tên, bị thương 13 tên khác, trong đó có đại uý Tétxiê và trung uý Benâytong (Beneyton) . . . .
Phía nghĩa quân ít bị tổn thất, đáng kể nhất là trận Đồng Đăng, có 10 nghĩa quân bị hy sinh.
Đợt giao chiến thứ hai (từ 26-2 đến đầu tháng 5-1909)
Lần này địch áp dụng chiến thuật “lập đồn bốt liên hoàn, kết hợp với tiến công truy quét”, theo mệnh lệnh của toàn quyền Pháp là tiến công đến đâu, chiếm đóng đến đó, bằng cách lập một hệ thống đồn bốt lẻ, có từ 25 đến 7t5 quân đồn trú; đồng thời ra sức tuần tiễu, sục sạo, truy tìm nghĩa quân, chặn đường tiếp tế, cô lập nghĩa quân với nhân dân.
Đối phó với âm mưu thủ đoạn hiểm độc của địch, nghĩa quân đã áp dụng chiến thuật cơ động linh hoạt, phân tán ra nhiều cứ điểm, xây dựng hệ thống công sự chiến đấu, tiếp tục tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.
Điển hình là các trận Hàm Lợn (15-3-1909), Thanh Thuỷ (19-3-1909), Naituchâu (29-3-1909), Mỏ Thổ (16-4-1909), Đồng Mai (27-4-1909). Trong trận Hàm Lợn, 60 nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Cả Tuyển, Cả Huỳnh, Ba Biểu, Lãnh Thái, Lãnh Thuận đóng ở núi Hàm Lợn (nằm ở độ cao 642m) sườn đông nam Tam Đảo đã chiến đấu dũng cảm. Tên giám binh Poalơvay (Poilevey) huy động binh lính, có một đại bác hỗ trợ tiến công. Trước hoả lực mạnh của địch, nghĩa quân cầm cự một thời gian rồi rút lui về Thanh Thuỷ.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:15:04 pm » |
|
Trận này, nghĩa quân bị tổn thất lớn, Cả Tuyển (con trai cụ Tán Thuật bị bắt, sau bị chúng đem về xử tử ở quê, làng Xuân Dục, Hưng Yên), Cả Huỳnh bị thương nặng, Lãnh Thái, Lãnh Thuận và bảy nghĩa quân hy sinh... Nhưng đến trận Thanh Thuỷ (19-3-1909) quân Pháp lại bị thiệt hại: năm tên chết, ba tên bị thương. Đêm 25 rạng 26-3, nghĩa quân bị phục kích ở gần Giản Ngoại. Cả Trọng bị thương nặng, được Đề Thám và nghĩa quân dìu chạy thoát nhưng rồi cũng qua đời.
Trong các trận Naituchâu, Mỏ Thổ, Đồng Mai. . . , nghĩa quân chiến đấu dũng cảm, gây cho địch một số thiệt hại, nhưng trước hoả lực mạnh của địch, nghĩa quân phải rút lui. Trước tình hình địch bao vây chặt, và luôn truy kích, một số ít trong cấp chỉ huy nghĩa quân như Lý Thu, Cả Can - anh rể Đề Thẩm và Hai Xuân cũng như Lang Côn, thầy thuốc riêng của Đề Thám không chịu nổi gian khổ đã ra hàng giặt. Các thủ lĩnh và nghĩa quân trưởng thành với Đề Thám vẫn quyết chiến với địch.
Kết cục trong thời kỳ giao chiến từ ngày 26-2 đến 1-5-1909, theo báo cáo của Pháp, nghĩa quân chết 44, bị bắt 15, ra hàng 20. Quân Pháp chết 29 (trong đó có 7 Pháp); bị thương 74 (có 5 sĩ quan và 24 lính Pháp).
Thời kỳ thứ hai (từ tháng 5-1909 đến tháng 2-1910).
Nghĩa quân rời Yên Thế mở rộng địa bàn hoạt động ra Vĩnh Yên, Phúc Yên, Thái Nguyên, xuống nam Bắc Giang và một phần Bắc Ninh nhằm chống càn, diệt địch. Trong thời kỳ này, nghĩa quân tuy gặp nhiều khó khăn, do một số hy sinh, một số ra hàng. nhưng tinh thần quyết chiến ở các thủ lĩnh chỉ huy và nghĩa quân vẫn giữ vừng. Số trận giao chiến nhiều hơn. Số địch bị diệt (trong đó kể cả quân Pháp bị diệt) cũng nhiều hơn.
Thực hiện âm mưu tiêu diệt nghĩa quân, thực dân Pháp phải huy động thêm nhiều lực lượng, trong đó động viên lực lượng Nam triều gồm một đội quân (400 lính dõng), do Lê Hoan - tổng đốc Hải Dương được phong Khâm sai đại thần chỉ huy, phối hợp với quân Pháp và các đơn vị khố xanh đánh nghĩa quân.
Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra quyết liệt trên địa bàn các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Thái Nguyên. Ngoài trận địa chiến (nghĩa quân chiến đấu trong chiến hào, công sự khi địch tiến công, bao vây...) còn diễn ra những trận tao ngộ chiến giữa địch và nghĩa quân khi hai bên hành quân.
Không chỉ chờ địch đến mới tiêu diệt, có lúc nghĩa quân chủ động tiến công địch. Đầu tháng 7-1909, khi đóng quân ở vùng núi Sáng Sơn (Phúc Yên), lợi dụng lúc quân Pháp đang ăn cơm, nghĩa quân bất ngờ xông vào đánh giáp lá cà, cướp được nhiều khí giới, lương thực rồi rút lên núi.
Tiếp đó, nghĩa quân đánh các trận: Làng Lầy (13 - 14-7), Lập Chi (20-7), Xuân Lai (22-7), Hiền Lương (25-7), Bạch Đa (13-8), Thượng Yên (16-8), Yên Lỗ (6-9), Núi Sáng (5-10). Trong các trận đánh này, có hai trận Làng Lầy và Xuân Lai liên quan đến chiến thuật kết hợp “đánh và đàm” mà Đề Thám đã vận dụng năm 1894 khi bắt tên Sét nay, địa chủ Pháp, kiêm chủ nhiệm báo Trùng lai Bắc Kỳ. Ngày 5-7-1909 nghĩa quân tổ chức bắt tên Voadanh (Voi sin) - giám thị công trường thầu khoán Lơ roa (Leroy) ở ngôi chùa Mã Chợ (Phúc Yên).
Lo sợ trước tình hình nghĩa quân đẩy mạnh hoạt động, toàn quyền kiêm Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương phải họp cùng thống sứ Bắc Kỳ ra quyết định tổ chức một đạo quân gồm 4 đại đội (một nửa là âu-phi) có pháo binh, kỵ binh và lính khố xanh các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Phúc Yên hỗ trợ tiến đánh nghĩa quân.
Ngày 10-7, thống sứ Bắc Kỳ gửi thư dụ Đề Thám đầu hàng nhưng nghĩa quân đã đưa Voadanh về cứ điểm Làng Lầy, trên sườn phía đông dãy Tam Đảo và bắn tin yêu cầu Pháp không được nổ súng tiến công, nếu không Voadanh sẽ bị xử tử. Mục đích của động thái này là để nghĩa quân tranh thủ thời gian, chuẩn bị phòng thủ cứ điểm.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:15:51 pm » |
|
Chiến thuật bắt Voadanh làm con tin để hoà đàm của nghĩa quân lần này không đắc sách như lần trước, vì vị trí của Voadanh thấp hơn nhiều so với Sét nay; mặt khác, giờ đây thanh thế của nghĩa quân cũng không còn mạnh như trước nữa. Vì vậy, Pháp không phút nhượng bộ và bố trí tiến công nghĩa quân từ nhiều ngả.
Đêm 13-7, nhân mưa bão, nghĩa quân rút khỏi Làng Lầy, đem theo cả Voadanh. Một toán về Lập Chi gần thị xã Phúc Yên lập công sự chiến đấu; một toán do Đề Thám và Ba Biểu chỉ huy chuyển về đóng ở Xuân Lai, bên bờ sông Cà Lồ.
Ngày 22-7, địch nhận được thư của nghĩa quân, do Voadanh viết dưới ký tên Đề Thám. Chúng lại đưa thư dụ hàng và hẹn sau 20 phút phải trả lời. Đề Thám không trả lời và ra lệnh cho nghĩa quân nổ súng khi Sốpphơlê huy động lực lượng đến bao vây gây cho chúng một số thiệt hại.
Tới 18 giờ 30 khi điểm quân thấy hao hụt, Sốpphơlê hạ lệnh ngừng chiến. Đêm đó, nghĩa quân lại rút an toàn, sang đóng ở Hiền Lương. Sau một thời gian bắt giữ, vì nhân đạo và chính nghĩa, nghĩa quân không giết Voadanh và đã thả ông ta ở Kim Anh (25-7-1909).
Sau hai trận có liên quan đến “đánh và đàm” kể trên, nghĩa quân còn đánh một số trận trong đó có trận Núi Sáng (5-l0-1909) thắng lợi lớn về diệt địch.
Sau một số trận bao vây truy kích nghĩa quân, nhất là sau trận Thượng Yên (16-9-1909), địch rút kinh nghiệm, nghiên cứu chế tạo được chất nổ để phá các tường, luỹ và dùng các chất cháy để chiếu sáng trong đêm tối, hòng ngăn cản sự rút lui của nghĩa quân.
Về phía nghĩa quân, sau các trận Hiền Lương, Bạch Đa, Thượng Yên, Yên Lỗ tuy có diệt được nhiều địch, nhưng lực lượng cũng bị tổn thất. Trận Hiền Lương, hai tướng thân cận của Đề Thám là Lãnh Sơn và Đội Hổ chỉ huy nghĩa quân chiến đấu đã anh dũng hy sinh. Trận Thượng Yên, Ba Biếu - một chỉ huy xuất sắc và trung thành của nghĩa quân bị thương chẳng may sa vào tay giặc đã bị chúng giết, bêu đầu ở Phù Lỗ và thị xã Phúc Yên.
Mặc dầu vậy, tinh thần chiến đấu của nghĩa quân vẫn sáng ngời ở trận Núi Sáng (Lập Thạch, Vĩnh Phúc). Từ sau trận Hiền Lương (25-7), đại bộ phận nghĩa quân rút về phía bắc Vĩnh Yên, lập căn cứ ở Núi Sáng. Còn một bộ phận nhỏ ở lại Phúc Yên hoạt động nghi binh địch. Trong các trận Bạch Đa (13-8), Thượng Yên (16-8), Yên Lỗ (6-9-1909), nghĩa quân chỉ phòng ngự, chống càn. Đến khi địch phát hiện được đại bộ phận nghĩa quân đóng ở Núi Sáng, thì đây trở thành một trận quyết chiến.
Sau một thời gian truy lùng, phát hiện nghĩa quân ở Núi Sáng, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn, do thiếu tá Bôniphaxi tiến từ Phúc Yên lên bằng hai đường: đường thuỷ ngược sông Lô lên Phan Lương tiến vào Lập Thạch, đường bộ qua Quảng Cơ tiến vào Núi Sáng. Chúng rải quân ra bao vây, ngăn chặn không cho nghĩa quân có thể rút lên Tam Đảo hay sang Phú Thọ. Đội thân binh do Lê Hoan chỉ huy phối hợp đóng ở Quảng Cơ và Liên Sơn, cùng lính khố xanh và lính dõng từ Tuyên Quang đến hỗ trợ.
Phía nghĩa quân, ngay sau khi chuyển đến Núi Sáng đã nhanh chóng củng cố lực lượng và đào được nhiều công sự phòng thủ khá kiên cố trong thung lũng giữa hai mỏm 305 và 616. Đường dẫn tới chỉ là hẻm nhỏ, chỗ quang chỗ rậm, cỏ lút đầu người, xung quanh là một khu rừng, có suối chặn ngang, có chỗ dốc ngược rất trơn, địch khó tới được.
Địch đánh theo chiến thuật ‘tằm ăn lá”, cho thân binh chiếm dần các làng người Dao ở chung quanh Núi Sáng; tiếp đó thắt chặt vòng vây, chặn đường tiếp tế và rút lui của nghĩa quân. Còn đại quân thì tiến dần từng đoạn theo nhiều ngả.
Nghĩa quân phòng ngự trong các chiến hào, chờ địch tới gần, bất ngờ từ trong các chiến hào được nhiều lùm cây che kín, bắn ra diệt một số tên đi đầu. Bị đánh bất ngờ, dịch rối loạn, lại gặp địa hình khó khăn, nên tiến rất chậm. Từ 14 giờ đến 17 giờ, mới tiến được khoảng 70 thước. Chúng dùng pháo binh bắn phá, nhưng càng tiến, pháo không có chỗ đặt vững nên bắn khó trúng mục tiêu.
Đến 18 giờ, địch chỉ còn cách phòng tuyến của nghĩa quân khoảng l0m, nhưng không sao tiến lên được. Tiểu đội liên thanh của địch chết đến quá nửa. Địch tập trung lực lượng mở đợt xung phong quyết chiếm bằng được Núi Sáng, nhưng nghĩa quân cũng chỉ chịu rút khỏi phòng tuyến thứ nhất.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2009, 11:17:24 pm » |
|
Đêm đến, nhân lúc trời mưa to, nghĩa quân bí mật rút khỏi Núi Sáng tiến về phía Tam Đảo. Một số nghĩa quân hy sinh, trong đó có Đỗ Huỳnh, thư ký riêng của Đề Thám và viên chỉ huy Cát, rất anh dũng trong chiến thuật phòng ngự công sự. Trong trận này, nghĩa quân diệt 52 tên địch, còn nghĩa quân 7 người hy sinh.
Sau trận Núi Sáng nghĩa quân còn đánh một số trận ở vùng Tam Đảo, Thái Nguyên. Đến giữa tháng 11-1909, nghĩa quân rút về vùng Yên Thế hoạt động.
Sau một thời gian chiến đấu, nhưng người thân tín và thiện chiến phần lớn bị bắt hoặc hy sinh, như Cả Trọng, Cả Tuyển, Lý Thu, Cả Huỳnh, Ba Biếu, Hai Nôm.... Cả đến người quyết chiến và thân cận nhất là bà Ba Cẩn cũng bị bắt ngày 1-12-1909; một số ra hàng như Cả Dinh, Cai Sơn....
Khi rút về Yên Thế, lực lượng nghĩa quàn còn lại rất mỏng. Thực dân Pháp coi như là đã dẹp xong cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Chúng chỉ để dành lại một lực lượng nhỏ tiếp tục truy lùng nghĩa quân. Còn đại bộ phận lực lượng rút về đồng bằng Bắc Bộ.
Sau 10 tháng tập trung càn quét, truy lùng nghĩa quân, thực dân Pháp đã phải thay tướng chỉ huy ba lần và hai lần thay đổi lực lượng. Chúng thừa nhận bị chết 65 tên (27 âu), bị thương 130 tên (70 âu, 60 Việt).
Phía nghĩa quân, ngoài số hy sinh, thì số bị bắt là 78 người. Ngày 24-12-1909 tất cả bị chúng đưa về giam ở Hoả Lò (Hà Nội) chờ xử án.
Trở về cái nôi của nghĩa quân là vùng đất Yên Thế, Hoàng Hoa Thám, mưu trí duy trì lực lượng nhỏ, sống trong dân, được nhân dân che chở, tiếp tục hoạt động thêm ba năm (l910-1913). Đến đêm 9 rạng ngày 10-2-1913 Hoàng Hoa Thám bị hai kẻ phán bội tay chân của Lương Tam Kỳ “đưa đến giúp đỡ” sát hại. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế đến đây chấm dứt.
Toàn bộ tiến trình cuộc khởi nghĩa Yên Thế cho thấy:
Về thời gian khởi nghĩa, đó là lúc phong trào Cần Vương đang vùng lên đợt cuối cùng rồi lắng xuống, thất bại; cuộc khai thác thuộc địa thứ nhất của thực dân Pháp bắt đầu, việc cướp đất diễn ra tàn bạo, khiến mâu thuẫn giữa đế quốc Pháp và nông dân Việt Nam càng sâu sắc. Trong tình hình ấy ngọn lửa đấu tranh vũ trang của dân tộc không bao giờ bị gián đoạn.
Về điều kiện khởi nghĩa, đã kế thừa trực tiếp được địa bàn cũng như lực lượng và kinh nghiệm chiến đấu của các đội nghĩa quân như Cai Kinh, Đề Nắm..., có được căn cứ địa, vừa thủ hiểm, vừa khai thông; tiến có thể công, thoái có thể thủ, lại vừa có thể tiếp xúc được rộng rãi với nông dân miền Bắc, nghĩa sĩ ba kỳ.
Về tinh thần chiến đấu, gan dạ, anh hùng, mưu trí, thao lược kể từ buổi đầu “quyết chiến” cho đến khi bị thất thế quyên sinh. “ý chí bất khuất của cụ (tức Hoàng Hoa Thám) đã làm cho cụ có thể chiến đấu dẻo dai được với quân thù. . . Vừa chỉ huy, vừa xung phong đi đầu trong những trận đánh... Cái can đảm ấy đã được chứng thực trong nhiều trận chiến đấu khốc liệt, cùng những ngày gian khổ ghê gớm” 1.
Nhìn tổng quát toàn bộ quá trình diễn biến của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Yên Thế đã thực hiện đánh lâu dài, vừa đánh vừa đàm, đàm rồi lại đánh. Mặt hạn chế của nghĩa quân là nặng về phòng ngự, nhẹ về tiến công. Trong khởi nghĩa vũ trang, nguyên tắc hàng đầu phải liên tục tiến công, bởi vì, chỉ có liên tục tiến công cuộc khởi nghĩa mới mong mở rộng địa bàn, mở rộng lực lượng duy trì và tăng cường được sức mạnh để vươn lên giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn, vững chắc hơn. . .
Tuy vậy, cũng phải thấy đây chỉ là một cuộc khởi nghĩa cục bộ, gần như lẻ loi trong một tương quan lực lượng quá chênh lệch, cho nên cái chính vẫn là phải thủ hiểm, chống càn. Nếu có tiến công mở rộng được địa bàn thì cũng không giữ được đất ngoài vùng thủ hiểm. Với những nét chủ yếu như trên, có thể thấy rằng, cuộc khởi nghĩa Yên Thế cho dù cuối cùng đã bị thất bại, nhưng tinh thần chiến đấu của nghĩa quân đã tô thêm truyền thống vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc, để lại những bài học quý cho đời sau.
_____________________ 1. Trần Huy Liệu, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo: Tài liệu tham khảo cách mạng cận đại Việt Nam, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958, t.2, tr.60.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2009, 10:23:37 pm » |
|
II- ĐẤU TRANH VŨ TRANG CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NÚI TRƯỚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT Từ những năm 80 thế kỷ XIX, với lòng yêu quê hương, đất nước nồng nàn và truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm anh hùng bất khuất của dân tộc, đồng bào các dân tộc miền núi đã tham gia nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp, góp phần cùng đồng bào miền xuôi viết lên những trang sử vẻ vang trong lịch sử dân tộc. Sang đầu thế kỷ XX, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp mà ở đó chúng đẩy mạnh việc cướp đất đai, lập đồn điền, khai thác hầm mỏ, vơ vét tài nguyên thiên nhiên, bắt phu, bắt lính, tăng cường thuế khoá, đặc biệt là chính sách độc quyền muối, rượu, thuốc phiện đã làm cho đời sống đồng bào vùng cao đã cơ cực ngày càng điêu đứng hơn. Những chính sách thâm độc và thủ đoạn đàn áp quân sự tàn bạo, chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp, đã thúc đẩy nhân dân các dân tộc miền núi cũng như miền xuôi không còn con đường nào khác là phải cầm vũ khí diệt quân thù. Nhiều nơi “dân chúng bỏ bản mường, không chịu hàng Tây” 1. Họ “tiến hành du kích chiến hàng ngày, tiến công các đoàn xe và binh lính Pháp” 2 làm cho quân Pháp “không phải chỉ đối phó với một đoàn nghĩa quân từ 80 đến 100 tay súng, mà phải đói phó với toàn thể dân chúng nổi dậy” 3. Cũng như ở miền xuôi, hoạt động chống Pháp của đồng bào các dân tộc miền núi rất phong phú: rào bản làng, đặt chông, gài cạm bẫy, dựa vào thế hiểm trở của núi rừng, sông suối làm căn cứ khởi nghĩa ở nhiều nơi, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của người Mường Hoà Bình (1909 - 1910), người H’Mông Hà Giang (1911 - 1912) và đồng bào Thượng ở Tây Nguyên (1900 - 1914) . 1. Khởi nghĩa của người Mường Hoà Bình ( từ tháng 8-1909 đến tháng 1-1910) Kế tục cuộc nổi dậy của nghĩa quân Đốc Ngữ vùng sông Đà (1886 - 1892), tiếp thu kinh nghiệm của nghĩa quân Yên Thế, vào những năm 1909 - 1910, đồng bào Mường ở Hoà Bình do Nguyễn Văn Kiêm (tức Tổng Kiêm) và Nguyễn Đình Nguyên (tức Đốc Bang) lãnh đạo đã đứng lên khởi nghĩa, mở đầu là trận tiến công đánh chiếm tỉnh lỵ Hoà Bình (tháng 8-1909). Đây là trận đánh chiếm tỉnh lỵ đầu tiên (trước cả khởi nghĩa Thái Nguyên) và cũng là duy nhất trong các cuộc khởi nghĩa của các dân tộc miền núi. Nghĩa quân đã đánh chiếm được trung tâm hành chính của một tỉnh, cách Hà Nội 76 km về phía tây nam. Nguyên nhân chính là do mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với bọn thực dân cướp nước. Nhưng cũng có nguyên nhân trực tiếp là mâu thuẫn giữa bọn tay sai giặc Pháp với bà con dân tộc Mường trong việc cướp đất và uy hiếp những người chống đối. Năm 1904, Đinh Công Nhung đã ỷ thế giặc Pháp nhảy ra tranh chức quan lang xã Mông Hoá của con cháu Đinh Công Uy, nguyên là quan lang Mông Hoá (từng lãnh đạo 300 người Mường khởi nghĩa từ năm 1889 đến 1903) nên đã bị kết án 20 năm tội đồ và tước quyền thế tập. Đinh Công Nhung được Pháp đưa lên làm chánh quan lang ở Hoà Bình (tương đương với tuần phủ ở miền xuôi). Năm 1908, Nhung lại cướp không 8 mẫu ruộng của nông dân Mông Hoá. Những người lãnh đạo nông dân là Nguyễn Đình Nguyên (tức Đốc Bang) và Nguyễn Văn Kiêm (tức Tổng Kiêm) đưa đơn kiện, bị chúng đàn áp phải trốn vào rừng. Đinh Công Nhung liền bắt bố Đốc Bang đóng cũi thả trôi sông hòng uy hiếp tinh thần đấu tranh của nhân dân. Căm thù giặc và tay sai, lại nhân lúc bọn cầm đầu vắng mặt ở tỉnh lỵ (công sứ Rênhiê (Régnier) đi dưỡng bệnh, phó sứ Patơrích (Patrich) đi thanh tra các đồn điền, chánh quan lang Đinh Công Nhung (đóng ở bên hữu ngạn sông Đà), nghĩa quân đã nổi lên đánh chiếm tỉnh lỵ Hoà Bình. _______________________ 1. Dẫn theo : Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, t.2, tr.79.2, 3. Lịch sử quân sự xứ Đông Dương từ 1664 đến ngày nay (Histoire militaire de Indochine de 1664 à nos jours), Hà Nội, 1922, tr.350.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2009, 10:25:12 pm » |
|
Tháng 4-1909, ba mươi nghĩa quân tổ chức lễ tế cờ tại núi Viên Nam, xã Mông Hoá (huyện Kỳ Sơn). Tổng Kiêm được nghĩa quân suy tôn làm chánh thống tướng, Đốc Bang làm phó thống tướng. Nghĩa quân mang tên là Quân đội Bình Tây. Quân kỳ màu đỏ có hai chữ Bình Tây.
Sau khi tế cờ, lực lượng nghĩa quân được tăng cường thêm. Đến tháng 8-1909, quân số nghĩa quân đã tăng lên 41 người. Lúc bấy giờ về chỉ huy, ngoài Đốc Bang, Tổng Kiêm còn thêm Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Văn Tích, Nguyễn Văn Bành.... Vũ khí của nghĩa quân chỉ có một súng hoả mai và tám mã tấu.
Về phía địch, bọn cai trì chủ chốt gồm công sứ Rênhiê, phó sứ Patơrích, chánh quan lang Đinh Công Nhung đi vắng. Ở tỉnh lỵ chỉ còn lại hai viên án sát và đề đốc trong đó viên đề đốc là con cháu Đinh Công Uy có thể ngả theo nghĩa quân. Lực lượng vũ trang có 1 trại lính khố xanh, do tên giám binh Senhô (Chaigneau) chỉ huy. Ngay trong số lính khố xanh cũng có người (Đinh Công Nghiêm) có cảm tình với nghĩa quân, sẵn sàng làm nội ứng.
Trận đánh chiếm tỉnh lỵ Hoà Bình diễn ra vào đêm mồng 2 rạng ngày 3-8-1909. Nghĩa quân do Tổng Kiêm và Đốc Bang chỉ huy, phân tán thành từng toán nhỏ. Một số đột nhập tỉnh lỵ vào buổi chiều. Một số vượt sông Đà bằng thuyền vào sẩm tối.
1 giờ sáng ngày 3-8, nghĩa quân bất ngờ tiến đánh trại lính khố xanh. Sau khi diệt tên lính gác, nghĩa quân tiến thẳng vào trại, binh lính đang ngủ chưa kịp trở tay, nghĩa quân đã xông tới, diệt tên giám binh Senhô nổi tiếng tàn ác cùng năm tên lính khố xanh, làm bị thương 16 tên lính khác. Một số tên chạy thoát, số còn lại ra hàng.
Nghĩa quân phá kho súng, thu 150 súng trường kiểu 1874 và súng mútcơtông kiểu 1892 cùng 35.000 viên đạn. Tiếp đó, nghĩa quân chiếm kho bạc, nhà đoan, phá nhà tù, giải phóng 40 tù nhân. 10 giờ 30 sáng, nghĩa quân hoàn toàn làm chủ tỉnh lỵ. Đinh Công Nhung đóng ở bên kia sông, có 10 lính hộ vệ không dám sang ứng cứu.
Chiến thắng Hoà Bình cổ vũ tinh thần, tạo niềm tin cho nghĩa quân củng cố, xây dựng lực lượng tiếp tục đánh địch. Sau khi chiếm tỉnh lỵ và được trang bị vũ khí do thu được của địch (khá đầy đủ) , nhưng nhận rõ thời cơ và tương quan lực lượng không lợi cho việc cố thủ và phòng ngự cứ điểm, nghĩa quân rút về tả ngạn sông Đà, sang Mông Hoá (nơi xuất phát của nghĩa quân).
Trên đường hành quân, nghĩa quân tiến công hạ đồn Đồng Bến. 3 giờ chiều, một toán nghĩa quân đi tuần gặp tên phó sứ Patơrích đi thanh tra cáe đồn điền về. Cuộc xung đột giữa hai bên nổ ra. Patơrích bị thương ở cằm thoát chết chạy về tỉnh lỵ.
Thắng lợi trong hai trận đánh trên tuy nhỏ, nhưng thể hiện tính liên tục tiến công, liên tục giành thắng lợi - một trong những nguyên tắc của khởi nghĩa vũ trang mà nghĩa quân đã thực hiện được. Để đối phó với cuộc khởi nghĩa, ngày 9-8-1908, thống sứ Bắc Kỳ đích thân lên thị sát Hoà Bình quyết định tập hợp bọn quan lại và binh lính đàn áp nghĩa quân.
Địch điều động một đại đội lính lê dương gồm 80 tên, do viên đại uý Matiơ (Mathieu) chỉ huy từ Việt Trì lên Hoà Bình, đồng thời huy động 50 lính khố đỏ, do trung uý Lêôna phụ trách đóng dọc đường số 6, hòng ngăn cản nghĩa quân mở rộng địa bàn hoạt động về phía Hà Đông.
Nghĩa quân tổ chức phục kích đánh chặn ở Đồng Mỏ, khiến trung đội của Lêôna bị thiệt hại nặng không tiến lên được. Ngày 10-8, địch dụ hàng, nhưng Tổng Kiêm trả lời chỉ hạ khí giới khi nào lấy được đầu Đinh Công Nhung. Ngày 14-8, thực dân Pháp huy động 115 lính lê dương và 100 lính khố xanh, lính dõng, do đại uý Matiơ chỉ huy, mở cuộc càn quét vào xã Mông Hoá, nhưng nghĩa quân đã phân tán hoạt động ở các vùng Hoà Bình, Sơn Tây và lan sang cả Phú Thọ.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 04:48:43 pm » |
|
Ngày 24-8, nghĩa quân chống địch càn ở xóm Giũ, gây cho chúng một số thiệt hại. Trong trận này, năm nghĩa quân đã anh dũng hy sinh. Đêm 26-8 nghĩa quân tiến công đồn Hoà Lạc (nay thuộc Thạch Thất, Sơn Tây), diệt một số binh lính địch. Thực dân Pháp huy động lực lượng từ Đồng Mông, Cổ Rùa, Yên Lễ kéo tới ứng cứu. Sau hai ngày chiến đấu, nghĩa quân đã gây cho địch một số thiệt hại, buộc chúng phải rút quân.
Đề phòng nghĩa quân bắt liên lạc được với Đề Thám đang hoạt động ở vùng Tam Đảo, địch tập trung 3.000 quân đến Mông Hoá, vây đánh nghĩa quân ở núi Viên Nam. Nhận thấy không thể rút theo đường bộ Sơn Tây, nghĩa quân phải dùng thuyền vượt sông Đà sang đóng ở Bản Thôn (thuộc huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ), với ý định vượt sông Hồng, sông Lô sang Tam Đảo hội quân với Đề Thám nhưng không thành.
Ngày 30-10-1909 địch huy động ba tiểu đoàn truy kích và chặn đánh nghĩa quân ở Tu Vũ. Trước tình hình đó, nghĩa quân phải vượt sông trở lại. Lực lượng bị chia cắt làm đôi. Tổng Kiêm bị dồn về chân núi Ba Vì, Đốc Bang bị bao vây ở Mông Hoá.
Để bảo toàn lực lượng, nghĩa quân phân tán ra từng nhóm, tổ chức đánh những trận phục kích nhỏ. Địch khủng bố dữ dội, khiến dân chúng khó tiếp tế. Lương thực nghĩa quân cạn dần, quân số hao tổn. Tính tới ngày 20-l-1910 nghĩa quân hy sinh 8 người, bị bắt 17 người, ra hàng 84 người. Tổng Kiêm và Đốc Bang thế cùng lực kiệt phải ra hàng. Pháp kết án Tổng Kiêm 25 năm tù, đày đi Côn Đảo, Đốc Bang 20 năm tù, đày đi Lạng Sơn. Nghĩa quân còn lại, người ra hàng, người bị bắt, đều bị địch kết án.
Xét về mặt quân sự: đây là cuộc khởi nghĩa của một dân tộc miền núi ở nơi không xa Hà Nội, đã biết lợi dụng thời cơ thuận lợi, khi mà quần chúng địa phương căm thù thực dân và bọn tay sai đến cao độ và kẻ địch eo những sơ hở, lại có nội ứng, nghĩa quân đã nhanh chóng đánh chiếm tỉnh ly, giành thắng lợi lớn.
Ngay sau đó, nghĩa quân chuyển từ cầm cự cứ điểm sang du kích vận động chiến chống càn, diệt địch, bằng công đồn nhỏ, phục kích lưu động chống địch càn, phù hợp với nghệ thuật du kích chiến trong tình thế lực lượng quá chênh lệch (địch đông, có vũ khí hiện đại; nghĩa quân quá ít, vũ khí thô sơ). Mặc dù thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa của người Mường Hoà Bình là mốc đánh dấu sự nối tiếp phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc miền núi đầu thế kỷ XX.
2. Khởi nghĩa của người H’mông Hà Giang (từ tháng 2-1911 đến tháng 4-1912)
Vào đầu thế kỷ XX, người H’ Mông có khoảng 10 vạn, tập trung ở vùng núi cao thuộc Yên Bái, Lai Châu và lẻ tẻ ở các tỉnh Sơn La, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang và miền thượng du hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An. Thực dân Pháp giữ độc quyền cây thuốc phiện và hạn chế chuyên chở muối lên miền núi, làm cho mâu thuẫn giữa người H’Mông với thực dân Pháp ngày càng lên cao.
Từ cuối thế kỷ XIX nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra như cuộc nổi dậy ở Sầm ten tháng 9-1894, cuộc nổi dậy do Hà Quốc Thương cầm đầu nổ ra ở Hà Giang, Tuyên Quang năm 1896. Sang đầu thế kỷ XX, cuộc nổi dậy ở Lam Điền, Đại Bảo phối hợp với người Dao hoạt động ở vùng Cao Bằng.... Điển hình là cuộc khởi nghĩa ở Đồng Quang (Hà Giang) tháng 2 – 1911.
Ngày 11-2-1911, 400 người H’mông tập trung ở Ngai Ban Sui, dưới sự chỉ huy của vua H’mông Giang Quay Bảo (Chiếng - Núi- Chăng) kéo tới đại lý Pháp ở Đồng Văn đưa yêu sách: Tự do trồng cây thuốc phiện và tự do tải muối. Viên đại lý Pháp là Lêôna (Léonard) dùng thủ đoạn lừa gạt, nhưng không ngăn được cuộc đấu tranh của đồng bào. Cuộc chiến đấu đã nổ ra. Lực lượng nghĩa quân từ 400 người đi biểu tình tăng lên hàng nghìn người, chia làm nhiều toán :
- Toán nghĩa quân ở Đường Thượng gồm khoảng 800-900 người. Toán nghĩa quân ở Mai lô 1 khoảng 800 người.
- Toán Xin cai có 70 người.
- Toán Mỏ xoi có 70 người.
- Toán Miêu vạc do vua H’mông Giang Quay Bảo, trực tiếp chỉ huy, lực lượng đông nhất khoảng một nghìn người. Ban đầu, chiến thuật của nghĩa quân là “liên tục công đồn”.
__________________________ 1. Theo Trần Văn Giàu trong cuốn: Lịch sử cận đại Việt Nam, Sđd, tr. 114 thì : toán Luông phin và toán Mai lô mỗi toán có khoảng 100 người.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
UyenNhi05
Cựu chiến binh

Bài viết: 2589
Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2009, 04:49:29 pm » |
|
Ngày 27-2-1911 nghĩa quân tiến công đánh chiếm các đồn Pháp đóng ở bên kia biên giới là đồn Ma lin và đồn Hen tông, cách Đồng Văn khoảng 14 km về phía đông bắc. Tiếp đó, ngày 3-3-1911 nghĩa quân đánh chiếm đồn Tiên Phong cũng ở bên kia biên giới, đối diện với đồn Chongpoong.
Về phía địch, chúng tăng cường lực lượng, do thiếu tá Moóctưrơi (Mortreuil) chỉ huy, mở cuộc tiến công đàn áp nghĩa quân. Ngày 27-2 chúng cử đại uý Rôganh (Roguin) dẫn hai trung đội lính khố đỏ, phối hợp với toán quân do đại uý Môpanh (Mau pin) chỉ huy, mở cuộc tiến công vào Đường Thượng bằng hai cánh: một cánh do Rôganh chỉ huy tiến công ở phía bắc, một cánh do đại uý Cốt (Cost) chỉ huy, gồm một trung đội lê dương, một trung đội khố đỏ và một trung đội khố xanh tiến công từ phía nam.
Trong tình thế quân địch đông, đánh không có lợi, để bảo toàn lực lượng, ngày 9-3, nghĩa quân tạm thời rút khỏi Đường Thượng tản vào rừng. Đầu tháng 4, nghĩa quân hoạt động chiếm núi Nậm La, tây bắc Đường Thượng và các ngọn núi giữa Đường Thượng và Mường Cha làm căn cứ. Trận giao chiến có tính chống càn diệt địch đã diễn ra ở Đường Thượng. Sau một thời gian chiến đấu gây cho địch một số thiệt hại, nghĩa quân rút lên núi.
Tại Miêu Vạc, trung tâm của cuộc khởi nghĩa, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương là trung tướng Pennơcanh (Pennequin) đã từ Hà Nội lên quan sát tình hình, tìm cách thương lượng và dụ hàng nghĩa quân nhưng không hiệu quả.
Ngày 13-3, một đội quân địch, do đại uý Cốt chỉ huy tới Đồng Văn, mở cuộc tiến công vào Miêu Vạc. Vua H’mông Giang Quay Bảo trốn thoát lên Luongco phía bắc. Còn cha mẹ và chị của vua H’mông bị địch bắt. Ngày 26-4, nghĩa quân lại xuất hiện ở gần Taping. Một cuộc giao chiến chống càn đã diễn ra, nghĩa quân diệt 15 tên địch.
Địch tăng cường càn quét Xin cai, Mỏ xoi, Luông phin, Mai lô, nghĩa quân tạm rút lên núi hoặc sang bên kia biên giới, sau đó phân tán thành những nhóm nhỏ, tiếp tục hoạt động duy trì cuộc chiến đấu đến đầu năm 1912, gây cho địch một số thiệt hại.
Ngày 29-1-1912 trong một trận chiến đấu diễn ra ở Ma la, con nhỏ cùng hai vợ của vua H’mông Giang Quay Bảo bị bắt. Cuộc khởi nghĩa của người H’Mông Hà Giang tạm thời lắng xuống.
Nhìn chung, cuộc khởi nghĩa diễn ra dẻo dai, vừa công đồn, vừa thực hiện du kích vận động chiến, chống càn diệt địch, khi tập trung, khi phân tán, dầu khó khăn, gian khổ, quyết liệt đến mấy vẫn “quyết chiến không hàng”.
Tinh thần chiến đấu và kinh nghiệm vũ trang của cuộc khởi nghĩa đã được lớp người sau kế tiếp. Điển hình là cuộc khởi nghĩa của người H’mông Lai Chảu, Sơn La, do Giàng Tả Chay lãnh đạo nổ ra năm 1918 kéo dài tới năm 1921 gây cho thực dân Pháp khó khăn, lúng túng đối phó và chịu nhiều thiệt hại.
3. Khởi nghĩa của đồng bào Thượng ở Tây Nguyên
Hồi đầu thế kỷ XX, đồng bào Thượng có hơn 90 vạn người, sống tập trung trên vùng đất Tây Nguyên và lẻ tẻ ở vùng núi các tỉnh miền Trung, tiếp giáp với Tây Nguyên.
Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp với chủ trương phát triển mạnh các đồn điền cao su, cà phê khiến việc cướp đất, dồn dân, bắt phu, thu thuế ngày càng tăng đã đẩy cuộc sống của đồng bào Thượng vào con đường điêu đứng, cực khổ. Vì thế, nhiều cuộc đấu tranh chống Pháp và tay sai đã nổ ra ở Tây Nguyên từ cuối thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX càng phát triển mãnh liệt hơn.
Vốn sẵn tinh thần thượng võ, lại có những loại vũ khí và kỹ thuật chiến đấu như cung, nỏ, hầm chông, cạm bẫy, tên tẩm thuốc độc . . . , đồng bào đã lập được nhiều chiến công, góp phần đáng kể vào phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp của cả nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
|
|
|
|