Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 01:33:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123503 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #70 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 09:43:48 pm »

Về chiến lược kháng chiến là “kháng chiến lâu dài”.  Chiến lược đó làm thất bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” và “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của quân xâm lược. Với chiến lược kháng chiến đó, quân thù không thể khai thác được ở một nước mà “hậu phương đang mọc lên tua tủa những giáo mác và súng trường của du kích, còn ở tiền phương thì bị súng trường và súng liên thanh của bộ đội... chặn lại” 1 .   

Về vị trí chiến lược của chiến tranh du kích ở các vùng sau lưng địch, Người nêu rõ: việc quân Nhật kiểm soát được một vùng rộng lớn là một tổn thất đối với nhân dân Trung Quốc, nhưng về phía phát xít Nhật thì đó cũng không phải là một thẳng lợi.

Người phân tích: trong số 1838 huyện ở 12 tỉnh bị chiếm, chỉ có 65 huyện hoàn toàn bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội Nhật, trên 900 huyện đang là căn cứ du kích và hoàn toàn do nhân dân làm chủ, còn những huyện khác, quân Nhật chỉ kiểm soát được từng phần.

Sau đó, Người khái quát du kích đánh giặc chủ yếu bằng mưu mẹo và sự bất ngờ, chưa chắc thắng thì chưa đánh. Du kích tổ chức khắp nơi, ở cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và ở cả thành thị. Du kích bao gồm công nhân, nông dân; đàn ông, đàn bà và trẻ em. Đánh giá chỗ yếu của quân đội Nhật, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, chiến tranh càng kéo dài, Nhật Bản càng gặp nhiều khó khăn ở trong nước và trên chiến trường. Lúc đó, lòng cuồng tín của quân xâm lược không còn nữa, những vụ binh biến trong đội quân xâm lược sẽ nổ ra.

Người phân tích các nhân tố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Trung Quốc và kết luận: thiên thời, địa lợi, nhân hoà là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng. Những bức thư đó còn phản ánh tầm nhìn của Nguyễn Ái Quốc trong việc nhận dạng và chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam đối phó với kẻ thù mới - tức phát xít Nhật. 

Sau này, qua nhiều nguồn tài liệu, ta biết được kế hoạch của giới quân sự chóp bu Nhật trong ý đồ đánh chiếm Đông Nam á và thực tế ở Đông Dương lúc đó, mạng lưới tình báo quân sự Nhật do Machơxita cầm đầu, sau 10 năm ráo riết hoạt động đã nắm được lực lượng phòng thủ của Pháp ở Đông Dương.  Đến năm 1940, giới quân sự Nhật quyết định hành động xâm lược Đông Dương.

Gửi nhiều bài đăng trên tuần báo Notre Voix, Nguyễn Ái Quốc đã phổ biến về nước kinh nghiệm của cách mạng nhiều nước về việc chống chủ nghĩa Trốtxki nhằm tăng cường khối đoàn kết toàn dân; kinh nghiệm về tổ chức cơ quan lành đạo kháng chiến, cách thức động viên, tổ chức nhân dân chống xâm lược và những vấn đề cơ bản của chiến lược và chiến thuật quân sự.

Những nội dung đó đánh dấu bước phát triển trong tư duy quân sự của Người, phản ánh tầm nhìn chiến lược và quan điểm quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân thông qua việc nâng cao tri thức quân sự cho cán bộ và nhân dân, chuẩn bị đối phó hiệu quả với chiến tranh xâm lược của phát xít Nhật.

Tin tưởng vô bờ bến vào khả năng và sức mạnh vô địch của nhân dân, quy tụ và phát huy sức mạnh toàn dân bằng cách: đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập là quan điểm quân sự cơ bản xuyên suốt tư tưởng quân sự của Người.

Như vậy, trong hai thập kỷ đầu tiên (1919-1939), tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh từng bước hình thành, bao gồm những quan điểm quân sự chủ yếu:

1. Giữ vững tính chủ động trong đấu tranh cách mạng, trông cậy trước hết vào lực lượng bản thân mình. Đây là quan điểm quân sự đầu tiên trong tư tưởng quân sự của Người. “Điểm xuất phát trong tư tưởng quân sự của Người là phải làm cách mạng”. Nhờ nắm vững quan điểm quyết tâm làm cách mạng với tính chủ động “nắm vững tính chủ động, thấy trước, chuẩn bị trước”, nên cách mạng Việt Nam vững vàng trước mọi thử thách, giành thắng lợi trong khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

2. Phải sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Quan điểm bạo lực cách mạng theo quan điểm chủ nghĩa Mác-lênin là một nội dung cơ bản trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Quan điểm đó bao gồm việc chú trọng xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trì và đấu tranh quân sự nhằm thực hiện mục tiêu cách mạng; thống nhất biện chứng với chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, không đối lập với tinh thần yêu chuộng hoà bình, xa lạ với các khuynh hướng phiêu lưu, ám sát cá nhân.


_____________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 131.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #71 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 10:08:37 pm »

3. Tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cả nước để giải phóng dân tộc. Cuộc khởi nghĩa được chuẩn bị trong quần chúng. “Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng, chứ không phải một cuộc nổi loạn”. Đây là quan điểm cơ bản, soi sáng cho thực tiễn khởi nghĩa vũ trang toàn dân trong Cách mạng Tháng Tám.

4. Tin tưởng vô bờ bến vào sức mạnh nhân dân, coi đấu tranh cách mạng nói chung và đấu tranh vũ trang nói riêng là sự nghiệp của quần chúng. Đoàn kết, huấn luyện để “dân khí mạnh”; phát huy sức mạnh toàn dân trong đấu tranh cách mạng là quan điểm quân sự cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong tư tưởng quân sự của Người, là cơ sở tư tưởng của các quan điểm khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân hình thành ở giai đoạn Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

5. Xây dựng quân đội công nông. Huấn luyện, đào tạo cán bộ là việc gốc, nên từ rất sớm, Người đã chăm lo đến việt đào tạo cán bộ quân sự, chuẩn bị cho việc xây dựng lực lượng vũ trang về sau.

Sự ra đời những quan điểm quân sự cơ bản trên đây trong tư tưởng quân sự của Người là “cơ sở lý luận của sự hình thành đường lối quân sự của Đảng ta trong thời kỳ Đảng mới thành lập” 1.

 

II - SỰ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG
VÀ HOẠT ĐỘNG VŨ TRANG ĐẦU TIÊN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG(1930 - 1939)

Đường lối quân sự là một bộ phận trong đường lối cách mạng của Đảng. Đường lối quân sự phản ánh những vấn đề có tính quy luật trong xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang ở một nước thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kết hợp sáng tạo truyền thống quân sự, tư chất quân sự độc đáo của dân tộc với học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-lênin và tinh hoa quân sự cổ, kim của nhân loại, đường lól quân sự của Đảng mang bản chất cách mạng, khoa học sâu sắc, đậm đà tính nhân dân, dân tộc, soi đường cho “một nước nhỏ” đánh thắng “hai đế quốc to”.

Nội dung cơ bản của đường lối quân sự của Đảng là khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân; toàn dân đánh giặc có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, lấy nhỏ thắng lớn, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Hạt nhân của đường lối quân sự của Đảng là tư tưởng quân sự, học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Đường lối quân sự của Đảng hình thành, hoàn chỉnh và phát triển đến đỉnh cao là một quá trình. Trong thời kỳ 1930-1939, đường lối quân sự của Đảng đã từng bước hình thành vời nhiều quan điểm quân sự phản ánh trong các văn kiện chính trị, quân sự của Đảng. Từ trong cao trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã xuất hiện những hoạt động vũ trang đầu tiên có tính chất quần chúng. 

1. Cao trào cách mạng 1930-1931 và những quan điểm quân sự đầu tiên của Đảng .

Việt Nam là một quốc gia ra đời rất sớm trong lịch sử.  Cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam hàng ngàn năm qua đã phải đương đầu chống thiên nhiên khắc nghiệt, chống kẻ thù ngoại xâm mạnh hơn mình, vì vậy đã tạo ra một nền văn hoá Việt Nam mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập dân tộc và chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.


___________________
1. Trường Chinh: Mấy vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983, tr. 161.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #72 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 10:12:12 pm »

Yêu nước, yêu lao động, nhân ái, sáng tạo là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam có từ thời xa xưa, về sau, ngày càng được phát triển. Truyền thống yêu nước của nhân dân được đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam phát triển lên một trình độ mới, đặc biệt, với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ra đời. Do cương lĩnh đó đúng đắn, phù hợp với trào lưu cách mạng của thời đại, đáp ứng được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của công nông, của cả dân tộc đang bị áp bức, nên đã được sự hưởng ứng sâu rộng của toàn Đảng, chinh phục được trái tim và khói óc của đông đảo quần chúng.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, các tổ chức cơ sở đảng phát triển nhanh trong nhiều nhà máy, hầm mỏ và ở nông thôn. Nhiều tổ chức đoàn thể cách mạng như công hội, nông hội, đoàn thanh niên cộng sản, hội phụ nữ, hội cứu tế đỏ lần lượt ra đời, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng.  Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất trong cả nước, phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân dâng cao mạnh mẽ.

Mở đầu cho phong trào cách mạng của quần chúng là cuộc bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng (2-1930), của 4.000 công nhân nhà máy sợi Nam Định (3-1930), của 400 công nhân nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thuỷ (4-1930). Những cuộc đấu tranh đó của công nhân chứng tỏ rằng, người dẫn đầu phong trào cách mạng sau khi Đảng ra đời chính là giai cấp công nhân tiên phong và quả cảm. Từ nhà máy, xí nghiệp, các cuộc đấu tranh lan dần về nông thôn.  Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, thị uy, chống thu thuế, chống bắt phu, bãi chợ. . . nổ ra ở nhiều địa phương, ngày càng quyết liệt Phong trào lan rộng khắp cả nước.

Trên cơ sở phong trào cách mạng của công nhân, nông dân đã phát triển, Đảng chủ trương phát động một cao trào cách mạng rộng lớn trong cả nước nhân ngày Quốc tế lao động (1-5).

Hưởng ứng chủ trương của Đảng, ngày 1-5-1930, quần chúng từ thành thị đến nông thôn trong cả nước đã vùng lên đấu tranh sôi nổi. ở miền Nam có hai cuộc bãi công của công nhân nhà máy điện Chợ Quán, nhà máy xe lửa Dĩ An. Nông dân huyện Đức Hoà (Chợ Lớn), huyện Cao Lãnh (Sa Đéc), huyện Chợ Mới (Long Xuyên) biểu tình đòi hoãn sưu, hoãn thuế.

Tại miền Bắc, hàng ngàn nông dân hai huyện Duyên Hà và Tiên Hưng biểu tình kéo lên thị xã Thái Bình đòi bỏ sưu giảm thuế, cấp thóc gạo cho dân đang đói, trả tự do cho những người bị bắt, triệt hồi quân tuần tiễu, bồi thường thiệt hại cho nhân dân các làng bị tàn phá, tự do đi lại và hội họp. 

Hoà nhịp với phong trào toàn quốc, ngày 1-5, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, ở Nghệ An đã nổ ra các cuộc đấu tranh lớn của hàng vạn công nhân và nông dân. Trong các cuộc đấu tranh đó, công nhân và nông dân sát cánh bên nhau, làm cho sự liên kết giữa phong trào công nhân và nông dân càng thêm mật thiết.

Hoảng sợ trước phong trào cách mạng mạnh mẽ của quần chúng, đế quốc Pháp đàn áp tàn bạo các cuộc biểu tình, làm nhiều người chết và bị thương.  Tuy vậy, quần chúng cách mạng vẫn không hề nao núng.  Một người ngã xuống, nhiều người xông lên. Phong trào cuồn cuộn dâng cao, lan khắp cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Tiêu biểu là cuộc biểu tình của 20.000 nông dân Thanh Chương bao vây huyện lỵ, đốt phá nhà tên tri huyện; của 8.000 nông dân Hưng Nguyên; của 3.000 nông dân Can Lộc kéo vào huyện đường đốt giấy tờ, sổ sách, phá nhà lao....

Phối hợp với nông dân, công nhân các nhà máy cũng liên tiếp đình công đòi tăng lương, giảm giờ làm, ủng hộ các cuộc biểu tình của nông dân. Đến tháng 9-1930, phong trào đấu tranh của quần chúng lên đến đỉnh cao. Quần chúng đã dùng bạo lực cách mạng phá huyện đường, phá nhà lao, vây đồn lính, trừng trị bọn cường hào, địa chủ.

Sức mạnh của phong trào đã làm tan rã bộ máy thông trị của thực dân Pháp và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.  Chính quyền xô viết được thành lập ở nhiều thôn xã. Ngay khi ra đời, chính quyền xô viết thôn, xã ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

Hoảng sợ trước phong trào cách mạng của quần chúng, đế quốc Pháp điên cuồng đàn áp rất dã man. Chúng sử dụng bạo lực phản cách mạng, điều động quân lính đến, dùng những đơn vị lính lê dương, phái nhiều đơn vị lính cơ động đàn áp các cuộc biểu tình, dựng lại chính quyền của chúng ở những nơi bị tan rã.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #73 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 10:13:51 pm »

Chúng dùng cả máy bay, ném bom cuộc biểu tình của nông dân Hưng Nguyên, bắn giết hàng ngàn người không cần tra hỏi, bắt giam hàng vạn người.  Sự tàn sát đẫm máu của kẻ thù làm cho nhân dân càng căm thù giặc và quyết tâm hành động, dũng cảm xông lên.  “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh. . . đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ - Tĩnh” 1. 

Trung ương Đảng đã phê bình cuộc bạo động nổ ra không đúng thời cơ vì chưa có tình thế trực tiếp cách mạng. Tuy vậy trước tình hình đã diễn ra, Trung ương Đảng kịp thời phát động phong trào cả nước phối hợp đấu tranh ủng hộ Nghệ - Tĩnh Đỏ, chống khủng bố trắng.

Nhằm vạch ra những nhiệm vụ cấp thiết trước mắt để lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, Trung ương Đảng chủ trương chấn chỉnh các xứ uỷ, chỉ thị các cấp bộ Đảng cơ sở cần đi sâu vào các xí nghiệp, đồn điền lớn để xây dựng các tổ chức cơ sở đảng và quần chúng.

Đối với các ý kiến hữu khuynh, “tả” khuynh cho rằng chỉ lo tổ chức trước đã rồi mời đấu tranh hoặc khi đã đấu tranh thì đấu tranh liên miên không có lối ra, Trung ương Đảng kiên quyết chống các quan điểm sai lầm đó và phê phán rằng đó là các tư tưởng dao động, sợ đấu tranh, không tin tưởng quần chúng, kìm hãm phong trào đấu tranh của nhân dân hoặc không hiểu sách lược của Đảng.

Đảng chỉ rõ: có nhiều đảng viên (như ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ...) không biết rằng Đảng Cộng sản chỉ là đảng của giai cấp vô sản mà thôi. . . Tuy Đảng chỉ huy cho nông dân, cho hết thảy quần chúng lao khổ làm cách mạng tư sản dân quyền, nhưng Đảng vẫn là đảng của vô sản giai cấp, nghĩa là đứng về lợi ích cách mạng vô sản mà chỉ huy, lấy chính sách vô sản mà chỉ huy, chứ không phải là  vì Đảng đại biểu lợi ích cho tiểu tư sản quần chúng, đại biểu cho xu hướng tư hữu chế độ. Chính là vì nhận định sai lầm đó mà dần dần quên mất điều căn bản trung tâm của mình là tuy phải hết sức vận động nông dân nhưng phải đặc biệt chuyên cần về việc vận động công nhân để lấy đó làm cơ sở lãnh đạo cho cách mạng dân cày” 2.
 
Sau khi phân tích, uốn nắn những lệch lạc để củng cố tư tưởng vô sản, Trung ương Đảng nêu rõ: trong những cuộc đấu tranh, đã có nhiều nơi đảng viên cản trở quần chúng, không để cho quần chúng hộ vệ nữa. Khi quần chúng xung đột với lính thì Đảng bộ lại phê bình vô lý, lại đem câu “bạo động non”, “manh động mà cản trở xung đột.

Để làm rõ điều này, Trung ương Đảng giải thích: bạo động non, manh động là chủ trương cướp chính quyền quá sớm, đem số ít người giác ngộ mà xông pha cướp chính quyền. Xu hướng bạo động non nghĩa là chỉ trù tỉnh chủ trương vận động quần chúng “đi đánh địch nhân”, đi vây đồn, bọc ải. Làm như vậy thì Đảng phải chống, vì việc cướp chính quyền không phải làm khi nào cũng được. Còn ra tranh đấu biểu tình hằng ngày vì những mục đích, quyền lợi rõ rệt mà xung đột với lính thì là một sự tự vệ rất cần kíp. Không thể lẫn lộn sự hành động tự vệ kịch liệt, sự hành động bạo động với xu hướng bạo động non, manh động được.

Sau khi phân tích sự khác nhau căn bản giữa “sự tự vệ rất cần kíp” trong phong trào đấu tranh của quần chúng với xu hướng bạo động non và manh động, Trung ương Đảng nhận định, sở dĩ trong một phần đảng viên lẫn lộn như vậy là vì họ sợ đấu tranh kịch liệt. Họ không hiểu rằng ngăn cản tự vệ, phản đối tự vệ tức là muốn xoay về chủ nghĩa bất bạo động”, “hoà bình tranh đấu đó rồi”. 

Nhờ sự uốn nắn kịp thời của Trung ương Đảng, những biểu hiện lệch lạc trong một số cấp uỷ Đảng được khắc phục.  Phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng tiếp tục phát triển. Nhưng do cả nước chưa có tình thế cách mạng trực tiếp, lực lượng so sánh giữa ta và địch quá chênh lệch, nên cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ-Tĩnh phải lùi dần và chấm dứt vào cuối năm 1931 . 

Cao trào cách mạng 1930- 1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh, tuy chưa giành được thắng lợi cuối cùng, nhưng có nhiều ý nghĩa lịch sử. Thực tiễn phong trào chứng tỏ rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam với lực lượng chủ yếu là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, có khả năng lật đổ nền thống trị của đế quốc và phong kiến, xây dựng cuộc sống mới.


______________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.71-72.
2. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr. 68.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #74 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 10:15:37 pm »

Cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh là cuộc diễn tập đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Với cuộc diễn tập đó, thực tiễn “đã vươn lên thành lý luận”, gợi ra nhiều vấn đề, nhiều bài học từ thực tiễn có ý nghĩa đối với việc hình thành tư tưởng, đường lối quân sự của Đảng.

Cao trào cách mạng 1930-1931 khẳng định tư tưởng quân sự mà Nguyễn ái Quốc đã nêu trước đó rằng: công cuộc giải phóng dân tộc không thể thực hiện được bằng phương pháp hoà bình, mà phải dùng bạo lực cách mạng đểphá bỏ nền móng của chủ nghĩa đế quốc, bởi vì chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân thống trị bằng quân sự rất độc ác đối với các dân tộc thuộc địa. 

Thực tiễn cao trào cách mạng đã gợi ra rằng: bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng, bao gồm hai lực lượng: lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, với hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, có sự kết hợp giữa hai hình thức đó.

Khi phong trào cách mạng phát triển, trên cơ sở lực lượng cách mạng của quần chúng mạnh mẽ, lực lượng vũ trang xuất hiện dưới hình thức tự vệ, đội tự vệ; đồng thời cũng xuất hiện hình thức đấu tranh nửa vũ trang hoặc vũ trang. Đến lúc đó, vấn đề kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự sao cho phù hợp với diễn biến và đặc điểm phong trào là một vấn đề nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, nếu giải quyết đúng đắn sẽ đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ.

Thực tiễn cao trào cách mạng 1930-1931 chứng minh rằng: giai cấp công nhân có vai trò rất to lớn trong cách mạng, đó là giai cấp đã khởi đầu phong trào cách mạng, đồng thời tham gia cách mạng kiên quyết, hăng hái. Giai cấp nông dân khi được tổ chức, là một lực lượng cách mạng to lớn.

Bởi vậy, muốn hoàn thành nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, giải phóng dân tộc nhất thiết phải xây dựng khói liên minh công nông vững chắc, làm nòng cốt cho lực lượng toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Cao trào cách mạng 1930-1931 là một trong những căn cứ thực tiễn của đường lối quân sự của Đảng để giải quyết một loạt vấn đề về xây dựng lực lượng, kết hợp các hình thức đấu tranh, vấn đề chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần v.v. ở giai đoạn sau.

Giữa lúc phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao, nhân ngày Quốc tế Đỏ (1-8-1930), Ban cổ động và tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành một tác phẩm quan trọng. Cuốn sách nhan đề: “Ngày Quốc tế Đỏ - Mồng một tháng Tám”.

Đây là một tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề quân sự, giải thích rõ thêm quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn gốc chiến tranh, nguy cơ chiến tranh đế quốc; âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc đối với Liên bang Xô viết, với phong trào giải phóng thuộc địa và phụ thuộc; nhiệm vụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đồi với chiến tranh đế quốc. 

Tác phẩm khẳng định: “Tư bản chủ nghĩa là cái nguồn gốc của sự chiến tranh” và phân tích nguồn gốc chiến tranh nằm ngay trong xã hội có giai cấp bóc lột và bên kia, giai cấp bị bóc lột. Chiến tranh là “cái kết quả trực tiếp của chế độ của riêng, cái nền nếp cạnh tranh và bóc lột” 1.

Khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, tức là thời kỳ độc quyền, thì những sự tương phản trong xã hội càng thêm sâu sắc. Sự hoà bình là một lúc “nghỉ ngơi rất ngắn ngủi đặng chờ cuộc chiến tranh khác mà thôi” 2.

Sự phát triển về kinh tế, chính trị của các nước tư bản lại không đều nhau.  Cho nên, “vấn đề chia lại trái đất cho hiệp với sự phát triển” 3 của các nước tư bản lúc nào cũng cần cấp. Mà muốn chia lại thuộc địa, vùng ảnh hưởng, thì các nước tư bản chỉ còn một cách là chiến tranh.

Từ sự phân tích trên, tác phẩm kết luận: “Tư bổn chủ nghĩa còn, thì sự chiến tranh còn. Muốn thủ tiêu chiến tranh thì phải đánh đổ tư bổn chủ nghĩa” 4.


______________________
1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 40, 41. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #75 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2009, 10:18:40 pm »

Về nguy cơ chiến tranh đế quốc, tác phẩm nêu rõ rằng, mặc dù cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) làm cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa suy thoái, nhưng sau đó lại tạm thời ổn định và có những phát triển nhất định, nên rất cần nguyên liệu và thị trường. Trong lúc đó, thị trường của chủ nghĩa đế quốc lại bị hẹp lại do cách mạng Nga thành công, còn “gốc nguyên liệu thì kẻ có, người không. Bởi vậy, chiến tranh đế quốc để giành thị trường và vùng cung cấp nguyên liệu là điều không thể tránh khỏi. Nguy cơ chiến tranh “đã bày ra trước mặt” 1.

Tác phẩm dự báo: “Cuộc chiến tranh sau này sánh với cuộc chiến tranh lần trước (1914-l918) thì sẽ gớm ghê độc ác hơn muôn vạn lần; vô số nhân dân sẽ bị xô đẩy ra chiến trường. Cả thế giới sẽ cuốn vào hang lửa chiến tranh” 2.

Thực tiễn cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai sau này đã chứng minh dự báo của tác phẩm là hoàn toàn đúng.  Phân tích về âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc đối với nước Nga Xô viết và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, tác phẩm vạch ra rằng: công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên bang Xô viết càng phát triển chẳng nào thì cuộc chiến tranh đế quốc chống Liên bang Xô viết lại càng khó khăn chừng ấy.

Liên bang Xô viết là một nước chống chủ nghĩa đế quốc..., là nước giùm giúp cho giai cấp vô sản toàn cầu và quần chúng bị áp bức trên thế giới đấu tranh cách mạng, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa, cho nên bọn đế quốc không thể đội trời chung với Liên bang Xô viết.

Bởi vậy, trong khi tấn công Liên bang XÔ viết chủ nghĩa đế quốc đồng thời đàn áp cách mạng thuộc địa. Chủ nghĩa đế quốc dùng binh lực đè nén, trấn áp các dân tộc đứng dậy đấu tranh giải phóng là chúng muốn “giữ lấy quyền bóc lột” 3. Muốn đánh đổ chủ nghĩa tư bản thì giai cấp vô sản quốc tế và các dân tộc bị áp bức “phải chiến tranh chống giai cấp tư bổn, chỉ có một đường ấy thôi” 4 .
 
Khi xem xét chiến tranh “phải xem xét từng thứ, chớ không phải cuộc chiến tranh nào cũng như nhau cả”.  Trong thời kỳ này có ba thứ chiến tranh: đó là chiến tranh giữa các nước đế quốc, chiến tranh đế quốc chống Liên Xô, chiến tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc. Đối với chiến tranh đế quốc, thái độ của giai cấp vô sản là phải làm cho “quân đội của bọn đế quốc tan tành”, biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng. Còn các dân tộc bị áp bức nổi lên, biến “chiến tranh đế quốc thành chiến tranh giải phóng chống đế quốc chủ nghĩa” thì ủng hộ tích cực. Nếu các nước đế quốc đánh Liên bang XÔ viết thì giai cấp vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức phải hết sức ủng hộ Liên bang Xô viết. Khi chủ nghĩa đế quốc tiến công phong trào giải phóng ở thuộc địa thì giai cấp vô sản và quần chúng lao khổ ở thuộc địa phải hợp sức với quân đội cách mạng đấu tranh chống đế quốc chủ nghĩa, phải đánh đổ bọn tư bản không quả quyết tranh đấu, bọn đề huề và bọn phản cách mạng.

Sau cùng, tác phẩm kết luận: “Muốn cho khỏi hoá ra tro súng của đế quốc chủ nghĩa, thì toàn thể vô sản giai cấp và quần chúng bị áp bức ở Đông Dương phải hợp sức cùng thợ thuyền và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới mà tranh đấu chống đế quốc chủ nghĩa” 5 .

Lý luận về chiến tranh hiện đại và thái độ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đối với từng loại chiến tranh được trình bày trong tác phẩm: “Ngày Quốc tế Đỏ - Mồng một tháng Tám”, góp phần làm giàu tri thức quân sự của Đảng, của cách mạng Việt Nam.  Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Hương Cảng (Trung Quốc) bàn nhiều vấn đề quan trọng.

Hội nghị thảo luận và thông qua Luận cương thịnh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, ra Nghị quyết về những nhiệm vụ cần kíp, bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thơ Đảng.  Luận cương chánh trị tháng 10- 1930 do đồng chí Trần Phú khởi thảo theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản.


__________________________
1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 2, tr. 41, 41, 42, 50, 51.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.53.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #76 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 11:53:52 pm »

Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tuy có một số nhược điểm như quá nhấn mạnh đến đấu tranh giai cấp, chưa quan tâm thích đáng đến vấn đề dân tộc và khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí độc lập tự chủ và tinh thần tự lực, tự cường vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam; sách lược cách mạng, phương pháp đấu tranh chừng nào đó còn thiếu linh hoạt, mềm dẻo, nhưng tư tưởng lớn, bao trùm Luận cương chính trị vẫn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. 

Về quân sự, nhiều quan điểm trong Luận cương và các văn kiện khác tại Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 nêu ra phù hợp với việc “dự bị” cho cuộc đấu tranh vũ trang về sau. 

Về phương pháp cách mạng, Luận cương chỉ rõ: Đảng phải thường xuyên đưa quần chúng ra đấu tranh giành quyền lợi thiết thực hằng ngày, qua đó mà giác ngộ cách mạng cho quần chúng. Khi có tình thế cách mạng thì Đảng phải nâng cao khẩu hiệu đấu tranh lên như: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ” 1. “Lập chánh phủ công nông” 2, “lập quân đội công nông” 3.

Đồng thời, Đảng phải mở rộng tất cả các hình thức tranh đấu của quần chúng  như: bãi công, biểu tình thí oai, tổng bãi công bạo động và khởi nghĩa vũ trang đánh đổ chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Trước lúc tổ chức “tranh đấu’, Đảng phải xét kỹ tình hình trong nước và thế giới, sức mạnh của địch, sức mạnh của quần chúng, thái độ từng hạng người đối với cách mạng. Đảng căn cứ vào “những điều kiện ấy mà định ra chiến lược để lãnh đạo cho quần chúng tranh đảo” 4. 

Luận cương nhấn mạnh : “Võ trang bạo động không phải là một việc thường, chẳng những là theo tình thế trực tiếp cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh, cho nên cần phải chú ý. Trong khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu; nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức những cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm mà cốt là để huy động đại quần chứng ra thị oai, biểu tình bãi công v.v., để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này” 5.

Luận cương nêu rõ thái độ của Đảng và nhân dân Việt Nam là “phản đối đế quốc chiến tranh”, chuẩn bị lực lượng để khi chiến tranh đế quốc nổ ra thì biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Trước nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày càng rõ Đảng phải mở rộng công tác phản đối chạy đua vũ trang của các nước đế quốc, chủ động phát triển tổ chức cách mạng trong quân đội của địch, đồng thời thành lập các đội tự vệ công nông, làm cho khẩu hiệu chống chiến tranh đế quốc phát triển sâu rộng trong quần chúng.

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 ra Nghị quyết “về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng”. Nghị quyết khẳng định quan điểm bạo lực cách mạng của Đảng là “lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động” 6, nhưng cũng lưu ý rằng lúc đó chưa có đủ điều kiện để khởi nghĩa vũ trang. Bởi vậy, nhiệm vụ trước mắt trong công tác hằng ngày của Đảng là phải thâu phục được quảng đại quần chúng để làm cho cuộc bạo động tương lai được thắng lợi. 

Muốn thế, phải ra sức vận động công nhân, nông dân, chỉnh đốn các tổ chức đoàn thể, làm cho lực lượng chính trị phát triển rộng khắp. Nghị quyết nhấn mạnh: “ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức bộ quân sự của Đảng để: Làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện; giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ; Vận động trong quân đội của bọn địch nhơn” 7.

Hội nghị Trung ương Đảng (10-1930) còn ra “Án Nghị quyết về vấn đề phản để’ và “Án Nghị quyết Quân đội vận động”.  Án Nghị quyết về vấn đề phản đế xác định: “Việc tổ chức phản đế là một trách nhiệm cần kíp của Đảng” 8. Trong công tác hằng ngày, tổ chức phản đế phải chú ý về hoạt động công khai trong quần chúng, cổ động và vận động tranh đấu nhằm: chống khủng bố trắng, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn “đề huề” với chủ nghĩa đế quốc, chống ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân đế quốc. 

Án Nghị quyết về Quân đội vận động chủ trương: “công tác của Đảng trong quân đội cần phải làm cho thiệt náo nhiệt và chuyên cần mời được 9 . Bởi vì, nếu “Đảng không vận động quân đội binh bị tư bản” chống đế quốc chiến tranh thì tới lúc cần kíp không thể hoá chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc.


____________________
1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 95.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 2, tr. 101, 102.
6, 7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr. 116, 195, 205.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #77 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 11:54:59 pm »

Án Nghị quyết còn vạch cách thức cụ thể để tiến hành công tác địch vận có kết quả.  Như vậy, ngay sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh tạo thành cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh.

Với cuộc diễn tập đầu tiên đó, thực tiễn cách mạng đã gợi ra nhiều bài học sâu sắc để Đảng khái quát, bổ sung cho lý luận. Cùng với tác phẩm “Ngày Quốc tế Đỏ - Mồng một tháng Tám” và các văn kiện Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, những quan điểm quân sự đầu tiên của đường lối quân sự của Đảng đã xuất hiện.

1. Thông qua việc phân tích nguồn gốc chiến tranh, khẳng định lại một lần nữa quan điểm cách mạng bạo lực mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra. “Tư bản chủ nghĩa còn, thì sự chiến tranh còn. Muốn thủ tiêu chiến tranh thì phải đánh đổ tư bản chủ nghĩa”.

2. Đảng “lãnh đạo quần chúng võ trang bạo động”. Phát động khởi nghĩa vũ trang phải căn cứ vào “tình thế trực tiếp cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh”, nghĩa là phải có kế hoạch chu đáo, tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, thời gian chuẩn xác trong việc phối hợp hành động. 

3. Quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, khẳng định tiếp: Nhiệm vụ chính trị quyết định nhiệm vụ quân sự. Chủ trương tổ chức quân đội công nông và tổ chức ngay “bộ quân sự của Đảng” chính là để thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng. Đây là quan điểm quan trọng nhất trong đường lối quân sự của Đảng.

4. “Vấn đề phản để’ và “Quân đội vận động’, tức vấn đề phản đối chiến tranh đế quốc và công tác địch vận bước đầu được nêu ra và được coi là công tác quan trọng của cách mạng.

2. Đội tự vệ Đỏ. Nghị quyết về quân sự của Đại hội Đảng lần thứ nhất.

Từ cao trào cách mạng năm 1930-1931, Đội tự vệ công nông đã xuất hiện. Trong cuộc biểu tình, bãi công của 3.000 công nhân đồn điền Phú Riềng (2-1930), đội tự vệ của công nhân đã ra đời. Đội gồm một số đảng viên và quần chúng trung kiên .

Trong phong trào XÔ viết Nghệ - Tĩnh, ở những nhà máy, thôn xã có Công hội, Nông hội, Đoàn thanh niên cộng sản, thì các tổ chức quần chúng đó đã chọn những người có tinh thần hăng hái, can đảm, có sức khoẻ để lập ra các đội tự vệ của công nhân và nông dân. Các đội tự vệ đó có trang bị thô sơ, chỉ bằng giáo mác, liềm hái, gậy gộc .

Các đội tự vệ ngay khi được tổ chức đã thực hiện chức năng bảo vệ các cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng. Cuộc biểu tình ngày 1-9-1930 của trên 20.000 quần chúng ở Thanh Chương (Nghệ An), các đội tự vệ đã phá Rào Gang, triệt đường hàng tỉnh số 4, bắt giữ bọn hào lý không cho chúng liên lạc với nhau nhằm đề phòng quân địch đưa lính đến khủng bố. Khi biểu tình, tuần hành, tự vệ xếp thành hai hàng ngang đi đầu và hai hàng dọc đi hai bên. Khi binh lính đến đàn áp, đội viên tự vệ xông lên giằng súng với lính, tạo điều kiện để đoàn biểu tình tiếp tục tiến lên.

Ngày 18-9-1930, một cuộc mít tinh của 22.000 người được tổ chức ở Thanh Chương. Cuộc mít tinh đó có 1.000 đội viên tự vệ bảo vệ. Những người dũng cảm nhất xung phong vào Đội cảm tử. Các đội ấy gọi là Tự vệ Đỏ.

Ở những nơi gần đồn địch, mỗi khi binh lính đi tuần, tự vệ đánh trống uy hiếp tinh thần chúng. Một số xã ở huyện Thanh Chương, Anh Sơn, nhân dân và tự vệ còn rào làng chống địch.  Tự vệ Đỏ thường theo dõi, đón đường lính đi tuần, đón đường lính giải người, giành lại người bị bắt. Ở Lương Điền (Thanh Chương), Tự vệ Đỏ còn đốt phá điếm canh, cắt đường dây liên lạc và tổ chức phục kích địch có kết quả.

Đội tự vệ không những làm nhiệm vụ bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng trong các cuộc biểu tình, mít tinh; trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ chính quyền xô viết ở các thôn, xã mà còn thực hiện chức năng vận động quần chúng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #78 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 11:58:27 pm »

Tự vệ Đỏ ở nhiều nơi còn đến các làng, xã khác phong trào chưa mạnh để trấn áp trừng trị bọn cường hào gian ác, tổ chức cứu đói cho dân.  Trong các đợt lấy thóc của địa chủ chia cho dân nghèo, các đội tự vệ canh giữ các ngả đường, đề phòng quân giặc đến ứng cứu bảo vệ nhân dân chuyển thóc.

Lúc phong trào tạm lắng xuống, khi cán bộ rút vào rừng núi, Tự vệ Đỏ vẫn bám địa bàn, bảo vệ cơ quan, rải truyền đơn, cảnh cáo, trấn áp bọn hào lý. Tháng 9 năm 1931, Tự vệ Đỏ còn tổ chức phá đồn Lương Điền, đánh lính tuần tiễu ở Ngọc Sơn (Anh Sơn cũ), giải thoát cho cán bộ bị bắt.

Ở các địa phương khác, đội tự vệ cũng phát huy chức năng của mình. Cuối tháng 10-1930, các cuộc đấu tranh của thợ thuyền khu vực Sài Gòn đã có các đội tự vệ công nhân bảo vệ. Ở xí nghiệp dầu Sôcôny (Nhà Bè), đội tự vệ đã đánh nhau với cảnh sát, buộc chúng thả người diễn thuyết, bảo vệ cuộc nói chuyện có kết quả.

Trong quá trình tổ chức các đội tự vệ, đã xuất hiện những tư tưởng và quan điểm sai lầm đối với việc tổ chức các đội tự vệ. Có ý kiến cho rằng, không nên tổ chức các đội tự vệ vì nếu tổ chức các đội tự vệ sẽ dẫn đến xung đột với binh lính. Có ý kiến lại cho rằng, không tổ chức được đội tự vệ vì không có vũ khí. Nếu tình thế buộc phải tổ chức, thì chỉ tổ chức tự vệ tạm thời trong từng cuộc đấu tranh rồi giải tán đi. Lại có ý kiến cho rằng không nên tổ chức tự vệ thường trực, hoặc nếu đã tổ chức đội tự vệ thường trực rồi thì không nên chú trọng huấn luyện quân sự và vận động quần chúng tham gia.

Bên cạnh các quan điểm hữu khuynh đó, lại xuất hiện quan điểm “tả” khuynh cho rằng, cần phải quyên tiền để mua vũ khí trang bị cho đội tự vệ, từ đó chuyển lên đấu tranh vũ trang, trong khi chưa có đủ điều kiện. Đảng đã kiên quyết chống các quan điểm sai lầm đó và cho rằng ngăn cản tự vệ, phản đối tự vệ tức là muốn xoay về chủ nghĩa bất bạo động.

Do tầm quan trọng của việc tổ chức đội tự vệ để bảo vệ quần chúng trong đấu tranh cách mạng, nên trong một bức thơ gửi Xứ uỷ Bắc Kỳ ngày 26- 1 - 1931, Thường vụ Trung ương khẳng định: “Để lãnh đạo cuộc đấu tranh, trước hết hãy tổ chức một đội bảo vệ thợ thuyền và dân cày. . . tự vệ là một vấn đề quan trọng hàng đầu, cần phải tổ chúc và tuyên truyền ủng hộ việc này để cổ vũ quần chúng tranh đấu” 1. 

Cũng trong tháng 1-1931, Thường vụ Trung ương Đảng còn ra “Thông cáo cho các xứ”, phân tích một cách tương đối hệ thống về vai trò, chức năng, phương hướng xây dựng đội tự vệ của cách mạng Việt Nam. Khẳng định vai trò của Đội tự vệ Thường vụ Trung ương nêu rõ: “Một vấn đề rất quan trọng cho sự tranh đấu quần chúng công nông bây giờ là vấn đề tổ chức đội tự vệ của công nông. Các đảng bộ phải góp sức với Công, Nông hội mà hết sức hô hào cổ động thiệt rộng trong quần chúng ý nghĩa và sự lợi ích của đội tự vệ . . .  Phải làm sao cho mỗi nhà máy, mỗi làng đều có một đội tự vệ, các Đảng bộ phải đặc biệt lưu tâm mà làm ngay đi, không nên để chậm trễ một ngày nào nữa” 2.

Khi tổ chức và chỉ huy đội tự vệ phải chú ý làm cho họ hiểu rõ phận sự của họ thì mới khỏi sự hành động sai lầm. Khi có tranh đấu thì đội tự vệ phải đi đầu, đi kèm quần chúng mà bảo vệ, còn lúc thường thì phải luyện tập riêng, “phải bàn định những cách hộ vệ và bênh vực tranh đấu” 3. 

Xác định nguyên tắc tổ chức đội tự vệ, Thường vụ Trung ương Đảng đã nêu rõ quan điểm đúng đắn của Đảng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang là phải có con người trước, “không cần phải có đủ võ trang cũng có đội tự vệ được, mà cũng không phải đã là đội tự vệ thì không thể có đôi chút võ .  trang. . .” 4.

Sau cùng, Thường vụ Trung ương Đảng lưu ý các xứ uỷ rằng, tự vệ là lực lượng vũ trang cơ sở của cách mạng, chứ không phải là hồng quân. Đội tự vệ thực hiện chức năng bảo vệ các cuộc mít tinh, biểu tình, bảo vệ thành quả cách mạng đạt được ở cơ sở, chứ không phải “xông pha cùng binh lực địch nhân mà cướp chính quyền” 5.


___________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.43-44.
2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.7-9, 8, 8- 9, 8. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #79 vào lúc: 06 Tháng Sáu, 2009, 12:00:31 am »

Tiếp tục quan điểm coi trọng vai trò lực lượng vũ trang cơ sở trong đấu tranh cách mạng của quần chúng và xác dính chức năng, phương hướng xây dựng lực lượng đó, Hội nghị Trung ương Đảng họp ở Sài Gòn tháng 3-1981 đã nêu tiếp về vấn đề tổ chức đội tự vệ. Lần đầu tiên, Hội nghị Trung ương Đảng đề cập đến vai trò của chi bộ Đảng trong việc tổ chức đội tự vệ và xác định nhân tố để đội tự vệ đảm bảo chất lượng chính trị.

Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Chi bộ phải đặc biệt chú ý việc tổ chức đội tự vệ. Đội tự vệ là một lợi ích tranh đấu rất cần thiết để hộ vệ sự tranh đấu. Chi bộ phải cùng với Công hội mà chuyên cần lo lắng, kéo đảng viên vào đội, đẩy người ra chỉ huy” 1. Chuyên cần tổ chức đội tự vệ công nông để chống lại khủng bố trong lúc tranh đấu. 

Như vậy, trong cao trào cách mạng 1930- 1931, để bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được ở nhiều thôn, xã, Đảng đã ra chỉ thị thành lập các đội tự vệ. Tiếp đó, Đảng kịp thời uốn nắn những quan điểm lệch lạc của một số cấp uỷ trong quá trình thực hiện chỉ thị của Đảng, đồng thời nêu lên những quan điểm đúng đắn về xây dựng tự vệ, lực lượng nửa vũ trang. Từ chủ trương đúng đắn của Đảng, qua thực tiễn phong trào, đội tự vệ đã xuất hiện. Đây chính là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

Hoảng hốt trước cao trào cách mạng 1930-1931, đế quốc Pháp khủng bố hết sức dã man. Từ 1930 đến 1933, chúng đã bắt giam 246.532 người. Chúng giết hại rất tàn bạo nhiều chiến sĩ cộng sản. Hầu hết các đồng chí Uỷ viên Trung ương, các đồng chí trong Xứ uỷ Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ đều bị địch bắt.

Mặc dù bị đế quốc Pháp đàn áp dã man, nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng bị bắt, nhưng nhờ nắm vững đường lối, chủ trương và mục tiêu cụ thể trước mắt của Đảng, các cơ sở đảng tránh được khủng bố vẫn tiếp tục hoạt động, giữ gìn lực lượng, củng cố phong trào.

Để khôi phục lại phong trào cách mạng Đông Dương, ngày 27-2-1932, Quốc tế Cộng sản gửi thơ cho Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Ấn Độ nêu nhiệm vụ của những đảng đó “phải huy động thợ thuyền, dân cày và lao khổ xứ mình  đấu tranh ủng hộ phong trào cộng sản Đông Dương bằng mọi phương diện, trước hết là chống cuộc tàn sát, giam cầm những người cộng sản và những người lao động xứ Đông Dương, vạch trần bản chất tàn bạo của đế quốc Pháp, đồng thời cổ vũ tinh thần anh dũng đấu tranh của dân chúng và thợ thuyền Đông Dương.

Trong năm 1932, Quốc tế Cộng sản chỉ thị đồng chí Lê Hồng Phong và một số đồng chí còn lại ở trong nước và nước ngoài tổ chức Ban lãnh đạo Trung ương của Đảng.

Tháng 6-1932, Ban lãnh đạo Trung ương thảo ra Chương trình hành động của Đảng. Chương trình hành động nhấn mạnh: “Phải xây dựng một đoàn thể bí mật có kỷ luật nghiêm ngặt, cứng như sắt, vững như đồng, tức Đảng Cộng sản, để hướng quần chúng trên con đường giai cấp chiến đấu 2.

Đảng chủ trương cần phải lập ra Công nông tự vệ để bảo hộ anh em lao động lúc đình công, hội họp, thị uy tuần hành và “sắp đặt hàng ngũ cho chỉnh tề, lo dự bị võ trang bạo động kỳ đánh đổ được quân áp bức” 2.
 
Từ ngày 14 đến ngày 26-6-1934, Ban Chỉ huy ở ngoài và các đại biểu của các Đảng bộ trong nước họp hội nghị đề ra những công tác cụ thể cho các tổ chức quần chúng và quyết định lấy các Nghị quyết của các Hội nghị Đảng trước đó và Chương trình hành động làm tài liệu chính thảo luận trong các chi bộ, chuẩn bị cho Đại hội lần thứ nhất của Đảng.

Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự Đại hội có 13 đại biểu thay mặt cho 600 đảng viên thuộc các đảng bộ ở trong nước và các tổ chức của Đảng đang hoạt động ở nước ngoài. Đại hội đã thảo luận và thông qua Nghị quyết chính trị Nghị quyết về Đội tự vệ; Nghị quyết về vận động binh lính, v.v. .


_________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr. 112.
2, 3. Văn kiện quân sự của Đảng (1930-1945), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr. 87.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM