Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:04:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123319 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #90 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:42:40 pm »

b. Các cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương.

Năm 1940, sau khi phát xít Nhật vào, quân Pháp ở Đông Dương đầu hàng và làm tay sai đắc lực cho Nhật. Chúng thẳng tay bóc lột, đàn áp nhân dân. Tình thế dẫn đến nhân dân Đông Dương không thể không đứng lên đấu tranh võ trang. Xét tương quan lực lượng địch ta lúc này thì:

Về phía địch: những viên toàn quyền, đã từ “bọn dân sự” chuyển sang “bọn quân sự”. “Từ khi Pháp bại trận, phản tướng Pêtanh đóng vai quốc trưởng bù nhìn ở Pháp, những phần tử phát xít, những võ quan phản động, lần lần chiếm những địa vị trọng yếu trong ngạch cai trị Đông Dương” 1.

Catưru thay cho toàn quyền “dân sự” trước đó. Rồi đến lượt Đô đốc Đờ Cu tay sai đắc lực hơn cho Nhật, đã thay thế toàn quyền Catưru. Lục lượng quân sự Đông Dương được tăng cường:

Lục quân năm 1937 là 52.000; cuối năm 1939 lên 90.000, năm 1940 lên 93.000 quân. Nếu tính cả 22.000 lính khố xanh thì tổng số quân chiến đấu trên bộ của Pháp ở Đông Dương năm 1940 lên 115.000 quân.

Về hải quân, năm 1940 Pháp có ở Đông Dương 5 chiến hạm với tổng số trọng tải là 12.000 tấn và 950 lính thuỷ.

Về không quân, ở Đông Dương, Pháp có khoảng 100 máy bay các loại và 3 đại đội pháo cao xạ. Ngoài quân đội chính quy, đế quốc Pháp còn củng cố và gia tăng bộ máy đàn áp. Chúng tuyển thêm lính kín, đặt thêm bót cảnh sát, đồn canh; đặt cảnh sát hương thôn, đội bảo an ở thành thị... Các tổ chức ấy đều có xu hướng quân sự biến tướng hoặc bán quân sự. Những tổ chức phát xít sẵn có được mở rộng.

Ngoài quân Pháp ra, quân Nhật triển khai đóng ở nhiều nơi như Hà Nội, Phú Thọ, Bắc Ninh, Đáp Cầu.  Kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam lúc này không chỉ là phát xít Pháp mà đã gồm cả phát xít Nhật. Nhật còn chưa chiếm ưu thế, nên kẻ thù cụ thể của cách mạng lúc này là: phát xít Pháp - Nhật.

Về phía ta: Trong hàng vạn hội viên Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế đã có một số là tự vệ vũ trang. Một số tiểu tổ du kích đã xuất hiện. Binh lính trong quân đội đế quốc cũng là một lực lượng hậu bị đáng kể. Thái độ phản đế của họ đã ít nhiều biểu lộ như: 4.000 lính Hải Phòng biểu tình, hàng nghìn lính ở Sài Gòn, Vĩnh Yên và Quảng Trị tuyệt thực, đòi cải thiện sinh hoạt. Trội hơn hết là cuộc đấu tranh của 5.000 lính ở Đà Nẵng và cuộc biểu tình của hàng ngàn lính ở Mỹ Tho.

Ba cuộc khởi nghĩa: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương đã nổ ra trong một bối cảnh và tương quan lực lượng giữa ta và địch như vậy.

Khởi nghĩa Bắc Sơn (23-9-1940)

Theo tình hình chung và tương quan lực lượng ta địch thì thời cơ khởi nghĩa vũ trang trong toàn quốc chưa tới. Nhưng với điều kiện địa phương Lạng Sơn lúc đó, Đảng bộ và nhân dân Lạng Sơn đã không lỡ dịp đứng lên giết giặc xây dựng lực lượng cách mạng.

Đêm 22-9-1940 Nhật đánh vào Lạng Sơn. Quân Pháp không dám chống cự. Chúng vứt bỏ cả súng đạn, cởi bỏ cả quân phục chạy trốn. Chính quyền tay sai Pháp ở địa phương hoang mang tan rã. Tri phủ Tràng Định, tri châu Điềm He vừa sợ Nhật, vừa sợ quần chúng cách mạng cũng vội vã bỏ trốn.

Xét về địa phương thì đúng là lúc mà kẻ thù hoang mang đến cực độ. Lực lượng lãnh đạo khởi nghĩa là Đảng bộ Bắc Sơn đã mạnh (được đồng chí Hoàng Văn Thụ về gây cơ sở từ năm 1933, ở xã Vũ Lăng, chi bộ Đảng đã được thành lập từ năm 1937). Các đội tự vệ địa phương được tổ chức. Đảng bộ tổ chức sản xuất vũ khí ở xã Quyền Sơn - Bắc Sơn, nhưng nguồn vũ khí chủ yếu vẫn là “cướp súng giặc giết giặc”.


_______________________
1. Kể từ Pôn Đume, toàn quyền Đông Dương (1896 - 1902) mở đầu cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất là toàn quyền thứ 10 đến Bơrêviê (Brévié) (1936 - 1940) rồi Gơraphơi (Graffeuil) tạm thay Bơrêviê trong sáu ngày (23-8 đến 29-8-1939) là toàn quyền thứ 40, tất cả đều là thuộc ngạch dân sự. Nay phát xít Pháp thay bằng các toàn quyền thuộc ngạch quân sự. Đó là Thống tướng Catưru (Général d’Armée) (20-8-1939 đến 19-7-1940). Rồi Phó thuỷ sư Đô đốc Đờ Cu (Vice - Amiral d' Escadre) từ 25-6-1940 đến ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #91 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:44:23 pm »

Diễn biến khởi nghĩa

Nhận thấy thời cơ đã đến, số đảng viên cộng sản người địa phương thoát khỏi ngục Lạng Sơn đã cùng Đảng bộ Bắc Sơn lập Uỷ ban khởi nghĩa và phát động khởi nghĩa vũ trang.  Ngày 27-9-1940, Uỷ ban khởi nghĩa huy động lực lượng tự vệ phục kích toán lính Pháp ở đèo Canh Tiêm, diệt một tên, thu súng.

Đêm 27-9, tự vệ cùng hơn 300 quần chúng thuộc hai xã Tam Hoa và Hơng Vũ (có 30 linh dõng tham gia) vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác và 20 súng trường, 8 súng kíp, kéo quân về châu lỵ Bắc Sơn công đồn Mỏ Nhài. Lực lượng khởi nghĩa chia làm ba mũi tiến công vào đồn địch, vừa bắn vừa kêu gọi binh lính đầu hàng. Tri châu và một trung đội lính đầy đủ súng ống hoảng sợ bỏ chạy. Nghĩa quân chiếm đồn, thu 17 súng kíp, 1 máy chữ và toàn bộ sổ sách, bằng triện.  Tự vệ cùng nhân dân tiến ra các ngả đường chặn đánh tàn binh Pháp, tước vũ khí và trấn áp bọn cường hào phản động.  Tổ chức quân du kích, lập căn cứ vũ trang.

Phát xít Nhật thoả hiệp với thực dân Pháp để chúng rảnh tay đàn áp cách mạng. Quân Pháp tập trung lực lượng tiến đánh Bắc Sơn từ Đình Cả - Vũ Nhai và từ Bình Gia xuống. Chúng chiếm lại châu lỵ, khủng bố nhân dân.

Xứ uỷ Bắc Kỳ phái đồng chí Trần Đăng Ninh lên Bắc Sơn cùng Đảng bộ địa phương lãnh đạo đấu tranh giữ vững phong trào. Từ các chiến sĩ tự vệ và quần chúng tích cực, Đảng bộ Bắc Sơn đã tổ chức ra Quân du kích Bắc Sơn, làm nòng cất cho cuộc khởi nghĩa.

Ngày 14-10-1940 Hội nghị cán bộ và đảng viên Bắc Sơn đượm triệu tập, họp ở Sa Khao, quyết định lập chiến khu Bắc Sơn, xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập chính quyền cách mạng; diệt trừ phản cách mạng, tịch thu tài sản của chúng chia cho dân nghèo và vạch kế hoạch chiến đấu chống địch khủng bố.

Chống khủng bô, tiến công giành thắng lợi ở Vũ Lăng Quân du kích tiến hành vũ trang tuyên truyền, giải thích chủ trương của Đảng bộ và kế hoạch chống địch khủng bố, đồng thời tiến đánh Khuôn Ràng, lùng bắt bọn phản động đầu sỏ tịch thu tài sản của đế quốc, Việt gian chia cho nhân dân.

Ngày 25-10-1940, quân du kích tiến đánh địch tại trường Vũ Lăng, nơi có tri châu cầm đầu bọn lính dõng với hơn 100 khẩu súng, chuẩn bị mở đường cho Pháp tiến công vào khu du kích. Nghĩa quân bao vây trường Vũ Lăng, kêu gọi lính dõng đi theo cách mạng. Địch hoảng sợ bỏ chạy. Tuy không diệt được địch, nhưng chiến thắng Vũ Lăng đã ảnh hưởng tốt trong nhân dân. Quần chúng phấn khởi thành lập chính quyền cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang. Lực lượng quân sự phát triển nhanh. Chỉ trong vài ngày, quân du kích đã lên tới gần 200 người, được biên chế thành từng tiểu đội mỗi tiểu đội 10 người. Vũ khí phần lớn là súng kíp và một số súng trường lấy được của địch.

Hai chiến thắng ở Mỏ Nhài và Vũ Lăng là những thắng lợi đầu tiên của đấu tranh quân sự từ khi Đảng chuyển hướng chiến lược.

Sau chiến thắng Vũ Lăng, ngày 28-10-1940, một cuộc tuần hành đã được tổ chức đi từ Nam Nhi đến Vũ Lăng dự mít tinh thành lập chính quyền cách mạng. Cuộc tuần hành đó bị bọn phản động địa phương dẫn quân Pháp đến đánh úp. Quân du kích nổ súng bảo vệ nhân dân. Giặc điên cuồng khủng bố, phong trào tạm thời lắng xuống. Đảng bộ địa phương quyết định kiện toàn lại lực lượng vũ trang, điều động thêm lực lượng ở Vũ Nhai lên bổ sung, tổ chức một Trung đội du kích Bắc Sơn làm nòng cốt cho phong trào. Đội du kích chuyển sang hoạt động phân tán, bám chắc dân, duy trì cơ sở cách mạng, tổ chức nhân dân đấu tranh chống khủng bố trong những điều kiện vô cùng ác liệt, khó khăn.

Như vậy, khởi nghĩa Bắc Sơn tuy nổ ra trong điều kiện khởi nghĩa của cả nước chưa chín muồi, nhưng riêng với địa phương lúc này, chớp thời cơ đứng lên giết giặc, xây dựng lực lượng vũ trang là đúng. Khởi nghĩa Bắc Sơn là tiếng súng đầu tiên báo hiệu thời kỳ đấu tranh quân sự mới của dân tộc.  Thành quả là đã cho ra đời Đội du kích Bắc Sơn, bước đầu tạo dựng nên một căn cứ địa vũ trang và để lại những bài học bổ ích cho các cuộc đấu tranh vũ trang sau đó.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #92 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:45:29 pm »

Khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940)

Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra sau khởi nghĩa Bắc Sơn hai tháng. Bối cảnh lịch sử chung cả nước vẫn là một, nhưng tình thế Nam, Bắc có ít nhiều khác nhau. Về phía kẻ thù, ngoài việc ráo riết đàn áp cách mạng, ra sức vơ vét sức người, sức của cho chiến tranh như đã xảy ra trong cả nước thì riêng ở Nam Kỳ việc bắt lính Việt Nam đi làm bia đỡ đạn cho chúng trên chiến trường Pháp - Thái là một trong những nguyên nhân trực tiếp nổ ra cuộc khởi nghĩa.

Tháng 11-1940, được tin Pháp điều một số lính Việt Nam sang chiến trường Pháp - Thái, 15.000 lính người Việt ở Sài Gòn đã phản kháng, nhất là ở hai đại đội pháo binh. Số đông binh lính người Việt Nam trong quân đội Pháp ngả theo cách mạng. 

Về phía cách mạng, Nam Kỳ là nơi họp Hội nghị Trung ương lần thứ VI năm 1939 đề ra chủ trương chuyển hướng chiến lược chuẩn bị đấu tranh vũ trang, nên tinh thần Nghị quyết đã sớm đi vào đảng viên và quần chúng. Tháng 3-1940, Thường vụ Xứ uỷ Nam Kỳ do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thơ đã thảo ra Đề cương chuẩn bị bạo động.

Phong trào phát triển mạnh, số đảng viên tăng nhanh. Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế được tổ chức rộng khắp từ làng đến huyện, tỉnh, đang thống nhất lên toàn xứ. Nông hội hoạt động mạnh. Mít tinh, biểu tình liên tiếp nổ ra, lúc đầu mới chỉ 50, 70 người họp vào ban đêm thì sau có hàng trăm, hàng nghìn người họp ban ngày. Địch đến đánh phá, nhân dân nổi trống mõ, uy hiếp địch, bảo vệ cán bộ. Phần lớn các xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích.

Đến tháng 7-1940, ở nhiều xí nghiệp lớn như Ba Son, nhà máy đèn Chợ Quán, trường Bách nghệ... và nhiều đường phố đã có các đội tự vệ, các tiểu tổ du kích. Tổ chức du kích theo tam tam chế. ba người thành một tổ, ba tổ thành một tiểu đội, ba tiểu đội thành một trung đội, có đảng viên hay quần chúng tích cực chỉ huy và có đại biểu Đảng tham gia lãnh đạo. Vũ khí thì ngoài số đã có, còn có các cơ sở sản xuất vũ khí với các lò rèn làm việc suốt ngày đêm. Nhân dân quyên góp kim khí để đúc đạn, lựu đạn, bom, như Móp Xanh (Tân An) , Bà U (Mỹ Tho) , chùa Thượng Đồng Hoà (Rạch Giá) . . .

Phong trào không chiến tranh, chống bắt lính với khẩu hiệu “không một đồng xu, không một người lính cho đế quốc chiến tranh” ngày càng lan rộng. CƠ sở binh vận đã được tổ chức trong nhiều đơn vị quân đội địch kể cả trong trường hạ sĩ quan, sĩ quan dự bị và cả trong một vài đơn vị lính Pháp. Tình hình đó đã thúc đẩy cuộc khởi nghĩa mau nổ ra.

Tháng 7-1940, Hội nghị Xứ uỷ Nam Kỳ mở rộng, có đồng chí Phan Đăng Lưu, đại diện Trung ương tham dự. Hội nghị đã thông qua Đề cương chuẩn bị khởi nghĩa và cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc họp Hội nghị Trung ương lần thứ VII để bàn về khởi nghĩa.

Hội nghị Trung ương lần thứ VII nhận định điều kiện khởi nghĩa ở Nam Kỳ và ở trong eả nước đều chưa chín muồi, chưa nên khởi nghĩa. Ngày 22-11-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu về đến Nam Kỳ thì lệnh khởi nghĩa đã được phát đi, mọi nơi đã sẵn sàng nổi dậy, không thể hoãn lại được.

Ở Sài Gòn, địch đã biết cuộc khởi nghĩa sắp nổ ra nên ráo riết đề phòng. Chúng lùng sục bắt bớ. Thành uỷ Sài Gòn bị vỡ trước ngày khởi nghĩa. Binh lính người Việt bị địch giữ lại ở trong trại. Chúng tước vũ khí của binh linh phản chiến. Theo kế hoạch thì lúc 24 giờ ngày 22-11-1940, tiếng súng đánh chiếm thủ phủ Sài Gòn sẽ nổ làm tiếng súng lệnh, nhưng đà không thực hiện được. Mặc dầu vậy, đêm 22-11-1940, khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn cứ nổ ra.

Công đồn, diệt viện ớ Hóc Môn - Cầu Bông.

Đúng 24 giờ ngày 22-11-1940, dưới sự chỉ huy của đồng chí Mười Đen, Xứ uỷ viên Xứ uỷ Nam Kỳ, quân du kích và hàng nghìn đồng bào ở Hóc Môn kéo đến công đồn Hóc Môn, một đồn lớn có tường gạch, nhà gác. Như kế hoạch đã được vạch ra, một nữ du kích chạy vào đồn kêu là bị kẻ cướp đánh. Khi lính vừa ra khỏi đồn, du kích xông vào giật súng, xung phong chiếm đồn.  Tên chủ quận và binh linh trong đồn vội rút lên gác, đóng cửa cầu thang. Du kích cùng nhân dân vây đồn, hò reo gọi địch ra hàng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #93 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:46:16 pm »

Được tin cấp báo, Pháp điều quân từ Sài Gòn lên và quân từ Tây Ninh xuống cứu viện. Du kích đã chủ động chặn đánh địch ở Cầu Bông, diệt viện, giết chết tên chủ tỉnh Tây Ninh. Trong trận Hóc Môn và Cầu Bông du kích thu được 15 súng trường. Do viện quân địch kéo đến nhiều, du kích không chiếm được đồn, tạm rút lên Truông Mít, Tây Ninh. 

Tại Chợ Lớn, du kích tập trung ở Đức Hoà, Trung Quận, Cần Giuộc, mỗi nơi khoảng 400 người đến 500 người. Các địa phương tuỳ cơ ứng biến, nhưng mục tiêu chung là diệt địch, trừ gian, cướp đồn, đoạt vũ khí, lập chính quyền cách mạng. 

Ở Đức Hoà, quân du kích đánh tan toán lính địch tại Giồng Đa, giết chết tên đầu sỏ phản động. Tại Trung Quận, du kích cùng nhân dân diệt tề, trừ gian, lập chính quyền cách mạng ở các xã dọc hai bên đường xe lửa. ở Bến Lức, quân du kích dùng mưu dụ lính ra khỏi đồn, xông vào chiếm đồn lấy súng. 

Tại Cần Giuộc, du kích do nữ đồng chí Nguyễn Thị Bẩy, tỉnh uỷ viên chỉ huy, đã cùng nhân dân đánh chiếm trụ sở hội tề, tịch thu sổ sách, bằng triện, lập chính quyền cách mạng ở các xã Phước Lai, Phước Vĩnh Đông, Tân Lập, Long Hậu, Long Đức Quân du kích còn nhiều lần đánh chặn quân tiếp viện của địch.

Tại Vĩnh Long, quân du kích Vũng Liêm do nữ đồng chí Hồng, Bí thư Quận uỷ Vũng Liêm trực tiếp chỉ huy đánh chiếm quận lỵ. Du kích công đồn, 300 quần chúng có vũ trang hò reo hỗ trợ. Quân địch hoảng sợ bỏ chạy. Nghĩa quân lập uỷ ban cách mạng quận Vũng Liêm và giữ đồn được ba ngày. 

Tại Tân An và Mỹ Tho, các xã thuộc hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông và hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, chính quyền đều về tay nhân dân. Hàng nghìn du kích do Bí thơ Tỉnh uỷ Mỹ Tho chỉ huy đã tiến đánh và bức rút 11 đồn bốt, phá đường xe hơi, 14 cầu sắt, lật đổ hàng trăm cột điện, ngăn 6 con sông, bóc nhiều đoạn đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho.

Ngoài các trận công đồn, phá giao thông, cắt đường tiếp viện của địch, du kích còn đánh 1 tàu địch trên kênh 12, đánh 5 tàu trên kênh Long Hưng; đánh địch trên cầu Thày Khánh (Thạnh Phú), cầu Thày Tùng, vịnh Ba Thu (Phú An), đánh nhà tên điền chủ người Pháp ở Tam Hiệp, đánh lính đến bảo vệ nhà tên địa chủ lớn ở Nhị Bình... Vùng giai phóng được mở rộng. Chỉ riêng hai quận Châu Thành và Cai Lây, ta đã giải phóng được 54/56 xã.

Địch lo sợ trước phong trào nổi dậy ở Mỹ Tho.  Ngày 14-12-1940 chúng mở cuộc tấn công lớn, có cả thuỷ, lục không quân đánh vào vùng giải phóng. Nhưng mãi đến ngày 14-1-1941, địch mới chiếm lại được các bốt, đồn đã bị quân ta chiếm và kiểm soát. Quân du kích tạm rút vào Đồng Tháp Mười. Mỹ Tho là nơi giữ được chính quyền lâu nhất. 

Nhìn chung, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra với khí thế mạnh, quy mô rộng lớn và có tính quần chúng rộng rãi. Trên địa bàn 18 tỉnh (Nam Bộ lúc đó có 20 tỉnh) từ Biên Hoà đến Cà Mau, chính quyền địch bị phá vỡ từng mảng lớn ở nông thôn và cả một số vùng ven đô. Chính quyền cách mạng được thiết lập ở nhiều xã và một vài quận. Cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm được kéo lên ở những nơi chính quyền mới ra đời.  Thành quả về đấu tranh quân sự trong khởi nghĩa Nam Kỳ đã có những đóng góp:

Thứ nhất, đã kết hợp được cả hai mặt chính trị và quân sự của bạo lực cách mạng. Về chính trị, bước đầu kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh quân sự, nhất là trong hình thức địch vận dụ hàng, phá hoại, cản trở giao thông liên lạc, kể cả đường bộ lẫn đường thuỷ của địch. Nhờ vậy đã làm chậm trễ, cản trở viện binh của chúng, nên có nơi giữ được chính quyền cách mạng trong nhiều ngày. Về quân sự du kích Nam Kỳ trở thành lực lượng nòng cốt của khởi nghĩa vũ trang. Du kích đã phát huy được những hình thức tác chiến có hiệu quả như: công đồn, diệt viện; phục kích chặn đánh địch, trừ khử ác ôn, v.v..

Thứ hai, bước đầu đạt được mục tiêu chính trị của đấu tranh quân sự là phá được chính quyền của địch, xây dựng và bảo vệ được chính quyền cách mạng ở nhiều địa phương trong một thời gian nhất định. Thứ ba, sau khởi nghĩa, du kích U Minh, Đồng Tháp Mười, Truông Mít (Tây Ninh)... đã trở thành Quân du kích Nam Kỳ, một trong những lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của nhân dân ta.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #94 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:47:40 pm »

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị quân thù đàn áp nặng nề. Theo báo cáo của thống đốc Nam Kỳ gửi toàn quyền Đông Dương (tháng 12 - 1940) thì sau cuộc khởi nghĩa, chúng đã gây ra hàng vạn vụ bắt bớ (tổng cộng, từ ngày 22-11 đến ngày 31-12-1940 có tới 5.648 vụ).

Để đối phó với sự khủng bố. đàn áp dã man của kẻ thù, tháng 12-1940, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Nam Kỳ đã họp ở Bà Quẹo (Gia Định) bàn kế hoạch rút lui để tránh tổn thất và củng cố lại cơ sở (nhưng sau Hội nghị mấy ngày thì hầu hết các xứ uỷ viên mới bầu lại bị bắt). Đồng thời, ngày 21-12-1940, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Thông cáo khẩn cấp kêu gọi các cơ sở đảng trong toàn quốc bằng hành động thiết thực, lãnh đạo nhân dân đấu tranh hưởng ứng và ủng hộ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

Thông cáo mang nội dung một chỉ thị hành động, nêu rõ: “... Nơi nào có thể phát động du kích chiến tranh thì phải biến đội tự vệ thành đội du kích để tuỳ thời đánh úp các đồn trại, cướp khí giới, tiêu diệt bọn phản quốc. . . các đảng bộ địa phương. . . phải tổ chức ngay đội biệt động gồm những phần tử hăng hái, can đảm nhất trong đội tự vệ để thi hành những việc như phá đường sắt, cầu, cống, ngăn cản quân thù, đừng cho lính bắn quân cách mạng, cắt dây điện, cướp xe cộ chở lương thực, khí giới của đế quốc. . . Phải tổ chức Uỷ ban bạo động xứ... lại phải tổ chức uỷ ban bạo động thành, tỉnh, phủ, huyện quan trọng để chỉ huy bạo động cho được thống nhất” 1.

Thông cáo đã vạch ra phương hướng hành động, đồng thời cổ vũ các cấp uỷ Đảng và quần chúng cách mạng hăng hái đấu tranh trong tình hình mới.

Khởi nghĩa Đô Lương (13-1-1941)

Ngày 13-1-1941, khởi nghĩa Đô Lương đã nổ ra. Cuộc khởi nghĩa này tuy quy mô nhỏ hơn hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và khởi nghĩa Nam Kỳ và không do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, nhưng chính nó lại là một nét đặc thù. 

Trước ngày khởi nghĩa, ở Nghệ An đã có truyền đơn của Đang Cộng sản Đông Dương nêu những khẩu hiệu: Đả đảo Bảo Đại! Đả đảo đế quốc Pháp! Binh lính người Việt trong hàng ngũ quân đội Pháp ở Đô Lương (Nghệ An) do ảnh hưởng của hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và sự tuyên truyền của Đảng đã giác ngộ, nổi lên lấy súng giặc diệt giặc. 

Ngày 8-1-1941, giám binh Pháp điều đội Cung từ Vinh lên đồn Chợ Rạng thay tên đồn trưởng người Pháp là Alônggôn (Allongol). Nhận nhiệm vụ mới được năm ngày, ngày 13-11-1941, Đội Cung đã cùng 11 lính khố xanh mặc quân phục thống nhất: áo dạ tím, quần vàng, với đầy đủ súng đạn lên một xe ô tô, giả trang đi tuần phòng, nhưng thực chất là đi đánh chiếm đồn Đô Lương.

Tới Đô Lương, Đội Cung chỉ huy ba người giết tên chủ nhà đoan; xông vào nhà bưu điện cắt liên lạc bắt tên ký đi theo đến đồn Đô Lương. Tới nơi, đội Cung cùng nghĩa quân bắn chết tên đồn trưởng Bách rồi ra lệnh cho cai Á tập hợp lính, gồm 36 người; phân công 4 người về đồn Chợ Rạng đắp ụ đất canh giữ đồn, 32 người lên ba Ô tô cấp tốc chạy về Vinh. Tới trường Quốc học Vinh, đội Cung phân công nho cai Vỵ chỉ huy lính đóng ở trường, chờ khi có ba phát súng lệnh thì tấn công vào thành. Còn đội Cung cùng cai Á và người lái đi xe vào trại giám binh nhằm giết giám binh Đêjiru (Desjiroux), nhưng việc không thành.

Tên giám binh thấy động, điện thoại ra lệnh cho binh lính các nơi đối phó. Cai Á và lái xe bị bắt. Cai Vỵ vào thành xin hàng. Một số nghĩa binh sa vào tay giặc. Riêng đội Cung được đội Bốn ở Vinh dẫn đường trốn thoát, về quê Thanh Hoá định tìm đường trốn sang Thái Lan, nhưng bị Tống Gia Liêm phản bội báo mật thám đến bắt. Cuối cùng, đội Cung và 10 người đã bị Pháp xử tử, số còn lại bị đưa đi phát vãng từ 10 đến 12 năm 2. 

Nhìn chung, khởi nghĩa nổ ra nhanh và bị kẻ thù đàn áp ngay, nhưng cuộc khởi nghĩa đã góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều đáng kể là nghĩa binh đã có tinh thần yêu nước, căm thù giặc, thực hiện khẩu hiệu phản đế phản chiến theo truyền đơn của Đảng kêu gọi.

Tiếng súng Đô Lương là tiếng súng của một bộ phận binh lính người Việt yêu nước dám đứng lên diệt thù cứu nước, dẫu lực lượng còn đơn độc, lẻ loi, nó vẫn được Đảng ta coi trọng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5-1941) coi ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương “là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc” 3.


____________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 90 - 92.
2. Trần Huy Liệu- Văn Tạo: Phong trào chống phát xít, chống chiến tranh và các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội 1957, tr. 30-33.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 109.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:50:26 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #95 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:53:24 pm »

II- HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ VIII (5-1941)

Hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược. Quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xúc tiến chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa.

Kể từ cuối năm 1939, phong trào cách mạng Việt Nam phát triển qua gần hai năm, đã chứng tỏ hiệu quả bước đầu chủ trương chuyển hướng chiến lược. Đảng phát triển, Mặt trận thống nhất dân tộc được mở rộng, đấu tranh vũ trang dẫn đến những cuộc khởi nghĩa.

Năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Ngày 8-2-1941, Người về Pắc Pó (Hà Quảng, Cao Bằng) bắt tay ngay vào việc xây dựng căn cứ địa và tổ chức các đoàn thể cứu quốc - những yếu tố không thể thiếu được của đấu tranh vũ trang; đồng thời mở lớp huấn luyện cán bộ, chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ VIII.

Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ VIII họp do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu của Quốc tế Cộng sản chủ trì. Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Trung Kỳ, Bắc Kỳ và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài tham dự.

Với tầm nhìn dân tộc, khu vực và quốc tế, Hội nghị đã sáng suất phân tích tình hình, nhận rõ kẻ thù và có đối sách linh hoạt, sắc bén. Hội nghì nhận định: “Tất cả bộ máy kinh tế đều chiến tranh hoá” 1 và “tất cả bộ máy cai trị đã bị phát xít hoá”. Kẻ thống trị về danh nghĩa vẫn còn là Pháp nhưng trên thực tế thì “Chiếm được Đông Dương, Nhật đã làm chủ hẳn về các mặt kinh tế, quân sự, làm thầy về mặt chính trị và dần dần muốn làm chủ cả về mặt tinh thần...” 2. Tuy vậy, kẻ thù chính lúc này vẫn là Pháp - Nhật.

1. Hoàn chỉnh quá trình chuyển hướng chiến lược.

Chủ trương nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc được đề ra từ hài Hội nghị Trung ương trước, được Hội nghị Trung ương lần thứ VIII khẳng định rõ rằng: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” . . . “Nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật thì vận mạng của đần tộc phải chịu kiếp trâu ngựa muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được”... 

Khui Nậm - nơi họp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám và thành lập Mặt trận Việt Minh (năm 1941)

“Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi giải phóng của toàn thể dân tộc” 3.  Vì vậy, Hội nghị đã khẳng định: “Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ, lực lượng các giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương, cho hợp với tình hình thay đổi, Đảng ta phải có một chính sách cách mạng thích hợp với tình trạng ấy, mới chỉ dẫn cuộc cách mạng đến thắng lợi chắc chắn được” 4. 

Để tập trung nỗ lực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, tổ chức cũng phải chuyển hướng mạnh mẽ. Khái niệm “phản đế” trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương được thay bằng khái niệm “Độc lập” trong Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh. Nghị quyết chỉ rõ: “mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay không thể gọi như trước là Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, mà phải đổi ra cái tên khác cho có tính dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại. . . là Việt Nam độc lập đồng minh” 5.

Khái niệm “phản đế” trong tên các tổ chức quần chúng như “Thanh niên phản đế”, “Phụ nữ phản đế”... được thay bằng khái niệm “cứu quốc như “Thanh niên cứu quốc”, “Phụ nữ cứu quốc”, v.v..  Trong hành động, phải đoàn kết rộng rãi, thậm chí cả với những người nhất thời có liên quan quyền lợi với đế quốc như cai ký, đốc công trong các nhà máy do Pháp - Nhật điều  hành.


_______________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 103, 106.
3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7. tr. 118, 119, 122.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #96 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 10:57:35 pm »

Nghị quyết Hội nghị Trung ương chỉ rõ: “Công hội từ nay lấy tên là Công nhân cứu quốc hội . . . có thể thu nạp hết cả những hạng cai ký, đốc công trong xưởng mà những công hội trước kia không hề tổ chức” 1 . Còn “Nông hội từ nay gọi là Việt Nam nông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy nông dân đến cả phú nông, địa chủ muốn tranh đấu đuổi Pháp - Nhật” 2. 

Thay khái niệm “phản đế” bằng khái mềm “cứu quốc” rõ ràng là nhằm mục tiêu “Giải phóng dân tộc, chống đế quốc phát xít Pháp-Nhật” chứ không chống chủ nghĩa đế quốc một cách chung chung. Do đó, không chỉ nhiệm vụ dân tộc được tập trung mà mặt trận đoàn kết quốc tế cũng rộng lớn hơn, thêm được bạn, bớt được thù. Quan niệm “cứu quốc” cũng thuận lợi cho việc khai thác, kế thừa và phát huy được truyền thống yêu nước của dân tộc.

Hơn lúc nào hết, lúc này truyền thống “Anh hùng cứu nước” của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến. . . cũng như những gương anh dũng của khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, khởi nghĩa Đô Lương cũng được khơi dậy. Đồng thời, cũng từ sau sự chuyển hướng chiến lược, nêu cao ngọn cờ dân tộc mà khối đoàn kết giữa ba dân tộc Đông Dương là Việt, Miên, Lào được nhận thức và tổ chức theo một hướng mới.  Hội nghị quán triệt sâu sắc lý luận Mác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết.

Nghị quyết hội nghị nêu rõ: Nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc... Sau lúc đánh đuổi Pháp-Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho các dân tộc Đông Dương. Cho nên, lúc này Đảng Cộng sản Đông Dương xây dựng ngay cho ba dân tộc  Việt, Miên, Lào ba tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất là Việt Nam độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Ba tổ chức này đoàn kết chiến đấu trong một Mặt trận chung là “Đông Dương độc lập đồng minh”.

Đường lối chính trị và chủ trương xây dựng Mặt trận, các tổ chức quần chúng trên thực tế đã tạo nên nền móng chính trị vững chắc, sâu rộng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và hoạt động vũ trang phát triển. Vấn đề xây dựng Đảng được Hội nghị đặc biệt quan tâm.

2. Quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xúc tiến mạnh mẽ công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Hội nghị Trung ương lần thứ VIII dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hồ Chí Minh đã quán triệt tư tưởng quân sự của Người, Nghị quyết khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” 3. Hình thái của cuộc khởi nghĩa vũ trang là phải từ khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa địa phương đi tới khởi nghĩa toàn quốc hay Tổng khởi nghĩa. “Với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” 4.

Để có được “một lực lượng vũ trang toàn quốc”, Hội nghị nhấn mạnh rằng:

“a) Mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng gây cuộc khởi nghĩa.

b) Mở rộng các tổ chức vào những nơi thành thị, sản nghiệp, hầm mỏ, đồn điền.

c) Mở rộng sự tổ chức vào các tỉnh phong trào còn yếu ớt và dân tộc thiểu số. 

d) Đào luyện cho các đảng viên cộng sản có một tinh thần cương quyết hy sinh. 

e) Đào luyện cho các đảng viên đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thế. 

f) Phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc” 5.


____________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tr. 125.
3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 129, 131 - 132.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 130,
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #97 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 11:00:15 pm »

Nghị quyết nêu rõ: “Trong các đoàn thể cứu quốc ta lại lựa chọn những phần tử hăng hái, trung thành hơn, tổ chức ra Việt Nam Tự vệ cứu quốc hội và tiểu tổ du kích. Tự vệ cứu quốc là tổ chức để bảo vệ các tổ chức quần chúng trong khi tranh đấu và bảo vệ cách mạng. Còn tiểu tổ du kích cứu quốc là một tổ chức cao hơn tự vệ đội mà thấp hơn đội du kích chính thức” 1. Đây chính là tiền đề dẫn đến tổ chức ba thứ quân của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

Về quy chế tổ chức, Hội nghị đưa ra “Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc”. Lấy tiểu tổ du kích làm đơn vị cơ sở cho tổ chức du kích và chiến tranh du kích. Điều lệ ghi:

Tên: Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc. Tiểu tổ là đơn vị cơ sở.

Về tổ chức: Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc là một tổ chức quân sự cao hơn tự vệ đội và thấp hơn du kích chính thức.

Mục đích hoạt động:

a) Bảo vệ và giải vây cho các chiến sĩ cách mạng và giừ gìn cho các cơ quan cách mạng. 

b) Phụ lực và giúp đỡ cho đội du kích chính thức trong lúc hành quân và giao chiến với quân thù. 

c) Phá phách các cơ quan vận tải lương thực và khí giới của quân thù. 

d) Biến chuyển thành đội du kích chính thức để tranh đấu đánh đổ Pháp-nhật, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập 2.

Điều lệ đã thể hiện tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân mà ra và bước đầu xác định cơ cấu tổ chức lực lượng cơ sở:

a) Mỗi đoàn thể cứu quốc của Việt Minh tổ chức ra tiểu tổ du kích. Tiểu tổ du kích chịu dưới quyền chỉ huy của đoàn cứu quốc và Việt Minh.

b) Có từ 3 đến 7 đội viên thì tổ chức thành một tiểu tổ du kích cứu quốc do một tiểu đội trưởng chỉ huy; có từ hai tiểu tổ du kích trở lên thì tổ chức thành liên tiểu tổ, có một liên tiểu tổ đội trưởng và phó liên đội và uỷ viên chính trị chỉ huy.

c) Những đội viên của tiểu tổ du kích khi có việc thì họp nhau lại hành động. Xong việc lại giải tán ai về nhà nấy sinh hoạt như thường dân.

Điều lệ cũng ghi rõ điều kiện kết nạp đội viên, trách  nhiệm của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc, phương thức tập luyện, vũ khí và kỷ luật, trong đó việc giữ bí mật cho đội được coi trọng. Hội nghị Trung ương lần thứ VIII tán thành tên gọi: “Việt Nam nhân dân cách mạng quân”, thay “Quốc dân cách mạng quân” của Hội nghị Trung ương lần thử VI. 

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII có tầm quan trọng đặc biệt là hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược của Đảng và quán triệt tư tưởng quặm sự Hồ Chí Min.li, tích cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang trong cả nước giành chính quyền về tay nhân dân


III- TƯ TƯỞNG CĂN CỨ ĐỊA HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ RA ĐỜI
CỦA HAI KHU CĂN CỨ BẮC SƠN - VŨ NHAI VÀ CAO BẰNG

Chiến tranh du kích và căn cứ địa là hai yếu tố cơ bản của đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng dân tộc. Hai yếu tố này luôn luôn gắn bó với nhau trong truyền thống quân sự của dân tộc. Nếu không kể căn cứ Mê Linh của Hai Bà Trung, căn cứ Núi Nưa của Triệu Ẩu, căn cứ Đầm Dạ Trạch của Triệu Quang Phục (khi mà quan niệm về căn cứ địa còn chưa rõ ràng) thì muộn nhất cũng là từ khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi, hình thái căn cứ địa, bao gồm cả địa - chính trị, địa - kinh tế, địa - văn hoá, địa - quân sự... đã xuất hiện.  Đến các phong trào kháng chiến chống Pháp, các căn cứ Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế... đều được lấy địa danh để gọi cho cả một phong trào khởi nghĩa. Trong cuộc chiến đấu kiên cường chống Pháp - Nhật truyền thống đó được kế thừa và phát huy cao độ.


____________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 126.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 160.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #98 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 11:02:42 pm »

1. Tư tưởng căn cứ địa Hồ Chí Minh.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vừa trân trọng phát huy truyền thống dân tộc vừa tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, gắn chiến tranh du kích với căn cứ địa. Trong tác phẩm Cách đánh du kích viết năm 1941, mở đầu, Người khẳng định: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây-Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh. Biết đánh du kích thế nào cũng thắng lợi” 1. 

Sau khi nêu rõ mục đích chính trị, hướng dẫn cách thức tổ chức, tác phẩm tập trung cả 10 chương trong tổng số 13 chương (từ chương III đến chương XII) vào việc chỉ đạo về nghệ thuật du kích chiến tranh, từ nguyên tắc xây dựng căn cứ địa đến “Cách tiến công”, bao gồm các cách: “tập kích”, “phục kích”, “phòng ngự”, “đánh đuổi giặc”, “rút lui”, “phá hoại”, “thông tin liên lạc” “hành quân”, “đóng quân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng căn cứ địa bao gồm những nguyên tắc cơ bản:

1. Với đường lối chính trị cứu nước đúng đắn, với phương châm “lấy yếu chống mạnh”, khi chưa có chú quyền lãnh thổ, đất đai thì trước hết, đội du kích “cần có một vài nơi dừng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy “đội du kích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi luyện tập”.

2. Xây dựng căn cứ địa phải gắn với việc lựa chọn địa hình, địa lợi, tức coi trọng yếu tố địa lý. Trong khi coi trọng yếu tố địa thế, địa hình cần đặc biệt quan tâm tới yếu tố địa-chính trị. “Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ”.
 
3. Phải tiến tới xây dựng chính quyền cho căn cứ địa. Bởi vì “chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được”. 

4. Từ căn cứ địa, lực lượng du kích phát triển, phải tiến tới xây dựng đội quân chính quy: “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hoá ra quân chính quy”. 

Ngoài các nguyên tắc trên, Người còn nhấn mạnh, quan tâm đến việc bảo vệ căn cứ địa, phản công địch bằng chiến thuật chiến tranh du kích. Người chỉ rõ: “Lúc bảo vệ căn cứ địa cách mạng, đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự. Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công”. Nói chung là “phòng ngự thế công bằng du kích chiến”. 

Bên cạnh tác phẩm Cách đánh du kích, tư tưởng xây dựng căn cứ địa và chiến tranh du kích của Người còn được phổ biến trong thơ ca như Lịch sử nước ta, Ca đội tự vệ và Bài ca du kích... Tác phẩm Cách đánh du kích cùng với các tác phẩm viết về quân sự được phổ biến năm 1941, theo báo Độc lập ngày 21-10-1941 đã phân phát 700 cuốn. Khi phong trào đấu tranh vũ trang phát triển, tác phẩm Cách đánh du kích thật sự là “người dẫn đường” cho những du kích và hoạt động xây dựng căn cứ địa ở nhiều nơi trong toàn quốc.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, trong một loạt văn kiện chỉ đạo công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng soạn thảo trong thời kỳ đó như: Chính sách mới của Đảng (24-9-1941), Chiến tranh. Thái Bình Dương và cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương (20-1-1942) v.v. vấn đề du kích chiến cũng được gắn chặt với căn cứ địa.

Đồng chí Trường Chinh nêu rõ, trong nhiệm vụ quân sự, phải chuẩn bị lực lượng vũ trang, phát triển và củng cố các đội tự vệ, các đơn vị du kích; thành lập phát triển các căn cứ địa du kích.  Tư tưởng căn cứ địa gắn với chiến tranh du kích từng bước được quán triệt trong Đảng đưa đến sự ra đời của hai khu căn cứ điển hình của cách mạng Việt Nam là Vũ Nhai - Bắc Sơn và Cao Bằng.


____________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 469.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #99 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 11:05:02 pm »

2. Căn cứ du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai và sự ra đời của Cứu quốc quân.

Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI và thứ VII về việc duy trì và bồi dưỡng lực lượng vũ trang Bắc Sơn làm vốn quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này, cũng như xây dựng trung tâm căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai làm chỗ dựa cho đấu tranh vũ trang, tháng 12-1940, Trung ương cử đồng chí Lương Văn Chi - Xứ uỷ viên Bắc Kỳ lên tăng cường cho căn cứ. Ban lãnh đạo đội du kích và khu căn cứ du kích được thành lập. Đồng chí Phùng Chí Kiên làm chỉ huy trưởng, phụ trách căn cứ địa, đồng chí Chu Văn Tấn làm chỉ huy phó, đồng chí Lương Văn Chi làm chính trị viên, dưới sự chỉ đạo chung của đồng chí Hoàng Văn Thụ. 

Để củng cố và phát triển đội du kích Bắc Sơn, tháng 1-1941, lớp huấn luyện chính trị, quân sự ngắn ngày được tổ chức nhằm nâng cao trình độ chính trị, quân sự và ý thức tổ chức, kỷ luật. Mục đích là đào tạo cán bộ cho khu căn cứ và cung cấp cán bộ cho các cơ sở khác . Ngày 14-1-1941, đội du kích Bắc Sơn được chính thức thành lập ở khu rừng Khui Noi thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn (Lạng Sơn). Đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng công nhận, trao nhiệm vụ và lá Cờ đỏ sao vàng do Hội phụ nữ phản đế Hà Nội thêu tặng. Đội có 32 người, chia làm ba tiểu đội, do đồng chí Lương Văn Chi và Chu Văn Tấn chỉ huy. Vũ khí có năm súng trường, súng kíp và dao găm. Tinh thần cứu nước và ý thức kỷ luật được biểu hiện ở các lời thề danh dự:

“Không phản Đảng
Tuyệt đối trung thành với Đảng
Kiên quyết chiến đấu và trả thù cho các đồng chí bị hy sinh
Không hàng giặc.
Không hại dân
” 1.

Đội du kích Bắc Sơn đẩy mạnh các hoạt động chính trị và huấn luyện quân sự, củng cố phong trào, duy trì sức đấu tranh của quần chúng sau đợt khủng bố của địch. Khu căn cứ được mở rộng ra các xã: Vũ lăng, Hữu Vĩnh, Hưng Vũ, Bắc Sơn, Vũ Lễ, Gia Hoà (Bắc Sơn - Lạng Sơn), Lâu Thượng, Phú Lương, Tràng Xá, Làng Mười, La Hiên (Vũ Nhai) và Cây Thị (Đồng Hỷ - Thái Nguyên). Các tổ chức phản đế và các đội tự vệ địa phương được phục hồi và phát triển. Những cơ sở du kích ở khe Khui Noi, rừng Phú Thượng, Lâu Thượng, Tràng Xá...  đều biến thành những nơi huấn luyện quân sự, chính trị. 

Từ đội du kích Bắc Sơn chuyển lên thành Trung đội Cứu quốc quân.

Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, tháng 5 - 1941, các đồng  chí trong Ban Thường vụ Trung ương là Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, khi về xuôi đã dừng chân tại cơ quan bí mật ở Lâu Tây (Hữu Vĩnh - Bắc Sơn) từ ngày 6-7 đến 21-7-1941, tranh thủ truyền đạt Nghị quyết Trung ương cho cán bộ địa phương. Đồng thời, Thường vụ Trung ương cũng quyết định chuyển đội du kích Bắc Sơn lên thành Trung đội Cứu quốc quân và cử đồng chí Phùng Chí Kiên - Ủy viên Trung ương Đảng làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Chi làm chính trị viên.

Đội được mang tên mới là trung đội I Cứu quốc quân. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đang đã trực tiếp phổ biến tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương. Đây là lần đầu tiên, đường lối, chính sách mới của Đảng, có sự quán triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã được tổ chức học tập trong lực lượng vũ trang.  Cuối tháng 6 -1941 địch mở cuộc càn quét với hai mục đích là tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng và tiêu diệt Cứu quốc quân, trấn áp bằng được phong trào cách mạng Bắc Sơn - Vũ Nhai *.


______________________
1. Xem: Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 52-53.
* Xin trích dẫn một đoạn sách nước ngoài để chứng minh thêm: “Trung tâm chính trị là Cao Bằng, nhưng sự chuẩn bị quân sự đầu tiên đã bắt đầu ở một địa điểm gọi là căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai... Những người chi huy căn cứ này được giao nhiệm vụ thành lập những đơn vị đầu tiên của quân giải phóng, đã hướng những hoạt động của mình để làm tan rã sự kiểm soát của người Pháp đối với các làng quê miền núi bằng cách biến đổi, đe doạ, hoặc thủ tiêu những lý dịch phản bội. Vào mùa thu năm 1941, Decoux quyết định không dung tha cho sự quấy rối lâu hơn nữa và đã phái những đạo quân người Pháp đi tấn công”. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM