Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:10:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123277 lần)
0 Thành viên và 6 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #100 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 11:55:08 pm »

Thực hiện ý đồ đó, Pháp huy động một lực lượng lớn, 4.000 quân gồm cả lính Pháp, lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh, cùng nhiều mật thám, cường hào phản động, lính dõng... tử ba mũi: Thái Nguyên lên, Lạng Sơn xuống, Bắc Giang sang, thọc sâu vào giữa hai triền núi đá của khu căn cứ, bịt chặt mọi lối giao thông.

Mục tiêu của địch là đánh phá căn cứ địa. Chiến thuật là khủng bố, cho nên đi đến đâu là chúng đốt sạch mọi làng bản, giết sạch mọi gia súc, phá sạch mọi thứ cây ăn quả. Các cơ sở bí mật của Đảng và của Cứu quốc quân luôn luôn bị uy hiếp, có nơi phải di chuyển địa điểm tới 5, 6 lần. Ban chỉ huy Cứu quốc quân dưa một bộ phận về Vũ Nhai bảo vệ và dẫn đường cho các Uỷ viên Trung ương Đảng đi dự Hội nghị Trung ương về xuôi được an toàn.  Bộ phận khác vừa chống khủng bố vừa tiến lên biên giới để xây dựng căn cứ mới (12 tiểu dội).

Một tiểu đội bí mật ở lại Bắc Sơn hoạt động. Một tổn thất nặng nề đã xảy ra vào tháng 7-1941. Bộ phận Cứu quốc quân rút lên Cao Bằng, khi đi tới làng Khan Pan, xã Bằng Đức, châu Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã lọt vào ổ phục kích của địch. Chỉ huy trưởng Phùng Chí Kiên hy sinh tại trận. Chính trị viên Lương Văn Chi bị địch bắt và hy sinh tại nhà tù Cao Bằng. Tiểu đội ở lại Bắc Sơn cũng bị địch truy lùng. Địch vây hang bắt được 7 du kích đem tới chân đồn Mỏ Nhài bắn chết, chỉ còn 4 người chạy thoát về Vũ Nhai.

Sự ra đời của Trung đội II Cứu quốc quân. 

Yêu cầu có tính nguyên tắc hàng đầu là căn cứ địa phải đi đôi với sự tồn tại của lực lượng vũ trang. Tháng 8-1941, địch mở tiếp cuộc càn quét ác liệt xuống Vũ Nhai, hòng giành được thắng lợi cuối cùng. Nhưng trái với ý muốn của chúng, một đơn vị vũ trang mới đã ra đời trong căn cứ địa.

Ngay giữa vòng vây uy hiếp của hàng ngàn quân địch, ngày 15-9-1941, Trung đội II Cửu quắc quân được thành lập tại rừng Khuôn Mánh, thôn Ngọc Mỹ, xã Tràng Xá (Vũ Nhai). Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng thay mặt Trung ương công nhận. Trung đội có 47 đội viên, trong đó có 3 nữ, được chia làm 5 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo. Đồng chí Chu Văn Tấn, Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ làm Bí thư chi bộ và trực tiếp chỉ huy. Vũ khí có ba súng khai hậu, còn toàn là dao găm và một ít súng kíp.

Hoạt động chủ yếu của Trung đội II Cứu quốc quân sau ngày thành lập chủ yếu vẫn là gây dựng cơ sở, phát triển phong trào, đồng thời học tập chính trị, rèn luyện quân sự. Chương trình học tập gồm: Chương trình Việt Minh, 10 điều kỷ luật *, chiến - thuật du kích và kỹ thuật chiến đấu. Đảng viên học tập thêm Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII và tài liệu Cộng sản sơ giải. Cứu quốc quân ra tờ báo Bắc Sơn gồm những bài viết bằng chữ Quốc ngữ, chữ Tày, chữ Nho để giáo dục nội bộ và tuyên truyền vận động quần chúng, góp phần xây dựng và củng cố căn cứ địa.

Tháng 10-1941, trước sự tồn tại của Cứu quốc quân, thực dân Pháp lo sợ mở cuộc khủng bố ác liệt điên cuồng hơn, tàn bạo hơn. Đợt đấu tranh chống khủng bố của Cứu quốc quân II diễn ra trong thế trận “Phòng ngự căn cứ địa”. Trung ương Đảng đã tăng cường thêm cán bộ cho Cứu quốc quân và chỉ thị: “Phải giữ lực lượng vũ trang, bí mật gây dựng cơ sở, mở rộng căn cử ra ngoài vòng vây của địch, đồng thời duy trì cho được tiếng súng Bắc Sơn - Vũ Nhai để cổ vũ phong trào toàn quốc. Hoạt động phải thận trọng, quân sự phải phục tùng mục đích chính trị, coi trọng công tác binh vận trong nhiệm vụ chống khủng bố, bảo vệ quần chúng cách mạng” 1.

Thực hiện phương châm “phòng ngự trong thế công”, tháng 11-1941 , nhiều tổ, đội công tác đã được phái đi xây dựng cơ sở, mở rộng phong trào quần chúng. Một đội gần 20 người trở về hồi phục và phát triển cơ sở ở Bắc Sơn. Một tổ được phái về gây cơ sở ở Yên Thế (Bắc Giang) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) nhằm giữ vững đường dây với Trung ương ở dưới xuôi. Một tồ vượt ra khỏi vòng vây, sang Đại Từ, Chợ Chu, Sơn Dương, bí mật mở rộng địa bàn. Đó là thực hiện “Cách phòng ngự ngoài khu căn cứ” của Bắc Sơn - Vũ Nhai. 


_____________________
* 10 điều kỷ luật có từ lớp quân sự đầu tiên của Đảng ở Đức Thắng, cuối năm 1940.
1. Võ Nguyên Giáp: Khu Giải phóng, Nxb. Cứu quốc, tháng 8-1946, tr. 13.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #101 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 11:56:42 pm »

Còn “phòng ngự trong khu căn cứ” là do một lực lượng gồm 40 người ở lại cùng nhân dân Tràng Xá - Đình Cả đấu tranh chống khủng bố trắng. Lực lượng vũ trang đó chia thành nhiều tổ nhỏ đi vận động quần chúng, tổ chức quần chung đứng lên đấu tranh giữ thế chủ động của ta, phá thế kìm kẹp của địch.

Tiếng súng trừ gian của Cứu quốc quân nhằm vào bọn mật thám, hào lý, lính dõng phản động, đã uy hiếp được kẻ địch, gây tin tưởng cho nhân dân, phát triển được phong trào đấu tranh của quần chúng. Nhân dân phân công nhau giám sát bọn mật thám, chỉ điểm không để chúng trà trộn vào hàng ngũ cách mạng. Từng đoàn người kéo đi đòi huỷ bỏ lệnh giới nghiêm, chống dồn làng, chống mở rộng diện tích trồng thầu dầu cho phát xít Nhật, phá các cuộc bắt dân ta làm đường của giặc.

Công tác binh vận của Cứu quốc quân cũng được đẩy mạnh và cố kết quả, làm cho nhiều toán quân địch đấu tranh với bọn chỉ huy không chịu lên đường đi Thái Nguyên đánh phá cách mạng. Nhiều toán quân khác được lệnh càn quét đã cố tình đánh động để Cứu quốc quân tránh đi hoặc để Cứu quốc quân bắn chết tên dẫn đường, làm cho binh lính có cớ rút lui như trường hợp ở Khe Khuân. Khi Cứu quốc quân bị tiến công khó thoát, binh lính địch đã bắn lên trời khi có lệnh xung phong.

Lấy công tác vận động quần chúng, gây dựng cơ sở là chính, nhưng khi cần phải đánh giặc, Cứu quốc quân đã chiến đấu rất dũng cảm. Trong trận Khuôn Lã ngày 5-10-1941, ba chiến sĩ Cứu quốc quân đã chiến đấu hàng giờ với hơn một trung đội địch khi chúng định sục vào cơ quan bí mật của ta. Với một khẩu súng Pạchoọc, một chiến sĩ Cứu quốc quân đã giết hơn 10 tên giặc, đánh lui nhiều đợt xung phong của định, buộc chúng phải rút lui.

Trận Mỏ Mùng (Lâu Hạ) ngày 17-12-1941, một tiểu đội Cứu quốc quân đi công tác bị lọt vào vòng vây của một toán 60 tên lính lê dương. Cứu quốc quân vẫn nổ súng chống lại. Tiểu đội trưởng Hà Văn Loi đã dũng cảm yểm hộ cho toàn đội rút lui và anh dũng hy sinh sau khi bắn 28 phát súng trường, tiêu diệt và làm bị thương 20 tên giặc .

Ngoài ra, Cứu quốc quân còn tiến hành những trận tập kích, phục kích ở Làng Tràng, Khuôn Xóm, Ngọc Mỹ. . . và các trận quấy rối định, trừ gian. Ngày 11-1-1942, theo yêu cầu của quần chúng, Cứu quốc quân đã phục kích ở Suối Ban, diệt tên “Đội béo” gian ác và một tên mật thám lợi hại, rải truyền đơn vạch tội ác của chúng, kêu gọi binh lính không được áp bức nhân dân. 

Nhằm tăng cường sự chỉ đạo phong trào Bắc Sơn - Vũ Nhai, tháng 10-1941, Trung ương Đảng đã cử thêm cán bộ lãnh đạo lên khu căn cứ và quyết định thành lập Uỷ ban quân sự chính trị ở đây. Cuối tháng 10-1941, lực lượng Cứu quốc quán có khoảng 60 người, biên chế thành 7 tiểu đội, tiến hành hoạt động trên các mặt trận chính trị, quân sự, binh vận, với phương châm: “Quân sự và chính trị đi đôi. Khu du kích hết sức mở rộng nhưng phải nhằm mục đích vận động chính trị, duy trì cơ sở quần chúng” 1.
 
Thực hiện phương châm đó Cứu quốc quân đã mở rộng khu căn cứ du kích, tạo thế hỗ trợ cho Bắe Sơn - Vũ Nhai. Trước sự tồn tại và phát triển của quân du kích và căn cứ địa, Pháp - Nhật dốc sức hòng tiêu diệt Cứu quốc quân. Chúng khủng bố cả khu căn cứ và các vùng xung quanh, phong toả đường liên lạc giữa căn cứ với Trung ương. Cứu quốc quân phải rút khỏi vòng vây của địch để bảo toàn lực lượng. 42 chiến sĩ rút sang biên giới Việt Trung ngày 7-3-1942. Một bộ phận nhỏ phân tán vào dân, tiếp tục gây cơ sở quần chúng.

Tám tháng chiến đấu của quân du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai (8-1941-4-1942) đã để lại những kinh nghiệm quý báu về tổ chức du kích, chiến tranh du kích và xây dựng căn cử địa:

- Về tổ chúc du kích, từ các đội tự vệ cứu quốc đã xây dựng những tiểu tổ du kích không thoát ly. Từ các chiến sĩ ưu tú của các tiểu tổ du kích đó lựa chọn xây dựng đội du kích chính thức thoát ly, khi đủ điều kiện chuyển lên xây dựng các trung đội I và II Cứu quốc quân. Số lượng tuy chưa nhiều, nhưng chất lượng chính trị và tinh thần chiến đấu cao.


______________________
1. Võ Nguyên Giáp: Khu giải phóng, Sđd, tr. 13.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #102 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 11:58:48 pm »

- Về tiến hành chiến tranh du kích. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta tiến hành chiến tranh du kích như lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã chỉ ‘dẫn trong tác phẩm Cách đánh du kích: “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc... Quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đoàng hoàng, nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc . . .” du kích là đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng” 1. 

- Về xây dựng căn cứ địa, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, vấn đề du kích chiến không tách rời với vấn đề căn cứ địa, mà căn cứ địa của ta là căn cứ địa được xây dựng trong lòng dân, trong phong trào quần chúng. Vì vậy, du kích có lúc phải tạm thời rút khỏi khu căn cứ cũng là thực hiện chiến thuật trong Cách đánh du kích là: “Đội du kích đã lập được căn cứ địa... Nhưng không phải chết sống gì cũng khư khư giữ lấy căn cứ địa... Nếu lực lượng ta yếu, thì ta phải tránh, quân giặc muốn đánh ta cũng không tìm thấy ta, đến lúc chúng không phòng bị, ta hãy đánh úp chúng. . .” 2. 
 
Suốt tám tháng phát động chiến tranh du kích và tác chiến trong những điều kiện rất khó khăn gian khổ, Cứu quốc quân vẫn giữ gìn, bồi dưỡng được lực lượng của mình, đồng thời tiêu hao được lực lượng địch. Điều đó chứng tỏ rằng, dưới ách thống trị của đế quốc Pháp, phát xít Nhật, nhân dân ta do Đảng lãnh đạo vẫn lập được căn cứ địa ở vùng nông thôn rừng núi và đánh du kích lâu dài để tiêu hao và tiêu diệt quân địch có ưu thế về số lượng và trang bị. Kết quả là căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai hình thành và được củng cố, để về sau hợp với căn cứ Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang trở thành khu Giải phóng rộng lớn của cách mạng.

3. Căn cứ địa Cao Bằng và sự ra đời của đội vũ trang Cao Bằng.

Trong khi sự tồn tại và phát triển của đội du kích Bắc Sơn đã là tiền đề thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai thì ở Cao Bằng, tiền đề thuận lợi lại là sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nên tư tưởng căn cứ địa của Người được vận dụng ngay vào việc xây dựng khu căn cứ và xây dựng lực lượng vũ trang.

Cao Bằng là nơi địa lợi, nhân hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận định: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tương đối tốt từ trước, lại sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi.

Ở đây, chi bộ Đảng đầu tiên do đồng chí Hoàng Đình Giong vận động tổ chức đã ra đời ngay sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương mới thành lập. Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939), nhiều cuộc đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, bắt lính, đòi quyền dân sinh dân chủ cũng diễn ra. Trong đợt khủng bố của địch năm 1940, nhân dân Cao Bằng đã trải qua đấu tranh chống khủng bố, tinh thần cách mạng, tinh thần chiến đấu bước đầu được thử thách.

Nhằm chuẩn bị cán bộ xây dựng khu căn cứ Cao Bằng, cuối năm 1940, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về Tĩnh Tây (Trung Quốc), nơi biên giới sát với Cao Bằng. Nhân có khoảng 40 thanh niên các dân tộc ở Cao Bằng, gồm cả đảng viên, cán bộ, quần chúng, chống địch khủng bố lánh sang Tĩnh Tây, Người quyết định: “Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố và mở rộng phong trào Cao Bằng và tổ chức đường liên lạc về nước” 3.

Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 12-1940, lớp huấn luyện được tổ chức. Huấn luyện viên là các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Chương trình huấn luyện gồm các phần: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Đề cương các bài giảng đều được đồng chí Nguyễn Ái Quốc thông qua. Cùng với chủ trương, đương lối cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Người bao gồm cả du kích chiến tranh, căn cứ địa, công tác vận động quần chúng đều được học viên tiếp thu. Các học viên, trong đó có cá đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Bằng Giang..., khi trở về Cao Bằng đã có tư tưởng và phương pháp mới đi vào xây dựng phong trào quần chúng, đẩy mạnh vận động chính trị kết hợp với hoạt động vũ trang.


______________________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 469, 493.
3. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr. 34.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #103 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2009, 11:59:57 pm »

Gây dựng cơ sở quần chúng. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, phong trào cách mạng ở Cao Bằng phục hồi nhanh chóng và phát triển đúng hướng. Mặt trận Việt Minh đã được tổ chức thí điểm. Các đoàn thể Cứu quốc của thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng, công nhân, nông dân. . . đã ra đời. Đó là những tổ chức cơ sở của Mặt trận Việt Minh. Các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao... đều tham gia tổ chức, có nơi cả làng bản, xã, tổng, châu, huyện, nhân dân đều vào Việt Minh. 

Những nơi toàn dân tham gia Việt Minh như vậy gọi là những “xã hoàn toàn”, “châu, huyện hoàn toàn”... Tới năm 1942, đã có ba châu là Hoà An, Nguyên Bình và Hà Quảng (trong tổng số chín châu của Cao Bằng) trở thành “châu hoàn toàn”.

Những nơi chính quyền hai mặt, trên danh nghĩa là của địch, nhưng thực chất là chịu sự chỉ đạo của ta đã ra đời.  Trong lính dõng, có nhiều người giác ngộ, tự nguyện canh gác bảo vệ cho các hoạt động của Việt Minh. 

Xây dựng chính quyền cách mạng. Một trong ba nguyên tắc xây dựng căn cứ địa mà lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đề ra trong tác phẩm Cách đánh du kích là: Sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc phải thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương. Ở Cao Bằng, những nơi Việt Minh phát triển “hoàn toàn” thì Uỷ ban Việt Minh thực sự là người nắm chính quyền địa phương.

Điều kiện thực tế đã cho phép tổ chức Uỷ ban Việt Minh các cấp xã, châu, huyện và tỉnh, theo thể thức tổ chức chính quyền. Tháng 2 - 1942, Đại hội đại biểu Việt Minh tỉnh Cao Bằng được triệu tập, bầu ra Uỷ ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Hệ thống tổ chức Việt Minh đã thông suốt từ xã lên tổng, châu, huyện, tỉnh mà cách thức là theo dân cử. Nhân dân bầu ra Uỷ ban Việt Minh xã, xã bầu lên tổng, châu, huyện...  Tuy chưa thực hiện được theo phổ thông đầu phiếu, nhưng cũng là theo phương pháp dân cử nhằm xây dựng được một chính quyền của dân, do dân, vì dân để tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc sắp tới.

Đội vũ trang Cao Bằng ra đời

Ở Cao Bằng, lực lượng vũ trang ra đời trong quá trình vận động chính trị, xây dựng tổ chức quần chúng cơ sở. Để gây hạt nhân quân sự đầu tiên cho hoạt động vũ trang Cao Bằng, cuối năm 1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị tổ chức Đội vũ trang Cao Bằng gồm 12 người, trong đó có các đồng chí Hoàng Sâm, Bằng Giang, Lê Thiết Hùng, Đức Thanh, Thế An... Đội do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy.  Nhiệm vụ của đội là bảo vệ cơ quan của Đảng; củng cố, giữ vững đường giao thông; làm công tác tuyên truyền và giúp việc huấn luyện các đội tự vệ ở các địa phương.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tham gia giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự cho đội. Mặt trận Việt Minh phát triển, tạo thuận lợi cho sự phát triển lực lượng vũ trang. Đầu năm 1942, Đảng bộ Cao Bằng tổ chức khoá học quân sự đầu tiên cho tự vệ tỉnh tại rừng Khui Nậm (Pắc Bó) có khoảng 40 học viên tham dự. Sau khi học xong, các học viên được phân công về các địa phương huấn luyện cho các đội tự vệ địa phương. Vì vậy, đến cuối năm đó, lực lượng tự vệ Cao Bằng phát triển nhanh, mỗi xã “hoàn toàn” có từ 1 đến 2 trung đội tự vệ chiến đấu.

Về vũ khí, lúc đầu, còn rất khó khăn, cả đội vũ trang Cao Bằng chỉ có một khẩu Pạchoọc và một khẩu súng lục. Một phong trào “Sắm vũ khí, đuổi quân thù chung” sôi nổi diễn ra ở Cao Bằng. Mỗi tự vệ đều tự sắm lấy một thứ vũ khí thô sơ, như giáo, mác, súng kíp hoặc súng hoả mai. Nhiều nơi nhân dân tự nguyện bán lợn gà hay bán thóc lúa lấy tiền mua súng từ bên kia biên giới. Liên tỉnh uỷ quyết định lập một cơ sở rèn nhỏ, thí nghiệm đúc đạn, địa lôi. Nguyên liệu do nhân dân quyên góp. Lò rèn được đặt ở trong một thung lũng rất sâu, có một người chỉ huy và 5, 6 công nhân.

Căn cứ địa Cao Bằng được xây dựng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã đưa lại kết quả là: Căn cứ đia được củng cố. Các đội tự vệ phát triển làm cơ sở cho việc ra đời các đội tự vệ chiến đấu, du kích thoát ly, tiến lên xây dựng đội quân chính quy sau này.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #104 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 12:00:36 am »

4. Các phong trào tự vệ, du kích ở các địa phương trong toàn quốc, chuẩn bị cho sự ra đời các căn cứ địa và các An toàn khu.

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng lần thứ VII, các đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ được duy trì và phát triển, gây được ảnh hưởng trong cả nước. Ở nhiều địa phương từ Nam ra Bắc, phong trào xây dựng các đội tự vệ phát triển mạnh, tạo điều kiện cho sự ra đời nhiều căn cứ địa và An toàn khu. Rừng U Minh trải dài từ Rạch Giá đến Cà Mau được chọn “làm căn cứ địa” quân du kích Nam Kỳ.

Ngay sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, ba huyện là An Biên, Phước Long (Rạch Giá) và Cà Mau (Bạc Liêu) được xây dựng như trung tâm căn cứ U Minh. Tạị đây, một xưởng sản xuất vũ khí, chế tạo súng trường, mìn, lựu đạn đã được xây dựng. Nhiều cuộc tập đánh du kích của thanh niên đã được tổ chức.

Từ nam Trung Bộ trở ra đến Quảng Bình, Quảng Trị, nhiều nơi phong trào cách mạng lên cao đã tổ chức được các đội tự vệ. ở Quảng Nam đã có một số đội du kích ra đời tuy vũ khí còn thô sơ.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, những nơi phong trào Việt Minh phát triển, sự ra đời của các đội tự vệ, đội du kích và sự manh nha của các căn cứ địa như là một hệ quả tất yếu ở Trung Kỳ, tổ chức tự vệ và du kích phát triển, mạnh nhất ở Thanh Hoá, dẫn tới sự ra đời của chiến khu Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành.

Ở đây, từ những năm 1940- 1941, các tổ chức phản đế phát triển đã tạo cơ sở cho sự ra đời của các đội tự vệ ở các huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Hà Trung, Thọ Xuân, Thiệu Hoá nhiều làng đã có đội tự vệ. Làng Xá Lê và Kim Phúc huyện Yên Định, mỗi làng có một đội tự vệ đông tới 40 đội viên. Riêng làng Long Linh (Thọ Xuân) có 77 đội viên tự vệ. Việt Minh phát hành “Tín phiếu” để gây quỹ và xây dựng lực lượng vũ trang. Ở Long Linh (Thọ Xuân), Cẩm Bào (Vĩnh Lộc), tự vệ luyện tập cả ban ngày, có canh gác ở hai đầu làng để bảo vệ. Nhiều tổng có những cuộc tập dượt thị uy vào ban đêm. Phong trào lên cao nhất ở Thạch Thành. 

Đầu tháng 9- 1941, đội du kích tập trung đã lập nên Chiến khu Ngọc Trạo. Chiến khu do lực lượng vũ trang ở hai huyện Thạch Thành và Vĩnh Lộc tổ chức, vừa chống địch khủng bố sau các đợt đấu tranh chống thuế, vừa xây dựng căn cứ địa lâu dài. chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa theo chủ trương của Mặt trận Việt Minh.

Từ các đội tự vệ, các đội viên ưu tú được tuyển chọn thành lập đội du kích Ngọc Trạo. Có tất cả 40 chiến sĩ, biên chế thành tiểu đội súng, đội thanh niên quyết tử đội trinh sát, ban y tế, tổ cấp dưỡng. Một lò rèn vũ khí thô sơ được dựng lên trong chiến khu. Các trạm canh gác của tự vệ được dựng lên ở các ngả đường vào chiến khu. 

Chiến khu có mối liên hệ mật thiết với nhân dân xung quanh, vừa nhận được sự tiếp tế, bảo vệ của quần chúng, vừa hỗ trợ cho quần chúng xây dựng lực lượng tự vệ địa phương để phát triển thêm quân số của đội du kích. Trong một thời gian ngắn, quân du kích từ 40 người đã tăng lên tới 84 người. 

Hoảng sợ trước sự phát triển của chiến khu Ngọc Trạo, ngày 9-10-1941, quân địch tập trung lực lượng, kéo thẳng lên Ngọc Trạo quyết tâm phá chiến khu. Một cuộc “Phòng ngự trong căn cứ địa” đã diễn ra. Quân du kích xông lên đánh tan cuộc tiến công của địch, bảo vệ được chiến khu. Tuy vậy theo phương châm “Phòng ngự trong tiến công” của cách đánh du kích, lãnh đạo chiến khu đã quyết định rút quân, phân tán về các địa phương để tiếp tục duy trì phong trào, đón thời cơ mới.

Ở phía bắc, do tiếp giáp với căn cứ của Trung ương ở Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng, nên phong trào cách mạng của quần chúng lên khá mạnh. ở tất cả các tỉnh, phong trào Việt Minh phát triển, các đội tự vệ được thành lập. Nhiều nơi được quân du kích từ các chiến khu Việt Bắc về giúp đỡ.  Nhiều cán bộ địa phương được cử lên chiến khu dự các khoá huấn luyện. Do đó, tư tưởng căn cứ địa và du kích chiến trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh sớm được tiếp thu để phát triển phong trào. Các nơi đều lấy việc phát triển Mặt trận Việt Minh và tuyên truyền giáo dục chính trị làm hàng đầu Trên cơ sở đó mới xây dựng các đội tự vệ và du kích. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #105 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 12:08:32 am »

Tại Thái Nguyên, nhân dân các huyện Đại Từ, Vũ Nhai đã hưởng ứng phong trào ủng hộ thóc, lúa, súng kíp, giáo mác, đồng thời lập các lò rèn vũ khí để “ủng hộ Bắc Sơn, xây dựng tự vệ, đón thời cơ giành chinh quyền”. ở Phổ Yên, Phú Bình, Đại Từ, số cán bộ được cử lên dự lớp huấn luyện ở bản ít đã về gây dựng phong trào, tổ chức luyện tập tự vệ khá sôi nổi. 

Tại Bắc Giang, vùng Hiệp Hoà tiếp giáp với Đông Anh cùng các huyện thuộc An toàn khu của Xứ uỷ Bắc Kỳ và Trung ương thuộc ngoại thành Hà Nội, nơi hoạt động của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt . . . đã có phong trào vũ trang khá mạnh.

Ngay từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ VII, Xứ uỷ Bắc Kỳ đã chuyển bộ phận chỉ đạo quân sự từ Liễu Khê (Bắc Ninh) lên Hiệp Hoà. Trung ương mở hai lớp quân sự ở bãi Soi Thanh Vân và ở Cầu Hang (xã Quyết Tiến, huyện Hiệp Hoà) huấn luyện cho cán bộ quân sự tỉnh cùng các vùng lân cận. Một số tự vệ được cử lên dự huấn luyện ở căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai.

Các huyện thuộc An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ tiếp giáp với Hà Nội phát triển các đội tự vệ luyện tập và hoạt động bí mật, vừa nhằm bảo vệ an toàn cho các hoạt động của lãnh đạo, vừa gây dựng cơ sở chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa.

Tại Hải Dương, từ những năm 1940-1941 đã xuất hiện các đội tự vệ ở Tạ Xá, Tống Xá (Nam Sách), Hàm Ếch, Trại Chua (Chí Linh), Bàng Lai, Cổ Phục (Kim Thành)... Cả tỉnh có hơn 100 tự vệ. Hàm Ếch, nơi có rừng núi hiểm trở được chọn làm trung tâm của căn cứ quân sự. Nhiều lớp đào tạo cán bộ quân sự được tổ chức tại đây.

Tại Hà Đông, phong trào xây dựng các đội tự vệ cũng phát triển, tiêu biểu là ở Vạn Phúc (Hà Đông). Tuy ở liền đô thi, nhưng phong trào lập đội tự vệ và huấn luyện quân sự vẫn được đẩy mạnh.

Tại Thái Bình, nơi đồng bằng cư dân đông đúc không có núi rừng hiểm trở, nhưng lại có truyền thống hoạt động vũ trang và xây dựng căn cứ địa trong lòng dân. Do phong trào Việt Minh phát triển mạnh mẽ nên phong trào vũ trang cũng rất sôi nổi. . . Nhiều đội tự vệ đã xuất hiện ở các huyện Kiến Xương, Tiền Hải, Thuỵ Anh,Vũ Tiên. Có làng như Trình Phố, Thư Điền (Kiến Xương) đã có tới một đại đội tự vệ. Ở các làng Đông Cao (Tiền Hải), Quang Huy (Thuỵ Anh), Kênh Sơn (Kiến Xương), Thuận An, Hồi Khê (Vũ Tiên) mỗi nơi có một trung đội tự vệ.

Tỉnh uỷ Thái Bình đã hai lần cử cán bộ lên dự lớp huấn luyện quân sự do Trung ương mở ở Bắc Giang.  Sau mùa gặt, dưới danh nghĩa trừ trộm cướp, bảo vệ trật tự, trị an, các đội tự vệ đã tổ chức luyện tập quân sự vào ban đêm, có sự canh gác, bảo vệ chu đáo. Tỉnh uỷ còn cho lập ra “Xung phong đội”, cho huấn luyện đặc biệt để đi lên chiến khu hay chiến đấu ở các địa phương khác.

Có nơi còn lập “Võ trang dân chúng đội”, một hình thức tổ chức bán vũ trang, để từ đó chọn người vào các đội du kích hay tự vệ chiến đấu.  Các tỉnh khác thuộc Bắc Kỳ, phong trào tự vệ cũng phát triển để sau đó có thể lập căn cứ địa hay chiến khu như ở Vần - Hiền Lương (Phú Thọ), ở Kim Sơn (Kiến An), Quỳnh Lưu (Ninh Bình), Đông Triều (Hải Dương) mà sau này là trung tâm của Đệ tứ chiến khu.

Nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hai năm 1940, 1941 là hai năm khởi đầu oanh liệt của khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh du kích và xây dựng căn cứ địa, Trung ương Đảng đã từng bước hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của quần chúng, đưa cách mạng tiến dần tới cao trào.

Truyền thống vũ trang của Đảng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã phát huy và nâng cao lên trình độ mới về du kích chiến và căn cứ địa - hai nhân tố cơ bản cho việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong toàn quốc. Nhờ có lý luận mới soi đường nên cách mạng không ngừng phát triển, đưa nhân dân ta đến một thời cơ có thể biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh giải phóng dân tộc.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #106 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 12:09:25 am »

IV. TÍCH CỰC CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG


Nửa cuối năm 1941 sang đầu năm 1942, cục diện chiến tranh thế giới biến chuyển mau lẹ. Ngày 22-6-1941, phát xít Đức phản bội Hiệp ước Xô - Đức ký ngày 23-9-1939, tấn công xâm lược Liên Xô. Cuộc chiến tranh thế giới đã chuyển biến từ chiến tranh đế quốc sang chiến tranh giữa phát xít xâm lược và các lực lượng dân chủ chống phát xít xâm lược.

Mặt trận phát xít xâm lược gồm Đức, Ý, Nhật và bọn tay sai ở các thuộc địa và nửa thuộc địa của chúng. Mặt trận dân chủ chống phát xít xâm lược gồm Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, các lực lượng chống phát xít, chống chiến tranh của công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. 

Ở phương Đông, quyền lợi của Nhật và Anh - Mỹ đã xung đột đến cực điểm. Nhật dùng vũ lực chiếm đoạt thuộc địa của Anh, Mỹ, Hà Lan ở Thái Bình Dương và Viễn Đông nhằm tăng cường tiềm lực chiến tranh và xoa dịu mâu thuẫn nội bộ nước Nhật. Đồng thời cũng là nhằm cứu trợ, ủng hộ phát xít Đức - Ý đang bị thua đau ở Nga và Bắc Âu.

Ngày 7-2-1941, phát xít Nhật tiến công căn cứ Mỹ ở Trân Châu Cảng, mở màn cho cuộc chiến tranh Thái Bình Dương.  Riêng ở Đông Dương, mặc dầu bọn Đờ Cu đã tận tuỵ phục vụ phát xít Nhật, nhưng Nhật vẫn ngày càng lấn Pháp.  Ngày 29-7-1941, Chính phủ Pêtanh buộc phải ký với Nhật tại Pa-ri Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, đồng ý cho Nhật đưa thuỷ quân, không quân vào nam Đông Dương, sử dụng căn cứ không quân Xiêm Riệt, Nông Pênh, Lông Ông Trạch, Đà Nẵng, Nha Trang, Biên Hoà, Sài Gòn, Sóc Trăng và hai căn cứ thuỷ quân Cam Ranh, Sài Gòn.

Ngày 30-7-1941, Nhật đổ bộ 50.000 quân vào Ô Cấp. Vì Nhật lấy Đông Dương làm chỗ đứng để: “bắc đánh Hoa, đông đánh Philíppin, nam đánh Mã Lai, Indônêxia, Úc, tây đánh Miến Điện, Ấn Độ...” nên ngày 13-12-1941, bọn quân phiệt Nhật ở Đông Dương đã dùng vũ lực bắt bọn Đờ Cu phải ký thêm một hiệp ước nữa để Nhật được toàn quyền hành động ở Đông Dương.

Ngoài việc Pháp phải cho Nhật toàn quyền hành động về mặt quân sự, kinh tế, Pháp còn phải thừa nhận quyền tối huệ quốc của Nhật ở Đông Dương và Nhật được tự do khai thác nguyên vật liệu.

Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã sáng suốt phân tích tình hình thế giới và nhận định rằng, trục phát xít nhất định ngày càng suy yếu, đi tới thất bại. Pháp, Nhật ở Đông Dương ngày càng mâu thuẫn sâu sắc, thời cơ cho nhân dân Đông Dương tiến lên khởi nghĩa vũ trang giành quyền độc lập ngày càng tới gần, nên đã lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tích cực cho ‘ cuộc toàn dân nổi dậy.

1. Thông cáo khẩn cấp “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng”.

Thông cáo khẩn cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương nhan đề “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng” ngày 21-12-1941 có tầm quan trọng đặc biệt đối với đấu tranh vũ trang trong thời kỳ đó Trên cơ sở nhận thức rõ tình hình, Đảng đã thay đổi vị trí của hai kẻ thù Nhật, Pháp trong đối tượng chính của cách mạng.

Từ khi Nhật vào Đông Dương, Pháp quỳ gối làm tay sai cho Nhật. Nhật vẫn để cho Pháp hành động trong việc bóc lột, đàn áp nhân dân Đông Dương nên Đảng ta vẫn đặt đối tượng đấu tranh là Pháp - Nhật. Sau đó, Nhật đã lấn Pháp, ngày càng đóng vai trò chính trong việc thống trị nhân dân Đông Dương.

Vì vậy, thông báo khẩn cấp của Đảng chỉ rõ: Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương nay là Nhật - Pháp. Phân tích rõ sự chuyển biến của chiến tranh thế giới với hai mặt trận: phát xít và dân chủ chống phát xít Đảng khẳng định vị trí của cuộc đấu tranh vũ trang của ta là nằm trong Mặt trận dân chủ chống phát xít quốc tế. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #107 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 12:14:28 am »

Thông cáo sáng suốt nhận rõ Anh, Mỹ, Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) trong mặt trận dân chủ chống phát xít, là đồng minh với ta, nhưng họ không thừa nhận quyền độc lập của ta, nên ta phải tích cực chuẩn bị cho các cuộc khởi nghĩa địa phương, mặc dầu lúc này cuộc Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc còn chưa chín muồi.

Thông cáo nêu rõ: “Nếu họ (Anh, Mỹ, Tưởng) chịu giúp cách mạng Đông Dương, thì ta có thể nhận cho họ hưởng một phần quyền lợi ở Đông Dương. Nhưng nếu họ giúp cho bọn Đờ Gôn, Catưru khôi phục lại quyền của đế quốc Pháp ở Đông Dương, chúng ta phải cương quyết cự tuyệt và tiếp tục chiến đấu giành quyền độc lập.

Bổn phận của chúng ta là phải lợi dụng khi quân Tàu hay quân Anh - Mỹ vào Đông Dương ở địa phương nào mà nổi dậy khởi nghĩa ở địa phương ấy, thành lập chính phủ cách mạng rồi nhân danh chính phủ cách mạng của nhân dân mà giao thiệp với họ” 1.

Trong phần “trách nhiệm cần kíp của Đảng trước thời cuộc”, thông cáo đã dành một phần quan trọng đề cập vấn đề xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, từ các đội tự vệ mang tên “Đội bảo an”, “Hội tự cứu’; các tiểu tổ du kích không thoát ly tiến lên xây dựng các đội du kích chính thức thoát ly, coi trọng việc tổ chức giao thông, liên lạc, đồng thời vận dụng linh hoạt sáng tạo Cách đánh du kích như lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã chỉ dẫn.

Thông cáo nhấn mạnh: “lúc này Đảng phải theo đúng thuật du kích, phải duy trì các bộ đội du kích, phải duy trì và kiện toàn các lực lượng cách mạng mỗi khi cơ hội và tình thế thuận tiện hơn có thể phát động phong trào khởi nghĩa rộng lớn hơn” 2.

Nhờ có chủ trương đúng đắn của Đảng, nên từ cuối năm 1941 đến đầu năm 1943, phong trào đấu tranh chống Nhật - Pháp của quần chúng nhân dân phát triển từ Nam chí Bắc, ở cả thành thị và nông thôn.

Công nhân bến tàu Sài Gòn đình công chống Nhật đánh đập (11-1941). Công nhân mỏ Hòn Gai đình công đòi phát lương (2-1942). Thợ máy trường bay Gia Lâm kéo lên bàn giấy của võ quan Nhật phản đối lính Nhật đánh đập (7-1942). Nông dân Tiền Hải (Thái Bình) đấu tranh đòi chia công điền (6-1942). Chị em các chợ Hà Nội bãi thị phản đối tăng thuế (1-1943), v.v.. Phong trào đấu tranh của quần chúng gắn liền với sự ra đời của các đội tự vệ.  Tất cả đã tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang phát triển. 

Phong trào đấu tranh trong nước phát triển trong khi tình hình quốc tế cũng có những biến chuyển thuận lợi. Sau chiến thắng Xtalingrát, Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công chiến lược trên khắp các mặt trận. Thắng lợi đó cổ vũ nhân dân ta và cũng là một đòn đánh nặng nề vào phe phát xít nói không và phát xít Nhật - Pháp ở Đông Dương nói riêng.Trong bối cảnh lịch sử đó, Đảng đề ra chủ trương mới để lãnh đạo cách mạng tiếp tục tiến lên.

2. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (25.28-2-1943) với việc “Thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát xít Nhật ở Đông Dương” và “Tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang”.

Hội nghị nhận định rằng, lúc này chúng ta đang ở vào “tình thế khẩn cấp” (chiến tranh và cách mạng), không còn là “tình thế thái bình” nữa. Tình hình trong nước và quốc tế biến chuyển mau lẹ, phải kịp thời có chủ trương mới.

Do đó, Ban Thường vụ Trung ương đã quyết định: “Thành lập Mặt trận Dân chủ chống Nhật ở Đông Dương, lấy Mặt trận Việt Minh làm nòng cốt. Mặt trận có nhiệm vụ thu hút hết thảy các lực lượng chống phát xít Nhật ở Đông Dương, kể cả Pháp kiều, Ấn kiều, Hoa kiều chống Nhật (lúc đó Hoa kiều ở Đông Dương đông tới trên 50 vạn người).

Đây là một sách lược “Lập mặt trận kép”, tựa như sau này lấy Mặt trận Việt Minh làm nòng cốt cho Mặt trận Liên Việt, thời kỳ 1946-1954. Sách lược này nhằm tạo thế vững chắc cho cuộc khởi nghĩa vũ trang đang được chuẩn bị và tính hợp pháp của một chính quyền giành được từ tay Nhật, đã cùng đứng trong hàng ngũ của Đồng minh dân chủ quốc tế chống phát xít. Đó là tiền đề thuận lợi tạo nên mối liên hệ giữa Việt Minh với cơ quan đại diện Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc) cũng như sự giúp đỡ lẫn nhau trong một mức độ nhất định trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 


_____________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 243 - 244, 252.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #108 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 12:19:52 am »

Hội nghị nhấn mạnh tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (5-1941) : “Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng ta và dân ta trong giai đoạn hiện tại”. Với tính năng động eao, Hội nghị vừa rút những kinh nghiệm thành công và vấp váp đã qua, vừa vạch ra phương hướng chuẩn bị cụ thể. Ghi nhận hiệu quả và những kinh nghiệm quý báu của tám tháng chiến đấu của du kích Bắc Sơn - Vũ Nhai, Hội nghị nêu rõ rằng: “Cuộc chiến đấu anh dũng này chứng tỏ rằng:

1. Nhân dân Đông Dương có thể đánh du kích chống nhau với Nhật - Pháp mặc dầu chúng có máy bay, trái phá.

2. Mặt trận dân tộc chống phát xít Nhật Pháp đã thực hiện ngay trên trường tranh đấu võ trang. 

3. Cầm khí giới chống nhau với phát xít, đội quân du kích Bắc Sơn - Đình Cả đã thực tế ủng hộ Liên Xô kháng chiến”.

Cuộc chiến đấu đã “để lại cho ta một bài học quý báu. Nó dạy ta, muốn thắng:

a) Phải làm chiến tranh du kích sinh sôi nảy nở thành cuộc khởi nghĩa của nhân dân toàn xứ.

b) Phải luôn luôn tiến công quân địch và giữ địa vị chủ động.

c) Phải phối hợp với dân chúng quấy rối sau lưng quân địch, không để cho chúng bao vây về kinh tế cũng như về quân sự” 1.

Đồng thời, Hội nghị cũng chỉ ra một số sai lầm, khuyết điểm từ ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương để chỉ đạo cuộc khởi nghĩa tới. Đặc biệt, phải khắc phục những sai lầm, thiếu sót như: không làm cho quần chúng đông đảo hưởng ứng quân khởi nghĩa; không làm cho bộ phận quần chúng tiên tiến nhất quần chúng thợ - tham gia khởi nghĩa; không có một đội quân cách mạng cơ bản.

Từ đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đề ra những nhiệm vụ cụ thể:

Về tuyên truyền, phải làm cho nhân dân tin tưởng chắc chắn vào cách mạng. Phải phổ biến trong dân chúng những tài liệu nghiên cứu chiến thuật du kích và kinh nghiệm khởi nghĩa.

Về tổ chức - phải tổ chức và củng cố các đội tự vệ và tiểu đội du kích, đồng thời phải “huấn luyện quân sự cho những tổ chức ấy ‘.

Về vận động quần chúng, phải quan tâm vận động công nhân. Bởi vì, không làm cho thợ thuyền tích cực tham gia khởi nghĩa thì cuộc khởi nghĩa khó nổ ra ở những nơi huyết mạch của quân thù (thành phố, vùng mỏ, đồn điền, đường vận tải cốt yếu v v ) và do đó, quân thù không bị tê liệt. Hội nghị nhấn mạnh: phải chú ý vận động dân cày ở những nơi địa hình có lợi cho cách đánh du kích và có truyền thống cách mạng. 

Về binh vận - phải chú trọng công tác binh vận, vì nó “mang vũ khí và nhân viên quân sự cho quần chúng khởi nghĩa”. Phải quan tâm phát triển các đội “Quân nhân cứu quốc”. 

Về xây dựng Đảng - Hội nghị coi trọng phát triển Đảng với nhận định rất sáng suốt là “vì chính sách lập mặt trận của Đảng càng rộng rãi thì vai trò lãnh đạo của Đảng càng phải vừng chắc” 2.

Nghị quyết Hội nghị đề ra nhiều biện pháp củng cố và phát triển Đảng, coi trọng phát triển Đảng trong công nhân, củng cố các chi bộ, tăng cường tự phê  bình, đề cao kỷ luật. Điều này có tác động tích cực tới việc xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang.  Nghị quyết còn đề cập đến việc vận động thanh niên, phụ nữ; vận động đồng bào dân tộc thiểu số, vận động Hoa kiều v.v..  Nói chung là phải làm sao vận động được toàn dân tham gia khởi nghĩa.


_____________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 288.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 307.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #109 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2009, 05:43:00 pm »

3. Phát triển giao thông, liên lạc, tạo thế liên hoàn chiến đấu giữa Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai. Đội quân Nam tiến.

Trong đấu tranh cách mạng, giao thông liên lạc để tạo thế liên hoàn chiến đấu là vô cùng quan trọng. Ngay từ khi mới về nước lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã nhắc nhở: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mệnh, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi” 1. 

Với căn cứ địa Cao Bằng, Người chỉ rõ: “Ngoài lối liên lạc thường dùng bằng giao thông bí mật phải cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao Bằng về xuôi. Có thế, khi địch khủng bố mới giữ được liên lạc, những hoạt động vũ trang của các đội du kích mới có thể tiến hành thuận lợi và nhất là mới tranh thủ kịp khi thời cơ biến chuyển tốt, cách mạng có thể tiến lên Tổng khởi nghĩa”.

Thực hiện lời dạy của Người, cán bộ hai khu căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn - Vũ Nhai đã họp bàn việc mở rộng phong trào, quyết tâm mở thông liên lạc giữa hai khu căn cứ và mở đường về xuôi, liên lạc với Trung ương Đảng. Đồng chí Chu Văn Tấn trở lại Bắc Sơn - Vũ Nhai củng cố phong trào, mở đường liên lạc với Cao Bằng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thực hiện nhiệm vụ Nam tiến nhằm “Thống nhất chỉ huy, phân phối lực lượng, đảm bảo thắng lợi” như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị.

Trong lịch sử quân sự của dân tộc ta có nhiều cuộc Nam tiến. Thời cận đại có cuộc Nam tiến của nghĩa quân do Phạm Văn Nghị dẫn đầu, chuẩn bị vào cứu nguy cho Đà Nẵng chống Pháp xâm lược. Thời hiện đại, có cuộc Nam tiến trong khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, lại có các cuộc Nam tiến sau này chống Pháp, rồi chống Mỹ xâm lược.

Mỗi cuộc Nam tiến của quân, dân ta đều có những ý nghĩa đặc biệt. Đội quân Nam tiến lần này không phải tiến vào miền Nam mà là tiến về xuôi, xây dựng phong trào cách mạng, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên theo đường lối quân sự của Đảng. Đó là kết hợp chính trị với quân sự, xây dựng “con đường quần chúng” cho lực lượng vũ trang. 

Dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, cách mạng Việt Nam đã có căn cứ địa vững chắc ở Cao Bằng. Tháng 7 - 1942, với tên gọi Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc nhằm tập hợp thêm lực lượng, tranh thủ viện trợ quốc tế chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới ở Việt Nam. Vừa ra khỏi biên giới, Người bị nhà cầm quyền Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt giữ. Trong thời gian bị giam cầm, Người viết tập thơ Nhật ký trong tù. Bài Học đánh cờ đã thể hiện tư duy nghệ thuật quân sự sâu sắc của Người:

“Tấn công, thoái thủ nên thần tốc,
Chân lẹ, tài cao ắt thắng người.
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết, không ngừng thế tấn công;
Lạc nước, hai xe đành bỏ phí,
Gặp thời, một tốt cũng thành công.
Vốn trước hai bên ngang thế lực,
Mà sau thắng lợi một bên giành;
Tấn công phòng thủ không sơ hở,
Đại tướng anh hùng mới xứng danh
” 2.

Sau hơn một trăm bài thơ viết trong tù, những trang cuối là những ghi chép bằng chữ Hán với nhan đề “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”, đề cập đến tổ chức biên chế, chỉ huy, kỷ luật, sinh hoạt, huấn luyện quân sự, giáo dục tư tưởng v.v  của quân đội chính quy. Những tri thức quân sự đó vô cùng quý báu, về sau được thể hiện trong nhiều văn kiện quân sự của cách mạng Việt Nam.

Trong thời gian đó, ở trong nước, những cơ sở quần chúng và các lớp huấn luyện chính trị, quân sự do các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng. . . tổ chức đều có mục tiêu chuyển dần liên hệ về xuôi bằng “con đường quần chúng”, kết hợp chính trị với vũ trang. Đến năm 1943, nhiệm vụ liên lạc về xuôi trở nên bức thiết.


__________________________
1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 89.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 287.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM