Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:50:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123287 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #130 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2009, 11:57:41 pm »

Một số chiến sĩ khác bị đưa vào an trí ở đây như Trương Quang Giao, Trần Quý Hai, Nguyễn Đôn: Trần Lương v.v.  cũng trước sau đều được phổ biến và nắm được Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII cùng đường lối cứu nước của Việt Minh. Trong thời gian bị an trí, các đồng chí đã hoạt động theo đường lối đó, như mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ thực hiện công tắc xây dựng phong trào quần chúng và tiến hành binh vận có kết quả...

Cho đến đầu năm 1945, nhân dịp tết âm lịch, các chiến sĩ bị an trí ở đây đã bàn kế hoạch thoát khỏi căng an trí Ba Tơ để xây dựng căn cứ cách mạng và đẩy mạnh hoạt động du kích. Ngày thoát khỏi căng đã được ấn định rõ là 15-3-1945.  Nhưng “ trưa ngày 10-3, cơ sở ở sông Vệ lên báo tin: Súng nổ nhiều lắm, Nhật đánh Pháp” 1.

Mặc dầu chưa nhận được chỉ thị “ Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Thường vụ Trung ương Đảng, ngay tối ngày 10-3, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi đã họp ngay ở căng an trí Ba Tơ. Căn cứ vào tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII, Hội nghị của Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Ngãi đã nhất trí “Tiến hành khởi nghĩa ở Ba Tơ” 2.

Diễn biến của khởi nghĩa

Về phía địch: Lúc này quản lý căng Ba Tơ chỉ có tên kiểm lý và một số lính bảo an đóng ở trong đồn. Bọn lính trong đồn ban đêm thường về nhà riêng đến 7, 8 giờ sáng hôm sau mới lên đồn đông đủ. Buổi sáng, giờ điểm danh, khi anh em an trí  phải trình diện chỉ có một hai tên lính gác. 

Về phía ta: Cán bộ bị an trí chỉ được trang bị bằng giáo mác, lực lượng khoảng vài chục người.

Kế hoạch ban đầu là: kỳ tập cướp đồn, khoảng độ 14, 15 chiến sĩ an trí lợi dụng lúc lên trình diện buổi sáng sớm, diệt lính gác cướp súng, chiếm đồn.

Nhưng kế hoạch kỳ tập không thành vì sáng ngày 11-3, do Nhật đảo chính nên lính bảo an không về nhà mà tập trung đầy đủ trong đồn, nai nịt gọn gàng, lưỡi lê cắm đầu súng. Thấy tương quan lực lượng chưa thể tiến công được, nếu kỳ tập sẽ bị đổ máu vô ích, ban lãnh đạo chuyển hướng: “Tiến hành biểu tình võ trang tiến về xuôi, bắt bọn sĩ quan Pháp đang chạy trốn, cưỡng bức chúng ký giấy giao đồn cho ta” .

Kế hoạch được lập tức tiến hành. Nhưng khi đi đến Suối Loa, trưa ngày 11-3, gặp tên quan tư người Pháp đi xe kéo lên Ba Tơ, anh em ‘không bắt giữ hoặc kèm y cùng lên đồn, mà lại tin vào lời hứa hẹn ký giấy giao đồn của y mà để y về đồn. Nhưng nhận ra thiếu sót, ta đã kịp thời vạch ra một kế hoạch khởi nghĩa chiếm đồn do đồng chí Phạm Kiệt làm chỉ huy trưởng và đồng chí Nguyễn Đôn làm chính trị viên thực hiện. 

Ngay 2 giờ chiều ngày hôm đó, nhờ cuộc mít tinh của quần chúng hỗ trợ, nghĩa quân đã kéo đến trước đồn, cử người vào thương lượng. Tên quan tư Pháp đã lật lọng không giao đồn, giao súng như đã hứa. Cùng lúc đó, có tin quân Nhật từ Mộ Đức kéo lên. Nhưng quần chúng khắp nơi đã phá hoại giao thông chặn địch (phá chèo Đá Chát, vần đá lấp đường ở Tràng An). Từng đoàn người Kinh, người Thượng từ nhiều phía kéo đến biểu tình vũ trang. Nghĩa quân bí mật gặp Quyền L. . . , cơ sở binh vận trong đồn. Quyền L. . . đã hứa lấy súng của địch giao cho quân cách mạng.

Khoảng 6 giờ tối Quyền L... đưa ra được bốn khẩu súng trường. Trước đó, trưa ngày 11-3 đồng chí Nguyễn Đôn đã tước được một khẩu của một lính khố xanh ở cầu Nước Năng. Với năm khẩu súng ban đầu vô cùng quý giá đó, đoàn biểu tình xông vào kiểm lý Bùi Danh Nghĩa. Y run sợ xin hàng, gọi lính lệ mang nộp hết vũ khí. Ta thu thêm được năm khẩu súng trường Rômanhtông, bắt giam bọn quan lại, cường hào, rồi trở lại bao vây đồn binh. Tên quan tư Pháp chỉ huy đồn đã chạy trốn. Nghĩa quân hạ đồn không mất một phát súng. Toàn bộ 28 tên lính khố xanh xin hàng, nộp vũ khí. Ta thu thêm được 17 khẩu súng trường.


___________________
1, 2. Phạm Kiệt: Từ núi rừng Ba Tư, Sđd, tr.8, 39 - 40.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #131 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2009, 12:00:10 am »

Khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, không bị một tổn thất nào. 28 nghĩa quân trở thành đội du kích Ba Tư, từ tay không nay đã có 27 khẩu súng các loại, lên đường xây dựng chiến khu. Toàn bộ tài sản tịch thu được của địch chia hết cho dân, không giữ lại cả một ít gạo để ăn. Bữa ăn trước khi lên đường cũng lại do nhân dân ủng hộ. Điều đó khiến nhân dân vô vùng cảm kích, quyết ủng hộ cách mạng tới thành công.

Nhận xét về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ

- Tuy chưa nhận được chỉ thị ngày 12-3 của Trung ương, nhưng đây không phải là một cuộc khởi nghĩa tự phát của quần chúng ngoài sự lãnh đạo của Đảng. Tinh thần của Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII và ý chí quyết chiến, quyết thắng nhằm mục tiêu độc lập dân tộc của các chiến sĩ an trí ở Ba TƯ đã là nguyên nhân dẫn đến thắng lợi. Khi thời cơ đến, các đảng viên và cơ sở cách mạng của quần chúng do Đảng lãnh đạo đã chủ động đứng lên với một tinh thần tự giác.

- Tuy không phải nổ một phát súng, diệt một tên thù nào, nhưng không ai phủ nhận đây là một cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi. Từ vũ khí thô sơ ban đầu là dao, gậy, giáo mác, nhờ mưu trí, linh hoạt, dũng cảm, táo bạo, nghĩa quân đã giành được đồn, giải tán được chính quyền địch, thu được nhiều vũ khí để trang bị, khích động được lòng dân, gây được niềm tin của dân vào cách mạng. 

b) Nho Quan - Ninh Bình vũ trang giết giặc.

Cũng như ở Quảng Ngãi, ở Ninh Bình, sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, đêm 13-7-1941, 34 đại biểu của Đảng bộ Ninh Bình đã nhóm họp để tiếp thu Nghị quyết, phát triển phong trào Việt Minh ở địa phương để liên tục phát triển trong cao trào tiền khởi nghĩa.  Do quán triệt được các nghị quyết Trung ương, việc Nhật đảo chính Pháp đã không làm cho Đảng bộ Ninh Bình bỡ ngỡ mà ngược lại, việc phá kho thóc chia cho dân đã được chỉ đạo và diễn ra trước ngày 9-3.

Đó là điều giải thích vì sao chỉ sau năm ngày kể từ khi Nhật hất cẳng Pháp, ngày 14-3-1945, cuộc đấu tranh vũ trang đã nổ ra tại Ninh Bình.  Trong cuộc đấu tranh vũ trang này, khi nhân dân kéo đến nhà bọn phản động lấy thóc, tên tri phủ Nho Quan đã đem lính về đàn áp, bắn chết hai người. Ban xung phong của đội tự vệ hỗ trợ quần chúng ‘đi phá nho thóc khi đó đã chém chết tên lục sự và tên lính hộ vệ, phá một Ô tô, thu hai súng, hai xe đạp. Tri phủ Nho Quan bị thương, đã trốn thoát. Nhiều tên tay sai phải ra đầu thú trước nhân dân.  Hàng chục kho thóc nữa lần lượt bị phá.

Ngày 2-4, một toán lính Nhật đi sục sạo bắt gặp đồng chí Đàm (Trần Kiện) cùng hai tự vệ. Các đồng chí đã bắn chết một tên, làm bị thương một tên khác. Địch tháo chạy, ta thu hai súng trường. Vào cuối tháng 4, trong khi đi công tác, đồng chí Đàm lại gặp địch. Chúng bắn đuổi. Đến sông đồng thí Đàm đã hy sinh bởi toán lính dưới thuyền bắn. Tự vệ và nhân dân xung quanh báo động xông ra đuổi địch đến thôn Lý, giết hai lính, bắt sống một tên, thu hai súng và một thuyền quân trang quân dụng.

Những trận chiến đấu đầu tiên này đã tôi rèn cho lực lượng vũ trang Ninh Bình. Sau Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, nơi đây đã trở thành trung tâm của một chiến khu mới thành lập - chiến khu Hoà - Ninh - Thanh. 

c) Vũ trang giết giặc sau ngày 9-3 ở nhiều nơi khác.

Ở Bắc Giang, ngoài vùng Yên Thế, Hữu Lũng... đã được Cứu quốc quân giải phóng thì phía Hiệp Hoà, Yên Dũng gần An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ ở ngoại thành Hà Nội, đã nhanh chóng nhận được chỉ thị của Trung ương Đảng.  Ngày 13-3, nhân dân tự vệ các xã Xuân Biếu, Trung Định và các xá khác nổi dậy tịch thu ấn triện của hào lý, phá chính quyền địch, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng. Ngày 23-7, Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện Hiệp Hoà ra đời. Ngày 25-3, đội du kích tập trung thoát ly đầu tiên của tỉnh Bắc Giang được thành lạp ở làng Soi (Phú Bình, Thái Nguyên) gồm 13 chiến sĩ với 12 khẩu súng lấy tên là Giải phóng quân Bắc Giang. 

Ở Hưng Yên, sau ngày đảo chính Pháp, Nhật mới chiếm được thị xã Hơng Yên, chưa kịp về lấy đồn Bần. Tự vệ Bãi Sậy đã kéo tới đánh úp đồn. Viên Tây đồn và 20 lính khố xanh bỏ chạy. Tự vệ chiếm đồn thu được 24 khẩu súng và một hòm đạn. Ngày 19-3, đội danh dự trừ gian Hưng Yên đã kết liễu đời tên lý trưởng Bần Yên Nhân, Nguyễn Đình Phách - tay sai Nhật, bằng năm phát đạn.  Hoạt động của lực lượng vũ trang đã hỗ trợ cho phong trào phá kho thóc diễn ra sôi nổi khắp nơi trong tỉnh. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #132 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2009, 12:06:52 am »

Ở Hoà Bình, từ 11-3 đến 14-3, gần 100 dân Mường tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn đã tự động mang súng đi chiếm kho thóc. Hai lần Nhật đưa hơn 10 xe cam nhông chở quân về đàn áp đều bị đánh lui. Lần thứ ba chúng bao vây ở ngoài và cho tay sai cùng quan lang phản quốc tìm cách ly gián quân dân ta. Sau ba ngày cầm cự, đến 14-3 nghĩa quân bị tan rã và bị địch đàn áp.

Tuy thất bại, cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc Mường châu Lương Sơn đã mở màn cho một cao trào tiền khởi nghĩa và đã được tiếp nối kể từ sau Cách mạng Tháng Tám cũng như suốt những năm kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược.

Ở miền Nam, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, phong trào đấu tranh chống Nhật và tay sai cũng diễn ra ở nhiều nơi mà điển hình là cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Đồng Nai:

“Sau ngày đảo chính Pháp, Nhật đưa hàng ngàn quân về chiếm đóng ở Suối Tre, An Lộc và thị trấn Xuân Lộc.  Chúng bắt công nhân đi đào hầm, làm công sự, xây dựng đồn bốt, vận chuyển vũ khí, lương thực. . . Thừa lúc bộ máy thống trị của phát xít Nhật vừa được thiết lập, chưa kiểm soát được hay kiểm soát còn sơ sài, các cán bộ cách mạng đã truyền đạt cho công nhân chương trình cứu nước của Việt Minh, vận động công nhân lập ra các đội tự vệ... ở Long Thành... mỗi sở tổ chức được một ban công nhân và một ban chuẩn bị giành chính quyền, với lực lượng vũ trang có 12 cây súng mua và lấy được của Nhật. . . Riêng ở đồn điền ông Quế đội tự vệ đã được thành lập gồm 25 người, có hai cây súng săn cướp được của Pháp... ở Bình Ba, Xà Bang, đội tự vệ đã phục kích giết chết hai lính Nhật đi trên đường từ đồn điền Cuốctơnay về, thu hai súng, phá kho gạo, trại gia súc phân phát cho công nhân.

Tháng 5-1945, tổ chức Thanh niên tiền phong do Đảng bộ bí mật lãnh đạo đã lan đến các đồn điền. Thanh niên tiền phong hăng hái luyện tập quân sự, canh gác các kho lúa gạo, bảo vệ tài sản cho nhân dân... Có lần ở Cuốctơnay công nhân tự vệ và Thanh niên tiền phong đã đánh chết tên lính Nhật hùng hổ xông vào bắt bò của dân”  1.

Những cuốn lịch sử các địa phương, dồn điền, nhà máy, hầm mỏ, viết về thời kỳ Cách mạng Tháng Tám đã nêu lên những sự kiện cụ thể trong cuộc đấu tranh của nhân dân và các lực lượng vũ trang trong cao trào kháng Nhật cứu nước. Điều đó chẳng những chứng tỏ tinh thần chủ động, tự giác của nhân dân trong các cơ sở cách mạng mà còn biểu hiện ở tác dụng to lớn của sự chỉ đạo của Đảng trong những ngày tiền khởi nghĩa thông qua các văn bản cụ thể ở từng thời điểm lịch sử như Chương trình, Điều lệ của Việt Minh và các văn kiện, chỉ thị cụ thể sau ngày 9-3-1945 - các văn kiện, chỉ thị nóng bỏng, kịp thời của Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.


IV. HỘI NGHỊ QUÂN SỰ CÁCH MẠNG BẮC KỲ - THÀNH LẬP UỶ BAN GIẢI PHÓNG,
VIỆT NAM GIẢI PHÓNG QUÂN VÀ KHU GIẢI PHÓNG


1. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ

Hơn một tháng sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3), ngày 15-4, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị  quân sự cách mạng Bắc Kỳ. Hội nghị họp từ ngày 15 đến ngày 20-4-1945 ở Hiệp Hoà (Bắc Giang), do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng chủ trì. Trọng tâm của Hội nghị là nhằm giải quyết cự thể những vấn đề quân sự đã được Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng, tháng 3-1945 nêu ra. 

Đây là Hội nghị quân sự lần đầu tiên của Đảng. Điều đó thể hiện cuộc đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng giờ đây đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đã đến lúc phải tập trung cao độ vào việc đề ra và giải quyết một loạt vấn đề về quân sự để sẵn sàng chiến đấu khi Tổng khởi nghĩa nổ ra.  Hội nghị quân sự Bắc Kỳ được triệu tập trong những ngày đầu của thời kỳ tiền khởi nghĩa - mà ở đó, qua thực tiễn chiến đấu sôi động từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp, nhiều ưu điểm của phong trào đã được thể hiện rõ, nhiều khuyết nhược điểm của phong trào cũng đã bộc lộ ra.


____________________________________
1. Theo Những chặng đường đấu tranh cách mạng của công nhân cao su Đồng Nai, Công ty Cao su Đồng Nai xuất bản, 1985, tí. 58, 61.
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Sáu, 2009, 12:11:24 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #133 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2009, 12:10:26 am »

Tuy nhiên, ý nghĩa của Hội nghị này không phải chỉ là ở chỗ rút kinh nghiệm chiến đấu cụ thể những ngày đã qua mà nó còn có tầm cỡ lịch sử to lớn hơn nhiều. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ thực chất là một cột mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của cao trào về mặt quân sự. Hội nghị đó chứng tỏ rằng, đã đến lúc cách mạng Việt Nam cần kiện toàn bộ máy chỉ huy quân sự cả về mặt tổ chức, phiên chế, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, thống nhất của Đảng.  Riêng về xây dựng căn cứ địa, Hội nghị cho rằng lúc này cần được triển khai mạnh mẽ hơn trong cả nước.

Sở dĩ Hội nghị đặt ra vấn đề đó là bởi hai lẽ. Trước hết, do thực tiễn phong trào đang đẻ ra nhiều chiến khu, nhiều căn cứ địa từ Bắc chí Nam. Thứ hai, yêu cầu quan trọng không kém là đề phòng khi quân Đồng minh đổ bộ vào thì chúng ta phải có chính quyền cách mạng đã giành được ở nhiều nơi, chứ không chỉ ở Việt Bắc. Đó là một trong những điều kiện để “mặc cả” với Đồng minh, trong đó có những kẻ lăm le lại một lần nữa muốn thủ tiêu nền độc lập của chúng ta (đó là Anh và Pháp). Hơn thế nữa, lúc này, căn cứ vào diễn biến của tình hình quốc tế, ta cũng đang cần gấp rút, chủ động hơn nữa để đón thời cơ.

Với danh nghĩa “Hội nghị quân sự”, lại do Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập nên Hội nghị chỉ bao gồm các đại biểu quân sự của Đảng. Đó là đại biểu của chiến khu Việt Bắc gồm đại biểu của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, mà đại diện là đồng chí Võ Nguyên Giáp; đại biểu Cứu quốc quân - Chu Văn Tấn; đại biểu lực lượng vũ trang khu Hòa- Ninh- Thanh - đồng chí Văn Tiến Dũng; đại biểu du kích, tự vệ ở các địa phương khác và các cán bộ chủ chốt xây dựng kinh tế, hậu cần cho quân đội, như Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, v.v..

Sau khi nhận định sự phát triển của đấu tranh vũ trang từ sau ngày 9-3, Hội nghị chỉ ra ưu điểm của phong trào là:

- Đã biết chuyển hướng kịp thời, tập trung lực lượng, chĩa mũi nhọn vào phát xít Nhật;

- Phong trào có tính chất võ trang mạnh mẽ;

Bên cạnh những ưu điểm, phong trào đấu tranh trong giai đoạn này còn một số khuyết điểm mà tựu trung, đó là sự phát triển quá chênh lệch (nơi quá cao, nơi quá thấp) của phong trào.
Do đó, nhiệm vụ quân sự của phong trào là:

- “Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này.

- Phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, để chuẩn bị cuộc Tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ.

Về xây dựng căn cứ địa, Hội nghị đã quyết định thành lập bảy chiến khu: 1. Lê Lợi, 2. Hoàng Hoa Thám, 3. Quang Trung, 4. Trần Hưng Đạo (Bắc Kỳ), 5. Phan Đình Phùng, 6. Trưng Trắc (Trung Kỳ) và 7. Nguyễn Tri Phương (Nam Kỳ). . 

Mấy nguyên tắc về xây dựng và phát triển căn cứ địa trong tơ tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã được Hội nghị quán triệt là:

- Đánh thông liên lạc giữa các chiên khu - Các chiến khu ehỉ là những bộ phận của một nước Việt Nam độc lập ra đời trong tiền khởi nghĩa nên nó phải thống nhất với nhau bằng giao thông liên lạc (như đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thời kỳ thành lập chiến khu Cao-Bắc -Lạng).

- Coi trọng việc gây dựng các hạt nhân nhỏ trong hạt nhân lớn (phân khu trong chiến khu). “Chiến khu nào rộng có thể chia ra nhiều phân khu... Trong mỗi căn cứ địa rộng lại cần phải củng cố những căn cứ địa bé hơn, vững chắc hơn, để phòng lúc địch tiến công, ta có thể tạm thời rút hẹp phạm vi lại Đường giao thông, liên lạc giữa các căn cứ địa phải ra sức giữ cho vững” . Bởi vì: “ Những căn cứ địa ấy là những bàn đạp cho cuộc Tổng khởi nghĩa và là cái mầm của nước Việt Nam độc lập tự do ngày mai” 1.


_______________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 392.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #134 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2009, 12:14:31 am »

- Phương châm tác chiến, Nghị quyết quán triệt phương châm tác chiến căn cứ địa theo tư tưởng Hồ Chí Minh (tác chiến trong căn cứ địa và ngoài căn cứ địa). Theo đó, “ Nếu địch bao vây căn cứ địa thì phải dùng chiến thuật “ dĩ công vi thử’ mà đối phó. Đến lúc không có điều kiện giữ một căn cứ  địa, ta không ngần ngại gì mà không dời quân đi nơi khác để giữ gìn thực lực.

- Nếu địch xông vào đóng trong căn cứ địa thì phải thi hành “ vườn không nhà trống” cho triệt dể.  ở ngoài căn cứ địa, nếu Nhật dùng chính sách dồn làng, đốt nhà, v.v. thì ta nên lãnh đạo nhân dân, tuỳ trường hợp mà tổ chức cuộc tranh đấu...” 1. Các hình thức chính quyền phôi thai cần được xây dựng trong các căn cứ địa (chiến khu). 

Ở giai đoạn phát triển cao của căn cứ địa, tức khi đấu tranh quân sự và tổ chức chính trị đã đủ mạnh để xây dựng chính quyền căn cứ địa thì:

“Trong căn cứ địa, tổ chức ra Uỷ ban nhân dân cách mạng do dân dùng phổ thông đầu phiếu bầu mà lên hay do đại biểu hội nghị các giới... bầu lên.

“ Ngoài căn cứ địa ta chưa đánh đổ được chính quyền của địch thì tổ chức ra Uỷ ban dân tộc giải phóng” 2. Hội nghị cũng đã đề cập đến việc “ …Triệu tập một cuộc đại biểu Đại hội gồm các giới, các đảng phái, các thân sĩ toàn quốc để thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam và tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam ... Thi hành chính sách của Việt Minh...” 3.
 
Xây dựng căn cứ địa theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh kể trên gắn bó chặt chẽ với đường lối quân sự trong cao trào tiền khởi nghĩa là xây dựng quân đội và phát triển chiến tranh du kích:

Về “Xây dựng quân đội”: Thành lập “Việt Nam giải phóng quân” chung cho cả nước, có “ Bản đồ biên chế’ và nguyên tắc chỉ huy thống nhất. Thành lập Uỷ ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ có các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh...  Nhiệm vụ là “chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương về mặt chính trị và quân sự, đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ cho toàn quốc về mặt quân sự” 4.

Về nhiệm vụ chiến đấu, Nghị quyết chỉ rõ: “ Chúng ta đang ở vào giai đoạn chiến lược “ phát động du kích” để chuẩn bị phát động Tổng khởi nghĩa. Vì vậy chiến thuật ta là chiến thuật đánh úp quân địch bằng những trận nhỏ mà nắm chắc phần thắng để giừ gìn và bồi dơỡng lực lượng của ta” 5.
 
Hội nghị luôn gắn đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và không quên sách lược ngoại giao thêm bạn bớt thù.  Hội nghị đã tăng thêm sức mạnh lý luận, chính trị, tổ chức cho lực lượng quân sự tiến lên hoàn thành các nhiệm vụ mới.  Nhìn chung lại, với những nội dung đã được bàn định và quyết nghị, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đánh dấu bước phát triển mới về tơ tưởng quân sự của Đảng ta. Nó cụ thể hoá chỉ thị “ Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” về nhiệm vụ và công tác quân sụ cũng như chỉ ra những biện pháp cụ thể để thực hiện chỉ thị đó nhằm đẩy mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước.

2. Sự ra đời của Uỷ ban giải phóng, Việt Nam giải phóng quân và Khu giải phóng

a) Uỷ ban giải phóng


Những ngày tiền khởi nghĩa là những ngày tiến công dồn dập trên các mặt trận: quân sự, chính trị, tổ chức, ngoại giao, v.v. . Trong đó, những “tổ chức cách mạng” mới xuất hiện và phát triển thực sự đã là những dấu hiệu rõ rệt biểu hiện sự tiến công đó.

Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ khai mạc ngày 15-4 thì ngày 16-4, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: Tổ chức các Uỷ ban giải phóng. Đó là “hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất ở các xí nghiệp, các làng v.v. là hình thức tiền chính phủ, trong đó nhân dân học tập để tiến lên giữ chính quyền cách mạng” 6.


____________________________________________
1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 394, 395, 396.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 399, 394.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 535.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #135 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2009, 12:16:50 am »

Về nhiệm vụ quân sự, Uỷ ban giải phóng có nhiệm vụ: “Đốc suất tự vệ và bảo an” để “gìn giữ sinh mệnh và tài sản của dân”.

Trong thực tế, “Các Uỷ ban giải phóng” ra đời là kết quả của đấu tranh vũ trang, vì nó ra đời ở những khu đã được lực lượng vũ trang giải phóng hay khống chế được kẻ địch. Đồng thời, đến lượt mình, các Uỷ ban giải phóng lại hỗ trợ về cả nhân lực, vật lực cho lực lượng vũ trang phát triển.

b) Việt Nam giải phóng quân

Trong lịch sử quân sự cách mạng Việt Nam, đây là một cột mốc quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta, từ phân tán đến tập trung. Ngày 15-5-1945, đúng một tháng sau ngày khai mạc Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, lễ thành lập Bộ tư lệnh giải phóng quân được cử hành rất trọng thể tại trường Định Biên Thượng thuộc huyện Định Hoá, Thái Nguyên (cách Chợ Chu khoảng 10 km về phía tây nam).

Các đơn vị Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân thống nhất thành chủ lực của Việt Nam giải phóng quân. Lực lượng lên tới 13 đại đội, biên chế theo hình thức “tam tam chế’. Mỗi tiểu đội 12 người, trung đội gồm ba tiểu đội đại đội gồm ba trung đội. Vũ khí có hàng ngàn khẩu súng có cả súng máy, súng cối 60mm và hàng chục tấn đạn dược thu được từ tay kẻ thù. Đã có xưởng sửa chữa vũ khí và chế tạo vũ khí thô sơ, ở một số tỉnh, huyện cũng tổ chức nhiều trung đội, đại đội giải phóng quân của địa phương. 

Ngày 4-6-1945, tại Hội nghị cán bộ do Tổng bộ Việt Minh triệu tập, đồng chí Hồ Chí Minh đã công nhận sự ra đời của Việt Nam giải phóng quân và việc thành lập Khu giải phóng.  Đầu tháng 7-1945, thực hiện Nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, trường Quân chính kháng Nhật ra đời.  Trường do đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách, nhằm đào tạo các trung đội trưởng và chính trị viên trung đội cho Việt Nam giải phóng quân. Mỗi khoá có khoảng 100 học viên. Ngày 5-8-1945, tờ báo Quân giải phóng ra đời góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục lực lượng vũ trang. Từ đây tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã được một lực lượng vũ trang thống nhất của cả dân tộc phát huy dẫn đến nhiều thắng lợi mới.

c) Khu giải phóng

Uỷ ban giải phóng, Quân giải phóng, Khu giải phóng là ba thực thể có quan hệ hữu cơ và biện chứng với nhau. Khu giải phóng ra đời từ thắng lợi quân sự, thủ tiêu được chính quyền địch, xây dựng chính quyền cách mạng (uỷ ban giải phóng). 

Khu giải phóng được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho Quân giải phóng phát triển, tiến lên. Sự ra đời của Khu giải phóng là một tất yếu lịch sử của quá trình phát triển của cách mạng. 

Đầu tháng 5-1945, các đồng chí Song Hào, Tạ Xuân Thu (mới vượt ngục Chợ Chu ra) đã về Tuyên Quang cùng các đồng chí Lê Dục Tông, Lê Trung Đình chuẩn bị căn cứ Tân Trào làm nơi chỉ đạo cách mạng cả nước. Việc chuẩn bị này được đồng chí Võ Nguyên Giáp nhất trí tán thành. Sau khi đồng chí Hồ Chí Minh đã về Tân Trào, các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt từ dưới xuôi lên đã cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Song Hào gặp đồng chí Hồ Chí Minh để báo cáo và xin ý kiến.

Đồng chí Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến chỉ đạo:

“Chia các tỉnh ra làm nhiều chiến khu như thế rườm rà quá không lợi cho việc chỉ huy chung. Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế nối liền với nhau, nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng. Thống nhất các lực lượng vũ trang lại là rất đúng, nên đặt tên là Quân giải phóng” 1.

Ngày 4-6-1945, Hội nghị cán bộ Việt Minh được triệu tập Hội nghị ra Quyết định thành lập Khu giải phóng mà điểm ở đầu là:

“Để chuẩn bị cuộc khởi nghĩa sắp đến, tất cả những khu vực quân Giải phóng đã chiếm được thống nhất lại thành một khởi, gọi là Khu giải phóng ‘. Về mặt quân sự: “Khu giải phóng thành: một căn cứ địa kháng Nhật vững chắc” 2. 


__________________________________________
1. Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 210. 
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 542.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:31:07 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #136 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:36:01 pm »

Hội nghị chủ trương phải ra sức chỉnh đốn Việt Nam giải phóng quân và lực lượng tự vệ. Điều đáng chú ý là, trong việc thành lập Khu bơi ải phóng cũng như thành lập Việt Nam giải phóng quân, vai trò chính trị viên trong quân đội được đặc biệt coi trọng; như đồng chí Võ Nguyên Giáp đã phân tích:

 “Trong việc xây dựng bộ đội, công tác chính trị được coi là linh hồn của quân đội cách mạng bước đầu đi vào nền nếp. Từ cấp trung đội trở lên, bên cạnh người chỉ huy quân sự đều có một chính trị viên là người chăm nom về mặt tinh thần, tư tưởng của bộ đội . . .” 1 .

Trong Ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng (do đồng chí Hồ Chí Minh đứng đầu) có Uỷ viên phụ trách quân sự. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Thường trực của Uỷ ban đồng thời chỉ huy quân sự.

Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh được ban hành trong Khu giải phóng. Mọi sinh hoạt: chính trị, quân sự, văn hoá, kinh tế, xã hội... của nhân dân bước đầu đã được cải thiện.

Trong 10 chính sách đó thì chính sách thứ tư: “Võ trang quần chúng, động viên quần chúng nhân dân ủng hộ du kích và tham gia giải phóng quân, kháng Nhật” được nhân dân và các lực lượng vũ trang tích cực thực hiện khiến ba thứ quân trong Khu giải phóng đều được tăng lên nhanh chóng.

Sau khi Khu giải phóng thành lập, ngày 1-7-1945, Uỷ ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ - Bộ Tư lệnh của Việt Nam giải phóng quân miền Bắc Đông Dương, đã ra Lời kêu gọi:

“Hỡi quốc dân đồng bào! Hỡi các chiến sĩ cứu quốc! Hỡi các tướng sĩ “Việt Nam giải phóng quân”!  “Tiếng súng du kích kháng Nhật đang nổ kịch hệt. Phong trào du kích đang lan tràn ra các tỉnh thượng du và trung du Bắc Kỳ. Quân du kích của ta đã làm chủ nhiều nơi... Chính quyền cách mạng địa phương đã thành lập... trong Khu giải phóng, của cải nhân dân được bảo đảm...  Hơn một triệu đồng bào đã bắt đâu hưởng hạnh phúc cách mạng. Một nước Việt Nam đang nảy nở.  Cơ hội có một không hai đã ở trong tay chúng ta rồi.  Thống nhất, hy sinh, kiên quyết chiến đấu, nhất định chúng ta sẽ thắng!” 2.

Hình ảnh “Nước Việt Nam mới” ra đời cùng với sự ra đời của cơ quan chỉ huy quân sự tối cao là Uỷ ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ và trở thành lập Việt Nam Giải phóng quân là ba nhân tố quan trọng đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới của cao trào tiền khởi nghĩa. “Giai đoạn toàn dân chống Nhật, giành chính quyền trong khởi nghĩa từng phần để tiến lên Tổng khởi nghĩa”.


V- KHỞI NGHĨA TỪNG PHẦN, CHUẦN BỊ TIẾN LÊN TỔNG KHỞI NGHĨA

“Khởi nghĩa từng phần” là một hình thái mới nảy sinh từ thực tiễn cách mạng Việt Nam - một sự vận dụng sáng tạo lý luận về “khởi nghĩa vũ trang ‘ của chủ nghĩa Mác-lênin vào hoàn cảnh Việt Nam đưa đến thắng lợi. Lịch sử Việt Nam trong non một thế kỷ chống Pháp xâm lược đã từng chứng kiến sự ra đời của hàng loạt căn cứ địa, từ căn cứ Gò Công Tân An, 18 thôn Vườn Trầu... ở Nam Bộ, đến các căn cứ Ba Đình, Bãi Sậy, Hùng Lĩnh, Hương Khê, Yên Thế. . . để chống thực dân, nhưng vẫn chưa đem lại thắng lợi.

Đến khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ đã bước đầu vận dụng được tư tưởng quân  Sự Hồ Chí Minh về: “Chiến tranh du kích”, “Khởi nghĩa vũ trang” và “Căn cứ địa”. Nhưng chỉ từ Nghị quyết Trung ương lần thứ VIII (1941), tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh mới được vận dụng sâu sắc hơn, đưa đến việc xây dựng căn cừ địa, phát triển du kích chiến, tiến lên khởi nghĩa từng phần, từng bước tiên tới Tổng khởi nghĩa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII ghi rõ:


_______________________________________________
1. Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 215.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tí. 551-553.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #137 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:38:08 pm »

“ Ta phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù, nghĩa là nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” 1. 

Từ 9-3, tư tưởng chỉ đạo “khởi nghĩa từng phần” của Hội nghị Trung VIII đã trở thành hiện thực. Những cuộc nổi dậy từ căn cứ địa Việt Bắc đến căn cứ Quỳnh Lưu (Nho Quan - Ninh Bình), Đông Triều (Hải Dương), Vĩnh Sơn - Núi Lớn (Quảng Ngãi) đều là dạng khởi nghĩa từng phần với sự ra đời của các Khu giải phóng thành công nhất, tiêu biểu nhất. 

Chính vì vậy, kẻ thù là phát xít Nhật và tay sai, sau giai đoạn ổn định, củng cố được vị trí thống trị (từ 9-3 đến trung tuần tháng 5-1945) đã tập trung đánh phá căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, trước mắt là Sơn Dương, Tân Trào (Tuyên Quang), tức là phải mang toàn lực ra để phá hoại thành quả mà khởi nghĩa từng phần đã xác lập được. 

1. Căn cứ địa Việt Bắc chống cuộc tiến công của Nhật, bảo vệ và củng cố Khu giải phóng góp phần đẩy mạnh cao trào “Khởi nghĩa từng phần” trong cả nước.

 Trung tuần tháng 5-1945, Nhật huy động tới 2.000 quân chia làm ba cánh, tiến sâu vào khu căn cứ ở giữa sông Lô và quốc lộ 3. Mũi chính nhằm đánh phá khu An toàn Sơn Dương, Tân Trào, Tuyên Quang; mũi thứ hai từ Bắc Cạn tiến lên Chợ Rã, Chợ Đồn theo hai hướng. Một từ Vĩnh Yên, Thiện Kế tiến lên Sơn Dương rồi từ Tuyên Quang tiến vào hướng Thanh La; mũi thứ ba từ Thái Nguyên, Phấn Mễ và Chợ Mới đánh vào Chợ Chu.

Mũi thứ nhất: từ Bắc Cạn tiến lên Chợ Rã, Chợ Đồn, đã bị giải phóng quân bao vây ngay trong tỉnh ly Bắc Cạn. Tại đây mỗi khi ra khỏi tỉnh lỵ là địch bị du kích chặn đánh.  Ngày 25-5, Nhật cho 12 xe và bộ binh tiến ra, bị giải phóng quân phục kích ở Nà Hoan, phải rút về thị xã. Chẳng những thế, du kích quân còn thường xuyên đột nhập vào thị xã quấy rối địch, làm cho mũi tiến công này không triển khai được. 

Mũi thứ hai: cuối tháng 5-1945, khoảng 300 quân Nhật kéo lên Sơn Dương theo đường 13A nhằm phá căn cứ Tân Trào. Nhưng nhân dân đã phá phà Bình Ca để chặn đường.  Lực lượng vũ trang ta chặn đánh Nhật ở đồn điền Lê Giá, buộc chúng phải rút lui. Một cánh quân khác của Nhật tiến lên làng Sảo bị trung đội Giải phóng quân chặn đánh, bắn chết mấy tên, nhưng chúng vẫn cố tiến đến Đèo Chăn. Tại đây trung đội Giải phóng quân (do đồng chí Môn chỉ huy) đã chiến đấu hơn một giờ đồng hồ, giết được hơn 10 tên Nhật.  Cuối cùng, bọn Nhật phải rút về thị xã Tuyên Quang, chấm dứt hoạt động của mũi tiến công này.

Mũi thứ ba: Ngày 15-5, quân Nhật chia làm hai tốp. Một tốp từ Chợ Chu xuống phối hợp với mũi từ Tuyên Quang sang nhằm tấn công vào vùng Núi Hồng, căn cứ Tân Trào. Thế nhưng, mũi từ Tuyên Quang sang đã bị thất bại nặng ở Thanh La. Còn hai mũi từ Đại Từ và Chợ Chu tới cũng bị chặn đánh không tiến lên được. Kết quả, ý đồ tiến công lớn phá căn cứ cách mạng của chúng bị thất bại. 

Ngày 25-5, quân Nhật lại kéo lên định đánh úp Chợ Chu.  Ta rút lui ra ngoài bao vây, phá hoại các đường giao thông eản bước tiến của chúng. Ngày 16, 17-5 ta đánh chúng ở Khuôn Cảm buộc chúng phải rút lui. Ngày 29-5, Nhật lại từ Đại Từ tiến lên đến Hoẵng Nông, cách Đại Từ khoảng 5, 6 km, bị ta chặn đánh diệt chín tên phải rút lui.  Như vậy ba mũi tiên quân của Nhật nhằm phá khu căn cứ đã bi thất bại.

Ngoài cuộc ra quân có quy mô lớn này nhằm đánh phá khu căn cứ Sơn Dương - Tân Trào ở các nơi khác, Nhật cũng cho nhiều toán quân về đánh chiếm lại các huyện, củng cố chính quyền tay sai thân Nhật hoặc đã bị tan rã sau khi Pháp thua, hoặc đang dao động chờ Nhật đến cứu viện. 

Tại Cao Bằng, Nhật đóng quân ở thị xã. Mỗi khi nống ra càn quét vùng nông thôn, chúng đều bị chặn đánh. Cho tới tháng 8-1945, trừ thị xã và một số nơi như Trùng Khánh, Đông Khê, Tĩnh Túc là những nơi Nhật cố thủ, hoặc ở Nước Hai và một vài xã biên giới là nơi có bọn phỉ chiếm, còn hầu hết tỉnh Cao Bằng đã về tay quân dân cách mạng. Tại đây, nhiều lính bảo an, nguỵ quân cùng nguỵ binh người Mã Lai cũng ngả theo cách mạng.


_______________________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 131 - 132.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #138 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:38:57 pm »


Ở Lạng Sơn, sau 20 ngày bao vây đồn Bằng Mạc, đến ngày 11-5, Cứu quốc quân đã hạ được đồn. Bọn lính trong đồn mà phần lớn là quân địa phương đã phải ra hàng, giao nộp vũ khí. Giữa tháng 5, Nhật lên chiếm lại huyện lỵ. Cứu quốc quân bao vây đồn, nhân dân làm vườn không nhà trống.  Nhật ra càn quét bị ta chặn đánh.

Ngày 18-5, ta tổ chức chặn đánh chúng ở Pắc Nùng trên đường hành quân từ Văn Mịch đi Bình Gia. Ngày 19-5, ta chặn đánh tiếp chúng trên đường Bình Gia đi Bắc Sơn. Sau hơn 10 ngày chiếm đóng, chúng phải bỏ Bắc Sơn, Bình Gia, Bằng Mạc chạy về thị xã. ở hai huyện Tràng Định và Thoát Lãng, Nhật cũng bị bao vây chặt ở huyện ly không dám ra ngoài đánh phá các khu căn cứ . 

Nhìn chung toàn tỉnh Lạng Sơn, cho đến tháng 7-1945, ta đã giải phóng thêm Điềm He, Bình Gia, thành lập chính quyền cách mạng. Đến đầu tháng 8 hầu hết nông thôn được giải phóng. Nhật chỉ còn cố thủ và bị bao vây ở mấy đồn quan trọng như Na Sầm, Thất Khê, Đồng Đăng, Lộc Bình . Đồng Mỏ.

Tại Thái Nguyên, ngày 29-5, ở Vũ Nhai, ta phục kích một cánh quân Nhật trên đường hành quân từ thị xã lên Đình Cả diệt 10 tên. Bọn còn lại tới chiếm đồn Đình Cả bị ta tiến công đánh bật và truy kích khỏi La Hiên. Ngày 3-6 quân ta chiếm đồn lính ở đồn điền Chã (Phổ yên) giết tên đồn trưởng phản động, tịch thu 10 súng, hơn 100 trâu bò, 35 cừu của chủ đồn điền, phá kho thóc chia cho dân. Giữa tháng 7, ta đột nhập đốt cháy nơi đóng quân của Nhật ở Chợ Chu, cắt đường tiếp tế, quấy rối Nhật năm đêm liền, buộc chúng phải rút lui về thị xã.

Ở Làng Cẩm (Phú Lương) đến tháng 7-1945, vẫn còn lính Nhật và mấy tên Pháp đốc công giữ đồn. Nhưng trên thực tế công nhân đã làm chủ. Đến đầu tháng 8-1945, ta bao vây đồn, chẹn đường tiếp tế của Nhật. Ngày 16-8 chúng phải bí mật rút về thị xã.

Tại Tuyên Quang, ngày 15-5, Giải phóng quân tước khí giới Bảo an binh ở Yên Bình. Ngày 18-5 đánh chiếm huyện lỵ Yên Bình, phóng thích 30 lính khố xanh, thu 30 súng. Nhật cho quân từ Yên Bái lên chiếm lại huyện lỵ, ta chặn đánh tiêu diệt một số. Số còn lại lên chiếm huyện bị ta bao vây, không dám đi càn quét. Đến 15-7, Nhật rút, để lại tên bang tá và một số lính cơ quản lý. Nhân dân Yên Bình nổi dậy tước khí giới bọn lính cơ và tên bang tá. Cùng lúc này một đơn vị Giải phóng quân tiến về huyện lỵ Hàm Yên nhưng Nhật đã rút chạy từ trước. Chúng chỉ còn đóng lại ở thị xã. 

Tại Bắc Cạn, Nhật đóng ở thị xã. Chính quyền ở các địa phương hầu hết đã thuộc về quân cách mạng. ở một số nơi, bọn phỉ được Nhật và gián điệp Tưởng nuôi dơỡng để chống phá cách mạng đã nhân cơ hội Nhật đảo chính, tước vũ khí của tàn quân Pháp và bọn lính dõng. Đồng thời, chúng đánh chiếm những thị trấn biên giới như Hạ Long . . . tiến vào vùng nội địa như Hà Quảng, Nguyên Bình; đánh phá dữ ở các vùng Bảo Lạc, Trấn Biên, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Thạch An (Cao Bằng), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Bình Gia (Lạng Sơn)... Bọn phỉ này cướp phá, bắn giết, gây mất ổn định trong đời sống nhân dân. Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang ta đã tiến hành các trận tiễu phỉ mà tiêu biểu là các trận sau đây:

Tháng 6-1945, 10 trung đội Giải phóng quân từ Hoà An lên phối hợp với lực lượng quân sự địa phương truy lùng, tiến đánh phỉ mấy ngày ở cả Hà Quảng, Bảo Lạc, tiêu diệt và bắt sống 500 tên ở Háng Tháng, thu 12 súng máy, 81 súng trường, 42 súng ngắn.

Ở Tuyên Quang, châu Hàm Yên vào tháng 5 và 6-1945, Chánh quản Mãn (tên là Thuộc) tập hợp một số thổ phỉ nổi lên cướp phá. Chỉ trong 20 ngày chúng đốt 47 nóc nhà giết 14 người dân. Các lực lượng vũ trang đã phối hợp tiêu diệt chủng.

Ở Chiêm Hoá, bọn buôn thuốc phiện lậu do những lưu manh Co óng Nhì, Co óng Sấm, Pay Tài cầm đầu gồm 60 tên, mạo nhận là quân đội Trung Hoa kháng Nhật đi cướp phá dọc bờ sông Gậm. Lực lượng vũ trang châu Khánh Thiện đã vây bắt bọn đầu sỏ, tước vũ khí bọn tay chân rồi giải tán chúng.

Ở Thái Nguyên, huyện Phổ Yên có tên cai đội khố xanh biến thành lưu manh cầm đầu bọn phỉ trương cờ đỏ thêu hai chữ “Đồng minh” đi cướp phá và chặn đường liên lạc từ An toàn khu của Xứ uỷ lên căn cứ địa Việt Bắc. Thấy rõ đây là tay sai Nhật ta đã kiên quyết tiêu diệt.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #139 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:55:28 pm »


Tại Bắc Giang, ở Yên Thế, bọn phỉ Hứa Phụng Xương,  Ma Lấy mạo nhận là Việt Minh đi cướp bóc và ép nhân dân đi theo chúng. Ơ Hữu Lũng, phía tây bị bọn phỉ Hoàng Văn Sinh khống chế, phía đông là bọn Vòng Tài hoạt động, Giải phóng quân phải chiến đấu tiêu diệt bọn đầu sỏ. 

Như vậy, trong cao trào tiền khởi nghĩa, ngoài đối tượng chủ yếu là phát xít Nhật - Pháp, ta còn phải đối phó với các thế lực thù địch khác. Nếu ở khu căn cứ Việt Bắc, lực lượng chống đối là phỉ, thì ở trung du, nhất là Vĩnh Yên, Phúc Yên, lực lượng đó lại là bọn Việt Nam Quốc dân Đảng.

2. Lực lượng vũ trang Phúc Yên, Vĩnh Yên phối hợp với Giải phóng quân chống Nhật, xây dựng căn cứ dịa, hạ đồn Tam Đảo giải phóng tù chính trị Việt, Pháp.

Lực lượng vũ trang cách mạng ở các tỉnh Vĩnh Yên và Phú Thọ đã tiến hành khởi nghĩa từ các huyện, liên huyện, liên tỉnh, xây dựng được hai khu căn cứ của địa phương. ở đây có hai lực lượng vũ trang chủ lực: một là một đại đội Giải phóng quân từ Tuyên Quang xuống, đẩy mạnh hoạt động ở vùng núi Tam Đảo và núi Sáng (Lập Thạch), hai là Đại đội vũ trang tuyên truyền do Xứ uỷ Bắc Kỳ lập ra cùng hoạt động ở vùng bắc Lập Thạch.

Các lực lượng vũ trang đã tước khí giới của binh lính địch khi chúng đi tuần tra ở Nam Lý (Đa Phúc), Đôn Nhận (Lập Thạch), vây bắt cả toán lính gác ở cầu Thịnh Kỷ (Phúc Yên), chặn đánh thuyền của Nhật chở thóc gạo ở bến Đại Từ trên sông Hồng (huyện Yên Lạc).

Lực lượng vũ trang đã trừng trị những phản động đầu sỏ ngoan cố, cảnh cáo bọn tay chân. Chỉ trong ba huyện: Vĩnh Tường, Tam Dương, Yên Lạc ta đã bắt giam lỏng gần 100 tên cai tổng, lý trưởng; cắt đứt liên hệ của họ với chính quyền thân Nhật cấp tỉnh, huyện.  Đồng thời, ta đã thành lập các Uỷ ban dân tộc giải phóng từ xã đến huyện, hình thành nên hai khu căn cứ là?
    
Khu bắc Vĩnh Yên giáp với Tuyên Quang thành lập vùng Giải phóng mang tên là huyện kháng địch bao gồm cả đất Vĩnh Yên và một phần huyện Sơn Dương thuộc Tuyên Quang.  Khu gần thủ đô gồm huyện Lập Thạch, bắc Kim Anh và bắc Tam Dương. Lực lượng vũ trang ở đây không chỉ chống Nhật mà còn kiềm chê/ hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng đang còn khá mạnh.

Nét nổi trội của phong trào vũ trang Vĩnh Yên, Phúc Yên là công tác binh vận. Binh lính ở Đông Anh, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Bình Xuyên và thị xã Vĩnh Yên được tuyên truyền, giác ngộ đã gửi ra, hoặc bán cho ta vũ khí. Một số binh lính ở Bình Xuyên, Vĩnh Tường trở thành tự vệ của ta. Đặc biệt nhất là một trung đội Bảo an ở Tam Đảo đã phối hợp với Giải phóng quân hạ đồn binh Nhật ở Tam Đảo một cách thắng lợi. 

Lực lượng vũ trang Vĩnh Yên, Phúc Yên phối hợp với Giải phóng quân hạ đồn Tam Đảo.

Trong Cách mạng Tháng Tám, số đồn bốt địch bị ta phá khá nhiều, nhưng cuộc hạ đồn Tam Đảo lại được nhiều nhà sử học nước ngoài, nhất là ở phương Tây chú ý đến.  Đồn Tam Đảo, nơi Nhật đóng chốt và giam giữ tù binh Pháp cũng như Việt Nam, nằm trên một ngọn núi cách Hà Nội khoảng hơn 60km. Nhật coi đây là nơi an toàn lại khống chế được đường đi từ thủ đô lên chiến khu Việt Bắc . . .  Tuy vậy lực lượng Nhật đóng ở đây cũng không nhiều, chỉ vẻn vẹn chín tên trong đó có một tên quan tư và một tên quan hai chỉ huy một trung đội Bảo an binh. Trung đội này đã được Giải phóng quân tuyên truyền giác ngộ, số đông ngả theo cách mạng.

Về phía ta, Giải phóng quân kết hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ có sự chuẩn bị khá kỹ càng.

Ngày 16-7-1945, khoảng 6 giờ sáng, khi trời còn sương mù, ta đã bắt đầu tấn công. Nhật lui vào cố thủ, ta phá trại giam tù nhân Việt Nam. Tù nhân được giải phóng hợp lực với quân Giải phóng đánh Nhật. Bảo an binh đã ngả về phía cách mạng. Nhật rút vào trong đồn, đóng chặt cửa, bắn tỉa và ném lựu đạn ra.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM