Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:24:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự Việt Nam - Tập 9  (Đọc 123296 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #140 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:56:49 pm »


Đợt chiến đấu kéo dài hai tiếng. Đến 8 giờ, ta dùng hoả pháo bắn đổ tường gạch của đồn. Nhật kéo ra hàng. Bảy tên Nhật bị tiêu diệt, chỉ còn tên quan tư và một lính Nhật sống sót. Ta thu được một súng liên thanh, bốn súng lục, năm súng trường, một hòm đạn và nhiều quân trang.  Phía ta, hai giải phóng quân bị thương nhẹ, bốn tù chính trị vừa được phóng thích đã bị trúng đạn địch và hy sinh.  Toàn bộ tù nhân người Pháp được giải phóng. Số thoát ra rừng khá đông. Chỉ còn 20 người, trong đó có giáo sư Bernard đi theo ta. Tất cả được ta giúp đỡ lên Tuyên Quang để sang Trung Quốc 1. 

3. Phú Thọ, Yên Bái với chiến khu Vần - Hiền Lương

Thực hiện chủ trương từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, các lực lượng vũ trang Yên Bái, Phú Thọ đã có những đóng góp đáng kể của mình vào phong trào đấu tranh cách mạng chung của cả nước thời kỳ này.

Yên Bái, Phú Thọ là hai tỉnh liền kề với nhau, lại tiếp giáp căn cứ địa Việt Bắc, nên các huyện giáp Tuyên Quang như Đoan Hùng, Thanh Ba, Phù Ninh, Hạc Trì (Phú Thọ), Lục An châu (Yên Bái)...đều có Giải phóng quân từ căn cứ địa Việt Bắc sang phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương chống Nhật và tay sai, giành chính quyền. Nhưng nổi trội nhất là hoạt động vũ trang ở chiến khu Vần - Hiền Lương, nơi biểu hiện rõ chủ trương khởi nghĩa từng phần của Trung ương Đảng.

Đây là nơi mà thời kỳ chống Pháp cuối thế kỷ thứ XIX đã có nghĩa quân của phong trào văn thân Cần Vương hoạt dộng (như nghĩa quân của Bố Giáp . . .) . Đến những năm 1929-1930, Phú Thọ, Yên Bái lại là địa bàn quan trọng nhất của khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng. Rồi từ Nghĩa Lộ, nơi thực dân Pháp giam các chiến sĩ cách mạng lại nổ ra cuộc “Vượt ngục Nghĩa Lộ” sau 9-3-1945, nhiều chính trị phạm được giải thoát đã tăng cường cho lực lượng vũ trang Yên Bái, Phú Thọ. .

Về địa hình, địa thế và truyền thống vũ trang, Hiền Lương thuộc huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. Đây là nơi có phong trào Việt Minh sớm (từ 194 1 - 1943) do đồng chí Hoàng Quốc Việt, rồi đồng chí Trần Quang Bình xây dựng. Các đồng chí đã dựa được cả vào tổng lý, kỳ hào có uy tín như Tổng Xen, Hai Phức tổ chức ra Hội kỳ hào cứu quốc.

Tại đây, đã có một trung đội lấy tên là “Cứu quốc quân”. trang bị bằng súng trường, súng khai hậu, súng kíp, súng hoả mai. Hoạt động vũ trang phát triển tới Minh Đức, lập thêm đội du kích sau nhập làm một đặt tên là đội du kích Âu Cơ.

Tiếp đó, trung tâm hoạt động của đội chuyển lên Đồng Yến và được nhân dân hết lòng giúp đỡ. Lực lượng vũ trang được luyện tập cách bắn súng, học cách đánh du kích, chuẩn bị pháo nổ và thùng sắt tây để nguỵ trang giả làm súng bắn... 

Sự có mặt của lực lượng vũ trang cách mạng ở Đồng Yến không qua được mắt bọn Nhật. Chúng phái một đội quân do một tên quan hai chỉ huy cùng với lính Nhật, lính dõng đi bằng năm thuyền đến càn quét. Du kích Âu Cơ đã mai phục ở Đèo Giang (bố trí ở gò cao) đợi địch tới. Cuộc chạm súng diễn ra chớp nhoáng. Quân ta đã giết một quan hai, hai lính Nhật, hai lính nguỵ. Nhật đổ bộ truy đuổi nhưng du kích rút lui an toàn. 

Sau trận này, ta thu được một số vũ khí. Ngoài ra, ta cũng đã vận động lý trưởng, phó lý Hạ Bằng La ủng hộ thêm 10 súng trường, 1 súng máy, và một số đạn dược. Lúc này đội du kích Âu Cơ phát triển tới 60, 70 người có cả phụ nữ.

Trung tuần tháng 6-1945, đội du kích chuyển sang Vần, một địa bàn hiểm trở thuộc tổng Lương Ca, phủ Trấn Yên, Yên Bái.  Vần là một thôn cách Đồng Yến 4 km, tiếp giáp với xã Âu Cơ, Hạ Hoà, Phú Thọ. Đây là một vị trí hiểm trở, có ba dãy núi lớn cao từ 200 đến 300m làm hàng rào che chở, rất lợi về quân sự. Nơi đây còn có tới sáu đường giao thông toả đi các nẻo Nghĩa Lộ, Phú Yên, đường số 13, Hạ Hoà (Phú Thọ) và đồn Vàng, thị xã Yên Bái, ra sông Hồng.  Nhân dân ở đây có tinh thần cách mạng, tích cực ủng hộ lực lượng vũ trang. Khi thiếu gạo nuôi quân, nhân dân năm làng là Hiền Lương, Lang Xá, Bình Kiên, Tiểu Phạm, Linh Thông, trong một cuộc mít tinh lớn đã đồng thanh quyết nghị góp đủ gạo nuôi quân.


___________________________________________
1. Tư liệu về cuộc hạ đồn Tam Đảo còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #141 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:57:49 pm »

Tại đây, khi thấy Việt Minh phá kho thóc Vân Hội, bọn Nhật thúc tuần phủ Đỗ Văn Bính trao nhiệm vụ cho tri phủ Trấn Yên là An Văn Tùng đi đánh phá Việt Minh. Ngày 5-6-1945, hơn 60 bảo an binh do An Văn Tùng chỉ huy, có phó quản Khoát hỗ trợ , tiến công vào chiến khu Vần. Cuộc tiến công này của địch còn có 30 lính dõng do hai tên ở tổng Lương Can đến phối hợp.

Để chặn đánh cuộc tiến công của địch bảo vệ vững chắc căn cứ địa, ta bố trí lực lượng phục kích ở Bãi Gia và dốc Quéo, bất ngờ nổ súng tiêu diệt một số tên, thu một số súng đạn. Tên tri phủ Tùng sợ hãi đã quy hàng. Căn cứ địa được giữ vững và ngày càng mở rộng.

Dựa vào đó, lực lượng vũ trang trong căn cứ đã đẩy mạnh hoạt động.  Mờ sáng ngày 6-7-1945, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Đức Sắc - người vừa được điều động về tăng cường cho lực lượng vũ trang căn cứ địa, 102 chiến sĩ thuộc đội du kích Âu Cơ tiến vào Nghĩa Lộ. Nhưng trước đó, do sự phát triển của cách mạng, cả một vùng rộng lớn từ Lương Tam đến Nghĩa Lộ đã được giải phóng, chính quyền bù nhìn ở đây đã bị cắt dứt liên lạc với chỉ huy ở tỉnh lỵ Yên Bái nên rất hoang mang. Vì vậy, khi quân cách mạng tới, họ đã ra cách phủ lỵ lkm để đón quân giải phóng. Ta chiếm đồn, thu được gần 50 khẩu súng.

Đầu tháng 7-1945, một tên quan hai Nhật cầm đầu một toán quân tiến từ Âu Lâu vào Mị. Tới Mị, thấy Việt Minh đã phá kho thóc, chúng không dám tiến thêm mà theo đường rừng rút về Vần. Trên đường rút, chúng đã bị rơi vào trận địa phục kích của ta, ba tên Nhật bị giết.

Sau chiến thắng, nhiều thanh niên địa phương, thậm chí cả bảo an, lính dõng xin gia nhập hàng ngũ quân du kích. rất đông khiến quân số lên tới 500 người. Lớp đào tạo cán bộ tiểu đội cho lực lượng vũ trang cơ sở được tổ chức trong 1 5 ngày, đào tạo được nhiều cán bộ cho địa phương.  Sau khi chấn chỉnh đội ngũ, lực lượng vũ trang Vần - Hiền Lương chia làm hai đội:

- Đội thứ nhất gồm hai toán:

a) Toán do đồng chí Trần Quang Bình chỉ huy tiến xuống Phú Thọ liên lạc với khu Vạn Thắng chuẩn bị tham gia cướp chính quyền ở tỉnh lỵ Phú Thọ, trước hết là tiêu diệt đội Dương phản động giành chính quyền huyện Hạ Hoà.

b) Toán thứ hai tiến xuống Sơn La, diệt đồn Vàng. Ngày 20-7-1945 đã hạ đồn Vàng đoạt 21 súng. Sau đó tiến chiếm châu lỵ Phù Yên (ngày 22-7-1945) thu 8 súng. Tri châu hoảng sợ bỏ chạy. Liền đó ta giải phóng Quang Huy (ngày 23-7-1945).

- Đội quân thứ hai do đồng chí Trần Đức Sắc chỉ huy ra Bản Hẻo, tuyển thêm 100 quân, luyện tập để chuẩn bị phối hợp đánh Nhật trong Tổng khởi nghĩa.

Tới tháng 8-1945, chiến khu Vần - Hiền Lương đã giải phóng được một phần đất đai rộng lớn thuộc ba tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Sơn La, chuẩn bị cùng cả nước bước vào Tổng khởi nghĩa.

4. Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Đông, Sơn Tây (những tỉnh tiếp giáp với An toàn khu cửa Trung ương và Xứ uỷ) võ trang chống Nhật.

Tại Bắc Giang, cuối tháng 5-1945, du kích đã đột nhập kho súng Nhật ở Cầu Lồ lấy được mấy trăm súng. Ngày 3-6, ta giải phóng huyện lỵ Hiệp Hoà rồi tổ chức bao vây đồn binh Tri Cụ ba ngày. Tiếp đó, ta đánh chiếm đồn, bắt tù binh, thu súng.

Hiệp Hoà thuộc An toàn khu dự bị của Thường vụ Trung ương được chọn làm nơi thí điểm xây dựng đội du kích tập trung của huyện. Ngoài ra còn lập đội vũ trang tuyên truyền và các đội trinh sát. Các đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Hà Thị Quế là những đồng chí tham gia chỉ huy quân sự ở đây thời kỳ này.

Trong tháng 6-1945, du kích Bắc Giang phối hợp với Giải phóng quân đánh địch trên đường 13, Rừng Tiêm, Phố Giàng, Đại Giáp, Cầu Sen. Đặc biệt, du kích Yên Thế đã phối hợp với du kích Phú Bình (Thái Nguyên) phục kích một đoàn thuyền của Nhật qua kè Lữ Vân, thu được một số vũ khí, xăng, dầu nhờn...
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #142 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 01:58:21 pm »

Ngày 16-7, ta đánh huyện lỵ Yên Thế lần thứ hai. Sau khi hạ đồn lần thứ nhất, Nhật lại cho một tên tri huyện gian ác về nhậm chức. Tên này khét tiếng đàn áp cách mạng nên du kích đã phục kích giết chết. Tên đội Bảo an binh được ta tuyên truyền, đã tự động nộp súng. Ta thu được 20 súng trường và một số quân trang.

Từ đây, Nhật không dám đặt lại chính quyền bù nhìn ở Yên Thế nữa. Ngày 19-7, ta hạ đồn Bố Hạ. Đồn trưởng xin hàng, ta thu được một số súng, trong đó có cả súng kiểu Nga. Ngày 20-7-1945, tự vệ Song Khê đột nhập đồn Đức La (Yên Dũng) tước được bảy súng trường, phá kho thóc chia kho dân, tiếp đó phối hợp với tự vệ Cảnh Thuỵ đánh huyện lỵ Yên Dũng, hạ đồn rất nhanh, thu được 23 khẩu súng trường.

Cũng trong tháng 7, quân ta chiếm huyện lỵ Việt Yên không phải đổ máu, tiến đánh Lục Nam (huyện lỵ Lục Ngạn), thu được 30 súng trường. Tiếp đó đánh Mẹt lần thứ hai thắng lợi. Tri châu Hữu Lũng tự nguyện xin gia nhập hàng ngũ cách mạng. 

Như vậy đến cuối tháng 7-1945, trừ thị xã Bắc Giang, phủ lỵ Lạng Giang gần thị xã và châu lỵ Sơn Động (giáp Quảng Ninh) ra thì toàn bộ Bắc Giang được giải phóng. Riêng Hiệp Hoà, nơi đã lập được Uỷ ban dân tộc giải phóng (ở Xuân Biểu, Trung Đình) sớm nhất tỉnh, nay lập Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện và trở thành căn cứ vững chắc của An toàn khu dự bị của Thường vụ Trung ương. 

Tại Bắc Ninh, Hưng Yên, lực lượng vũ trang hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của nông dân phá kho thóc, cứu đói, trừ gian, khống chế đi đến thủ tiêu chính quyền địch hoặc vô hiệu hoá chúng, lập chính quyền cách mạng thôn xã. Nhờ vậy đã bảo vệ được An toàn khu chính thức của Trung ương và đến ngày Tổng khởi nghĩa đã cùng các tỉnh ven đô hỗ trợ đắc lực cho Hà Nội.

Hà Đông, Sơn Tây với Vạn Phúc, Phú Diễn nơi họp Hội nghị Xứ uỷ Bắc Kỳ tháng 5-1945... cùng một số căn cứ khác như chiến khu Đốc Ngữ (Sơn Tây), nhờ có phong trào du kích, tự vệ mạnh mới chống được Nhật đánh phá và khống chế được bọn tay sai ác ôn. Các cuộc chiếm huyện lỵ, phá kho thóc, biểu tình thị uy diễn ra ở nhiều nơi đều có vũ trang yểm hộ đã thành công.

5.  Chiến khu Hòa - Ninh - Thanh (chiến khu Quang Trung)

Ba tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá có truyền thống thượng võ từ lâu. Nay ba nơi đều xây dựng căn cứ vũ trang. Thanh Hoá có chiến khu Ngọc Trạo (Thạch Thành) ra đời từ 1941. Hoà Bình có các căn cứ Cao Phong - Thạch Yên và Mường Khói. Ninh Bình thì căn cứ Quỳnh Lưu (Nho Quan) đã nổi lên dành Nhật ngay từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp.

Từ sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, phong trào phát triển mạnh hơn nhờ có cán bộ do Trung ương cử về tăng cường. Lũ Phong - Quỳnh Lưu được chọn làm trung tâm của chiến khu Hoà – Ninh - Thanh. Xứ uỷ lấy đây làm điểm tựa để chỉ đạo phong trào hữu ngạn sông Hồng (gồm cả Nam Định, Hà Nam...). 

Cuối tháng 4-1945, chiến khu đã mở “Trường Sơn kháng Nhật học hiệu” tại thôn Bình Phú xã Phú Long (Nho Quan) do đồng chí Vương Thừa Vũ (vừa vượt ngục Nghĩa Lộ ra) chỉ đạo. Sau nữa tháng đã có 45 cán bộ quân sự của bốn tỉnh: Hoà Bình, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hà Nam ra trường. 

Ngày 20-5-1945, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đầu tiên của chiến khu được thành lập do đồng chí Lương Nhân phụ trách với 41 đội viên, được trang bị 21 khẩu súng trường tước được của địch và nhân dân quyên góp.

Phong trào du kích lên cao đòi hỏi có nhiều cán bộ chỉ huy. Các học viên “Trường Sơn kháng Nhật học hiệu” khoá I đã toả đi mở các lớp mới ở Lỗi Sơn. Quỳnh Lương, Cúc Phương, Kỹ Lão... Một phong trào luyện võ kháng Nhật nổi lên ở khắp nơi. Lực lượng vũ trang đã hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển.  Như ngày 14- 6 hai làng Thanh Khê, Ngô Khê thu thuế xong không chịu nộp cho địch mà đem ủng hộ Việt Minh. Những cuộc biểu tình thị uy có vũ trang đã trấn áp được sự phản kháng của kẻ địch, Nhật lo ngại, đã đưa quân về càn quét. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #143 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 02:03:51 pm »

Ngày 4-6-1945, một số lính Nhật đi ba Ô tô tải, có đủ súng ống kéo về Quỳnh Lưu càn quét. Cả quân chủ lực, quân du kích, và tự vệ của ta đều ra chiến đấu. Cuộc chiến kéo dài gần nửa ngày. Ta bắn giết tên chỉ huy và bốn lính, thu hai súng. Địch không vào được làng, phải lên xe rút lui về tỉnh lỵ. Tin chiến thắng truyền đi, phong trào vũ trang càng phát triển. Nhiều đội tự vệ mới được thành lập. Đặc biệt có Trung đội nữ binh thoát ly do nữ đồng chí Quế chỉ huy và một trung đội Giải phóng quân thứ hai gồm 40 đội viên (do đồng chí Kinh và đồng chí Sơn chỉ huy). Phong trào vũ trang ở các tỉnh trong chiến khu cũng phát triển mạnh, hỗ trợ cho đấu tranh kinh tế, chính trị, chuẩn bị tiến lên Tổng khởi nghĩa.

6. Chiến khu Đông Triều còn gọi là Đệ tứ chiến khu hay chiến khu Trần Hưng Đạo 1 .

Chiến khu này nằm trên một vùng dân cơ đông đúc của vùng “vàng đen” của Tổ quốc. Nhưng đây còn là địa bàn có núi rừng hiểm trở, như núi Yên Tử, rừng Thanh Mai... Các mỏ than nối liền nhau từ Mạo Khê, Tràng Bạch đến Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả, lại đan xen với những đồn điền lớn hàng vạn mẫu cùng với hàng ngàn công nhân, như Hậu Quan, Bắc Nổi, Yên Sinh, Mạo Khê, Bí Chợ, Yên Lập... Dọn đường 18 nối Hà Nội với vùng Đông Bắc có hàng chục đồn bốt, có lúc địch đóng tới hàng ngàn lính, rải rác từ Phả Lại tới Đông Triều, Bãi Cháy đến Cửa ông, Tiên Yên. Binh lính ở đây được giác ngộ cũng là một lực lượng đáng kể của cách mạng.  Ngoài ra, đây là nơi mà phỉ cũng nhiều như ở Cao - Bắc - Lạng. Có điều, chúng lại giả danh là “Đảng Việt Cách” hay “Trung Việt du kích quân”, do những tên đặc vụ Tưởng Giới Thạch làm “trùm”.

Công nhân các khu mỏ và trí thức các thành phố, thị xã Hải Phòng, Hải Dương, Kiến An, Quảng Yên, Hòn Gai, Cẩm Phả. . . sớm có phong trào cách mạng, do các lãnh tụ Đảng về đây “Công nhân hoá” từ những năm 1930 xây dựng. Những cán bộ địa phương được giác ngộ đi hoạt động bị tù đày sau 9-3 vượt ngục, trốn tù ra được khá nhiều, lại trở về đây hoạt động, như Trần Cung, Hải Thanh, Nguyễn Bình 2, Dương Chính, Hoàng Sỹ Yết, Bùi Tổng Thuý, Nguyễn Văn Đài, Sư Lương, Quý (Quý Đen)... Những cán bộ trẻ, xuất thân từ công nhân ở đây như Đặng Tính 3, Trần Quang. Những cán bộ trẻ tuổi yêu nước đã bỏ hàng ngũ địch làm nội ứng cho ta như  Nguyễn Hiền; hay đem cả một trung đội lính khố xanh về với cách mạng như Phạm Thanh Hà.

Những sư sãi giác ngộ đã hoạt động tích cực cho cách mạng như Sư Nguyệt, người đảm bảo hậu cần cả cho hàng trăm quân; Sư Tuệ, người đã mượn việc tụng kinh mềm Phật để tuyên truyền cách mạng, gây dựng cơ sở…

Sau cán bộ là vũ khí. Vũ khí ở đây được tăng cường bằng nhiều biện pháp:

a. Quyên góp, như Chánh Huấn đã gửi súng ra cho nghĩa quân đi chiếm đồn.


___________________________________________
1. Theo Hồi ký Một trang đáng nhớ của Trần Cung (Nxb. Văn học, Hà Nội, l980): Khoảng tháng 4-1945, Tỉnh uỷ lâm thời tỉnh Hải Dương được thành lập (có đồng chí Trần Đức Thịnh Xứ uỷ viên Bắc Kỳ tham dự chứng kiến). Gồm 5 đồng chí là: Nguyễn Kha (Bí thư), Vũ Duy Hiệu, Nguyễn Cộng Hoà, Trần Cung, Hải Thanh. Hội nghị quyết định thành lập chiến khu ở vùng Đông Bắc, bao gồm: Các huyện phía bắc Hải Dương (Chí Linh, Đông Triều) Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, khu mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả, thành phố Hải Phòng, tỉnh Kiến An; lấy Chí Linh, Đông Triều làm trung tâm. Tỉnh uỷ giao cho hai đồng chí Trần Cung và Hải Thanh phụ trách việc thành lập chiến khu. Hội nghị lấy tên là “Đệ tứ chiến khu” vì ra đời sau hai chiến khu ở Việt Bắc và chiến khu III: Hoà - Ninh - Thanh. Nhưng sau lại căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc Kỳ đổi là “chiến khu Trần Hưng Đạo”. Còn nhân dân địa phương thì quen gọi nôm na là “chiến khu Đông Triều”.
2. Nguyễn Bình, quê ở Yên Phú (cùng làng với đồng chí Nguyễn Văn Linh) Mỹ Văn, Hưng Yên, vốn là công nhân tàu biển của Pháp. Năm 1927-1928 được kết nạp vào Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhóm với đồng chí Trần Huy Liệu. Bị địch bắt ra tù Côn Đảo, Nguyễn Bình cùng một số đảng viên tiến bộ của Việt Nam Quốc dân Đảng đã gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, sau Cách mạng Tháng Tám, được điều vào Nam Bộ chiến đấu, được phong hàm trung tướng. 
3. Đặng Tính, quê ở Khúc Thuỷ, Thanh Oai, Hà Đông, là công nhân ở Phả Lại thường ra vào khâu vá thuê cho bọn Nhật ở đồn, đã cùng bang làm quen được với tên đội Nhật là Nôhara. Khi tên này chuyển lên Sơn Tây, Tính và Đang được giao nhiệm vụ đi lấy súng.  Hai người đã tới Sơn Tây. Đang vào thăm Nôhara được y mời cơm, nhân lúc y sơ hở. Đang đã rút trộm được khẩu súng lục của Nôhara rồi trao cho Tính, cùng nhau đưa được về chiến khu. Sau này Đặng Tính trở thành cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Quân chủng Phòng không không quân Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #144 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 02:05:40 pm »

b. Lấy trộm súng của địch, từ súng lục đến đại liên 1.

c. Làm tốt công tác binh vận thu súng, như trung đội lính do Phạm Thanh Hà dẫn đầu đã về với cách mạng gồm 16 người, kèm theo là 16 khẩu súng...

Nhiệm vụ trung tâm của chiến khu trước hết là phải diệt được các đồn địch án ngữ ở đường 18 trong một thế liên hoàn: Chí Linh, Đông Triều, Mạo Khê - Tràng Bạch. Ba khu vực có thể tiếp ứng với nhau một cách nhanh chóng nhờ có đường quốc lộ 18 và đóng cách nhau không xa. Do đó, khó khăn đặt ra là không thể đánh tỉa từng đồn mà phải đồng loạt công đồn, diệt viện ở cả ba nơi.

Một khó khăn lớn ở vùng này là bọn phỉ cũng muốn công đồn, nhất là ở Chí Linh, để cướp gạo, cướp súng. Hoặc là ta phải diệt phỉ trước, hoặc là phải liên kết tạm thời với chúng, không để chúng đánh tập hậu khi ta công đồn. Ngoài ra còn bọn ác ôn địa phương cũng gây nhiều trở ngại. Bọn này có kẻ làm tay sai cho Nhật, có kẻ làm tay sai cho phỉ - Tưởng. Vì vậy nhiệm vụ đầu tiên là phải Diệt ác, phân hoá phỉ.

Các đội diệt ác đã hoàn thành tốt nhiệm vụ như diệt được Hồ Xì ở Kiến An, Lý Thuỳ ở Kinh Môn, rồi sau là Ngô Quế Lâm ở Yên Mô, Đông Triều, giải phóng cho một số cơ dân đang bị phỉ kiềm chế, đồng thời đàm phán với phỉ, giao ước với chúng cùng hạ đồn Chí Linh. . .

Vì thế, kế hoạch vạch ra là quân cách mạng chia làm ba toán công đồn cùng vào một ngày: 8-6-1945.

Hạ đồn Đông Triều

Đồn Đông Triều nằm trên đồi cao bên quốc lộ 18 nối Hà Nội với Quảng Ninh. Đồn lớn có thể đóng được hàng ngàn binh lính. Trước kia có Nhật và lính khố đỏ đóng, nay chỉ còn lính cơ do tri huyện Đỗ Văn Càng cai quản. Tại đây, ta đã bắt rễ được với người chỉ huy lính cơ là Nguyễn Hiền và đã mời Nguyễn Hiền họp với ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.

Nguyễn Hiền vận động được tri huyện đưa toàn bộ lính cơ lên ngủ ở đồn Bảo an từ đêm 6-6. Ngày 7-6, Hiền lại cấp giấy phép cho hai người cai về thăm nhà và phái mấy lính lừng khừng đi tuần thật xa. Rạng sáng 8-6, ngày chính thức khởi nghĩa, Hiền ra lệnh cho toàn thể lính cơ còn lại nộp súng và dồn họ lên tầng thượng lô cốt giam lỏng.

Đúng giờ hẹn, đồng chí Nguyễn Bình dẫn gần 100 nghĩa quân mang cờ đỏ sao vàng tiến tới đồn. Cả đoàn chỉ có một súng trường, còn toàn giáo mác gậy gộc, gươm đao, có băng đỏ đính sao vàng đeo tay.  Đúng 6 giờ sáng, quân cách mạng tiến vào đồn. Cổng đồn đã mở sẵn để đón, không phải nổ một phát súng nào. Các mũi tiến công theo kế hoạch đã vạch, đi chiếm đóng khắp nơi. 

Nguyễn Hiền tuyên bố với binh lính là cách mạng đã đến giải phóng đồn, ai theo Việt Minh đứng sang một bên, ai muốn trở về quê quán được quân cách mạng bảo đảm an toàn. Chỉ có 8 người xin về quê. Còn tất cả 40 binh sĩ mang theo 40 khẩu súng đã về với quân cách mạng. Huyện Cáng và Nghị Tuệ được dẫn ra trước quần chúng để định tội. Nhân dân xin tha cho họ vì so với bọn tay sai đế quốc khác họ chưa gây nhiều tội ác.

Các kho thóc được phá chia cho dân. Chính quyền cách mạng huyện Đông Triều được thành lập.


____________________________________________
1. Lê Phú - một lính thuỷ được giác ngộ làm ở tàu Commăngđăng Buốcđê do Nhật quản, cùng Vinh (một lính được ta giác ngộ) lừa lúc bọn Nhật đi ngủ, tầm 10 giờ 40 tối, đã tháo trộm hai khẩu đại liên trên tàu, đưa được về chùa Bạc Mã một khẩu cùng hai hòm đạn, còn một khẩu không chuyển về kịp...
Ở Kiến An, nhờ có linh khố đỏ làm nội ứng, nghĩa quân đã hai lần lấy được súng: Lần thứ nhất bốn súng trường và hai túi đạn nặng; lần thứ hai, hai súng trường và ba súng lục đưa được về căn cứ Bạc Mã...
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #145 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 02:06:45 pm »

Giải phóng Chí Linh

Đây là nơi mà ta đã thoả thuận cùng bọn chỉ huy phỉ là Lương Đại Bân, Lương Sâm . . trong việc cùng đánh đồn, chiếm huyện lỵ. Hai đồng chí Hải Thanh và Lê Hai đến đại bản doanh phỉ từ tối 7-6 để thoả thuận kế hoạch công đồn. 

Giờ xuất phát công đồn là vào nửa đêm 7-6. Phía phỉ do Lương Đại Bân dẫn đầu, cùng bốn đô trưởng đi ngựa dẫn theo hơn 200 quân. Trong khi đó, ta đã bố trí hai đoàn quân, một ở đò Bình, cầu Thiêm và một ở ngã ba Quán Ninh Chấp để chặn địch tiếp viện từ Phả Lại. Tự vệ Phả Lại cũng có tới ba bốn chục người tới phục kích chặn viện binh địch.

Khi mũi tấn công chính của quân ta tiến vào huyện lỵ, đặt trung liên dưới chân đồi sau huyện thì địch phát hiện thấy. Chúng xả súng bắn như mưa để chống cự. Ta dùng loa địch vận kêu gọi binh lính trong đồn đi theo Việt Minh đánh Nhật và cử một viên thừa phái già mang theo bức thư viết sau bản Cáo thị gửi lên đồn kêu gọi địch đầu hàng.

Trước khí thế của quần chúng và do binh vận tốt, lính đồn đã mở cổng mời chỉ huy của ta lên đồn gặp gỡ. Hai đồng chí Hải Thanh, Lê Hai lên đồn thuyết phục. Tất cả cai đội, binh sĩ đều vui vẻ đi theo cách mạng. Riêng tên tri huyện Nguyễn Ngọc Hà đã trốn từ sớm. Bọn phỉ không mất một phát súng, khâm phục ta đã khôn khéo hạ được đồn, cũng rút về. Đến khoảng 10 giờ sáng, hơn 20 lính bảo an tình nguyện đi theo cách mạng. Ta tuyên bố giải tán chính quyền bù nhìn lập chính quyền cách mạng Chí Linh, phá kho thóc chiếm thêm mấy thuyền thóc của Nhật đang ở bến Vạn phát cho dân, cứu đói.

Giải phóng Tràng Bạch, Mạo Khê

Mũi tiến công này do đồng chí Trần Cung phối hợp với đồng chí Nguyễn Văn Đài, cán bộ lãnh đạo tổ chức ở mỏ Mạo Khê chỉ huy. Hai đồn binh này chỉ cách nhau có 5km nên lính đóng ở Tràng Bạch là chính. Ở Mạo Khê chỉ có 20 lính  canh gác.

Ngày 8-6, vào lúc 4 giờ sáng, nghĩa quân tiến đánh hạ đồn Tràng Bạch. Lực lượng được bố trí thành ba mũi. Một là, tự vệ chiến đấu của thợ ở Hạ Chiều, do Trần Quang chỉ huy mai phục xung quanh đồn; hai là, đội lính ở Cửa ông đi theo cách mạng do Phạm Mạnh Hà chỉ huy, vận nguyên quần áo lỉnh khố xanh như cũ, với 12 súng trường; ba là, tổ súng máy năm người với khẩu đại liên Hốt kít và một phóng lựu đạn, do đồng chí Sinh chỉ huy.

Đúng 5 giờ sáng, đội quân cải trang làm lính khố xanh do Lê Phú đóng giả sĩ quan Nhật chỉ huy xông thẳng vào đồn, bắt được cai Huynh, chỉ huy đồn. Địch trong đồn rối loạn.  Nghĩa quân kêu gọi họ hạ súng, đồng thời chiếm các kho vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, sổ sách, tuyên bố xoá bỏ quyền lực địch. Đồn lính thuộc về quân cách mạng. Nghĩa quân bắn năm phát súng báo hiệu thu quân rồi kéo sang chiếm mỏ Mạo Khê thu thêm được 20 súng trường và nhiều đạn dược. Đến 8 giờ sáng thì việc giải phóng Tràng Bạch, Mạo Khê đã hoàn thành.

Hôm sau, thuỷ thủ tàu Địa măng chở 600 bao gạo đi Hòn Gai ghé qua bến Mạo Khê đã được ta giác ngộ, hiến cả thuyền gạo cho cách mạng. Ba cán bộ được phái xuống tàu tiếp thu chiến lợi phẩm và tiếp thu luôn số công nhân, thuỷ thủ trên con tàu này, thành lập ngay tiểu đội thuỷ quân đầu tiên. Chiếc tàu được lấy tên là Bạch Đằng. Có thể nói rằng, đây là sự kiện lịch sử đánh dấu bước khởi đầu của thuỷ quân cách mạng Việt Nam.

Như vậy nhờ chuẩn bị chu đáo, có chiến lược chiến thuật sát với tình thế và địa hình nên cả ba mũi tiến công đều giành được thắng lợi trong ngày 8-6-1945 vừa đỡ tốn xương máu lại thu được nhiều chiến lợi phẩm, phá được chính quyền địch, thành lập được chính quyền cách mạng.

Hơn một tuần lễ sau khi quân Nhật vào đánh phá chiến khu, ngày 17-6, ta bố trí ba cánh quân chặn đánh Nhật và kêu gọi bọn phỉ cùng hành động chống Nhật. Nhật sử dụng xe cam nhông chở lính từ Phả Lại đánh vào đồn điền Bắc Nồi, nơi chúng tưởng quân du kích đóng trụ ở đó. Thế nhưng, ta kịp thời tổ chức phục kích, tiêu diệt tên quan hai và làm bị thương năm tên khác. Địch phải quay về Phả Lại, bỏ dở cuộc tiến công.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #146 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 02:08:21 pm »


Từ đó, du kích quân tăng cường phòng ngự, phá giao thông, cầu phà để chặn địch tiến công, đồng thời mở rộng địa bàn hoạt động sang các huyện lân cận, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang giành chính quyền như ở Kim Môn, Thanh Hà (Hải Dương), Thuỷ Nguyên (Hải Phòng), Uông Bí, Bí Chợ (Quảng Yên) . . .

Giải phóng Kinh Môn

8 giờ sáng ngày 13-6-1945, hơn 40 chiến sĩ tự vệ với hai khẩu súng trường và lựu đạn, dao găm, mã tấu tiến về giải phóng phủ lỵ Kinh Môn, tri phủ Đỗ Quang Giai không dám làm việc ở công sở. Hằng ngày, hắn vào lô cốt ăn ở với binh lính. Đồng chí Lê Tâm cùng với một số cán bộ lấy tư cách là đại biểu Việt Minh vào đồn gặp tri phủ.

Dưới chân đồn, tự vệ được nhân dân có vũ trang hỗ trợ đã bắt con trai tri phủ làm con tin. Khi Đỗ Quang Giai ra đón đại biểu Việt Minh để thương lượng thì y biết con trai đã bị bắt giữ. Ta yêu cầu y nộp hết vũ khí, tiền thuế đã thu được, phá kho thóc cứu đói, không được thu thóc, thu thuế nữa. Y cho lính trao súng đạn cho quân cách mạng, nộp tiền thuế đã thu được cho nghĩa quân. Nghĩa quân tiêu huỷ hết giấy tờ, sổ sách. Uỷ ban nhân dân cách mạng Kinh Môn được thành lập. Đỗ Quang Giai được tha.

Nhưng đến ngày 21-6, y đã dẫn quân Nhật về Kính Chủ, nơi đóng quân của du kích, bắn chết một tự vệ gác cổng và bắt số du kích còn ở trong động Kính Chủ đưa về Hải Phòng. Bài học về sự mất cảnh giác này đã được rút kinh nghiệm trong chiến khu.

Giải phóng huyện Thuỷ Nguyên, thu nhiều vũ khí

Ngày 25-6-1945, quân khởi nghĩa do Sơ Lương và Sơ Tuệ chỉ huy, đã dùng kế đột nhập huyện lỵ Thuỷ Nguyên.  Đồng chí Lương đội mũ Nhật, lơng đeo kiếm, đàng hoàng đi thẳng vào huyện lỵ. Người đóng giả phiên dịch giới thiệu có quan Nhật về kiểm soát vũ khí. Tri huyện Nguyễn Quang Tạo, người có cảm tình với cách mạng hôm đó lại sang Kiến An họp. Bọn cai, đội sợ cho quân lính (mà số đông là hội viên cứu quốc) nộp hết vũ khí cho quân cách mạng. Uỷ ban nhân dân cách mạng huyện được thành lập do Sư Lương làm Chủ tịch. Một trung đội du kích địa phương ra đời. 

Bắt sống năm lính Nhật  ở ga Lai Khê - Kim Thành.

Chiến công tuy nhỏ, nhưng ngày nay người Nhật rất quan tâm đến sự kiện nhân đạo này của lực lượng vũ trang Việt Minh.Để canh giữ Lai Vu, tháng 8- 1945, Nhật có tới 20 lính đóng ở ga Lai Khê . Du kích đã đưa hai nữ tự vệ cứu quốc (cô Chi) dùng “mỹ nhân kể’ bắt sống tên Khán Trù, viên đội nhất của Nhật. Trong khi đó, năm tự vệ khác phá cửa sau trại, lấy được 1 súng lục, 4 súng trường, 40 lựu đạn, vũ khí và bí mật phục sẵn các ngả bắt được 4 lính. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, năm tù binh này được ta trao trả ở Hải Dương. Họ tỏ lòng biết ơn.

Giải phóng huyện lỵ Thành Hà (Hải Dương)

Ngày 22-8-1945, đồng chí Lê Tâm được chiến khu phân công đưa hơn 40 tự vệ có vũ trang về giải phóng quê hương. Tuy chỉ cách tỉnh lỵ Hải Dương 12 km, nhưng phong trào cách mạng ở đây đã lên cao khiến tri huyện rất lo sợ. Khi cách mạng tới, với danh nghĩa Việt Minh về lấy huyện, tri huyện đã sẵn sàng ra lệnh cho quân lính nộp hết súng đạn (12 súng trường) nhiều đạn dược. Quân cách mạng tịch thu tiền thuế mà tri huyện đã thu được của dân, đốt hết giấy tờ sổ sách.

Ban cán sự Việt Minh huyện từ đây được đổi thành Uỷ ban quân chính. Uy ban đã thành lập một trung đội du hích địa phương, với 12 súng trường và 1 trung liên do một người dân ủng hộ.  Ít ngày sau, Nhật cho hai xe cam nhông chở đầy lính về đàn áp, nhưng trước công đường rỗng tuếch và trước khí thế cách mạng của nhân dân, chúng im lặng rút lui. Ta cướp thêm được bảy thuyền gạo của địch ở đò Gùa đang trên đường đưa ra Hải Phòng.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #147 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 04:19:48 pm »

Chiến công Uông Bí và Bí Chợ

Ngày 26-6-1945, Uỷ ban quân sự cách mạng chiến khu họp tại Ba Xã, phân công cho đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy hạ đồn Uông Bí và chiếm trại Thanh mến Đại Việt ở Bí Chợ.  Đồn Uông Bí có 6 tên Nhật cùng 60 lính bảo an và 13 lính khố đỏ Vũ khí có 1 đại liên, 4 trung liên và hơn 70 súng trường. Một số cai đội và binh lính ở đây đã giác ngộ cách mạng, cùng ta bàn kế hoạch tác chiến.

6 giờ sáng ngày 1-7, lợi dụng khi hai tên Nhật đi thuyền ra sông Bạnh Đằng kiếm cá để một tên ở lại sân đồn, du kích đã hạ sát ngay tên này bằng súng trường, rồi cùng lính bảo an lấy trung liên và đại liên bắn bọn đi đánh cá. Một tên chết, một tên chạy thoát vào bờ. Hai kỹ sư Nhật trong nhà máy điện Uông Bí bị công nhân bắt gọn.  Toàn bộ vũ khí được chuyển ra một Ô tô tải đưa về căn cứ. Như vậy là hai tên Nhật bị giết, hai kỹ sư Nhật bị bắt sống. 

Việc giải quyết trại Thanh niên Đại Việt ở Bí Chợ khó khăn hơn vì trại này là ngôi nhà hai tầng đồ sộ của chủ mỏ, nay có khoảng 200 Thanh niên Đại Việt với nhiều vũ khí do một tên quan hai Nhật huấn luyện. Trong trại, quân du kích đã gây được nhân mối là Bùi Văn Sinh. Kế hoạch được vạch ra là dùng mưu, tạo điều kiện cho tên quan hai Nhật đi Hòn Gai.

Nhân đó, đêm 30-6 rạng 1-7-1945 du kích gồm khoảng 15 người, đột nhập trại khống chế bọn lính gác, chiếm trại rồi tập hợp Thanh niên Đại Việt giải thích chủ trương, chính sách Việt Minh và giải tán họ, thu toàn bộ vũ khí đưa ra tàu Bạch Đằng (tức chiếc tàu thuỷ Địa măng đã lấy được của địch) và một số thuyền, chở về chiến khu. 

Sau các trận thắng ở Kinh Môn, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, Bí Chợ, vũ khí của chiến khu Trần Hưng Đạo tăng lên gấp ba lần, gồm 500 khẩu các loại: đại liên, trung liên, tiểu liên, súng trường... Quân số cũng tăng lên, phiên chế thành: Đại đội Hoàng Văn Thụ do Bùi Tống chỉ huy; các trung đội Ký Con, Đề Thám, Phạm Hồng Thái do các đồng chí Lê Phú, Phạm Minh Hà và Vũ Quang Thiện chỉ huy.

Công đồn, giành chính quyền ở tỉnh ly Quảng Yên ngày 20-7-1945

Sau các trận đánh vào Uông Bí, Bí Chợ, binh lính và quan lại bù nhìn ở Quảng Yên hoang mang, lo sợ. Phong trào Việt Minh ở thị xã đã bắt liên lạc được với chiến khu Đông Triều nên sớm quyết định cướp chính quyền. 

Đêm ngày 20-7-1945, bốn trung đội: Đề Thám, Phạm Hồng Thái, Hoàng Văn Thụ, Ký Con do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy đã xuôi dòng sông Kinh Thầy tiến về thị xã. Biết được bọn Đại Việt đã từ Hải Phòng sang ép tỉnh trưởng phải giao chính quyền cho chúng, ngay đêm 20-7 ta kịp thời nổ súng hạ đồn. Những binh lính yêu nước đã mở cửa đồn ra theo cách mạng. Mặc dầu có tới gần 500 bảo an binh nhưng bọn chỉ huy cũng không dám chống cự, đã đầu hàng nộp vũ khí.

Sau khi hạ đồn, quân cách mạng chia nhau đi chiếm dinh tỉnh trưởng, phá kho bạc, bưu điện, phá nhà tù giải phóng tù nhân, bắt giữ những tên Việt gian phản động khét tiếng, thu được gần 500 súng các loại và 1 kho đạn cùng nhiều đồ dùng quân sự.

Chiến thắng Quảng Yên có tiếng vang lớn, vì đây là “Tỉnh lỵ đầu tiên mà quân cách mạng giành được trong cao trào tiền khởi nghĩa”. Sau chiến thắng này, cùng với hơn 500 du kích quân tập trung, nếu kể cả du kích địa phương Mạo Khê, Phả Lại, Thanh Hà, Kim Môn của chiến khu thì lực lượng quân sự tại đây đã lên tới gần 900 người với 900 súng các loại.

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #148 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 04:20:40 pm »

7. Các chiến khu Vĩnh Sơn, Núi Lớn (Quảng Ngãi).

Sau thắng lợi của khởi nghĩa Ba Tơ (10-3-1945), nhận rõ thời cơ Tổng khởi nghĩa chưa tới, các chiến sĩ du kích Ba Tơ đã quyết định chuyển lên vùng núi thượng du Quảng Ngãi, xây dựng căn cứ địa.

Ngày 14-3-1945, trung đội du kích Ba Tơ được thành lập ở Hang én, gồm ba tiểu đội, được tổ chức gọn nhẹ nhưng đầy đủ các bộ phận: tuyên truyền, trinh sát. . .  có điều lệnh, kỷ luật nghiêm minh. Sau gần hai tháng rèn luyện và vận động cách mạng từ 15-3 đến 5-5-1945, đội du kích Ba Tơ đã củng cố được đội ngũ, huấn luyện quân sự, thử thách trong gian khổ đấu tranh, tập dượt đội ngũ, tập dượt làm công tác vận động trong đồng bào Thượng để xây dựng căn cứ, đem lại nhiều kết quả.

Tới đầu tháng 5, trước tình hình biến chuyển trên thế giới và trong cả nước, ban lãnh đạo du kích Ba Tơ đã thấy không cần trụ lại ở rừng núi nữa mà phải tiến về đồng bằng triển khai mọi hoạt động. Đúng lúc này thì Tỉnh uỷ Quảng Ngãi lâm thời cử đồng khí Nguyễn Chánh, Tỉnh uỷ viên lên truyền đạt nghị quyết: Điều động du kích Ba Tơ về trung châu.
Sau khi điểm lại quân số, Tỉnh uỷ phân công một số chuyển về gây dựng cơ sở ở quê hương, còn lại 20 chiến sĩ trung kiên, chia làm hai bộ phận mang theo vũ khí đạn dược, về xây dựng hai căn cứ mới là căn cứ Vĩnh Sơn và căn cứ Núi Lớn.

Trung tâm của căn cứ Vĩnh Sơn là vùng Vĩnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, phía bắc sông Trà Khúc, do đồng chí Phạm Kiệt chỉ huy; trung tâm của căn cứ Núi Lớn do đồng chí Nguyễn Đôn chỉ huy. Hai căn cứ này do đồng chí Nguyễn Chánh phụ trách chung, đã mở các lớp huấn luyện, phát triển lực lượng vũ trang.

Sau khi hình thành, khu Vĩnh Sơn đã thành lập được một đại đội, lấy tên là đại đội Phan Đình Phùng. Chiến khu Núi Lớn cũng xây dựng một đại đội lấy tên là đại đội Hoàng Hoa Thám. Quân số mỗi khu có tới hàng ngàn người kể cả số bán chính thức.

Trước đó, sau 9-3, Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã ra tờ báo Chơn độc lập Giờ đây, lực lượng vũ trang cách mạng lại ra tờ Xung phong để rèn luyện quân đội và phát triển vũ trang nhân dân.

Tuy Nhật và bọn tay sai thân Nhật đã đứng trước một phong trào quần chúng cách mạng mạnh mẽ, lực lượng vũ trang ở hai căn cứ chưa đụng đầu trực tiếp với chúng nhưng vẫn thực sự là chỗ dựa đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chung, là lực lượng rất quan trọng trong các hoạt động như chiếm đoạt các thuyền gạo của Nhật chở từ Nam ra hay việc rèn và sửa chữa vũ khí vũ trang cho quần chúng nhằm áp đảo chính quyền địch, mở rộng khu căn cứ.

Tới cuối thừng 7, khi Tổng khởi nghĩa tới gần, lực lượng vũ trang Quảng Ngãi đã lên tới hàng nghìn người. Ngoài hai đại đội hình thức đã có tới hơn 2.000 du kích tự vệ, trong đó có hơn 1.000 đã biết sử dụng súng trường giết giặc . . .

8. Các căn cứ vũ trang trong toàn quốc

Tìm hiểu khởi nghĩa từng phần ở Việt Nam thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, nếu chỉ thấy các chiến khu khu căn cứ lớn, mà chưa thấy các căn cứ nhỏ ở hầu khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam thì chưa rõ được thực chất của cao trào. 

a) An toàn khu cua Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ.

Nói tới cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở thủ đô Hà Nội ít đổ máu, người ta không quên từ 1939 đến 1945 máu đã phải đổ nhiều ở các tỉnh ven đô và trong An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ sát nội thành, để chống lại mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng.

Ngay từ 1942-1943, trong khi phát triển khu căn cứ địa Việt Bắc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng luôn bám sát Thủ đô Hà Nội, thị xã Hà Đông, đã xây dựng nên An toàn khu của Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ trên địa bàn ven đô. Có An toàn khu chính thức và An toàn khu dự bị.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #149 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2009, 04:22:00 pm »


An toàn khu chính thức nằm trên vùng đất ngoại thành Hà Nội cùng các huyện Từ Sơn (Bắc Ninh), Đông Anh (Phúc Yên), ven thị xã Hà Đông cùng Đan Phượng, Hoài Đức (Hà Đông). An toàn khu dự bị nằm trên đất ba huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang), Phổ yên, Phú Bình (Thái Nguyên) khi cần thì nối thêm với Kim Anh (Phúc Yên), Phú Bình (Thái Nguyên), Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào (Hưng Yên), Thạch Thất, Ba Vì (Sơn Tây...).

Ban Thường vụ Trung ương, trừ khi đi họp ở chiến khu Việt Bắc, còn luôn đóng ở An toàn khu. Đấy chính là một điều kiện quan trọng để Đảng ta luôn bắt mạch được tình hình chung và đô thị.

Hội nghị Thường vụ Trung ương họp ở Đình Bảng (Từ Sơn) ngày 9-3-1945 là một biểu hiện. Hội nghị vừa họp, vừa nhận được những tin tức nóng hổi về Nhật đảo chính Pháp từ thủ đô báo cáo ra hằng ngày, thậm chí hằng giờ. Để hoạt động được an toàn như vậy không thể không có đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang bảo vệ. 

b) Các tiểu chiến khu Kim Sơn (Kiên Thuỷ) và Câu Trung (An Lão) - Kiên An.

Từ sau 9-3, nhận được chỉ thị của Trung ương, phong trào rèn sắm vũ khí, luyện tập quân sự của tự vệ ở đây đã phát triển. Đầu tháng 7-1945, lực lượng vũ trang ta đã phá kho thóc ở đồn điền Đoàn Xá của Hoàng Trọng Phu, chia 3.000 phương thóc cho nông dân... Ngày 11-7, tự vệ diệt đồn Bàng La, xoá bỏ chính quyền địch, thành lập Uỷ ban giải phóng Kim Sơn gồm 11 đại biểu thuộc các thành phần. Uỷ ban giải phóng đã thu hút được Thanh niên Đại Việt, áp đảo được bọn thủ lĩnh thân Nhật.

Hồi 7 giờ sáng ngày 27-7-1945, gần một tiểu đội lính Nhật (khoảng sáu hoặc bảy tên) với 50 lính người Việt và một số tên Việt gian thân Nhật do tên Cáp ở Đức Phong dẫn đường đi trên hai xe Ô tô về đàn áp cách mạng. Chúng tấn công Kim Sơn bằng ba mũi: bắc, nam và tây bắc.

Thế nhưng, do tinh thần cảnh giác, nhân dân đã rào làng, tổ chức canh gác ngày đêm và anh dũng chiến đấu thống địch nên cuộc chiến đấu đã kết thúc thắng lợi hồi 14 giờ cùng ngày. Bọn địch không chiếm được căn cứ phải rút lui. Tuy thắng lợi, nhưng ta cũng bị thiệt hại khá nặng: 7 tự vệ và 2 người dân hy sinh; 11 người bị thương; 42 gian nhà bị đốt cháy; 1 cụ già 75 tuổi đã bị chúng vứt vào đống lửa; 18 người bị bắt, sau đó, chỉ có 14 người trở về còn 4 người bị mất tích. 

Đồng thời với Kim Sơn, ở huyện An Lão (Kiến An) đã xuất hiện “Tiểu khu Câu Trung”. Lúc đầu “Tiểu khu” này hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Dân chủ có sự lãnh đạo của Việt Minh. Tháng 7-1945, tiểu khu đã tổ chức được một đội tự vệ khoảng 30 đội viên. Đội tự vệ đã tổ chức một số trận phục kích tước vũ khí của tên giám binh, thu một súng, hỗ trợ cho nhân dân chống nộp thóc.

Kết quả, cả hai tiểu khu Kim Sơn và Câu Trung phát triển đã trở thành chỗ dựa cho phong trào tiến lên Tổng khởi nghĩa ở tỉnh Kiến An. 

c) Căn cứ Bãi Sậy (Hưng Yên)

Sau cuộc hạ đồn Bần lấy súng đạn của giặc ngày 12-3, tự vệ và du kích Hưng Yên phát triển ở nhiều nơi như Đình Sơn, chùa Lai Khê (Kim Động) đã tổ chức được các lớp huấn luyện quân sự. Phong trào ở đây ngày càng lớn mạnh, đã trở thành áp lực với chính quyền địch, hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh chống thuế, phá kho thóc ở nhiều nơi. 

d) An toàn khu Phương Quả (Quỳnh Côi, Thái Bình)

Tại Thái Bình phong trào vũ trang phát triển ở toàn tỉnh. Cơ sở mạnh nhất là Quỳnh Côi. Tỉnh uỷ đã chọn Phương Quả làm An toàn khu. Tháng 8-1945 đã xây dựng được Đội vũ trang của tỉnh gồm trên 40 đội viên có ba súng ngắn, sáu súng bắn chim, một súng Mútscơtông và dao găm, mã tấu. . . , tổ chức lớp huấn luyện quân sự đầu tiên ở An Ký, An Hiệp (Quỳnh Côi).

Đội làm nhiệm vụ trừ gian, đã giết các tên lục sự Xần, mật thám Triện ở Quỳnh Côi, tổng Thâu ở Hưng Nhân, giết hai võ quan Nhật trên đường 39 thuộc địa phận Tiên Hưng, hỗ trợ cho nhân dân phá nhiều kho thóc và cướp các thuyền thóc của Nhật trên sông Luộc. . .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM