Tranh thủ nghỉ đông, trả nợ bác Bàng vụ Universal Tank
Khái niệm xe tăng đa năng hay "Universal tank" như bạn nói là sự kết hợp giữa 2 dòng xe tăng bộ binh và xe tăng kỵ binh (hay xe tăng dạng trung bình), bạn nói cụ thể về chức năng của dòng tăng này đi, chứ để "đa năng" dễ bị hiểu theo nghĩa: hỗ trợ, che chắn cho bộ binh, làm mũi nhọn đột phá qua các điểm phòng thủ vững chắc, tiêu diệt các hỏa điểm kiên cố, các phương tiện cơ giới, các lực lượng bộ binh của đối phương, sau khi đánh chiếm mục tiêu sẽ lập tức tổ chức tuyến phòng ngự... bạn xem loại được tiêu chí nào? Nếu tiêu chí "đa năng" của người Anh được quan niệm theo các ý trên tức là người Anh đã sáng chế ra dòng xe tăng chủ lực thế hệ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai rồi. Còn khái niệm sử dụng xe tăng như những đơn vị chủ lực, thọc sâu và đánh chiếm mục tiêu đầu tiên là của người Đức.
Đầu tiên, em xin được thay đổi cách dịch. Em đề nghị dịch Universal Tank là tank kết hợp, chứ không nên dịch là tăng đa năng. Bởi universal tank là sự kết hợp các tính năng của 2 xe tăng trước, chứ không đảm nhiệm vai trò của cả 2 xe tăng trước.
Muốn hiểu hơn về dòng xe tăng kết hợp, chúng ta phải xem lại một chút về lịch sử phát triển xe tăng của nước Anh từ những năm trước CTTG II: Khoảng giữa thập niên 30, người Anh bắt đầu đề ra 1 học thuyết xe tăng mới. Theo đó xe tăng được chia thành xe tăng bộ binh (infantry tank) và xe tăng kỵ binh (cavalry tank). Xe tăng bộ binh có tốc độ chậm, giáp dày, dùng để hỗ trợ bộ binh tấn công. Xe tăng kị binh có tác dụng tương tự như kị binh, dùng để thọc sâu, chia cắt đội hình đối phương, sau đó tấn công từ phía sau, trong lúc đó xe tăng bộ binh cùng bộ binh tùng thiết sẽ tấn công các toán quân đã bị chia cắt nhỏ. Các xe tăng được ra đời theo ý tưởng này là Cruiser và Matilda. Ban đầu, học thuyết này xem ra khá hiệu quả, mặc dù có giáp mỏng, vũ khí yếu, nhưng xe tăng kỵ binh vẫn có khả năng thọc sâu, quấy rối đối phương vì thời kỳ này, vũ khí chống tăng còn chưa được phát triển mạnh (súng chống tăng chưa loại nào vượt quá 50mm). Tuy nhiên, khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, các tiến bộ về vũ khí, động cơ, giáp, cùng thay đổi về chiến thuật làm thay đổi cách sử dụng xe tăng của các nước. Liên Xô nhanh chóng đưa xe tăng BT trở thành xe tăng trinh sát, đưa KV thành xe tăng hạng nặng (hay tăng diệt tăng) và T-34 trở thành xe tăng yểm trợ cho bộ binh. Đức đưa Panzer III trở thành xe tăng diệt tăng và Panzer IV thành tăng yểm trợ bộ binh (sau này thì ngược lại, vì Panzer IV lắp được pháo chống tăng loại lớn). Còn nước Anh thì vẫn… dậm chân tại chỗ. Các kiểu tăng bộ binh như Matilda, Churchill, Valentine vẫn chậm chạp và xe tăng kỵ binh như Cruiser, Crusader, Covenanter vẫn có giáp yếu, súng nhỏ. Người Anh bị cú đánh đau đầu tiên vào chiến dịch Bắc Phi, những chiếc xe tăng kị binh Crusader sau khi xuyên qua đội hình đối phương, do không có bộ binh tùng thiết và vũ khí nhỏ giáp yếu, nên dễ dàng bị đối phương bao vây tiêu diệt. Người Anh sau đó phát triển xe tăng kị binh với giáp dày và súng lớn hơn, kết quả chính là xe tăng Cromwell. Nhưng câu hỏi đặt ra là: có gì mà xe tăng bộ binh hiện đại nhất của Anh, Churchill Mk VII, làm được mà Cromwell không làm được? Cách dùng xe tăng như cũ có hiệu quả hay không? Có cần thiết phải chia ra tăng kỵ binh và tăng bộ binh hay không? Các câu hỏi lại càng trở nên nhức nhối hơn trong chiến dịch Perch và Goodwood (một phần của trận đánh chiếm Caen). Xe tăng Cromwell của sư đoàn thiết giáp số 7, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ yểm trợ bộ binh trong khi xe tăng Sherman kiểu “firefly” tiêu diệt các xe tăng Đức. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả hơn hẳn kiểu dùng tăng kị binh- bộ binh của người Anh. Người Anh nhanh chóng cho sản xuất thêm Cruiser Mk VII (trên chassis của Cromwell), mang pháo 17 cân Anh như Sherman Firefly, sẵn sàng bổ sung vào đội hình của Cromwell. Tháng 12 năm 1944, người Anh lại tiếp tục đưa xe tăng Comet mang pháo 17 cân Anh vào sản xuất để trang bị cho các sư đoàn có Cromwell. Tuy nhiên, chiến tranh đã kết thúc trước khi chiếc Comet đầu tiên tham chiến.
Thực tế chiến trường năm 1944 đã làm người Anh thay đổi chiến thuật sử dụng xe tăng. Và tất nhiên, mẫu tăng kị binh A41 và tăng bộ binh A45 cũng bị thay đổi để phù hợp với chiến thuật mới. Cuối năm 1944, A41 được gọi là tăng kết hợp A41, tăng bộ binh A45 trở thành tăng hạng nặng A45. A41 được gọi là tăng kết hợp bởi nó kế thừa cả 2 yếu tố của xe tăng kị binh và xe tăng bộ binh: nó có tốc độ cao như một xe tăng kị binh, giáp dày và súng lớn như xe tăng bộ binh. Tuy nhiên A41 không đảm nhiệm vai trò của cả 2 loại xe tăng bố mẹ, thực tế, sau chiến dịch Bắc Phi, người Anh không còn dùng tăng theo kiểu “kị binh" nữa. Các xe tăng như Crusader cũng chỉ làm mũi nhọn xuyên phá cho đội hình bộ binh tùng thiết phía sau mà thôi.
Sau khi đưa vào biên chế. A41 mang tên Centurion và A45 mang tên Conqueror. Centurion tiếp tục đảm nhận vai trò của Cromwell, trong khi đó Conqueror đảm nhận vai trò của Firefly, Comet và Cruiser Mk VII. Chiến thuật tăng kết hợp-tăng hạng nặng có những nét tương đồng với chiến thuật của Liên Xô (KV và IS diệt tank, T-34 yểm trợ bộ binh) nhưng có nhiều điểm khác biệt. Xe tăng KV và IS thường được tổ chức thành các mũi nhọn xung phong, xuyên phá đội hình địch, sau đó là đội hình của T-34 cùng bộ binh phát triển các vị trí mà KV và IS đã xuyên thủng. Trong khi đó, Conqueror thường được tổ chức thành các nhóm nhỏ riêng biệt, tiến cùng đội hình bộ binh và Centurion, chuyên tập trung tiêu diệt các xe tăng đối phương. Nói ngắn gọn, Centurion gần như có vai trò của 1 xe tăng chủ lực, trừ việc diệt tăng đối phương do Conqueror đảm nhiệm.
Bài viết có tham khảo
The Universal Tank: British Armour in the Second World War và
The Great Tank Scandal của David Fletcher