Trong chiến dịch CQ88 chúng ta đã có phần hơi ỷ lại vào sự có mặt của hải quân Liên Xô tại Cam Ranh và chúng ta đã quá tin vào hiệp định tương trợ quân sự đã ký với Liên Xô. Mặc dù các biên đội tàu tên lửa của vùng C đã được lệnh sẳn sàng chiến đấu nhưng không xuất quân, các tàu chúng ta đưa ra tiếp tế cho TS toàn tàu vận tải. Nếu lúc đó chúng ta làm mạnh tay hơn chưa chắc đã mất Gạc Ma và Đá Chữ Thập. Hơn nữa quy tắc giao chiến của chúng ta lúc đó ở thế bị động.
Để không lặp lại vấn đề tương tự CQ88 chúng ta cần chủ động hơn trong các quy tắc giao chiến, ngăn chặn từ xa vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất. Cần bố trí các hệ thống như Extra lên các đảo lớn có khả phủ sóng toàn bộ vùng biển xung quanh. Khi có các dấu hiệu bất thường của các phương tiện tàu bè xung quanh khu vực TS, cần sử dụng các kênh thông tin đại chúng như TV, báo giấy, báo điện tử để lên án các dấu hiệu bất thường này. Khi Mỹ đánh Iraq, Kosovo có sự chấp thuận của Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc. Nếu DN muốn đánh TS theo kiểu tống lực cần phải được sự hậu thuẫn của quốc tế. Còn nếu, họ chơi theo kiểu ăn cướp thì chúng ta cần phải kiểm soát vùng biển xung quanh TS tốt hơn. Nhất thiết cần phải có những tuyên bố cứng rắn hơn trong thể hiện chủ quyền biển đảo
f22 nói tương đối đúng
Nói chung lúc ấy là ta đói kém toàn diện. Đọc các hồi ký và các báo thời ấy thì biết chúng ta ở trong hoàn cảnh nào. Kinh tế đất nước khủng hoảng trầm trọng, các nước XHCN cũng đang khủng hoảng và bắt đầu tan rã, LX chỉ viện trợ lúa mạch cho ta ăn chứ không được bột mỳ nữa. Đã vậy chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh trên khắp biên giới trên bộ của cả nước (tính cả Lào nữa vì ta cũng đánh nhau bên ấy không ít, chưa kể Fu rô ở Tây Nguyên hoành hành). Tóm lại kinh tế đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc". Mặt khác, lúc ấy bắt đầu mở cửa, xã hội bị phân hóa, một bộ phận có tiền và quyền bắt đầu coi khinh bộ đội. Tình trạng ấy ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng cung ứng cho hải quân là lực lượng mà khả năng kinh tế thể hiện khá rõ nét dẫn đến khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh của hải quân giảm thê thảm. Chúng ta không có khả năng duy trì những con tầu chiến lớn hoạt động (không tính tầu cũ hay tầu hiện đại) mà phải lập ra các đoàn thuyền đánh cá toàn lính hải quân để "tự cung tự cấp" kết hợp quan sát, cảnh báo, bảo vệ hải phận của chúng ta như các bác đã bàn mấy trang trước cũng như rèn luyện kinh nghiệm đi biển cho lính và sỹ quan. Mặt khác, lúc ấy tiềm năng kinh tế và ý nghĩa thiêng liêng của quần đảo TS không được xem trọng như bây giờ (vì đói mà lỵ

) kể cả trong đội ngũ lãnh đạo cao cấp. Nên phản ứng của chúng ta về sự khiêu khích của kẻ địch là thụ động, hạn chế va chạm (vì có tiền đâu mà đú với nó). Do đó, thế hệ bây giờ càng thấy ý nghĩa và vô cùng kính phục những con người đã giữ vững chủ quyền biển đảo từ tư lệnh GVC đến những cán bộ chiến sỹ vô danh và có danh trong hải chiến CQ88. Còn chuyện mất một số đảo trong thời điểm đó theo em không trách họ được. Nó là lịch sử mà.
Chúng ta chỉ rút kinh nghiệm lịch sử là đừng làm cho đất nước khủng hoảng như vậy nữa và quân đội phải được quan tâm thích đáng (vừa phải phù hợp với dự kiến tình hình). Cũng như trên cơ sở đó không nên trói chân quân đội bằng mệnh lệnh không được nổ súng trước (tránh khiêu khích). Tất nhiên là khi kẻ thù lộ rõ dã tâm. Lịch sử chứng minh là có làm như vậy cũng không làm giảm chiến tranh mà bên yếu hơn thường phải trả giá rất đắt vì không cho quân đội sẵn sàng chiến đấu (LX năm 1941, CTBGPB 1979, CQ88)