Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:59:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Số phận Lữ dù 3 Nguỵ Sài Gòn  (Đọc 149084 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #100 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 12:05:50 pm »

Hồi và tôi tới trại "muôn hoa” thấy không khí khác lạ lắm, không thấy cô út đi đi lại lại giữa các vườn hoa, tươi cười tỉa lá, bắt sâu như thường lệ. Cũng không thấy thím Ba vừa giặt giũ hoặc nấu nướng dưới bếp nhà nói oang oang như một vị “thống soái" trong cái gia đình này. Chúng tôi vén rèm bước vào nhà thấy "Ông già biển cả" đang ngồi thừ bên bàn uống nước, già xọm hẳn đi. Chúng tôi sực nhớ: Bạch cho biết ông già bị ốm từ mấy bữa nay. Nhưng không phải chỉ vì ốm. Rõ ràng ông đang lo nghĩ rất dữ dội. Trán nhăn lại. Đôi mắt sáng ngời lên khác thường. Bên cạnh ông là cô út. Cô đang chăm chú, lo lắng nhìn cha cô và không biết làm gì cả. Thím Ba thì đang hối hả ôm từng ôm quần áo nhét vào năm sáu chiếc va li cỡ lớn đang được mở rộng đặt trên chiếc giường. Tủ sách rất quý của ông cũng được mở toang. Nhiều chồng sách lớn đã được lôi xuống đặt gần kín trên sàn nhà.

- Kìa các cháu! Hay quá! Vô! Vô đây chứ! Bác đang cần hỏi câu chuyện? Vô, vô đây ngồi!

Hồi nhìn tôi rất nhanh. Có lẽ chơi với Bạch hơn mười năm nay, chưa lần nào chúng tôi được "Ông già biển cả" tiếp một cách niềm nở và "cần thiết" như hôm nay. Chúng tôi và cả Bạch vẫn bị ông liệt vào loại "trẻ con lông bông" hoặc khá hơn tí chút: "Bọn trẻ phiêu lưu" và mỗi lần chúng tôi tới gặp Bạch, ông thường tiếp một cách không đến nỗi lạnh nhạt, nhưng cũng rõ ràng: không yêu quý lắm.

- Bạch vừa đi khi hồi! Không rõ đi mô? Chừ bác muốn hỏi các cháu nghe: tình hình ngoài đường phố xá ra răng?

Tôi liếc nhìn Hồi. Bao giờ tôi cũng là thằng ít mồm ít miệng và Hồi cũng là tay bạo dạn, thông minh, nhạy cảm hơn. Hồi đáp:

- Thưa bác, dân chúng đang xôn xao quá dữ. Huế núng dễ sợ rồi. E không giữ nổi nữa?

Tôi thầm khen Hồi đã rất kịp thời "tấn công để thăm dò". "Ông già biển cả" càng chăm chú hơn.

- Vậy chừ, ra răng hè, mấy cháu?

Hồi liếc nhìn thím Ba đang được lệnh thu sắp áo quần, sách vở để đi. Anh mỉm cười - nụ cười rõ ràng có ý: Bác biết bác định làm chi rồi lọ là còn cần hỏi mấy cháu. Hay là bác cũng còn có chút nào do dự chưa quyết hẳn? Hồi nói luôn:

- Thưa bác, Cao Nguyên thất thủ rồi! Cao Nguyên thất thủ là một sự quá lớn. Số phận chính quyền ông Thiệu bắt đầu nguy ngập. Chiến sự đã tràn tới Huế rồi. Chắc chắn Huế sẽ mất nốt rồi Đà Nẵng nữa. Rồi, tất cả. Tất cả! Người Mỹ đã không cứu nổi chúng ta nữa. Họ cứu được thì phải cứu từ sau Ban Mê Thuột kia. Nay tất cả Cao Nguyên mất. Số phận Thiệu đã được định đoạt rồi! ...

Đến lượt tôi mỉm cười. Hồi đã nói gần đúng như chỉ thị của các anh trên Trường Sơn mà bọn tôi mới nhận được hồi sáng. Vầng trán "Ông già biển cả” càng nhăn lại như những luống cày.

- Vậy liệu có như Mậu Thân không mấy cháu?

- Thưa không. Chắc không! Lần này, e khác quá. Nghe mấy ông sĩ quan về gia đình tiết lộ như vậy - Lần này sẽ lớn hơn nhiều lắm, bác à!

"Ông già biển cả” không giữ nổi nữa, thốt lên cắt ngang lời Hồi:

- Trúng! Khi nãy ông Nguyên trung tá chiến tranh chính trị trong trại Trần Cao Vân bạn của Khoát (anh của Bạch, trung tá ở Plei Ku), vừa đến cũng cho biết. Tình hình đúng là quá xấu mất rồi ...

Hồi nhìn tôi, mặt anh hớn hở hẳn lên:

- Thưa bác, nếu vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa...
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #101 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 12:06:46 pm »

Ông Nguyên cho biết thêm sáng nay tướng Trưởng đã ra lệnh sẽ công bố hồi năm giờ chiều nay trên đài Huế, dân Huế cũng bắt đầu phải triệt để di tản - Một chiến dịch di tản mấy cháu à, ông Nguyên bảo thế. Phải triệt để. Triệt để ...

- Trời! Thật vậy sao bác? - Hồi bật la lên. Tôi cũng không khỏi giật mình.

Mặt "Ông già biển cả" càng tối lại, đôi mắt ông như rớm lệ :

- Thế là chúng ta sẽ phải bỏ Huế. Bỏ Huế của chúng ta, mấy cháu à! ...

- Không! Thưa bác. Không thể bỏ Huế, không nên đi đâu hết! Bác nên ở lại! Và chúng cháu cũng sẽ ở lại! - Hồi bỗng nghiến răng lại, mặt anh đỏ bừng.

Tôi muốn ôm chầm lấy anh. Ai đã dạy anh những lời quá quan trọng, quá tốt đẹp ấy? Đã nhiều lần, trong những giây phút khó khăn của phong trào, tôi đã nghiệm thấy Hồi hay có một sức bật bất ngờ như vậy. Và thường thường anh đã nghĩ đúng và làm đúng với chỉ thị của các anh ở trên. "Ông già biển cả" cũng sửng sốt trước thái độ mạnh mẽ của Hổi - ông ngẩng lên mở to cặp mắt nhìn anh, miệng hơi há ra:

- Sao? Cháu nói sao? - mấy giây sau, ông mới gần như lắp bắp, run rẩy hỏi lại được.

- Thưa bác? Giờ phút trọng đại của đất nước đã tới rồi. Xin cho phép chúng cháu được mạnh dạn thưa thật với bác: Lúc này mọi người cần phải có một thái độ thật đúng. Sai một ly lúc này sẽ đi một dặm. Ngàn đời sẽ không sao sửa được nữa. Đi, nhưng dân Huế sẽ đi đâu? Đi tới đâu? Và làm gì? Huế sắp được giải phóng rồi, phải thừa nhận như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa. Mọi người dân Huế cần phải ở lại, phải góp một cái gì đó với sức mình ...

- Cháu Hồi! ...

"Ông già biển cả" thốt lên một tiếng nho nhỏ. Dường như lúc này ông mới nhớ ra: người đang nói với ông chính là anh sinh viên đã từng diễn thuyết trong những đám dân "di tản" mùa hè 1972 ở giữa thành phố này và đã bị bắt, mặc dầu lúc đó anh chỉ kêu gọi sự tương trợ "trong lúc buộc phải rời bỏ quê hương". Cũng anh sinh viên này đã bị nhiều lần gọi lên Ty An ninh vì những hoạt động "có tính chất tuyên truyền không phù hợp với quốc sách của chánh phủ”, nhất là trong thời kỳ thành lập Mặt trận cứu đói vừa qua.

- Thưa bác! Chúng cháu van bác! Bác nên ở lại! Không đi đâu hết!

- Nhưng người ta bắt buộc?

- Lúc này không ai bắt buộc được ai nữa! Họ lo cho thân họ còn chưa xong?

- Nhưng ở lại, nhỡ bom đạn?

- Lúc này, thưa bác, khắp miền Nam đâu đâu cũng có bom đạn.

- Nhưng - ông Nguyên nói - Huế sẽ bị làm cỏ. Và... nếu không thế, sống với Giải phóng cũng sẽ... khó lắm.

- Bác ơi, chúng cháu hoàn toàn không tin có chuyện ấy, những chuyện ấy.

- Nhưng ...

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #102 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 12:07:39 pm »

“Ông già biển cả" ôm chặt lấy đầu. Hai mắt ông càng đỏ hoe. Ông không vặn hỏi chúng tôi nữa, mà rên rỉ:

- Anh Khoát ở Plei Ku không có tin! Vẫn không có tin chi hết? Bây giờ lại có lệnh phải di tản! Di tản! Nhưng đi đâu? Đúng như cháu đã nói. Đi đâu? Và làm sao mà dứt bỏ dược chốn này? Cực quá mấy cháu ơi! Quả thật làm sao mà dứts Huế đi cho được? Nhưng ... nếu ở lại thì ra răng? Bác thú nhận cũng không thể nào biết trước hết được. Cực quá mấy cháu ơi! Thằng Bạch, không sao nói với nó được quá ba câu, than thở với nó được một lời. Cha con vốn xung khắc. Cực quá! Mấy cháu ơi! Chứ biết mần ăn ra răng đây?

Hồi nói thêm ít lời nữa. Tôi cũng mạnh dạn khuyên “Ông già biển cả" ở lại. Đoạn, chúng tôi cáo từ ra về. Chúng tôi đang còn biết bao nhiêu là công việc. Thời khắc lúc này sao quá eo hẹp. Ra khỏi cổng. Hồi thở trút, anh khẽ nói, như nói với riêng anh:

- Dầu sao, cũng rõ được một tâm trạng! Dầu sao... Cuối cùng, đấy rồi coi. Ông già sẽ ở lại, ít ra ông ta vẫn nhớ được là ông ta còn có một người con ra Bắc ...

Rồi anh ngẩng lên, nói to hơn, vui vẻ hơn với tôi:

- Và dầu sao, tới nhà này, thế là cũng hết sức có lợi. Chúng ta đã biết thêm được một tin mới nhất: Huế sẽ phải di tản!

Giọng anh càng như sôi lên:

- Và thế là mọi việc đã quá rõ ràng: Bọn chúng sẽ phải bỏ Huế! Các anh ở trên nói đúng quá: Vận hội đã tới rồi! Đúng là vận hội đã tới nơi rồi, phải không Nhuần ơi! Vận hội ...

Anh đấm mạnh vào lưng tôi, hai chân như nhảy nhót. Chúng tôi đến tìm Bích Hường, cũng có chân trong hội đồng, người có trách nhiệm liên lạc với các giới tiểu thương chợ Đông Ba 

Má của Hường có một sạp hàng nhỏ bán mè xửng và các thứ hoa quả kẹo bánh ở gần cửa chợ - ông già của Hường chạy xe tải dân sự. Ông chết trên đèo Hải Vân mùa hè 1972. Đáng đau buồn: ông chết vì một trái mìn chính của ta nhằm đánh cơ giới địch - Cũng tại ông đi liều - Bữa đó, lẽ ra ông phải ở lại. Chiến sự đang khá căng. Tụi tiểu đoàn dù "song kiếm trấn ải" đang rất hung hăng, chúng huênh hoang sẽ đánh gãy K8 Thừa Thiên trên đỉnh đèo này.

Ba Hường mất, lẽ cố nhiên gia đình rất buồn, nhưng không vì thế mà ảnh hưởng tới tinh thần má Hường và Hường. Bà là một tiểu thương, cũng giống y như mọi người buôn bán nhỏ khác: tháo vát, biết kiếm lời, biết cả tích trữ, đầu cơ nữa. Nhưng bà cũng rất có cảm tình với Giải phóng. Tết Mậu Thân bà đã nấu cơm giúp các anh một bữa - Sau đó ngụy đã bắt tù bà ba tháng và đánh gãy mất hai chiếc răng cửa. Tù ra, bà vẫn nói: "Giết tui thì giết! Tôi vẫn nói mấy chú là người tốt. Mấy chú ngoan hơn thằng Ngoạn nhà tôi xấp mấy!".

Ngoạn là em trai Bích Hường. Hắn theo đòi lũ "híp-pi" từ năm lớp chín, lớp mười. Cũng tóc râu tùm lum. Cũng áo quần xốc xếch, kỳ cục. Gần đây lôi hắn vô được phong trào học sinh. Bích Hường mới đỡ ngán cho thẳng em mình phần nào.

Chúng tôi tới nhà giữa lúc Bích Hường cũng vừa đạp chiếc xe minh vội vã trở về Nhà Hường ở một kiệt (Ngõ hẻm) gần đầu cầu Gia Hội. Hường xõa tóc, đeo kiếng mát to tròn gần kín mặt, áo dài trắng cắt theo đúng kiểu thời trang, dép đế cao, màu đẹp. Nom bề ngoài, ai cũng tưởng con nhà khá giả, biết đâu bữa nào cũng chỉ có vài con cá nhỏ, mấy đọt rau xanh.

- Anh Nhuần? Anh Hồi? Trời! Tôi đang muốn kiếm các anh bằng chết! - Hường reo lên, mừng quýnh

Chúng tôi chui vô một căn phòng hẹp, tối om ở dưới cùng một căn nhà gác quá nghèo nàn, tiều tụy.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #103 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 12:08:35 pm »

Không để cho Bích Hường kiếm nước uống nữa, Hồi và tôi bàn ngay mọi chuyện. Hường như run lên vì xúc động

- Vậy, Hường phải đi gặp má ngay. Để má cho biết sự chuẩn bị bên phía chợ...

- Khoan! Dặn kỹ Hường! Dầu cho tới phút ni, vẫn phải tuyệt đối coi trọng nguyên tắc bí mật. Với má, cũng chỉ được bàn một số việc.

- Hường nhớ rồi! Tối nay, bảy giờ ba mươi Hường sẽ tới anh Hội ...

Chúng tôi vụt cùng chui vô căn nhà tối tăm, ọp ẹp, lại vụt lao ra như ba con chim sẻ từ một hốc tường bay vù ra. Chúng tôi cùng sang đường Trần Hưng Đạo. Chúng tôi lại lao vào giữa những đám người "tị nạn" đang như những đám bèo lục bình bị gạt, bị cuốn về đây mỗi lúc một thêm dày đặc. Và những toán quân xa chở lính sư đoàn 1 thất trận từ tuyến Mai Lĩnh - Hải Lăng - Quảng Trị vẫn dồn dập đổ về không ngớt.

Tôi cùng Hồi rẽ vô đường Phan Bội Châu - một trong những phố buôn bán sầm uất nhất của Huế - Một số nhà đã đóng cửa. Họ sợ. Sợ tàn binh về cướp bóc, như mùa hè 1972. Sợ dân "tị nạn" tràn vô phá phách, bẻ từng cánh cửa xuống đun, cũng y như cái gọi là "mùa hè đỏ lửa" năm trước - Và đáng chú ý hơn nữa: có mấy chiếc quân xa đã kéo vô tự lúc nào đang đứng quay đít lại, dí xát vô cửa của một số gia đình giàu có. Đó là những gia đình sĩ quan. Thấp thoáng những chiếc mũ nhà binh dính hai bông mai bạc, ba bông mai bạc, một vạch vàng, hai vạch vàng ... Các gia nhân bu quanh, chạy ra chạy vô. Va-li, hòm xiểng được ném lên xe như mưa. Những "bà phu nhân" mặt bự phấn la lối cuống cuồng, gọi đứa lớn gọi đứa bé hoặc la hét đầy tớ. 

- Bọn họ chạy thật rồi! - Hồi nói. Chân anh càng như nhảy nhót. 

“Họ" chạy rồi! "Họ" không còn giấu giếm được ai nữa. Mặc dầu suốt mấy ngày ròng, và ngay cả sáng nay họ vẫn căng cổ lên hét: "Không có chuyện rút Huế. Ai nói láo sẽ bắn bỏ". Vậy cái tin do "Ông già biển cả" vừa cho biết không phải là vu vơ. Hoàn toàn chính xác.

Chúng tôi lại chui vô một kiệt ở cuối một phố lớn, một kiệt chạy ngoắt dọc theo một đoạn của con hào bao quanh thành cổ của Cố đô. Nơi đây toàn là những căn nhà mái tôn, gỗ thùng, giấy dầu đứng chen chúc nhau trên bờ hào và ăn lấn cả xuống mặt nước, đậu chênh vênh trên những cọc gỗ cọc sắt chi chít. Đây là một trong những xóm gọi là ven hồ của Huế. Đây cũng là một trong những nơi lầm than, tối tăm nhất của đất Thần kinh xưa, và "thành phố Huế tươi đẹp" ngày nay, một trong những khu "ổ chuột”, những hang tối, nơi đáy cùng khổ cực của một thành phố đang còn đầy rẫy những mâu thuẫn, bất công. 

Chúng tôi cùng lướt qua những đống rác hôi thối nồng nặc, đi lẹ qua mấy thanh sắt bắc chênh vênh qua một rãnh đất sụt lở, tới trước một căn nhà cũng mái tôn, vách bằng gỗ thùng trăm miếng ghép lại. Cửa khóa. Chúng tôi thất vọng cùng quay ra. Chúng tôi không cần gặp Cống, cũng một bạn trong hội đồng, có trách nhiệm liên lạc với lực lượng tự vệ võ trang của sinh viên chúng tôi - một đội võ trang thực sự của chúng ta, nhưng bên ngoài lại là một đội “nhân dân dân vệ" của chính quyền Thiệu. Đội này được tổ chức từ 1972 - Có anh trong đội đã được đưa lên Trường Sơn huấn luyện, rồi trở về.

Cống đi vắng. Chúng tôi phải tới nhà giáo sư Vĩnh ngay. Nhưng vừa ra hết khỏi mấy đống rác, thì gặp bác Trường, ba của Cống. làm thợ ở nhà máy nước, hớt hải dắt chiếc Hon-da tàng chạy về. Ông gầy gò, xanh xao. đầu trần, tóc đốm bạc.

- Ủa! Mấy cháu! Thằng Cống đi mô rồi? May hung! May hung! Gặp được mấy cháu đây rồi!

Bác thở không ra hơi nữa:

- Mấy cháu ơi! Bác liều nhờ anh em trông hộ máy, nói là lại lên cơn đau dạ dày, phải về chút...

Bác nhìn quanh, thở vẫn không ra hơi. Rồi bác ghé sát tai hai chúng tôi, đôi môi run rẩy:

- Mấy cháu ơi! Bọn lính vừa kéo tới nhà máy nước. Chúng đặt thuốc độc sẵn vô máy rồi.

- Trời! Thiệt vậy sao, bác ơi!
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #104 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 12:09:35 pm »

Cả hai chúng tôi cùng rụng rời tay chân. Mặt bác càng trắng bệch.

- Anh em thợ kéo ra phản đối. Chúng giơ súng hăm. Bắt đi hai anh. Chúng nói đã có tiêu lệnh phá tất cả các vũ khí, kho tàng của thành phố... Đúng sáu giờ sáng mai sẽ cho thuốc độc tràn vô qua các ống dẫn nước ...

Chúng tôi đều như điên lên. Không còn kịp nghe thêm điều chi nữa. Chúng tôi chạy như bay ra khỏi kiệt, rồi cứ thế xé những đám dân tị nạn, lách qua những đoàn xe kẹt cứng ở giữa phố, mà lao đi. Không còn biết trời đất gì nữa. Người ta la. Người ta rủa chúng tôi. Thậm chí có cả những trái đấm, đấm theo vô đầu vô lưng, làm cho hai chúng tôi muốn té xấp.

Chúng tôi tìm đến giáo sư Vĩnh. Chúng tôi cần phải nhờ anh làm cách chi báo ngay cái tin ghê gớm này cho các anh ở trên. Phải chặn ngay bàn tay giết người của bọn thú vật Nguyễn Văn Thiệu! Phải làm sao cứu lấy đồng bào.

Nhà giáo sư Vĩnh ở trên đường ra Cửa Thuận. cách Huế chừng bảy tám ki lô mét. Nhưng không muốn phải đi xa và để tiện liên lạc với sinh viên và giới giáo chức, giáo sư đã ở nhờ một gia đình giáo sư bạn, dạy vẽ, trong khu thành nội. Gia đình này ở ngôi nhà gạch một tầng mới xây, kiểu đẹp, thoáng mát. Ngay cạnh ngôi nhà mới xây vẫn còn nguyên một ngôi nhà tranh ba gian, một trái đã quá già nua, nay dùng để chứa đồ lặt vặt. Giáo sư Vĩnh xin ở nhờ ngồi nhà lá đó. Mẹ bạn và vợ chồng bạn mời lên nhà trên thế nào cũng không chịu.

Hồi và tôi tới, thấy nhà vắng hoe. Giáo sư Vĩnh đi vắng. Cả hai vợ chồng giáo sư bạn cũng vậy. Bà mẹ đang ngồi ở hành lang ngôi nhà mới. Bà có một con trai út cũng là giáo sư dạy tiếng Anh ở Ban Mê Thuột. Từ hôm Tây Nguyên giải phóng, bà chỉ mong ngóng tin cậu út. Mong và lo. Nước mắt bà lúc nào cũng lưng tròng.

Không gặp được giáo sư Vĩnh, chúng tôi sang ngay khu nam Huế, ở bên kia sông và không ngờ đã tìm được anh tại nhà một giáo sư khác hiện đang giữ chức tổng thư ký hội giáo chức Huế. Tin dữ về âm mưu của bọn ngụy định đầu độc nguồn nước thành phố đã được chuyền đạt rồi, người chúng tôi như nhẹ hẳn được một nửa. Giáo sư Vĩnh ôn tồn bảo chúng tôi: tin này sẽ được báo cáo ngay với cơ sở lãnh đạo trong thành phố và sẽ được xác minh lại. Việc trước mắt của chúng tôi là: chắp mối cho nhanh tất cả các cơ sở của sinh viên. Khẩu hiệu trước mắt là phải giữ tất cả mọi người ở lại. Chống việc cưỡng ép di cư của địch. Giáo sư Vĩnh xác nhận tin: địch đã có lệnh bốc dân Huế di tán.

Giáo sư Vĩnh lúc nào cũng chỉ nói nhỏ nhẹ, mặt dường như không bao giờ đổi sắc ngay cả trong những lúc nguy nan, hoặc phấn chấn, vui sướng nhất. Mái tóc bồng bềnh, đôi mắt trẻ trung nhưng trầm tĩnh. Anh hay làm thơ. Chúng tôi thấy anh phảng phất như Lê Quang Vịnh trước đây vậy, mặc dù anh luôn luôn nói, một cách hết sức chân thành: "Tôi chưa xứng đáng là một người em út của Lê Quang Vịnh...”

Thế là đã báo cáo được tất cả những tin tức hết sức quan trọng và dược chỉ thị mới nhất của các anh ở trên. Hồi và tôi quay trở lại phía bắc thành phố, bên tả ngạn sông Hương, tiếp tục đi tìm gặp các bạn trong tổ chức. Để có thể đi nhanh hơn, Hồi kéo tôi về nhà anh, kiếm một chiếc Hon-da. Nhà Hồi ở đường Hùng Vương khu thành nội. Ba anh làm ở Ty Công chánh thành phố. Hồi là con trai độc nhất của gia đình. Mấy chị anh đi lấy chồng, ở riêng. Một chị lấy một trung úy ngụy quân thuộc phi đoàn đóng ở Đà Nẵng. Một chị lấy một nhà buôn máy lạnh và ti vi ở Nha Trang. Còn hai em gái ở nhà đi học. Hai cô đều không đẹp nhưng hết sức ngoan ngoãn dịu dàng và là thành viên trong nhóm nữ sinh áo trắng, một tổ chức học sinh có sự lãnh đạo của cách mạng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #105 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 12:10:18 pm »

Chiếc xe Hon-da đã phóng như hóa rồ, đưa hai chúng tôi chạy khắp thành phố. Cho tới xế chiều, người mệt nhoài, tôi mới quay trở về nhà mình. Nhà tôi là một căn nhà thờ nhỏ, đầy rêu phong ở sau vườn của một bà má làm nghề dạy may thêu và gia chánh - Mạ có hai anh con trai lớn - Một làm ở cơ sở đồ bản của Mỹ ở Đà Lạt. (vợ con anh này ở cả trên đó). Người thứ hai là lính hải quân, lênh đênh nay Po-lo Pan Giang, mai Phú Quốc ... có khi hai năm mới về thăm má một lần. Ở Huế má chỉ còn hai con trai nhỏ đang học, một cậu lớp mười hai, một cậu lớp tám. Cha của bằng ấy người con đã chết vì một tai nạn xe hơi trên đường Đà Nẵng - Huế do một quân xa Mỹ phóng quá ẩu. Ông là một thú y sĩ của thành phố 

Tôi đã tới ở nhờ ngôi nhà thờ của má do một anh bạn gọi má bằng dì giới thiệu. Má đã thương tôi như con. Tôi cũng quý má như mẹ tôi ở quê nhà. Quê tôi ở một làng quê gần quận lỵ Phú Lộc. Cha mẹ tôi đều nghèo. Anh lớn của tôi bị quân dịch, đã thành phế binh, mất hẳn một chân trái và cả bàn tay phải. Cha mẹ tôi phải nuôi anh. Mỗi lần tôi về, anh lại ứa nước mắt, nói nhỏ: "Anh chỉ ưng chết. Tất cả vì bọn Mỹ! Không có cuộc chiến tranh này, anh đâu có đến nỗi!...". Lần nào tôi cũng khóc theo. Và có lẽ trong muôn vàn nguyên cớ sâu xa gián tiếp, hoặc trực tiếp đã thúc đẩy tôi dám dấn thân theo các bạn hoạt động, có cả hình ảnh của người anh khốn khổ của tôi ...

Tôi về tới nhà thấy má vẫn ngồi cắm cúi trước chiếc máy may, búi tóc cao tới gần đỉnh đầu, điếu thuốc vấn tổ sâu dính ở một bên mép, chiếc kiếng lão trệ xuống sống mũi, tấm áo lụa dài màu vàng xỉn vén vạt vắt lên lòng. Nhà quá yên tĩnh dường như không có một chút âm vang nào của tất cả mọi sự xáo trộn ngoài đường phố dội vô. Nhưng bỗng má bỏ máy, đứng dậy mau lẹ, vẻ mặt xao xuyến khác lạ.

- Nhuần! Lối xóm đang trộn rộn hết! ... Tình hình chừ ra răng rồi con?

Thì ra, má cũng đang khá bồn chồn. Xưa nay tôi vẫn tưởng đối với má ngoài công việc làm ăn, không còn có chi hết. Ở với má đã hai năm, tôi chưa một lần nào thấy má hỏi hoặc nói một câu tới thời cuộc. Má sống y như một người già đã quá cổ lỗ không hề biết hoặc không hề chú ý gì tới mọi đổi thay, mọi biến động của xã hội bên ngoài nữa.

- Má ơi! Quảng Trị vỡ rồi! Giải phóng sắp tới Huế!

- Thiệt không? Có thiệt không?.

- E thiệt má à! Giải phóng sắp về!

- Thiệt giải phóng về không?

- Sắp má ạ!

- Nhưng...

- Nhưng, răng má?

- E rồi có giống như Mậu Thân ... mấy chú lại rút đi. Chánh quyền họ lại giận cá chém thớt, cực sao nói hết ...

Tôi mở to mắt nhìn má. Má như không phải bà già nua, an phận, tối tăm khi trước. Trên gương mặt má đang sáng lên một ngọn lửa nào đó lung linh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #106 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2009, 12:11:00 pm »

Tôi vội nói lớn lên, tôi nói gần như Hồi nói với "Ông già biển cả". Tôi nói với tất cả nỗi ngạc nhiên và vui sướng, và tất cả niềm hy vọng chứa chan của tôi đối với vận hội mới ...

- Thiệt hả? Thiệt lần này khác hả? Trời phật! Vậy thì... Nhuần ạ, chưa biết chi nhưng trước hết là con và mấy đứa con trai còn lại của mạ không còn sợ phải đi lính nữa. Sang năm thằng Thắng đã đến tuổi quân dịch rồi! Phải không con?

Má nói xong đưa vạt áo lên mắt.

- Dạ, đúng vậy má ơi!

- Rồi ... còn bao nhiêu cái khác nữa chứ! Nhuần à, con chưa rõ: Mậu Thân có một chú thương binh ở nhà này. Má giấu được ba hôm dưới bàn thờ, nơi con đang ở đó. Không ai biết hết. Khi mấy anh đến đón chú đó đi, chú khóc nói với má: "Con còn sống sẽ làm con má! Con chết, sẽ phù hộ cho má bình an, mạnh khỏe". Chừ biết đâu đấy chú lại trở về đây, Nhuần hỉ! Trời phật! nếu được như vậy thì còn chi cho sung sướng bằng...

Tôi càng hết sức ngạc nhiên và cảm động. Tôi muốn la lên: "Má! Má ơi! thì ra chừ con mới hiểu hết má!".

Mạ nói tiếp: .

- Chừ lối xóm đang trộn rộn cả lên. Có mấy người nhà giàu đang rục rịch chạy. Mấy bà hàng xóm thì nhát gan chỉ sợ “tên bay đạn lạc" cũng hỏi mạ có chạy mô không? Mạ bảo có, nhưng phải chờ lũ thằng Nhuần, thằng Thắng, thằng Hùng về đã. Chúng chạy tung trời mô, ai mà biết được. Nhuần à! Nếu quả thiệt lần ni ... Huế đứng được ... Mạ tin cả thằng "Hải quân” của má rồi cũng sẽ thoát khỏi. Nó sẽ về thôi. Mạ biết! Mạ biết nó lắm, mặc dầu nó chẳng có thư từ chi hết. Tính nó rất đằm và kín đáo. Nó cực và buồn lắm. Má biết. Nó sẽ về thôi! Trời phật ạ! Nếu quả thiệt lần ni ...

Má nói một thôi dài. dường như chẳng phải nói với tôi. Tôi đứng ngắm mẹ, người mẹ nghèo quá dỗi dịu hiền và cũng xiết bao khéo léo, kín đáo. Má đang nói những lời chẳng phải của riêng má. Má đang nói cho cả tôi, cho tất cả những bà mẹ Việt Nam đã đau khổ quá nhiều và vẫn không ngừng hy vọng trong cuộc chiến quá lâu dài tàn khốc của dân tộc ta, cuộc chiến chống lại một đạo quân bán nước tay sai của chúng. “Mậu Thân mạ có giấu một chú ở nơi con đang ở". Mạ ơi? Tôi muốn quỳ xuống chân mẹ mà bày tỏ tất cả niềm kính trọng và yêu quí của tôi. Nhưng tôi không còn nhiều thì giờ. Tôi phải đi tìm Quỳnh của tôi nữa để coi Quỳnh ra sao trong giờ phút này.

Tôi nhảy lên chiếc xe đạp tàng của tôi, phóng miết trở ra những đường phố lớn. Những hàng cây mù u xanh sẫm bạn đường như bay dạt như mở tung ra trước mắt lôi. Tương lai cũng như đang vùn vụt lao tới và mở rộng phía trước ... Giờ phút này Quỳnh đang làm gì, có đang mừng, đang vui, đang hy vọng như bọn tôi không? Tôi chưa thật rõ, cũng như từ trước tới nay tôi vẫn chưa thật hiểu: Quỳnh có yêu tôi hay không yêu. Tôi chỉ biết một cách hết sức chắc chắn, và hùng hồn có một điều: Tôi yêu Quỳnh tha thiết. Quỳnh cùng học đại học dưới tôi hai lớp. Quỳnh là con thầy giáo dạy tư tiếng Pháp cho tôi.

Hồi còn ở trung học, tiếng Pháp của tôi quá yếu; mặc dầu nhà nghèo, tôi vẫn gắng xin cha tôi thêm chút tiền để kiếm thầy học. Các bạn tôi đã giới thiệu tới thầy, một nhà giáo nổi tiếng của thành phố. Thầy đã quá già. Gia đình theo đạo thiên chúa. Thầy ở trong một xóm giữa thành phố gán nhà thờ. Thầy có một người con cả là sĩ quan nhảy dù. Một con người cục cằn hung hăng. Năm 1971, anh ta thoát chết ở Nam Lào, đường 9 trở về. Nghe nói anh ta ở lữ đoàn dù 3 của viên đại tá Thọ. Từ năm đó, anh ta ít về nhà hơn và xem ra cũng bớt kiêu căng hơn, nhưng vẫn thô lỗ, cục cằn. Tuy vậy thầy vẫn cưng lắm và thường bào chữa hộ: cái nghề nhà binh nó phải vậy! Người con thứ hai của thầy theo học thần học ở bên Mỹ. Mới về mấy năm nay. Anh này như một người ngây dại. Suốt ngày câm lặng. Nhưng anh ta lại hoạt động có vẻ cần mẫn cho nhà thờ và giáo hội. Hay đi Sài Gòn luôn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #107 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:16:10 am »

Quỳnh là con thứ ba. Nếu không vì quá hâm mộ tài năng của thầy và nhất là "phát hiện” ra Quỳnh, thì tôi đã không lui tới gia đình này làm gì nữa. Tôi quá ngán anh sĩ quan dù. Tôi cũng không chịu nổi cái không khí trong ngôi nhà thày. Mỗi lần bước vô cửa, ngước nhìn lên thấy bàn thờ chúa với một bức tượng lặng lẽ, là tôi lại chỉ muốn quay ra. Có lẽ đã đọc thấy được mặc cảm ấy của tôi, thầy thường khuyên: người ta cần có một lòng tin ở Chúa. Không có lòng tin không sống nổi với thế gian đầy đau khổ này. Tôi chỉ im lặng. Tôi không dám thưa thẳng thắn với thầy là tôi cũng đã có một niềm tin mãnh liệt và vĩ đại của tôi. Lẽ dĩ nhiên niềm tin đó hoàn toàn không phải là ở nơi đức Chúa của thầy. Nói tóm lại, dường như tất cả mọi điều đã giữ tôi lại, làm cho tôi vẫn lui tới đây chỉ là Quỳnh.

Hồi bảo tôi: Quỳnh không đẹp, thậm chí "đuồn đuỗn như cá rô đực" . Tôi đã giận Hồi mất một tháng. Tôi không thể nào nghi ngờ về vẻ đẹp của Quỳnh. Đối với tôi ở trên đời này không ai có thể đẹp hơn Quỳnh dù chỉ là chút ít nhưng tôi cũng quá giận tôi. Chưa một lần nào tôi dám thổ lộ bằng lời hoặc bằng thư tất cả những gì tôi đã nghĩ về Quỳnh. Mỗi khi gặp gỡ tôi chỉ biết nhìn Quỳnh không mỏi và khẽ mỉm cười với Quỳnh. Quỳnh cũng thường mỉm cười đáp lại tôi, cặp mắt đen và dài lóng lánh. Chỉ có vậy. nhưng tôi luôn thầm tự an ủi, hơn thế nữa thầm tin tưởng rằng: thế là nàng đã hiểu tôi và chắc chắn cũng yêu tôi hết sức sâu sắc. Cứ như thế "mối tình của tôi với Quỳnh" đã kéo dài mấy năm nay và tôi vẫn thỉnh thoảng lui tới nhà Quỳnh, mặc dầu tôi đã thôi học thầy từ khi lên đại học.

Tôi vẫn gặp thầy và thầy vẫn thường khuyên tôi: "Người ta cần có một lòng tin ở Chúa" cũng như thầy vẫn dường như luôn luôn có ý sẵn sàng chấp nhận tôi làm một người con rể trong gia đình này. Thầy vẫn công khai khen tôi trước mặt Quỳnh: "Nhuần là một thanh niên hết sức thông minh và có chí! Sau này ắt làm nên danh phận" - "Lạy chúa tôi!”. Nào tôi có cần hiểu thế nào là "danh phận!". Tôi chỉ cần biết có một điều: Quỳnh có yêu tôi cũng như tôi đã yêu Quỳnh tha thiết hay không? Điều này Quỳnh không hề bao giờ nói ra. Và tôi, thì rõ ràng chẳng phải là "hết sức thông minh” như thầy đã nhận xét.

Tôi vẫn rạp mình đạp miết. Trước mắt tôi mỗi lúc như hiện rõ thêm lên gương mặt tròn trịa của Quỳnh với cặp mắt đen dài, với nụ cười hồn nhiên tươi trẻ, với mớ tóc xõa óng ả, với cái cổ cao trắng ngần như hoa huệ. lòng tôi rộn ràng sung sướng. Nhưng khi tới nhà Quỳnh. tôi đứng sững, tất cả đang xáo trộn. Tất cả đang rối tung lên. Gia đình Quỳnh đang hối hả thu xếp đồ đạc, chất lên một chiếc xe lam để di tản. Người anh Quỳnh theo học thần học với bộ mặt vừa như ngây dại vừa như bí hiểm vẫn đang câm lặng, nhưng rất nhanh nhẹn, khuân vác các bọc đồ, va-li, hòm xiểng lên xe.

Tôi chào - Anh ta chỉ khẽ gật đầu. Xưa nay vẫn vậy. Hai chúng tôi chưa một lần nào nói chuyện với nhau một câu, dù tôi đã trở thành người thân trong gia đình này. Bà giáo đang te tái chỉ bảo người đầy tớ gái thu xếp chăn màn, bát đĩa. Thầy giáo cũng đang chạy ngược chạy xuôi. Thầy đã già yếu mồ hôi chảy ròng ròng, nom tội quá. Riêng Quỳnh  mặc một chiếc áo dài xanh nhạt vạt có thêu hoa đứng trên thềm, trước mấy chậu lan, mặt tái xanh. Quỳnh không làm một việc chi hết.

- Thưa thầy! Thầy đi đâu thế ạ? - Giọng tôi gần như lạc đi vì xúc động.


Thầy nhìn tôi. Đôi mắt thầy giận dữ và đau khổ. Nom thầy càng già và gần như khác lạ hẳn. Lần đầu tiên, tôi thấy thầy nói với tôi bằng một giọng có phần lạnh nhạt:

- Anh không hiểu nữa sao? Phải đi thôi, anh ạ!

- Thưa thầy ... sao lại phải đi ạ? - Tôi gặng hỏi.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #108 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:17:23 am »

Thầy đứng thẳng lên, trân trân ngó tôi một lần nữa, rồi bỗng như gắt gỏng:

- Anh không hiểu sao? Có thật anh không hiểu điều gì sẽ xảy ra không?

- Thưa thầy không ạ!

- Tôi có thể vẫn tin anh là một thanh niên tốt và thành thực chứ?

- Thưa thầy hoàn toàn như vậy.

- Tôi đang nói chuyện với ai đây .

Tôi nhìn thầy, thương quá! Có lẽ thầy quá rối ruột, hóa khùng rồi sao?

- Thưa thầy, con đây! Nhuần đây!

- Tôi phải nói gì với anh bây giờ nhỉ? ừ, mà phải, tôi cũng nên khuyên anh một vài điều gì! Anh không thể biết hết được mọi điều đâu! Huế sẽ trở thành một biển máu. 

- Thưa thầy ...

- Huế sẽ bị san bằng ...

- Thưa thầy ...

- Tôn giáo sẽ bị cấm. Công nghệ sẽ bị diệt. Buôn bán sẽ bị hủy. Học đường sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn ...

- Trời! Thưa thầy, sao lại có thế thế...?

- Nói tóm lại, thế là sụp đổ hết, ở đây, tất cả sẽ là một sa mạc ...

- Thưa thầy không!

Tới lúc đó lòng tôi đau như cắt. Tôi nói như gào lên. Lần đầu tiên tôi dám cắt ngang lời thầy và phải thốt lên với thầy, với tất cả niềm giận dữ và phản kháng.

- Không. Thưa thầy không! Trăm lần con không tin những điều ấy! Thưa thầy! Có phải đấy là những lời thực sự của thầy không? Hay của ai?

Thật bất ngờ, nghe tôi nói tới đó, thầy há hốc miệng ra, lưỡi như cứng lại. Đôi mắt thầy mở to kinh ngạc đến tột độ. Rồi mặt thầy nhăn nhúm lại. Thầy rên lên khe khẽ, chỉ tay ra cổng:

- Thôi, anh về đi! Anh về đi!

Thật là kinh khủng! Thầy đuổi tôi. Tôi bối rối lùi lại. Tới lúc đó. Quỳnh vụt chạy ra. Mặt Quỳnh càng xanh tái hơn trước. Toàn thân nàng run lên. Tôi cũng không khỏi bàng hoàng. Tuy vậy trong giây phút quyết liệt ghê gớm ấy, không hiểu sao tôi vẫn còn đủ một chút tỉnh táo để kịp hỏi nhanh: 

- Quỳnh! Quỳnh cũng đi sao. 

- Vâng! Em ... cũng phải đi.

- Sao lại phải đi?

- Em... không hiểu! Quả tình em không thể hiểu nổi!

- Sao Quỳnh không ở lại?

- Trời! Em ở lại làm răng được! Anh tha lỗi cho em! Ngàn lần tha lỗi cho em!...

Nước mắt giàn giụa trên mặt Quỳnh. Tôi muốn ôm chặt lấy Quỳnh để cùng khóc lên, và thét lên: "Không! Không! Quỳnh không đi đâu hết!” Nhưng từ trong nhà thầy đã bước ra, lạnh lùng gọi :

- Quỳnh.

Thế là hết! Quỳnh như buột khỏi tay tôi chạy vụt trở vào. Tôi có cảm giác như tất cả hạnh phúc vừa rơi khỏi tay tôi, bị giằng xé khỏi tay tôi. Mắt tôi hoa lên và tối sập. Mấy giây sau tôi mới lảo đảo dắt xe trở ra đường. Đường về nhà qua những đâu tôi không biết nữa. Trời đất như đang có mưa tuôn. Tôi đi lang thang như một linh hồn lạc lối. Và trời đã nhá nhem tối tự lúc nào, cũng không rõ nữa. Cho tới lúc có tiếng gọi lanh lảnh phía sau, tôi mới bừng tỉnh. Bích Hường! Cô đang đi tới nhà Hồi, theo lời hẹn khi trưa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #109 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2009, 10:18:32 am »

2
Bạch đã tới báo cho chúng tôi biết một tin vui của anh và cũng là của chúng tôi: "Ông già biển cả" đã ở lại. (Sau khi Hồi và tôi ở nhà anh về, Bạch trở lại nhà, được thím Ba hỗ trợ đắc lực đã nói chuyện thêm với cha anh một lần nữa. Cuối cùng ông già đã ra lệnh tháo dỡ tất cả đồ đạc và thở dài: "Thật ra nào ai có muốn đi!" Đây là lần đầu tiên, hai cha con đã tỏ ra có lẽ không hề có xung khắc) ...

Khoảng tám giờ sáng hôm sau - ngày hai mươi - Hồi và tôi lại đến tìm giáo sư Vĩnh. Vừa tới cổng, thấy một chiếc xe Jeep sơn mới tinh đỗ ở đó, cả hai chúng tôi đều gần như sửng sốt. Cũng đúng lúc ấy giáo sư Vĩnh tiễn chân một người sĩ quan ăn vận khá chải chuốt đi ra. Trên chiếc mũ vải của người đó đính ba bông mai, có vạch vàng bên dưới. Chúng tôi đã nhận ra Nguyên Hùng, anh trai của giáo sư Vĩnh - Người này mới được phong đại tá, làm ở Bộ Tổng Tham mưu. Rất ít khi người này về Huế. Vợ con anh ta đều ở Sài Gòn - Vĩnh cũng rất ít khi nhắc tới người anh này. Hai anh em bắt tay nhau như khách. Nguyễn Hùng có vẻ rất mệt mỏi. Chiếc xe nổ máy phóng vụt đi, để lại một đám bụi đó bay quẩn.

- Rất tốt. Các em đến rất đúng lúc.

Giáo sư Vĩnh quay lại phía chúng tôi, rồi kéo chúng tôi vô căn buồng nhỏ của ngôi nhà lá tồi tàn mà anh vẫn ở. Khép cửa lại, giáo sư nói rất nhanh:

- Ông Hùng mới ở Sài Gòn ra. Một tin rất quan trọng vừa được tiết lộ: Sài Gòn lệnh cho ông Trưởng phải kiên quyết cố thủ Huế và Quân khu một bằng mọi giá. Một chiến lược mới đã được xác lập: co cụm lớn ở ven biển, từng vùng để chống lại mọi cuộc tiến công của Giải phóng. Ông Hùng trực tiếp mang lời căn dặn của tướng Cao Văn Viên cho Trưởng. Ông Hùng nói Thiệu rất bực tức vì Huế có những tiêu lệnh phá vũ khí và các hệ thống điện nước của thành phố...

- Như vậy... Hồi hồi hộp cắt ngang lời giáo sư.

- Như vậy có nghĩa là, đúng như các em đã nghĩ, các tiêu lệnh phá hoại đã bị thu lại từ 0 giờ hôm nay và như vậy cũng có nghĩa: các khối thuốc độc đặt ở nhà máy nước và các khối nổ đặt ở nhà máy đèn đã được tháo gỡ...

- Trời! Hay quá!

Hồi và tôi cùng nhìn nhau rất nhanh và khẽ thốt lên, thở trút ra. Mặt Hồi đỏ lên. Mắt long lanh sung sướng, anh hỏi tiếp: 

- Thế còn lệnh di tản, thưa giáo sư? ... 

- Riêng lệnh này vẫn được thi hành triệt để. Họ muốn vét hết dân đi, đề phòng cái gọi là "trường hợp xấu nhất". Cũng như 1972, mấy em! Họ luôn luôn có chủ trương như vậy. Họ vét dân, chỉ vì những thủ đoạn chính trị rất xấu xa, hết sức xấu xa...

- Chúng em hiểu! Chúng em hiểu. Chừ công việc, nhiệm vụ trước mắt của bọn em có chi thêm, có chi thay đổi không, thưa giáo sư?

- Như đã nói: “Họ" đã có chủ trương kiên quyết đánh để giữ Huế đấy. Như vậy, chiến sự sẽ có thể diễn ra hết sức ác liệt, ngay cả trên đường phố này không biết chừng. Lúc đó, chúng ta sẽ phải làm gì? Tất nhiên là phải làm bằng mọi cách, với tất cả mọi giá, tất cả sự hy sinh của chúng ta, phải cùng mọi giới đồng bào khác, tiếp tay cho các chiến sĩ của chúng ta. Riêng tôi nghĩ qua Mậu Thân ta cũng đã có thể hình dung ra được một số công việc rồi: ví dụ phải tổ chức các lực lượng dẫn dường, lực lượng trinh sát, lực lượng cứu thương, lực lượng tuyên truyền và lực lượng tiếp tế vân vân ... Có phải thế không, mấy em .

- Thưa, đúng như thế.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM