vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #140 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:18:38 pm » |
|
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHÂN DÂN CÁC BỘ TỘC LÀO TỈNH XA VAN NA KHẸT TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Đại tá XIỂN XAYNHẠLẠT Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Xa Van Na Khẹt Đối với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân chiến lược với quy mô lớn mang tên "Lam Sơn 719" năm 1971, có một số điểm nổi bật về sự đóng góp của lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân các bộ tộc Lào tỉnh Xa Van Na Khẹt trong chiến thắng Đường 9 - Nam Lào như sau: Địa bàn tỉnh Xa Van Na Khẹt nằm ở trung tâm của đất nước Lào, có tuyến đường chiến lược số 9 cắt ngang, phía đông sang Việt Nam, phía tây sang Thái Lan; đồng thời nằm trên tuyến trục của vĩ tuyến 17° bắc; địa hình rộng lớn, dân cư đông đúc, nhân dân các bộ tộc có truyền thống đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất, có nền văn hóa lâu đời, tài nguyên thiên nhiên phong phú. Do vậy, đây là nơi có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Trong những năm 1969 - 1971, cuộc "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào đã bị đẩy lên mức độ cao nhất. Toàn chiến trường Lào nói chung, chiến trường Trung Lào và khu vực Đường 9 - Nam Lào nói riêng, địch đã sử dụng không quân tiến hành đánh phá ác liệt ngày đêm vào khu giải phóng Mường Phìn, Na Nhôm, Sê Pôn, Ang Khăm, Tà Oi, Tum Lan... Vì khu vực Đường 9 - Nam Lào có tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua, lại là vùng căn cứ kháng chiến Trung - Hạ Lào nên cuộc chiến đấu lần này hết sức ác liệt. Lực lượng vũ trang địa phương và nhân các bộ tộc tỉnh Xa Van Na Khẹt đã liên minh, phối hợp chặt chẽ; kề vai sát cánh cùng với lực lượng chủ lực Việt Nam - Lào, quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu dũng cảm bền bỉ. Để tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719", dịch đã sử dụng lực lượng gồm nhiều tiểu đoàn bộ binh, các quân chủng, binh chủng dưới sự chi viện trực tiếp của không quân Mỹ, mở cuộc hành quân chiến lược với quy mô lớn vào phía đông tỉnh Xa Van Na Khẹt một cách ác liệt. Trước khi cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch xảy ra, tháng 1 năm 1971, Trung ương Đảng Nhân dân Lào Mặt trận Lào yêu nước đã ra chỉ thị cho toàn dân kiên trì đấu tranh và xác định nhiệm vụ trước mắt: nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân lúc này là phải kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi cho cách mạng Lào với khẩu hiệu: "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì chiến thắng đế quốc Mỹ và tay sai". Căn cứ vào sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Mặt trận Lào yêu nước, lực lượng vũ trang địa phương, chính quyền tỉnh cùng với nhân dân các bộ tộc đã tiến hành cuộc chiến đấu kiên cường, tham gia phục vụ chiến đấu, chủ động đánh tiêu hao, tiêu diệt địch bằng mọi thủ đoạn hình thức tác chiến; vận dụng địa hình, sử dụng lực lượng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chủ lực Việt Nam - Lào và quân tình nguyện Việt Nam. Nhằm phối hợp cùng chiến đấu giành thắng lợi trong chiến dịch này, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã sử dụng 2 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 14 và Tiểu đoàn 18) làm lực lượng chính tham gia chiến dịch và tổ chức các đội dân quân du kích của các mường phía đông và phía tây làm lực lượng quan trọng, chủ động đánh nhỏ lẻ phân tán, đánh cắt giao thông, chặn đánh địch rút chạy. Hàng nghìn thanh niên nam, nữ và nhân dân xung phong ra mặt trận phục vụ chiến đấu, mang vác vận chuyển vũ khí trang bị, cấp cứu thương binh, bệnh binh, chôn cất tử sĩ, dẫn đường cho bộ đội... Để thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền cách mạng cấp tỉnh đã cử đồng chí Khămpan phụ trách đội tuyên truyền vận động giúp đỡ di dời nhân dân ra khỏi khu vực tác chiến đến khu an toàn. Được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và của bộ đội tình nguyện Việt Nam, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, quân và dân Xa Van Na Khẹt đẩy mạnh chiến tranh nhân dân địa phương. Nhiều tấm gương tiêu biểu về tinh thần không sợ hy sinh, gian khổ, không quản khó khăn của dân quân du kích, nhân dân các mường Sê Pôn, Mường Noòng, Tà Ôi, Mường Phin, Ang Khăm... xuất hiện trong chiến dịch. Dân quân du kích và nhân dân thống nhất hành động, sử dụng vũ khí thô sơ, phối hợp với lực lượng chủ lực để tiêu diệt địch, dấy lên phong trào toàn dân đánh giặc rộng khắp trên các hướng của chiến dịch. Thực hiện yêu cầu, mục tiêu tiêu diệt địch của Mặt trận tỉnh và của tỉnh trưởng đề ra, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh tích cực thi đua diệt giặc, tham gia bắn máy bay, bảo vệ khu căn cứ, ra sức tăng gia sản xuất... Những tấm gương đó luôn khắc sâu trong trái tim, trí nhớ của nhân dân Lào trong suồt 40 năm qua và sẽ mãi mãi về sau. Những thành tích góp phần vào thắng lợi trong chiến dịch của quân và dân Xa Van Na Khẹt là chiến công nổi bật, thể hiện tinh thần dũng cảm tiêu diệt địch; tiêu biểu như: Tiểu đoàn 14, Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 5; Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 4; Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3, Đội du kích huyện Sê Pôn, xã Ang Khăm; bản Nặm Pa Khên; xã Tăng Alay, Xạ Kỵ Phi... Nhiều tấm gương tiêu biểu trong lực lượng vũ trang và nhân dân như các đồng chí xổmphavăn, Nangmạnivăn, Khăm, Amkum, Xỷkhay... Trong những tháng cuối năm 1971, sau thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quân và dân tỉnh Xa Van Na Khẹt tiếp tục phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam và chủ lực khu Nam Lào đẩy mạnh tiến công địch, giải phóng một số địa bàn quan trọng. Ngày 3 tháng 5 năm 1971, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam và chủ lực khu Nam Lào giải phóng các Mường Pha Lan, Mường Phìn. Tiếp đó, ngày 17 tháng 5 năm 1971, lực lượng vũ trang tỉnh cùng quân tình nguyện Việt Nam và chủ lực khu Nam Lào phối hợp giải phóng Mường Đồng Hên, uy hiếp chính quyền ngụy và quân đội phái hữu ở Sê Nô, Noong Hung, Phu Mon Tháu; Keng Koọc... Đồng thời, tỉnh cũng nhanh chóng củng cố tổ chức, bổ sung kiện toàn lại lực lượng vũ trang từ tỉnh xuống các huyện, dân quân du kích ở các làng, bản phù hợp với điều kiện thực tiễn, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #141 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:20:12 pm » |
|
QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀO TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO 1971 Đại tá PHALÔM LINTHOONG Sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 4 Như chúng ta biết, bước vào năm 1971, ở khu vực Trung Lào, cuộc chiến tranh đặc biệt mà đế quốc Mỹ đang tiến hành ngày càng tăng cường lên mức độ cao. Chúng đã sử dụng không quân đánh phá rất ác liệt vào khu giải phóng Mường Phìn, Na Nhôm, Sê Pôn, Ang Khăm, Tum Lan, Mường Noòng..., cả ngày lẫn đêm, vì khu vực đó có tuyến chi viện Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đi qua. Trong thời gian hơn 50 ngày đêm mở cuộc hành quân, đế quốc Mỹ đã tiến hành tiến công trên không và trên bộ vào phía Đông của tỉnh Xa Van Na Khẹt hết sức ác liệt. Quân giải phóng nhân dân Lào 1 (Nay là Quân đội nhân dân Lào), lực lượng vũ trang địa phương, nhân dân các bộ tộc Trung, Hạ Lào đã liên minh, kề vai sát cánh cùng các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường. Trung ương Đảng Nhân dân Lào, Mặt trận Lào yêu nước đã giao nhiệm vụ: Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai là nhiệm vụ trọng tâm số một, thực hiện khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai". Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Nhân dân Lào và Mặt trận Lào yêu nước, trước và trong chiến dịch, lực lượng chủ lực, lực lượng địa phương, chính quyền các tỉnh Trung Lào (Khăm Muộn, Xa Van Na Khẹt) cùng với toàn dân đã chủ động đứng lên đẩy mạnh đấu tranh vũ trang bằng nhiều hình thức tác chiến, đã phối hợp liên minh chiến đấu chặt chẽ với bộ đội tình nguyện Việt Nam và nhân dân các huyện ở phía đông Đường số 9. Mặt trận tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh cũng ra chỉ thị về các phương pháp đấu tranh, hình thức tác chiến, phát động thi đua lập công diệt địch, bắn máy bay địch, ra sức tăng gia sản xuất, tham gia vận tải, tiếp tế, dẫn đường cho bộ đội. Nhiều tấm gương cá nhân và tập thể tiêu biểu trong lực lượng vũ trang, trong nhân dân xuất hiện, góp phần cùng quân và dân hai nước trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào làm nên thắng lợi của chiến dịch. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai diễn ra vào thời gian chiến tranh rất ác liệt, rất khó khăn gian khổ mà quân và dân hai nước chúng ta đã tiến hành trong những năm 1969 - 1971. Đế quốc Mỹ đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại trên đất nước Lào. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào mở ra nhằm đánh bại "Học thuyết Níchxơn", đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" ở miền Nam Việt Nam và chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào của đế quốc Mỹ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam và Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy Lào đã trao đổi bàn bạc, thống nhất hành động nhằm bảo đảm giành thắng lợi cho chiến dịch. Lực lượng chủ lực và địa phương Quân khu Trung Lào tham gia chiến dịch gồm: Tiểu đoàn bộ binh 14 đóng quân ở Huội Nhạphứt, hoạt động đánh địch phía nam Đường số 9, Tăng Vai, Văn Khôn, cùng quân tình nguyện Việt Nam đánh chia cắt chiến dịch giữa phía trước và phía sau lưng địch. Tiểu đoàn 18, Đại đội độc lập 28, Tiểu đoàn pháo binh 19, Tiểu đoàn pháo phòng không 16 phối hợp cùng lực lượng địa phương và quân tình nguyện Việt Nam đánh và bao vây địch ở Huội Kaky, Bản Phin và phía bắc Đường số 9, Na Nhôm, Na Kụt Chan. Đại đội độc lập 19, Đại đội độc lập 93 và lực lượng địa phương các mường: Mường Noòng, Tum Lan, Xa Ra Van phục kích và bao vây chia cắt địch ở nam Đường số 9, chia cắt đường 23 hướng Mường Noòng, kiên quyết không cho địch phát triển xuống phía Hạ Lào. Thời gian chiến dịch diễn ra hơn 50 ngày đêm, bằng tinh thần chiến đấu dũng cảm, bền bỉ, quyết liệt, một mất một còn, các lực lượng tham gia chiến dịch đã trực tiếp chiến đấu với địch trên phạm vi rất rộng lớn. Các đơn vị Quân đội giải phóng nhân dân Lào tham gia chiến dịch đã chiến đấu ngày đêm không quản ngại hy sinh gian khổ, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Đặc biệt, các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tại điểm cao 450 trên hướng bắc Bản Đông - Sê Pôn đã phối hợp với một số đơn vị Quân đội nhân dân Lào chiến đấu giành giật với địch từng chiến hào. Sau khi địch chiếm được điểm cao 450, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho hai lực lượng Việt Nam - Lào sử dụng lực lượng đặc công vào tập kích điểm cao 450. Nhưng do địa hình khu vực điểm cao 450 quá hiểm trở, không thể tập kích được, nên ta phải sử dụng pháo binh đánh phá trước vào nơi đóng quân của địch. Chúng phát hiện ta và phản pháo trở lại, đồng thời dùng không quân đánh phá rất ác liệt. Cuộc chiến đấu tại khu vực điểm cao 450 kéo dài nhiều ngày đêm. Với quyết tâm cao, lòng căm thù giặc cao độ, không chịu khuất phục trước bom đạn địch, lực lượng vũ trang Việt Nam và Lào sát cánh quyết tâm đánh chiếm bằng được điểm cao đó. Cuối cùng, địch buộc phải bỏ chạy trước sửc tiến công mãnh liệt của bộ đội ta. Đặc biệt, từ ngày 4 đến ngày 17 tháng 2 năm 1971, địch sử dụng 3 tiểu đoàn ngụy Lào (BC.7, BC.101, BCr.303) tiến công rất mạnh nhằm chiếm Mường Pha Lan. Trên hướng này, địch đã bị Tiểu đoàn 14, Tiểu đoàn 18 Quân khu Nam Lào và các lực lượng tại chỗ cùng quân tình nguyện Việt Nam đánh trả quyết liệt, địch bị thiệt hại nặng và bị giam chân tại chỗ. Hình ảnh sống động về tinh thần chiến đấu, hy sinh dũng cảm của các chiến sĩ chúng ta luôn khắc sâu mãi mãi trong trái tim, trong trí nhớ, trong tâm khảm của mỗi người chúng ta. Sau Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn "Lam Sơn 719" của đế quốc Mỹ và tay sai trên Đường số 9 - Nam Lào, quân và dân các bọ tộc Lào đã nhanh chóng củng cố lực lượng, phát huy thắng lợi, tiếp tục mở nhiều trận đánh lớn, nhỏ, giải phóng và mở rộng các khu căn cứ, uy hiếp các lực lượng lính ngụy và chính quyền bù nhìn Viêng Chăn tại Xa Van Na Khẹt và tại các tỉnh khác thuộc khu vực Trung - Hạ Lào, góp phần cùng cô, giữ vững vùng giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #142 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:21:49 pm » |
|
QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM PHỐI HỢP TÁC CHIẾN VỚI QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN LÀO TRONG CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Quân giải phóng miền Nam Việt Nam - bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu ở chiến trường miền Nam là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, Quân giải phóng miền Nam đã nhiều lần phối hợp tác chiến với quân và dân Lào. Điển hình là Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, chiến dịch phản công giành thắng lợi vẻ vang, tạo bước ngoặt phát triển mới cho cuộc kháng chiến của quân và dân hai nước Việt Nam - Lào. 1. Mở Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quyết tâm lớn của quân đội hai nước Việt Nam và Lào. Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến và âm mưu, thủ đoạn mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong mùa khô 1970-1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã sớm nhận định: Địch có thể sử dụng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự hỗ trợ của một bộ phận quân Mỹ và quân đội chính phủ phái hữu Lào mở các cuộc tiến công quy mô vừa và lớn vào vùng Trung Lào, Hạ Lào. Trên cơ sở nhận định đó, Bộ Chính trị chỉ thị cho các chiến trường, nhất là các đơn vị ở khu vực Đường 9 - Bắc Quảng Trị và Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở vùng Nam Lào cần khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để đánh địch. Quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng phương án tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị chiến trường, ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (Mặt trận B5), quân và dân ta khẩn trương chuẩn bị thế và lực mạnh hơn những năm trước. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, t,ừ giữa năm 1970, Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 gồm 2 trung đoàn (1 và 141) và các đơn vị trực thuộc để lại trang bị nặng, bí mật cơ động từ Quế Sơn (Quảng Nam) ra khu vực Đường 9. Tại đây, Sư đoàn giấu quân trong các lán trại và nhiều hầm trú ẩn, do công binh Mặt trận B5 xây dựng; đồng thời được bổ sung quân số, vũ khí trang bị và huấn luyện theo cách đánh mới với yêu cầu cao hơn. Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương chủ trương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320) và một số đơn vị binh chủng ở Nam Quân khu 4, sẵn sàng cơ động vào Mặt trận B5 chiến đấu. Đến cuối tháng 10 năm 1970 việc nghiên cứu địa hình, chuẩn bị lực lượng, thế trận và kế hoạch tác chiến ở Mặt trận B5 và vùng Trung Lào Hạ Lào đã cơ bản hoàn thành. Giữa lúc quân và dân ta tích cực chuẩn bị chiến trường ở khu vực Mặt trận B5, ngày 30 tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970-1971, trong đó xác định: "Phải phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, giữa hai vùng chiến lược (vùng giải phóng và vùng sau lưng địch)... Chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công, quy mô lớn của quân đội Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung Lào, Hạ Lào... Phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Campuchia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn hơn" 1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào - bản tiếng Việt, lưu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 213). Để phù hợp với nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn cách mạng mới, đáp ứng yêu cầu tác chiến quy mô ngày càng lớn, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào quyết định thành lập 5 cụm chiến đấu (tương đương trung đoàn), trong đó Nam Lào có 2 cụm. Theo yêu cầu của bạn, Bộ Tư lệnh 559 cử chuyên gia giúp bạn tổ chức lực lượng, huấn luyện, hiệp đồng chiến đấu giữa các cụm và sẵn sàng phối hợp tác chiến với các đơn vị Quân tình nguyện và Quân giải phóng miền Nam. Trước tình hình địch ở Hạ Lào tăng quân từ 25 lên 44 tiểu đoàn, bố trí phòng ngự thành các cụm cứ điểm mạnh ở Tha Teng, Pắc Xoòng, Bô Lô Ven, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam ta chỉ thị cho Đoàn 968 Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào đẩy mạnh các hoạt động ở vùng sau lưng địch, phá thế chuẩn bị chiến trường của chúng. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh 559, từ ngày 20 đến 24 tháng 11 năm 1970, Đoàn 968 phối hợp với một số đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào, mở đợt tiến công dãy điểm cao phía đông Bô Lô Ven, các điểm cao PS38, LS165, Phu Lẳng Kẹo, buộc địch phải tháo chạy về Pắc Xế, Pắc Xoòng. Tiếp đó, ta và bạn tiến công tiêu diệt căn cứ Huội Sài; đồng thời giúp Quân giải phóng nhân dân Lào chuẩn bị chiến trường, sẵn sàng phối hợp tác chiến với Quân giải phóng miền Nam. Trên cơ sở các nội dung hội đàm được lãnh đạo Đảng hai nước Việt Nam và Lào nhất trí, đầu năm 1971, Thường vụ Quân ủy Trung ương ta ra nghị quyết giúp cách mạng Lào về quân sự với 6 mục tiêu cụ thể, trong đó nhấn mạnh phải tích cực chuẩn bị lực lượng để đẩy mạnh các đợt hoạt động khi có thời cơ và xác định Trung Lào, Hạ Lào là chiến trường trọng điểm phối hợp tác chiến giữa quân đội hai nước. Trong khi Quân giải phóng miền Nam khẩn trương chuẩn bị mọi mặt ở Mặt trận B5 và Quân giải phóng nhân dân Lào chuẩn bị đánh địch ở vùng Trung Lào, Hạ Lào, thì Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 thuộc tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và vùng Nam Lào thuộc tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào). Theo dõi chặt chẽ và sớm dự đoán âm mưu, thủ đoạn của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ta quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, nhằm tiêu diệt lớn quân địch, bảo vệ vững chắc tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam ở khu vực Đường 9 và vùng Trung - Hạ Lào, tạo điều kiện cho các chiến trường đẩy mạnh tiến công địch, giành thế chủ động trong mùa khô 1971-1972. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 (Bộ Tư lệnh 702) do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo mặt trận. Tham gia chiến dịch, về phía Quân giải phóng miền Nam 1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.115) có 5 sư đoàn bộ binh (308, 320, 304, 2, 324), 4 tiểu đoàn tăng thiết giáp (177, 287, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84), 4 trung đoàn pháo phòng không (230, 237, 241, 491); 3 trung đoàn pháo binh (7, 83, 219) và một số tiểu đoàn đặc công, thông tin. Đây là khối chủ lực cơ động mạnh, là lực lượng nòng cốt thực hiện những trận đánh lớn, những đòn đánh mạnh trong chiến dịch. Lực lượng Quân giải phóng tại chỗ gồm các đơn vị bộ binh, đặc công, phòng không, công binh của các mặt trận B4, B5 và Đoàn 559. Đây là lực lượng huy động nhanh nhất, có khả năng đánh địch ngay từ đầu với quy mô và cách đánh thích hợp, tạo thuận lợi cho lực lượng cơ động chiến lược phản công đánh lớn, tiêu diệt địch. Các đơn vị tham gia chiến dịch tổ chức thành 5 bộ phận: Bộ phận tác chiến ngăn chặn, tạo thế gồm Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304), lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 và một số đơn vị pháo binh, phòng không. Bộ phận phản công trên hướng chủ yếu gồm Sư đoàn 308, Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và phần lớn xe tăng, pháo binh, phòng không chiến dịch. Bộ phận phản công trên hướng thứ yếu gồm Sư đoàn 324 (thiếu), Sư đoàn 2 (thiếu) và một số xe tăng, pháo binh chiến dịch. Bộ phận đánh địch phía sau gồm lực lượng tại chỗ của B5, các trung đoàn 27, 246 (B4), Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ và Trung đoàn pháo binh 64. Bộ phận đánh địch trên hướng phối hợp gồm Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) và bộ phận dự bị chiến dịch gồm Sư đoàn 304 (thiếu), ở phía tây Đường 9 có một số đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào tham gia phối hợp chiến đấu. Ngoài ra, ta còn huy động lực lượng lớn quần chúng nhân dân tham gia vận chuyển lương thực, đạn dược... phục vụ chiến dịch. Như vậy, thực hiện chủ trương của lãnh đạo hai nước, từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1971, các đơn vị chủ lực cơ động và lực lượng tại chỗ của Quân giải phóng miền Nam được giao nhiệm vụ đã nhanh chóng cơ động đến các vị trí tập kết chiến dịch ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị bí mật, an toàn, sẵn sàng phối hợp với các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào ở khu vực Nam Lào đánh địch. Thế phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào được hình thành, tạo thuận lợi để thực hiện quyết tâm của lãnh đạo hai nước là phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #143 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:23:38 pm » |
|
2. Phối hợp tác chiến trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, điển hình mẫu mực về tình đoàn kết chiến đấu đăc biệt giữa quân đội hai nước Việt Nam và Lào.
Thực hiện quyết tâm của lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: Phải tập trung các đơn vị chủ lực và lực lượng tại chỗ của Quân giải phóng miền Nam phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào phản công tiêu diệt lớn quân địch trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, bởi đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, cần phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa quân đội hai nước.
Trên cơ sở phương án tác chiến của chiến dịch, Bộ Tổng Tham mưu điều động, giao nhiệm vụ cho các đơn vị Quân giải phóng miền Nam phối hợp với các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào đánh địch. Quá trình thực hành chiến dịch, sự phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào được thực hiện linh hoạt, sáng tạo, từng bước phát huy hiệu quả qua 3 đợt tác chiến chiến dịch.
Đợt 1 (30-1 - 7-2-1971), khi địch bắt đầu mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719"; ta và bạn gấp rút cơ động lực lượng, triển khai thế trận, tổ chức các chốt ngăn chặn địch ở Cô Bốc, Cô Rốc, các điểm cao 660, 723, 351, khu vực cầu Cha Ky án ngữ trục Đường 9. Đồng thời, bộ đội đặc công và lực lượng vũ trang Mặt trận B5 đánh địch ở Xuân Khánh, Vinh Quang Thượng, Vinh Quang Hạ, Bông Nho, Đầu Mầu, Kế Sóc, Ba Lào, gây cho địch một số thiệt hại, làm chậm bước triển khai lực lượng để tiến công của chúng. Trong khi đó, tại khu vực Nam Lào, ta giúp bạn huy động toàn bộ lực lượng của Quân khu Nam Lào và tỉnh Xa Van Na Khẹt triển khai thế trận, bố trí lực lượng, sẵn sàng phối hợp với các đơn vị Quân giải phóng miền Nam đánh địch.
Đợt 2 (8-2 - 11-3-1971), địch tổ chức tiến công đánh chiếm Bản Đông, phát triển lên Sê Pôn. Lực lượng ta trên các hướng dũng cảm chiến đấu, ngăn chặn, làm chậm bước tiến của quân địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực cơ động triển khai đội hình, đánh những trận tập trung tiêu diệt lớn như: các trung đoàn bộ binh 88, 102 (Sư đoàn 308), Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) đánh địch ở các điểm cao 316, 456, 500. Điển hình là trận đánh của Trung đoàn 64 ở điểm cao 543, tiêu diệt Tiểu đoàn 3 và 1 tiểu đoàn pháo binh, bắt toàn bộ ban tham mưu Lữ đoàn 3 dù địch, bẻ gãy cánh quân phía Bắc. Tại khu vực chủ yếu trên trục Đường 9, Trung đoàn bộ binh 24 (Sư đoàn 304) đánh ngăn chặn địch ở Bản Đông, ở khu vực phía Nam, Sư đoàn 324 (thiếu) và lực lượng tại chỗ Đoàn 559 đánh thiệt hại nặng cánh quân phía Nam của địch. Trong khi đó, ở phía tây Đường 9, Trung đoàn 141 bộ binh (Sư đoàn 2) và Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) phối hợp với một bộ phận Quân giải phóng nhân dân Lào đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn quân ngụy Lào ở Pha Đô Tuya. Thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh mặt trận, Trưng đoàn 1 (Sư đoàn 2) tổ chức các điểm tựa phòng ngự ở khu vực ngã ba đường 18, câu chữ S, cây số 27 phía tây Bản Đông. Tiếp đó, Sư đoàn 2 (thiếu) cùng Sư đoàn 324 (thiếu) và lực lượng vũ trang địa phương bao vây Sư đoàn 1, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến địch tại các điểm cao 723, 550, 532, diệt 8 đại -đội đich, bắn rơi 40 máy bay trực thăng. Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2) liên tục bám đánh 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 bộ binh địch ở đông bắc Sê Pôn, buộc chúng phải tháo chạy về điểm cao 748. Đến ngày 11 tháng 3, ta và bạn đã chặn đứng các mũi tiến công của địch, giữ vững hệ thống kho tàng, hành lang vận chuyển chiến lược phía tây đường Trường Sơn, tạo thế phát triển chiến dịch, từ phối hợp tác chiến phản công chuyển sang phối hợp tác chiến tiến công địch quy mô lớn hơn.
Đợt 3 (12 - 23-3-1971), phát huy thắng lợi, Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào liên tục tiến công các vị trí quân địch trên toàn tuyến. Ở phía nam Đường 9, từ ngày 12 đến 16 tháng 3, Sư đoàn 2 (thiếu) được tăng cường 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) vây lấn tiến công địch ở điểm cao 723 (Phu Riệp), loại khỏi vòng chiến đấu Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 địch. Tiếp đó, ngày 22 tháng 3, Sư đoàn 2 và Sư đoàn 324 được tăng cường xe tăng, pháo binh sau một thời gian vây ép tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 2 Sư đoàn 1 ở điểm cao 660, đánh thiệt hại nặng Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến ở các điểm cao 532, 550, 540. Ở phía tây Đường 9, các tổ công tác của Đoàn 565 phối hợp với các đại đội 91, 93 Quân giải phóng nhân dân Lào và du kích chặn đánh tiêu diệt nhiều sinh lực của GM33 khi chúng từ Huội Mun, Tùm Lan tiến ra hỗ trợ quân đội Sài Gòn đánh vào Mường Noòng. Một tổ chuyên gia khác cùng Tiểu đoàn 14 Quân khu Trung Lào tổ chức các trận phục kích GM31 ở khu vực Đồng Một, Huội Xa La, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn và sở chỉ huy GM31, buộc chúng phải rút chạy về Sê Săng Soi. Ở Phu Tin Tốc, hoả lực ĐKB của Quân giải phóng nhân dân Lào đánh thiệt hại nặng GM32 khi chúng triển khai đội hình chiến đấu. Trong khi đó, ở hướng Đường 9, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung các trung đoàn: 64 (Sư đoàn 320), 36 (Sư đoàn 308), 66 (Sư đoàn 304) bao vây Bản Đông và Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304), Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) áp sát Đường 9. Bị vây chặt, cô lập ở Bản Đông và thiệt hại nặng, địch hoang mang buộc phải rút lui. Bộ đội ta giải phóng Bản Đông, rồi chuyển sang truy kích địch rút chạy. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Các đơn vị Quân giải phóng miền Nam được giao nhiệm vụ đã hoàn thành xuất sắc kế hoạch phối hợp tác chiến với các đơn vị Quân giải phóng nhân dân Lào, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #144 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2026, 08:24:38 pm » |
|
Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn, đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng của quân đội ta, trong đó có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả giữa quân đội hai nước Việt Nam và Lào. Tuy nội dung về quá trình phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào chưa được đề cập đầy đủ, trọn vẹn, nhưng có thể rút ra một số nét mang tính đặc thù sau đây:
Một là, để không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ hợp tác, phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đánh bại quân Mỹ, quân Sài Gòn và quân đội phái hữu Lào, vấn đề quan trọng là phải nắm vững đường lối, quan điểm quốc tế của lãnh đạo Đảng hai nước trong suốt quá trình phối hợp tác chiến trước, trong và sau khi chiến dịch kết thúc. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong mối quan hệ liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt Nam - Lào, do Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Hai là, kể từ khi cùng tiến hành cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược, lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào đã thống nhất chủ trương phối hợp tác chiến trên các chiến trường Lào, trong đó xác định Nam Lào là một địa bàn chiến lược rất quan trọng của chiến trường Lào và chiến trường Đông Dương, nên đã quyết định phối hợp tác chiến chặt chẽ. Đặc biệt là, từ ngày 30 tháng 1 đến 23 tháng 3 năm 1971, khu vực Đường 9 thuộc tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) và vùng Nam Lào thuộc tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào) đã trở thành trung tâm phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào, biểu hiện sinh động về đoàn kết quốc tế, giúp đỡ tận tình lẫn nhau giữa quân đội hai nước. Đây là một tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu phát triển cuộc kháng chiến hai nước Việt Nam - Lào, góp phần tạo ra bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến của quân và dân ba nước Đông Dương.
Ba là, thực hiện đường lối, chủ trương của lãnh đạo hai nước, Quân giải phóng miền Nam đã phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào về mặt tác chiến ở phía Tây Đường 9 trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch, quyết tâm chiến đấu ngăn chặn, gây cho địch một số thiệt hại, làm chậm bước tiến quân của chúng. Trên cơ sở đó, quân đội hai nước nhanh chóng chuyển từ thế phối hợp tác chiến phản công sang phối hợp tác chiến tiến công, phát huy sức mạnh của lực lượng chủ lực cơ động, đánh các đòn then chốt, bẻ gãy từng cánh quân của địch, tạo thế và thời cơ thuận lợi chuyển sang tiến công tiêu diệt lực lượng lớn quân địch và truy kích chúng rút chạy, kết thúc chiến dịch. Từ đây, thế phối hợp tác chiến giữa Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào ở Nam Lào cũng như trên các chiến trường Lào có điều kiện phát triển thuận lợi.
Bốn là, thắng lợi của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi của mối quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào, trong đó có sự đóng góp to lớn của Quân giải phóng miền Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào. Thắng lợi của chiến dịch này mở ra khả năng quân đội hai nước Việt Nam và Lào hoàn toàn có đủ lực lượng, trình độ phối hợp tác chiến đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn tiêu diệt quân chủ lực tinh nhuệ, lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch; giải phóng từng địa bàn chiến trường quan trọng.
Như vậy, trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Quân giải phóng miền Nam đã phối hợp tác chiến chặt chẽ, hiệu quả với Quân giải phóng nhân dân Lào, đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật phối hợp tác chiến trong chiến dịch phản công, tiêu diệt lớn quân đội Sài Gòn, bảo vệ được tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam. Kế tiếp Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, quân đội hai nước tiếp tục phối hợp tác chiến mạnh mẽ trên các chiến trường Lào, đánh nhiều trận, điển hình là phối hợp tác chiến trong các chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chiến dịch tiến công Cánh Đồng Chum - Long Chẹng và chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, góp phần đánh bại hoàn toàn chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ ở Lào. Truyền thống và kinh nghiệm về phối hợp tác chiến của quân đội hai nước Việt Nam và Lào trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, cũng như các chiến dịch khác trong sự nghiệp giải phóng dân tộc là tài sản vô giá, cần giữ gìn và tiếp tục phát huy, phát triển cao hơn, lớn hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân mỗi nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #145 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:14:18 pm » |
|
QUÂN VÀ DÂN CÁC TỈNH NAM LÀO TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NỬA CUỐI MÙA KHÔ 1970-1971 Đại tá TRẦN MINH CAO Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trung úy LÊ THANH HẢI Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ba nước Đông Dương, địa bàn Nam Lào có vị trí chiến lược quân sự quan trọng. Đó là một trong những chiến trường giành giật quyết liệt giữa các lực lượng cách mạng và phản cách mạng. Trên địa bàn chiến lược quan trọng này, với mối quan hệ đặc biệt, chi viện và liên minh chiến đấu Việt - Lào, Lào - Việt, quân và dân các tỉnh Nam Lào luôn kề vai sát cánh cùng quân và dân Việt Nam, trực tiếp là các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, các đơn vị chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam sang chiến đấu trên đất Lào đã liên tiếp đánh bại các âm mưu và thủ đoạn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Ngay sau sự kiện Mỹ tổ chức đảo chính lật đổ Chính phủ Nôrôdôm Xihanúc, dựng lên chính quyền tay sai Lon Non - Xirích Matắc ở Campuchia (3-1970), Bộ Chính trị và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đánh giá đúng bản chất hiếu chiến, phiêu lưu của Níchxơn, những âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Bộ Chính trị nhận định: trong mùa khô 1970-1971, địch có thể mở những cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân Sài Gòn là chủ yếu, có một bộ phận quân Mỹ hỗ trợ. Mục tiêu của địch là đánh vào vùng Trung - Hạ Lào và vùng Đông Bắc Campuchia nhằm phá cơ sở cách mạng của bạn, phá hủy cơ sở hậu cần của ta và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Trường Sơn, cô lập chiến trường miền Nam. Các chiến trường, nhất là các đơn vị ở khu vực Đường 9 - Nam Lào được lệnh khẩn trương chuẩn bị đánh địch 1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 374-375). Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo công tác chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào ngay từ mùa hè 1970. Chuẩn bị cho quân và dân Lào đối phó với các âm mưu và hành động leo thang mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, ngày 26 tháng 6 năm 1970, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp ra nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng Lào trong hai năm tới. Thường vụ nhận định: đế quốc Mỹ ít có khả năng đưa "chiến tranh đặc biệt tăng cường" thành "chiến tranh cục bộ" ở Lào; nếu có đưa thêm quán đánh thuê vào cũng chỉ là "chiến tranh đặc biệt tăng cường" mức độ cao hơn. Thường vụ quyết định trong hai năm tới: Phát huy thế chủ động tiến công địch về mọi mặt; ra sức củng cố vùng giải phóng thật vững mạnh, giữ vững thế liên hoàn chặt chẽ của vùng giải phóng, khi có điều kiện thì mở rộng thêm vùng giải phóng vào những khu vực chiến lược quan trọng, đông dân; phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt; tăng cường đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai phản động 1 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Lịch sử Đảng Nhân dân cách mạng Lào (Tóm lược), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.153). Thường vụ nhận định, hướng Trung - Hạ Lào sẽ càng trở nên đặc biệt quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tuyến vận tải chiến lược chi viện chiến trường ba nước Đông Dương. Những diễn biến mới trên các chiến trường ba nước Đông Dương sát đúng với nhận định của Trung ương Đảng ta và bạn. Đó là, nhằm xoay chuyển cục diện chiến trường ba nước Đông Dương sau những thất bại trong mùa khô 1969-1970, cùng với việc ráo riết thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" dùng quân Sài Gòn thay vai trò quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, đế quốc Mỹ đẩy lên đỉnh cao "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào. Theo đó, với biện pháp chiến lược "chiến tranh bóp nghẹt", tháng 11 năm 1970, Mỹ và quân đội Sài Gòn quyết định mở cuộc tiến công quy mô lớn tại khu vực Đường số 9 - Nam Lào. Đồng thời, chúng mở một cuộc hành quân đánh sang Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia) và một cuộc hành quân đánh vào vùng Ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia để phối hợp với cuộc tiến công ở hướng Đường 9 - Nam Lào. Quân và dân hai nước Việt - Lào, trực tiếp là quân và dân các tỉnh trong khu vực Đường 9 - Nam Lào đang đứng trước một cuộc thử thách quyết liệt mới với đế quốc Mỹ và đồng minh của Mỹ ở khu vực. Các tỉnh Nam Lào quán triệt nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào, xúc tiến các mặt công tác chuẩn bị bảo đảm chiến đấu. Các đơn vị chủ lực Bộ trên địa bàn, các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, mường, các tổ đội dân quân du kích xã, bản tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, huấn luyện quân sự, chuẩn bị bảo đảm hậu cần,... nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng hai nước về liên minh chiến đấu, cùng với cả nước, hệ thống tổ chức chuyên gia quân sự và Quân tình nguyện Việt Nam tại Nam Lào có sự thay đổi để đáp ứng với yêu cầu tình hình mới. Theo kiến nghị của Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào 1 (Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Nam Lào (gọi tắt là Bộ Tư lệnh 959) trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập theo quyết định của Bộ Quốc phòng ngày 15-7-1970), ngày 29 tháng 7 năm 1970, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam ra quyết định chuyển giao lực lượng quân tình nguyện ở Nam Lào (Đoàn 968) trước đây do Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ huy nay thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Tư lệnh 559. Bộ Quốc phòng tăng cường 50 cán bộ sang Mặt trận Nam Lào. Bộ Tổng Tham mưu điều Trung đoàn 9 thuộc Mặt trận Trị - Thiên tăng cường cho Đoàn 968. Ngày 30 tháng 10 năm 1970, Tổng Quân ủy Quân giải phóng nhân dân Lào ra nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970-1971, trong đó xác định "chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân đội Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung, Hạ Lào và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, phối hợp chặt chẽ với chiến trường Nam Việt Nam và Campuchia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn" 1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 325).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #146 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:15:30 pm » |
|
Thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang theo nghị quyết về nhiệm vụ và kế hoạch quân sự mùa khô (1970-1971), Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào quyết định thành lập 5 cụm chiến đấu (mỗi cụm tương đương trung đoàn) bố trí sẵn ở những khu vực quan trọng, trong đó ở địa bàn Nam Lào có 2 cụm. Công tác tổ chức xây dựng 2 cụm chiến đấu ở Nam Lào được triển khai khẩn trương nhằm tập trung bảo đảm cho nhiệm vụ trước mắt và lâu dài ở chiến trường trọng điểm Nam Lào.
Tháng 1 năm 1971, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dân Lào quyết định: "Nhiệm vụ trung tâm số một của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Lào trong lúc này là đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn cho cách mạng Lào và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang của mình". Khẩu hiệu "Tất cả vì tiền tuyến", "Tất cả để đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai"2 (Ban chỉ đạo nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào, Lịch sử Dàng Nhân dân cách mạng Lào (Tóm lược), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 154).
Đầu năm 1971, trên cơ sở các nội dung hội đàm giữa Trung ương Đảng hai nước, Thường vụ Quân ủy Trung ương Việt Nam ra nghị quyết giúp cách mạng Lào về quân sự, trong đó xác định: phải tập trung chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ trước mắt ở chiến trường trọng điểm Trung - Hạ Lào.
Chấp hành nghị quyết của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào được lệnh tách ra, trở lại hoạt động với tên gọi Đoàn chuyên gia quân sự 959 như trước đây. Ở Nam Lào, Quân khu 4 giúp bạn từ nam đường 7 đến bắc đường 12, trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy cả chuyên gia và quân tình nguyện ở Nam Lào. Đoàn 559 phụ trách Bộ Tư lệnh 968 và Trung đoàn 29 quân tình nguyện, giúp bạn từ nam đường 12 đến cực Nam Nam Lào. Đoàn 565 trực thuộc Bộ Tư lệnh 559 giữ nguyên các tổ chuyên gia ở Nam Lào, tiến hành chuyên gia cho Quân khu và các tỉnh; đồng thời hình thành khung chuyên gia tổ chức 2 cụm chủ lực ở Đường 9 và Nam Lào.
Quân và dân các tỉnh Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Đoàn 968 ngăn chặn đẩy lui các đợt tiến công lấn chiếm cao nguyên Bô Lô Ven của quân đội phái hữu Lào, phá thế chuẩn bị hoạt động mùa khô của địch ở Nam Lào. Các địa phương Nam Lào vận động sơ tán dân và kho tàng, tổ chức lực lượng chiến đấu, chống biệt kích, thám báo, thu phục phỉ làm trong sạch địa bàn; sẵn sàng phối hợp với bộ đội chủ lực Việt Nam tác chiến trên địa bàn chiến lược Đường 9 - Nam Lào. Thực hiện chỉ thị của đồng chí Tư lệnh Đoàn 559, Binh trạm 41 thuộc Đoàn 559 vừa tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu vừa "liên hệ gấp với Huyện ủy Sê Pôn, để nghị bạn tổ chức khẩn trương sơ tán dân. Nếu bạn thiếu gạo, muối thì hỗ trợ"1 (Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn (Hồi ức)... Sđd, tr. 215-216). Cùng với nhân dân Mường Sê Pôn, nhân dân các mường khác của tỉnh Xa Van Na Khẹt sơ tán ra các vùng an toàn, tổ chức sản xuất, bảo đảm ổn định cuộc sống khi có chiến sự. Nhân dân một số tỉnh Nam Lào vừa sơ tán vừa tổ chức các đoàn dân công đi phục vụ hỏa tuyến.
Ngày 30 tháng 1 năm 1971, quân Sài Gòn dưới sự yểm trợ của hỏa lực pháo binh và không quân Mỹ bắt đầu triển khai lực lượng tiến hành cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào.
Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn có mục đích chủ yếu nhằm cắt đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn, triệt phá cơ sở kho tàng, hậu cần chiến lược của lực lượng cách mạng, chặn đứng luồng tiếp tế từ hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam, lập tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương, tạo cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn thế mạnh để cô lập cách mạng miền Nam, uy hiếp miền Bắc Việt Nam, hỗ trợ cho "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào và tiến công xâm lược Campuchia... Đây là cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Lào hóa chiến tranh", "Việt Nam hoá chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Binh lực Mỹ và quân đội Sài Gòn huy động vào cuộc hành quân ngày càng lớn1 (Lực lượng địch lúc đầu gồm 3 sư đoàn (Sư đoàn bộ binh số 1, sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 2 lữ đoàn thiết giáp, 16 tiểu đoàn pháo binh, 700 máy bay các loại (có cả máy bay ném bom chiến lược B-52. Trong quá trình hành quân, địch đưa thêm 1 lữ đoàn (369 thủy quân lục chiến), 1 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 4, Sư đoàn bộ binh 2) và một số đơn vị hỏa lực, nâng tống quân số toàn cuộc hành quân lên 55.000 tên, 578 xe tăng, xe thiết giáp, 318 khẩu pháo từ 105mm trở lên), trong đó có một số binh đoàn (GM) quân đội chính phủ phái hữu Lào tham gia phối hợp. Địa bàn hành quân của địch chủ yếu trên khu vực dọc Đường 9 từ Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) đến mường Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt (Lào), với chiều dài khoảng 900km, chiều rộng khoảng 60km.
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam cùng Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy Lào thống nhất quyết định sử dụng một bộ phận binh lực lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào1 (Lực lượng Việt-Lào trong chiến dịch gồm: 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2); 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp (177, 197, 241, 491); 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84); 4 trung đoàn phòng không (230, 237 241 491); 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ; một số lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559; Mặt trận B4, B5; một số tiểu đoàn đại đội độc lập chủ lực Bộ và địa phương Quân giải phóng nhân dân Lào).
Thực hiện kế hoạch của Bộ Tư lệnh chiến dịch, chấp hành chỉ thị của Bộ chỉ huy tối cao và Bộ chỉ huy Quân khu Nam Lào, Tỉnh đội Xa Van Na Khẹt điều động các đơn vị pháo binh và phòng không, các tiểu đoàn 14, 18 và các đại đội địa phương Sê Pôn, Mường Phìn, Mường Noòng, Tà Ôi cùng các lực lượng Việt Nam gấp rút chuẩn bị trận địa và phương án tác chiến.
Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân Mỹ và quân Sài Gòn chia thành 3 cánh ồ ạt vượt biên giới Việt - Lào đánh sang Nam Lào. Ngày 10 tháng 2, cánh quân chủ yếu của địch đến Bản Đông. Cùng thời gian, quân phái hữu Lào huy động một số binh đoàn ở phía Bắc tỉnh Xa Ra Van chuẩn bị hoạt động phối hợp với quân Sài Gòn ở phía tây Đường 9.
Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ rõ ý đồ của Mỹ và quân đội Sài Gòn đánh sang Nam Lào nhằm nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường 9 (đoạn Lao Bảo - Sê Pôn) lập phòng tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương; sau đó lùng sục, đánh phá kho tàng, phá hủy nguồn tiếp tế và dự trữ cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Trung - Hạ Lào và Campuchia.
Các đơn vị tham gia chiến dịch của hai quân đội Việt - Lào thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch, trên thế trận đã chuẩn bị sẵn, đánh trả quyết liệt các cánh quân địch ngay từ những ngày đầu. Các tiểu đoàn, đại đội độc lập chủ lực Bộ và địa phương Quân giải phóng nhân dân Lào chủ yếu chặn đánh các binh đoàn quân phái hữu Lào, phá tan ý đồ phối hợp tác chiến và hợp điểm của chúng với quân đội Sài Gòn ở phía tây Đường 9.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #147 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:17:12 pm » |
|
Tại phía bắc Đường 9, du kích mường Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt tích cực tham gia cùng các đơn vị chủ lực Việt Nam tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân ở phía bắc Đường 9 của địch, diệt gọn những cụm cứ điểm then chốt trên các cao điểm 500, 543, đập tan cuộc phản kích lớn của Lữ đoàn 3 dù và Trung đoàn 17 thiết giáp của quân đội Sài Gòn, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ cùng ban chỉ huy lữ đoàn, đánh thiệt hại Liên đoàn 1 biệt động quân (12.2 - 3.3.1971). Tham gia chiến đấu và dẫn đường cho các đơn vị đặc công Việt Nam đánh vào Sở chỉ huy, bắt sống đại tá, chỉ huy trưởng Lữ đoàn 3 địch, có đồng chí Amkum, du kích bản A Ho, xã Xa Ky Phim, huyện Sê Pôn, tỉnh Xa Van Na Khẹt1 (Đồng chí Amkum được Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tuyên dương Anh hùng tháng 4-1979. Đồng chí mất tại quê nhà tháng 7-1995).
Trên hướng phía tây Đường 9, các đơn vị chủ lực và địa phương Quân giải phóng nhân dân Lào cùng Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 Quân đội nhân dân Việt Nam chặn đánh các binh đoàn quân đội phái hữu Lào, không cho chúng tiến tới hợp điểm với quân đội Sài Gòn tại Mường Phin. Binh đoàn 33 phái hữu Lào từ Huội Mun, Tum Lan tiến lẽn hỗ trợ cho cánh quân Sài Gòn đánh vào Mường Noòng đã bị các đại đội độc lập 91, 93 của Quân giải phóng Lào cùng với du kích chặn đánh và bị tiêu hao nặng tại Phu Đô Tuya. Binh đoàn 31 từ Mường Pha Lan cơ động theo đường tắt về Đồng Một - Huội Xa La và lọt ngay vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 14 Quân khu Nam Lào. Tiểu đoàn đi đầu và Ban chỉ huy của Binh đoàn 31 bị tập kích bất ngờ, tổn thất nặng, buộc phải rút về Sê Săng Soi. Binh đoàn 32 dừng quân ở địa điểm Pu Tin Tốc để triển khai chiến đấu thì bị hỏa lực ĐKB của Quân giải phóng Lào tập kích mãnh liệt, phải bỏ dở cuộc tiến quân. Kết cục, các binh đoàn quân đội phái hữu Lào ở hướng tây Đường 9 đều bị chặn đánh, bị tiêu hao nặng, phải bò dỏ kế hoạch hành quân.
Ở phía đông Đường 9, ngày 18 tháng 3 năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn không thực hiện được ý đồ đánh chiếm Sê Pôn và chúng buộc phải rút chạy khỏi Bần Đông. Các đơn vị chủ lực cơ động Quân giải phóng miền Nam chuyển sang truy kích địch.
Tại Hạ Lào, các lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam và Quân khu Nam Lào được tổ chức thành Mặt trận Y. Ban chỉ huy Mặt trận Y về phía Lào có các đồng chí Khămchăn, Kalăng và các đồng chí bí thư Tỉnh ủy, tỉnh đội trưởng các tỉnh Nam Lào; về phía Việt Nam có đồng chí Đại tá Hoàng Kiện, Phó Tư lệnh Đoàn 559, trực tiếp chỉ huy tác chiến và các đồng chí Hoàng Biền Sơn, Nguyễn Ngọc Sơn.
Ngày 21 tháng 2 năm 1971, khi Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đang diễn ra quyết liệt, Bộ chỉ huy Mặt trận Y giao nhiệm vụ cho các đơn vị Nam Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam tổ chức tiến công các vị trí địch ở cứ điểm 38 (In Thi), cứ điểm 165 (Nặm Tiêng) và cứ điểm 22 (Nặm Lực). Lực lượng điều động cho các trận đánh có 2 tiểu đoàn chủ lực của Quân khu Nam Lào, các đại đội địa phương các tỉnh Xa Ra Van, miền Đông (Tà Ven Oọc), A Tô Pơ và Bô Lô Ven; Quân tình nguyện Việt Nam có Trung đoàn 29 (ở ven Đường 9), Trung đoàn 9, Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 20, Tiểu đoàn 46 và một số đại đội binh chủng ở Nam Lào.
Các đơn vị Quân khu Nam Lào, các đơn vị địa phương tỉnh phối hợp Quân tình nguyện Việt Nam đi trinh sát, chuẩn bị cho các trận đánh.
Ngày 7 tháng 3 năm 1971, các đơn vị Nam Lào phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam nổ súng tiến công địch ở cứ điểm 165 (Nặm Tiêng) do 2 tiểu đoàn lính Lon Non (Campuchia) đóng giữ, với 7 cụm phòng thủ được bao bọc bởi 5 lớp rào kẽm gai và nhiều bãi mìn bảo vệ. Trận đánh diễn ra quyết liệt. Ta và địch giành giật nhau từng chiến hào, lô cốt. Đến 17 giờ ta làm chủ căn cứ Nặm Tiêng.
Cùng thời gian, du kích Nam Lào phối hợp với Tiểu đoàn 2 Quân tình nguyện Việt Nam bao vây, tiến công quân Lon Non ở cứ điểm 38 (In Thi). Đến tối ngày 9 tháng 3 năm 1971, địch mở đường máu tháo chạy, ta truy kích và làm chủ cứ điểm In Thi.
Đồng thời với trận đánh ở cứ điểm 38 (In Thi), Bộ chỉ huy Mặt trận Y sử dụng Tiểu đoàn 11 Quân khu Nam Lào, bộ đội địa phương A Tô Pơ và dân quân du kích trong khu vực cùng Trung đoàn 9 Quân tình nguyện Việt Nam tiến đánh cụm cứ điểm 22 (Nặm Lực). Cùng với bộ đội chiến đấu, nhân dân các bản, mường hăng hái đi dân công tiếp lương, tải đạn, tải thương cho các đơn vị. Đúng 5 giờ sáng ngày 8 tháng 3 năm 1971, dưới sự chi viện của tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp của Mặt trận, bộ đội Lào - Việt trên các mũi tiến công tổ chức vượt cửa mở đánh vào cứ điểm địch. Trận đánh giằng co và kéo dài, đến 21 giờ 15 phút ngày 9 tháng 3, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Nặm Lực. Ngay trong đêm ngày 9 rạng sáng ngày 10 tháng 3, du kích địa phương cùng Đại đội 9 (Tiểu đoàn 3) được lệnh truy kích địch rút chạy. Trận đánh cụm cứ điểm 22 (Nặm Lực) đã thực hiện hiệu quả nhiệm vụ kìm chân một lực lượng lớn quân địch ở phía Nam Lào, góp phần tạo điều kiện cho các đơn vị Việt - Lào trên hướng Mặt trận Đường 9 - Nam Lào tập trung tiêu diệt địch...
Quân địch ở cứ diễm 22 (Nặm Lực) và cứ điểm 165 (Nặm Tiêng) bỏ chạy về Huội Koong, Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật quân đội phái hữu Lào liền điều BV.47 từ Không Xê Đôn xuống Pắc Xoòng nhằm bảo vệ tuyến đường 23. Địch ra sức củng cố các cụm cứ điểm Huội Sài, Tha Teng, Pắc Xoòng và tuyến phòng ngự từ Pắc Xoòng đến cao nguyên Bô Lô Ven, nhằm chặn đứng lực lượng ta ở phía đông.
Cuối tháng 3 năm 1971, Mặt trận Y được tăng cường lực lượng 1 trung đoàn thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5 Việt Nam. Bộ chỉ huy Mặt trận Y được bổ sung đồng chí Hoàng Thế Thiện, Phó Chính ủy Đoàn 559 và đồng chí Nguyễn Chơn, Sư đoàn trương Sư đoàn 2 Quân khu 5 Việt Nam. Quân và dân Nam Lào cùng Quân tình nguyện Việt Nam đẩy mạnh tiến công địch, góp phần cùng các đơn vị Lào - Việt trên địa bàn Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch.
Ngày 23 tháng 3 năm 1971, trong lúc Bộ chỉ huy Mặt trận Y xây dựng phương án giải phóng Pắc Xoòng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào quyết định kết thúc chiến dịch.
Trải qua 45 ngày đêm (tính từ ngày nổ súng mở màn chiến dịch) chiến đấu anh dũng, kiên cường, quân và dân Lào, trực tiếp là quân và dân trên địa bàn các tỉnh Nam Lào với hình thức phối hợp chiến đấu với các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam trên địa bàn chiến dịch, chủ yếu là trên địa bàn tỉnh Xa Van Na Khẹt (Trung Lào) và chiến đấu phối hợp bên ngoài phạm vi địa bàn chiến dịch đã góp phần đánh bại cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Trong toàn chiến dịch, quân và dân Việt - Lào tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp; đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác. Số địch chết và bị thương 19.960 tên, bị bắt 1.142 tên. Bắn rơi và phá hủy 556 máy bay các loại, 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo cối, thu 2 máy bay trực thăng, 24 xe các loại, 57 khẩu pháo, 21 súng cối, 2.268 súng bộ binh, 274 máy thông tin vô tuyến điện1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.277).
Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào đánh dấu sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, đánh dấu sự trưởng thành của quân và dân các tỉnh Nam Lào, trong đó có quân dân tỉnh Xa Van Na Khẹt. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào góp phần tăng cường hơn nữa liên minh chiến đấu Việt - Lào, Lào - Việt và động viên cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Lào, cùng quân dân Việt Nam anh em tiến lên giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc khang chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #148 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:18:58 pm » |
|
VAI TRÒ CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TRÊN ĐỊA BÀN CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯờNG 9 - NAM LÀO NĂM 1971 Thiếu tá, ThS NGUYỄN VĂN QUYỀN Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Cử nhân LÊ MINH NAM Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược - kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương, quân và dân các bộ tộc Lào đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân Việt Nam mở nhiều chiến dịch tiến công và phản công giành thắng lợi to lớn, tạo ra các bước ngoặt xoay chuyển cục diện cuộc chiến tranh. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là một trong những chiến dịch như thế. Để làm nên chiến thắng đó, có sự đóng góp rất quan trọng của đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào trên địa bàn diễn ra chiến dịch. Sau hai năm triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969-1970), Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục gặp phải những khó khăn nghiêm trọng. Với tham vọng thay đổi cục diện cuộc chiến tranh xâm lược, đầu năm 1971, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở 3 cuộc hành quân lớn đánh vào hành lang tuyến vận tải chiến lược của ta: cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào; cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Kra Chiê (Đông Bắc Campuchia); cuộc hành quân "Quang Trung 4" từ bắc Kon Tum đánh ra vùng ngã ba biên giới (vùng Tà Xẻng, Pha Kha, Sê Sụ) thuộc A Tô Pơ, Nam Lào. Trong đó, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" là cuộc hành quân có quy mô lớn nhất, cuộc tiến công chủ yếu của địch 1 (Lực lượng địch lên tới 55.000 quân (có 15.000 Mỹ), bao gồm 4 sư đoàn bộ binh (sư đoàn dù, sư đoàn thủy quân lục chiến, sư đoàn 1, 2) liên đoàn 1 biệt động quân tương đương 47 tiểu đoàn, 587 xe tăng, xe bọc thép, 318 khẩu pháo các loại, 1.000 máy bay các loại. Ngày 10-3-1971, địch tăng cừờng thêm 13.000 lính bộ binh, 120 xe tăng-xe bọc thép, 70 khẩu pháo, 300 máy bay lên thăng. Ngoài ra, còn có 9 tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn cơ động (GM30 và GM33) quân phái hữu Lào ở phía tây đánh sang. Cuộc hành quân được sự hỗ trợ tối đa của pháo binh và không quân Mỹ). Theo kế hoạch tác chiến của Mỹ và quân đội Sài Gòn, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" gồm 4 giai đoạn: giai đoạn 1 từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, chiếm lĩnh bàn đạp xuất phát tiến công; giai đoạn 2 từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 14 tháng 2 năm 1971, đánh chiếm Bản Đông và Sê Pôn; giai đoạn 3 từ ngày 15 tháng 2 đến ngày 12 tháng 3 năm 1971, tổ chức đánh phá kho tàng ở xung quanh Sê Pôn và Bản Đông; giai đoạn 4 từ ngày 13 tháng 3 đến đầu tháng 5 năm 1971, chuyển xuống đánh phá các kho tàng phía Nam từ Sa Đi, Mường Noòng, A Túc, A Sầu A Lưới (Thừa Thiên). Như vậy, địch dự kiến kết thúc cuộc hành quân "Lam Sơn 719" trong vòng 90 ngày, trước khi mùa mưa đến (tháng 5 năm 1971). Dự kiến sát ý đồ của địch, ngay từ tháng 9 năm 1970 Bộ Tổng Tư lệnh đã chỉ thị cho các chiến trường Trung - Hạ Lào, Khu 5, Đoàn 559, các quân binh chủng, sư đoàn chủ lực phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào tích cực chuẩn bị chiến trường về mọi mặt, đặc biệt là trên địa bàn khu vực Đường 9 - Nam Lào, sẵn sàng đánh bại âm mưu và hành động của chúng. Quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta là: phải đánh thắng trận này, dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào. Địa bàn chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào có chiều dài khoảng 90km (từ Đông Hà, Quảng Trị đến Sê Pôn, Xa Van Na Khẹt), rộng khoảng 60km (từ Mường Trương đến Mường Noòng). Địa hình chủ yếu là rừng, đồi núi trống trải. Dân cư ở đây thưa thớt, sinh sống chủ yếu là đồng bào các dân tộc thuộc miền Tây Bắc tỉnh Quảng Trị như Vân Kiều, Pa Cô, Tà Ôi... và nhân dân các bộ tộc Lào ở phía tây Đường 9. Đường số 9 chạy từ thị xã Đông Hà đến thị xã Xa Van Na Khẹt là một trong những con đường chiến lược nối liền hai nước Việt Nam và Lào. Đồng bào các dân tộc sinh sống nơi đây vốn có truyền thống yêu nước, bám đất, bám làng bản, đoàn kết chiến đấu chống Mỹ xâm lược, một lòng hướng thoo cách mạng, theo tiếng gọi thiêng liêng của cuộc kháng chiến. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch phản công được khẩn trương xúc tiến từ tháng 9 năm 1970 cho đến tháng 1 năm 1971 về cơ bản hoàn tất. Trong những tháng ngày khẩn trương, sôi động đó, đồng bào các làng, bản, mường Việt Nam và Lào trên địa bàn dự kiến sẽ diễn ra chiến dịch, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Ngày ngày, trên khắp những nẻo đường hành quân, đồng bào các dân tộc tây bắc Quảng Trị cùng với nhân dân các bộ tộc Lào anh em không quản mưa rừng, thác lũ, ngày đêm sát cánh cùng với các đơn vị bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong bạt núi, mở đường, đào đắp, vận chuyển hàng vạn mét khối đất đá, xây dựng cầu, cống; truy bắt lực lượng thám báo địch bảo vệ sự an toàn và bí mật ý định chiến lược của ta; tích cực tham gia xây dựng các trận địa bắn máy bay và vận chuyển các loại vũ khí, đạn dược, hàng hóa khác vào các vị trí tập kết chiến dịch đúng kế hoạch. Những chiếc xe trâu, xe bò, xe đạp thồ... là cả gia tài đối với đồng bào nơi đây nhưng khi cách mạng cần họ sẵn sàng đóng góp phục vụ yêu cầu vận chuyển đạn dược, quân trang, quân nhu... Hòa cùng với nhịp bước chân của các đoàn dân công là những khẩu hiệu thể hiện quyết tâm và tinh thần chiến đấu tất cả vì chiến thắng: "Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm", "Đưa nhanh, đưa nhiều hàng ra phía trước". Những chàng trai, cô gái Vân Kiều, Pa Cô... và các bộ tộc Lào cùng trang lứa với sức trẻ và lòng nhiệt huyết cách mạng đã đưa năng suất gùi thồ lên đến 90-100kg mỗi chuyến. Nhiều người tuy sức khỏe yếu hay vừa chữa lành vết thương vẫn xung phong phục vụ chiến dịch; có em nhỏ mới chỉ 13-14 tuổi đã tình nguyện đóng góp công sức của mình vào việc khuân vác, chặt cây ngụy trang mặt đương, làm liên lạc... Đang làm nương rẫy, dân bản thấy bộ đội hành quân liền tìm cách gây tiếng ồn, để át đi tiếng động của các đoàn quân, tránh sự phát hiện của thám báo dịch. Thi thoảng, người dân ra bờ suối vắng nhìn thấy những vết chân bộ đội in trên cỏ ướt đã bảo nhau lùa trâu, bỏ ra để xáo trộn, xóa di dấu chân người. Một số đồng bào khi bị địch bắt, mặc dù bị địch dụ dỗ, mưa chuộc hay tra tấn dã man nhưng vẫn chịu đựng, kiên quyết không khai báo, sắt son một lòng một dạ trung thành với cách mạng. Sự mưu trí, sáng tạo và tấm lòng thủy chung, kiên cường của đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào trên địa bàn Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã góp phần quan trọng vào việc vận chuyển, phòng gian, giữ bí mật cho ý định chiến dịch của ta, tạo bất ngờ lớn đối với kẻ địch. Nhờ nỗ lực cố gắng cao độ của quân và dân hai nước Việt Nam và Lào, đặc Liệt là sự tham gia đóng góp tích cực của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, đến cuối tháng 1 năm 1971, phía quân ta đã mở được hàng trăm kilômét đường hành quân cơ động; xây dựng hàng trăm cầu, công; vận chuyển được hàng vạn tấn vật chất các loại, đủ đảm bảo cho khoảng 5 vạn bộ đội tác chiến trong vòng 4 đến 5 tháng 1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.296). Với quyết tâm đập tan hành động quân sự phiêu lưu của địch, ngay khi chúng vừa mở cuộc hành quân, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: "Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược'' 2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr.21). Ngày 4 tháng 2 năm 1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào được thành lập, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng tham mưu phó làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, chỉ huy mọi lực lượng tham gia chiến dịch phản công.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #149 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2026, 08:20:53 pm » |
|
Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, qua đường không và đường bộ, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã điều động một bộ phận lớn binh lực ra Vùng I chiến thuật tổ chức hành quân chiếm lĩnh các địa bàn làm căn cứ xuất phát tiến công (Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh...); thực hiện nhiều hoạt động nghi binh chiến lược. Ngày 8 tháng 2 năm 1971, một số đơn vị quân Mỹ và quân đội Sài Gòn bắt đau tổ chức vượt biên giới, tiến về phía khu vực Đường 9 - Nam Lào. Hàng chục trận địa pháo với hàng trăm khẩu bố trí dọc biên giới Việt Nam và Lào đồng loạt đánh phá dữ dội các mục tiêu, hỗ trợ cho các cánh quân bộ binh tiến công.
Dựa vào thế trận đã bố trí sẵn sàng, liên quân Việt Nam và Lào kiên cường giáng trả quyết liệt các hướng tiến công của địch; đẩy lui và làm chậm bước tiến quân của chúng; tập trung lực lượng và hỏa lực tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch ở các điểm cao 316, 456, 500 543... Trong những ngày này, đồng bào các dân tộc trên địa bàn chiến dịch đã tích cực tham gia phục vụ chiến đấu và chiến đấu. Tiêu biểu như đồng chí Âmkum, du kích bản A Ho, xã Xa Ky Phim, huyện Sê Pôn1 (Tháng 4-1979, đồng chí Âmkum được Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tuyên dương Anh hùng), đã tham gia chiến đấu và dẫn đường cho các đơn vị chủ lực, đặc công Việt Nam đánh vào sở chỉ huy địch (từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971), diệt gọn các cụm cứ điểm then chốt trên điểm cao 500 và 543, đập tan cuộc phản kích lớn của lữ đoàn dù số 3 và trung đoàn thiết giáp số 17 của quân đội Sài Gòn, bẻ gãy cánh quân ở phía Bắc Đường 9. Đến ngày 11 thang 3 năm 1971, các mũi tiến công của địch đã bị chặn đứng. Ngày 13 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch của ta được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công trên toàn tuyến, đánh vào đội hình hành quân của địch.
Trước yêu cầu của cuộc tiến công, lượng vật chất bảo đảm cho bộ đội chiến đấu ngày càng lớn, đòi hỏi phải tăng cường nguồn bổ sung tiếp tế. Dưới sự dẫn dắt, động viên của các già làng, trưởng bản, con em đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào nơi đây tiếp tục tự nguyện phối hợp cùng với các lực lượng vận tải tham gia vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men.., phục vụ bộ đội chiến đấu. Có những cung đường vận chuyển, quân địch đánh phá dữ dội suốt ngày đêm, nhưng từng đoàn người gùi lương, tải đạn vẫn không ngừng tỏa đi các hướng phục vụ bộ đội. Nhiều nơi, đồng bào còn tự nguyện chỉ ăn củ mài và rau rừng, dành cho các chiến sĩ những hạt gạo, lát sắn, củ khoai cuối cùng để "ăn no mà đánh thắng giặc Mỹ". Muối là thứ rất quý giá đối với đồng bào các dân tộc nhưng khi bộ đội cần họ không ngần ngại đem biếu, phần mình thiếu muối họ đốt cả rễ cỏ tranh để ăn. Nhiều gia đình còn mang cả những vật dụng quý giá đem đổi lấy lương thực, thực phẩm để tiếp tế cho bộ đội chiến đấu. Đồng bào còn giúp bộ đội xây dựng lán trại, kho tàng, may vá quần áo, tải thương, cứu chữa thương bệnh binh. Dưới làn mưa bom, bão dạn, đồng bào các dân tộc trên địa bàn đã bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng, không quản đường xa, núi cao, vực sâu gửi đến cho bộ đội những miếng cơm, manh áo nghĩa tình.
Từng đoàn dân công là con em các dân tộc ngày đêm gùi lương, tải đạn ra chiến trường, rồi lại tham gia vận chuyển thương binh về tuyến sau. Có khi trên đường tải thương bị địch bắn phá, nhiều đồng bào lại lấy thân mình che cho cán bộ, chiến sĩ. Nhiều bà mẹ Lào tuy đời sống còn rất khó khăn, cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc vẫn chắt chiu từng lon gạo để nuôi dưỡng các thương bệnh binh, tận tình chăm sóc, cứu chữa như chính con em ruột thịt của mình. Nhiều thôn bản thành lập các đội đi tìm kiếm chôn cất cán bộ, chiến sĩ hy sinh1 (Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, lực lượng ta cũng không tránh khỏi tổn thất: 2.163 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 6.176 bị thương. Dẫn theo: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ; cứu nước (1954-1975) - Tập 6 - Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.276). Có những con đường nếu tính theo "đường chim bay" thì chỉ đi trong chốc lát là đến nhưng dân công không quen địa hình, đường đi lại rất ngoằn ngoèo, hiểm trở, dốc cao, đá dựng nếu không có đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào dẫn đường, chỉ lối thì cũng khó có thể đưa phương tiện, vật chất đến điểm tập kết, chưa kể tính mạng luôn bị đe dọa bời "rừng thiêng, nước độc". Trên các nẻo đường ra chiến trường, đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào đã tích cực phục vụ chiến đấu, nêu cao quyết tâm cùng bộ đội đánh giặc. Bom đạn kẻ thù có thể tàn phá nhà cửa, ruộng vườn nhưng không thể làm phai nhạt tình cảm quân dân thắm thiết. Nhiều con em đồng bào đã anh dũng ngã xuống, máu của họ đã thấm vào lòng đất, hòa vào mỗi con suối để cho mỗi bản làng mãi mãi xanh tươi. Đáp lại sự thương yêu, che chở, đùm bọc và hy sinh đó, các cán bộ, chiến sĩ hai nước Việt Nam và Lào đã biến đau thương thành sức mạnh, chiến đấu quên mình, bảo vệ đồng bào, nhanh chóng chấm dứt chiến tranh để đồng bào được yên ổn làm ăn, sinh sống.
Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào của ta kết thúc thắng lợi2 (Ta loại khỏi vòng chiến đấu 21.102 tên địch, trong đó giết và làm bị thương 19.960 tên, có nhiều đơn vị thiện chiến tinh nhuệ và binh chủng kỹ thuật hiện đại; bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, phá hủy và bắn chìm 43 tàu và sà lan, phá hủy 1.138 xe cơ giới, 112 khẩu pháo và súng cối hạng nặng. Dẫn theo: Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr.61-62), tạo bước ngoặt lớn cho cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung của nhân dân ba nước Đông Dương1 (Đánh giá về thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971, Bộ Chính trị khẳng định: "Chiến thắng Đường số 9 - Nam Lào của ta đã chấm dứt quá trình tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy trên chiến trường cả ba nước Đông Dương". Dẫn theo: Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.83. Còn Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận: "Cuộc hành quân "Lam Sơn 719" thể hiện sự kém cỏi trong cá việc vạch kế hoạch và thực hiện. Cuộc hành quân này phơi bày rõ ràng những điểm yếu nghiêm trọng của các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa, những hành động chiến lược đó đã làm tăng sức ép của công chúng và sự kiềm chế của Quốc hội đối với chính quyền". Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Tập 6 (Tiến hành chiến tranh), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam dịch, 1982, tr.26). Thắng lợi đó đã góp phần tô thắm thêm tình đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt Việt Nam và Lào, in đậm sự đóng góp to lởn của đồng bào các dân tộc Việt Nam - Lào trên địa bàn chiến dịch. Đúng như đồng chí Đồng Sĩ Nguyên - nguyên Tư lệnh Đoàn 559 đã nói rất cảm động về Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào: "Trong cuộc chiến này, khi mà đối phương huy động tối đa sức mạnh tổng lực hòng xóa đường Trường Sơn; khi mà biết bao đồng chí, đồng bào ngã xuống, nằm lại vĩnh viễn với những đồi lau xơ xác, những bìa rừng khuất nẻo... vì sự sống của con đường, vì sự toàn thắng của chiến dịch, nếu như ai đó thi vị hóa hết thảy sẽ là tội lỗi. Nhưng nếu không tìm thấy cội nguồn chiến thắng từ những bước chân nhún nhảy của những chàng trai, cô gái Pa Cô trên đường tải đạn, trong âm vang réo rắt tiếng đàn Ta-lư, hay điệu Lăm-vông của những nam nữ chiến sĩ Quân giải phóng Lào sau từng trận đánh..., thì cũng khó lý giải hết tầm thế của chiến công này..., và vì sao ta chiến thắng!"2 (Đồng Sĩ Nguyên, Đường xuyên Trường Sơn (Hồi ức)... Sđd, tr.224).
Qua bao mùa lúa chín, nơi đại ngàn sâu thẳm vẫn còn lưu giữ những ký ức đẹp đẽ giữa đồng bào các dân tộc Việt Nam và Lào với các cán bộ, chiến sĩ năm xưa. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong chiến dịch lịch sử này cho đến nay phần mộ vẫn còn nằm lại đâu đó trên chiến trường chờ ngày quy tập. Lịch sử đã bước sang trang mới, đồng bào các dân tộc Việt - Lào vẫn tiếp tục đóng góp công sức vào việc tìm kiêm, bảo quản hài cốt những cán bộ, chiến sĩ. Tên các liệt sĩ đã trở thành huyền thoại nơi những bản mường xa xôi1 (Đồng báo các dân tộc nơi đây không biết nhiều chữ, để dễ nhớ, họ đặt tên các liệt sĩ cho những cây cổ thụ, lưu truyền từ năm này sang năm khác tên các liệt sĩ trở thành tên rừng, tên bản làng). Điều đó thể hiện, đâu phải chỉ có trong bom đạn ác liệt của chiến tranh, tình đoàn kết quân dân thắm thiết mới được bộc lộ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|