Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:52:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)  (Đọc 57164 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« vào lúc: 18 Tháng Mười, 2024, 10:38:54 pm »


QUÂN KHU 4
LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954-1975)[/b]





NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
HÀ NỘI – 1994

 

 

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG:

-   Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (có sự giúp đã trực tiếp của Thiếu tướng Trần Văn Ân)


BIÊN SOẠN:

-   Đại tá: Võ Văn Minh (chủ biên)
-   Đại tá: Trần Ngọc Quỳ
-   Đại tá: Phan Xuyến
-   Đại tá: Văn Đình Đồng
-   Đại tá: Nguyễn Toàn Thắng
-   Thượng tá: Nguyễn Thanh Hồng
-   Trung tá: Trần Duy Thược
-   Đại úy: Nguyễn Công Thành

SƯU TẦM TƯ LIỆU:

-   Thượng tá: Lê Đình Huy
-   Thiếu tá: Nguyễn Bá Hoan
-   Đại úy: Nguyễn Hữu Bộ


LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, song nhiệm vụ giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam chưa hoàn thành trọn vẹn. Đất nước ta tạm chia làm hai miền. Khu 4 là địa bàn trực tiếp chịu sự chia cắt đó.

Quảng Trị, Thừa Thiên - nam vĩ tuyến 17 còn chịu ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) – bắc vĩ tuyến 17 được hoàn toàn giải phóng.

Từ đó, quân và dân Khu 4 cùng lúc làm cả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Quảng Trị, Thừa Thiên vừa làm nhiệm vụ giải phóng miền Nam, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trực tiếp là Quân khu 4. Các tỉnh phía bắc quân khu vừa làm nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa làm nhiệm vụ hậu phương cho cách mạng miền Nam, trực tiếp là Trị - Thiên - Huế.

Để phù hợp với ý đồ chiến lược chung, những năm đầu của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phần bắc vĩ tuyến 17, từ Vĩnh Linh đến Nghệ An được tổ chức thành Quân khu 4, có Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh1. Quảng Trị, Thừa Thiên là phân khu Bắc, thuộc Khu 5, do Khu ủy Khu 5 và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ huy.

Đến giữa năm 1966, thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương, chiến trường phía nam quân khu có sự thay đổi lớn: Khu ủy, Quân khu Trị - Thiên (B4) và mặt trận Đường số 9 – bắc Quảng Trị (B5) được thành lập. Quân khu Trị - Thiên, do Khu ủy Trị - Thiên lãnh đạo, về mặt quân sự chịu sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh. Mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, do Bộ Tư lệnh Quân khu 4 phụ trách, trực tiếp là Bộ Tư lệnh tiền phương của quân khu.

Từ năm 1968 đến năm 1972, trên hướng đường số 9 - bắc Quảng Trị, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên chỉ đạo mọi mặt, nhưng khi mở những chiến dịch tác chiến quy mô lớn như: chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971) và chiến dịch giải phóng Quảng Trị (1972) đều do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy.

Sau chiến thắng Quảng Trị năm 1972, mặt trận B5 đã hoàn thành nhiệm vụ và nhập vào Quân khu Trị - Thiên. Toàn bộ chiến trường Trị - Thiên được thống nhất do Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy.

Ngoài việc lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang quân khu trên hai chiến trường trong nước, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 4 còn chỉ huy lực lượng tình nguyện Việt Nam ở chiến trường Trung Lào và Hạ Lào trong một thời gian dài.

Xuất phát từ vị trí có tầm quan trọng chiến lược, do yêu cầu nhiệm vụ, nên ở địa bàn Quân khu 4 (miền Nam cũng như miền Bắc) không chỉ có lực lượng địa phương mà luôn có những đơn vị chủ lực của Bộ, của nhiều quân chủng, binh chủng trực tiếp chiến đấu và lực lượng của các địa phương khác trên miền Bắc chi viện tích cực. Suốt 21 năm chống Mỹ, cứu nước, tiền tuyến - hậu phương Quân khu 4 đã thực hiện các nhiệm vụ chiến lược sau:

- Mười năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1964), quân và dân Quân khu 4 tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, cải cách ruộng đất, chống cưỡng ép di cư, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, khôi phục và phát triển kinh tế; ra sức xây dựng thực lực, củng cố hòa bình, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa, làm nhiệm vụ hậu phương trực tiếp cho cách mạng miền Nam, xây dựng hành lang chiến lược phối hợp cùng bạn Lào tiến công mở thế; chuẩn bị thế trận đánh bại những bước leo thang ra miền Bắc của đế quốc Mỹ.

Ở Trị - Thiên - Huế, đây là thời kỳ chuyển thế đấu tranh, giữ gìn lực lượng, tập trung đánh bại các âm mưu, thủ đoạn "tố cộng, diệt công", "bình định” tàn khốc của Mỹ - Diệm; chuẩn bị mọi mặt tiến lên đồng khởi ở miền núi, nông thôn, đồng bằng.

Bốn năm tiếp theo (1965 - 1968), thời kỳ cả tiền tuyến và hậu phương quân khu đã trở thành địa bàn đọ sức quyết liệt với chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Hậu phương chuyển hẳn vào thời chiến, đánh bại các bước leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của địch. Tiền tuyến chuyển sang một thời kỳ mới vô cùng sôi động. Sự ra đời của Quân khu Trị - Thiên và mặt trận Đường số 9 - bắc Quảng Trị, thu hút kìm chân gần một phần ba lực lượng quân viễn chinh Mỹ, tạo nên một thế mới, lực mới có lợi cho ta trên toàn bộ chiến trường. Là thời kỳ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, 25 ngày đêm đánh địch phản kích giữ thành phố Huế, 170 ngày đêm vây hãm Khe Sanh làm chấn động nước Mỹ, và cũng là thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện thủ đoạn "ném bom hạn chế" cực kỳ thâm độc, hòng bẻ gãy "cán xoong", ''bóp nghẹt cuống họng", ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương ra tiền tuyến.

Giai đoạn từ 1969 - 1972, tranh thủ lúc Mỹ phải "xuống thang" trong cuộc chiến tranh phá hoại, Quân khu 4 ra sức củng cố và bảo vệ hậu phương, chi viện đắc lực chiến trường; Trị - Thiên khôi phục lại thế chiến lược ba vùng, tham gia đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 - bước thí điểm chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ trên chiến trường Đường số 9 - Nam Lào. Tiếp tục phát triển thế tiến công, năm 1972, quân và dân ta mở chiến dịch Quảng Trị, đập tan một trong những tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở chiến trường miền Nam, giải phóng Quảng Trị, góp phần tích cực làm chuyển biến tương quan lực lượng, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri, tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam bước sang một giai đoạn mới.

Từ năm 1973 đến năm 1975 là giai đoạn toàn quân khu khẩn trương chuyển thế, chuyển lực, chống lấn chiếm, phá "bình định", giữ vững và cải thiện thế trận, chi viện đắc lực cho chiến trường trực tiếp, dồn sức cho chiến trường toàn miền Nam; tiến công giải phóng Trị - Thiên - Huế, cùng cả nước giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc; đồng thời làm hậu thuẫn vững chắc, hỗ trợ quân và dân Lào nổi dậy tiến công giành toàn bộ chính quyền, giải phóng đất nước.

Qua những năm chống Mỹ, cứu nước, trên địa bàn Khu 4, từ Tam Điệp đến Hải Vân, từng thời kỳ theo ý đồ chiến lược được phân chia cụ thể về tổ chức chiến trường, về chỉ đạo chỉ huy, có Quân khu 4, Quân khu Trị - Thiên, một trận Đường số 9... Nhưng về mục đích, nhiệm vụ chính trị, cũng như sức mạnh tổng hợp được phát huy, thực chất là một chiến trường thống nhất, Thanh, Nghệ, Tĩnh - Bình, Trị, Thiên là một, nam – bắc vĩ tuyến 17 là một.

Trong 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, địa bàn Quân khu 4 vừa mang cả tính chất hậu phương, tiền tuyến, vừa là một trong những địa bàn tổ chức thực hiện sự liên minh chiến đấu của hai nước Việt - Lào trong công cuộc chống kẻ thù chung, giải phóng đất nước và phòng thủ bào vệ độc lập chủ quyền của từng nước.

Quân khu 4, sớm hình thành, tích tụ, và cũng sớm đương đầu với những thử thách mới của đất nước sau khi có Hiệp định Giơ-ne-vơ; nơi trực tiếp đọ sức quyết liệt với quân thù, chịu đựng biết bao hy sinh, để chiến đấu và chiến thắng. Và đây, cũng là nơi thể hiện sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam được phát triển cao: kết hợp giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; kết hợp giữa phong trào đấu tranh của quần chúng cách mạng với hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương và tác chiến hiệp đồng binh chủng của các binh đoàn chủ lực cơ động trong những thời điểm có tính chiến lược quyết định.


*

*    *

Với những đặc điểm, tính chất vừa nêu, việc tái hiện chuẩn xác, sinh động toàn cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn Quân khu 4 trong một tập lịch sử là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực về công tác chỉ đạo và tổ chức biên soạn.

Cảm ơn các đồng chí cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũ của Quân khu - những người đã từng giữ những trọng trách trên các hướng chiến trường trong thời kỳ đánh Mỹ; cảm ơn các đồng chí cán bộ các địa phương trong quân khu, các cơ quan Bộ Quốc phòng, đơn vị hữu quan và đặc biệt là Viện Lịch sử quân sự Việt Nam... đã động viên, chỉ đạo, giúp đỡ nhiệt tình chúng tôi trong quá trình biên soạn tập sách này. Cảm ơn Nhà xuất bàn Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để sách ra mắt bạn đọc.

Mặc dầu tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng, song do việc lưu giữ, xử lý tư liệu và khả năng thể hiện còn nhiều hạn chế, nên lần đầu tiên đến với bạn đọc, cuốn sách khó tránh khỏi những sai, sót. Rất mong được sự đóng góp của các đồng chí và các bạn.


THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY,
BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU 4

 ______________________________________________
1. Thời kỳ này tỉnh Thanh Hóa thuộc Quân khu Hữu Ngạn.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười, 2024, 04:16:37 pm gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #1 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:38:49 pm »


CHƯƠNG I
CỦNG CỐ HÒA BÌNH, XÂY DỰNG THỰC LỰC,
KỊP THỜI CHUYỂN HƯỚNG ĐẤU TRANH
(1954 - 1960)


I - ĐẤU TRANH ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TUYẾN ĐẦU

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Theo những điều khoản của Hiệp định, thực dân Pháp phải rút quân và tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào.

Là một nước trực tiếp giúp Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương và là thành viên của Hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng đế quốc Mỹ không ký vào bản tuyên bố chung của Hiệp định. Với ý đồ chia cắt lâu dài nước ta, nên Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa có hiệu lực, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm thủ tướng bù nhìn. Ngày 8 tháng 9 năm 1957, Mỹ lôi kéo các nước Anh, Pháp, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Pa-ki-xtan lập khối quân sự Đông Nam Á (gọi tắt là SEATO) và đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới sự bảo hộ của khối này. Cùng trong tháng 9, chính phủ Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Diệm không qua Pháp, nhằm xây dựng một chính quyền tay sai thân Mỹ ở miền Nam.

Tháng 11 năm 1954, chính phủ Mỹ cử tuớng Cô-lin sang làm đại sứ ở Sài Gòn với kế hoạch sáu điểm nhằm tập trung củng cố chính quyền Diệm, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam. Trước sức ép của Mỹ, lại ở thế yếu, thực dân Pháp nhanh chóng nhượng bộ và bỏ trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Ngay sau khi sang miền Nam Việt Nam, Cô-lin ra Quảng Trị nghiên cứu tình hình, vạch cho Diệm kế hoạch phòng thủ khu vực giới tuyến, ngăn chặn sự tiến công của ta từ miền Bắc.

Được Mỹ nuôi dưỡng, trợ giúp, Ngô Đình Diệm tổ chức xây dựng đội quân ngụy tay sai gồm 10 sư đoàn chính quy, đồng thời cho giải ngũ những sĩ quan thân Pháp, gạt bỏ những người không ăn cánh. Mỹ - Diệm điều ba trung đoàn Âu - Phi, sáu tiểu đoàn ngụy từ các nơi về Thừa Thiên, Quảng Trị, tập trung đánh phá phong trào cách mạng. Chúng tổ chức thêm 31 đại đội “nghĩa dũng đoàn", "bảo chính đoàn", mở rộng các sân bay Đông Hà, Phú Bài, xây dựng hệ thống hầm hào, công sự phòng thủ nam giới tuyến và vùng đường số 9, tung các toán gián điệp, biệt kích ra Vĩnh Linh, Quảng Bình móc nối với các ổ, nhóm phản động nằm vùng, phá hoại hậu phương ta.

Với mưu đồ sâu xa và những hoạt động trực tiếp của Mỹ - Diệm, vĩ tuyến 17 - giới tuyến quân sự tạm thời đã cắt đôi địa bàn Khu 4. Các tỉnh nam và bắc vĩ tuyến từ đây trở thành nơi đụng đầu trực tiếp giữa lực lượng cách mạng và thế lực phản cách mạng.

Cùng với cả nước bước vào cuộc đấu tranh mới, quân và dân Liên khu 4 đồng thời phải thực hiện cả hai nhiệm vụ mà Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung uang Đảng đã đề ra trong Nghị quyết tháng 9 năm 1954 là: "Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và phát triển sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc". Quán triệt nhiệm vụ Đảng đã đề ra, căn cứ tình hình thực tế địa bàn, Liên khu ủy chỉ đạo các tỉnh khẩn trương ổn định đời sống nhân dân, củng cố thế đấu tranh chính trị ở Quảng Trị, Thừa Thiên, kiên quyết đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Vừa lo khôi phục kinh tế, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, Liên khu 4 còn được Trung ương giao nhiệm vụ đón tiếp cán bộ, bộ đội và đồng bào miền Nam tập kết với phương châm "tận tình, chu đáo". Tuy công việc bề bộn, nhưng Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh liên khu đã tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ việc đón tiếp, sắp xếp việc làm cho cán bộ, đồng bào miền Nam, coi đó là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Liên khu trong những ngày đầu hòa bình. Liên khu thành lập ban chỉ đạo, ở các tỉnh có "Phòng miền Nam" và các bộ phận quân nhu, vận tải thường trực ở cửa Hội, Sầm Sơn cùng phối hợp với lực lượng của Bộ đón tiếp chu đáo cán bộ và nhân dân miền Nam tập kết. Đồng bào Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đã coi cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết như anh em một nhà, đã "nhường áo, sẻ cơm" giúp đỡ trâu, bò, dụng cụ sản xuất..., để đồng bào nhanh chóng ổn định đời sống. Đồng bào miền Nam tập kết hết sức thông cảm với khó khăn của nhân dân Liên khu 4, đã đồng cam cộng khổ trong mọi công việc, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định trật tự an ninh. Liên khu đã thành lập 51 tập đoàn sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cho cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết. Riêng Vĩnh Linh và Hà Tĩnh tiếp nhận 5.157 nhân khẩu về làm ăn, sinh sống ở địa phương. Trong thời gian ngắn, đã có hơn một phần ba số cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ở địa phận liên khu có một cuộc sống ổn định.

Hậu quả chiến tranh chưa khắc phục được, sản xuất nông nghiệp lại bị thiên tai cuối năm 1954 tàn phá đã làm cho toàn liên khu có hơn 600.000 người bị đói, nghiêm trọng nhất là nhân dân các huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Hương Khê (Hà Tĩnh), Nông Cống, Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Quảng Trạch (Quảng Bình).

Nhân lúc ta gặp khó khăn, Mỹ - Diệm cấu kết với bọn phản động ở Vương quốc Lào phá hoại ta từ phía tây. Tháng 10 năm 1956, Trần Văn Đôn phó tổng tham mưu trưởng ngụy cùng với Thủ Quang Hoàng quân khu trưởng quân khu 2 bàn mưu với bọn phản động Vương quốc Lào phá hoại miền Bắc, chủ yếu là dọc biên giới Lào - Việt từ vĩ tuyến 17 đến Thanh Hóa.

Lúc này, các tổ chức phản động Việt Nam trước đây ở Lào theo chân Mỹ ngóc đầu dậy hoạt động. Một nhóm phỉ do tên Giáo Lê cầm đầu đóng tại vùng Mường Xải, Mường Pao, Sầm Tớ và tổ chức “Liên bang Thái tự trị" do Lò Khăm Thi cầm đầu, được Mỹ trực tiếp chỉ đạo (trụ sở của chúng đặt ở Bản Ban, gần biên giới Lào - Việt), có nhiệm vụ đào tạo biệt kích, tập hợp phỉ, gián điệp, lôi kéo dân di cư sang Lào. Vùng biên giới từ Thanh Hóa đến Quảng Bình luôn bị chúng phá hoại.

Tháng 9 năm 1955, hai toán gián điệp, biệt kích thâm nhập vào vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An, móc nối với bọn phản động cũ, tuyên truyền kích động một số đồng bào vùng Kỳ Sơn (Nghệ An), Quan Hóa (Thanh Hóa) xuyên tạc đường lối của Đảng, dụ dỗ, lôi kéo họ di cư.

Cùng lúc này, bọn phản động nội địa, nổi lên phá hoại. Ở Quảng Bình có "đảng Việt Hưng" do tên Lễ cầm đầu. Huyện Hướng Hóa có "đảng Cù Xuân" gồm những tên phản động thuộc tầng lớp trên của dân tộc Vân Kiều ra đời từ năm 1949 do hai tên Bót Ót, Nhung Nhưa cầm đầu. Các đảng phái phản động này lợi dụng giáo lý, mê hoặc quần chúng, nói xấu chế độ, nói xấu Đảng ta, kích động hằn thù dân tộc.

Đặc biệt, địch ra sức lôi kéo, cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam, với ý đồ tạo ra những cuộc bạo loạn chính trị, bổ sung lực lượng cho Diệm, "biến miền Bắc thành một bãi sa mạc để lại cho Việt Minh". Chúng lôi kéo hàng nghìn giáo dân di cư vào Nam và liên tiếp gây ra những vụ bạo loạn ở Nghệ An, Thanh Hóa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:41:09 pm »


Tháng 4 năm 1955, địch gây ra vụ bạo loạn ở Diễn Tiến (Diễn Châu, Nghệ An). Đây là vị trí quan trọng có đường quốc lộ số 1 chạy qua, nơi xuất phát đường số 7, lại nằm sát cửa biển và là tụ điểm của bọn phản động ba huyện: Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu. Địch hy vọng ngọn lửa bạo loạn mà chúng nhen lên nơi này sẽ nhanh chóng lan sang vùng khác. Lực lượng nòng cốt là 17 tên phản động từ miền Nam ra. Bọn này tổ chức một đội vũ trang với 100 tên được trang bị giáo mác, kết hợp với bọn phản động ở địa phương tuyên truyền, lôi kéo giáo dân vào Nam. Địch tung luận điệu "chúa sắp hiện hình", "đến đây gặp chúa", "đi Nam để làm ăn, ở miền Bắc sẽ bị ném bom nguyên tử"... Bị chúng lừa bịp, cưỡng ép, hơn hai chục nghìn giáo dân các vùng Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu kéo đến tập trung xung quanh nhà thờ Diễn Tiến.

Trước khi bạo loạn nổ ra, Bộ Tư lệnh liên khu điều một tiểu đoàn của trung đoàn 269 gấp rút từ Vinh ra Diễn Châu. Đồng chí Lê Nam Thắng, Tư lệnh liên khu và đồng chí Nguyễn Hữu Phúc tỉnh đội trưởng Nghệ An trực tiếp chỉ đạo, phối hợp thống nhất lực lượng giữa ba huyện Diễn - Yên - Quỳnh để tiến hành dập tắt bạo loạn... Ta tổ chức một lực lượng quần chúng cách mạng khoảng một nghìn người (cả lương và giáo) gặp gỡ số giáo dân bị dụ dỗ lôi kéo, giải thích, nói rõ âm mưu kẻ thù, khuyên bà con trở về quê làm ăn. Tiếp đó, một đội vũ trang được lệnh vào nhà thờ Diễn Tiến, bắt năm tên đầu sỏ phản động đội lốt cha cố, đưa ra trước đông đảo quần chúng, buộc bọn này phải nói rõ mưu đồ của chúng. Được nhân dân hỗ trợ, 18 tên phản động khác lần lượt bị bắt. Trước những lời thú tội của chúng, nhân dân dần dần thấy rõ âm mưu thâm độc của địch và tự động giải tán.

Sau gần tám ngày đấu tranh liên tục, vừa vận động quần chúng vừa trấn áp bọn đầu sỏ, ta đã dập tắt hành động cưỡng ép di cư của địch ở khu vực Diễn Châu - Nghệ An.

Cùng thời gian này, tại Thanh Hóa, bọn phản động lôi kéo giáo dân gây ra vụ bạo loạn ở Ba Làng. Chúng lập ra đội vũ trang, tiến hành chém giết cán bộ, nói xấu chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 305 kết hợp cùng chính quyền và nhân dân địa phương, tiến hành tước vũ khí, bắt toàn bộ bọn phản động, dập tắt vụ bạo loạn.

Vừa phá hoại ở đồng bằng, địch vừa đẩy mạnh hoạt động ở các vùng núi dọc biên giới Việt - Lào. Lợi dụng mê tín của đồng bào Mẹo vùng Pù Nhi sát biên giới thuộc huyện Quan Hóa, bọn phản động bày trò cúng bái, đón "vua Mẹo". Chúng tập hợp hơn ba trăm người trang bị súng, gậy, dao; lôi kéo dân sang Lào. Cán bộ địa phương cùng với bộ đội đồn biên phòng 923 đến thuyết phục, chúng nổ súng làm 19 người bị thương và tiếp tục cưỡng ép dân. Bộ đội cùng với một số đồng chí cán bộ người Mẹo kiên trì giải thích chính sách của Đảng, Bác Hồ cho đồng bào và nghiêm trị những tên tay sai, làm cho bà con thấy rõ âm mưu kẻ thù. Hơn 700 người ra đi, đã có 600 người trở về.

Vừa bước ra khỏi chiến tranh, trong một bối cảnh đầy khó khăn, nhưng với lòng tin vào chế độ mới, tin ở Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân liên khu vừa truy quét địch, dập tắt các cuộc bạo loạn, vừa hăng hái hưởng ứng phong trào thi đua sản xuất, khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước ổn định đời sống. Nhiều địa phương ở Thanh Hóa, Nghệ An đã chủ động san sẻ thóc giống, giúp đỡ những nơi khó khăn để đảm bảo thời vụ. Đang thời gian tập huấn chính trị, bộ đội các sư đoàn 324, 325, trung đoàn 270, 271 cũng tạm ngừng cùng nhân dân chống hạn, chống đói. Các đơn vị bộ đội đã đào đắp 3.000 mét khối đất đá, xây dựng các công trình thủy lợi ở Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình. Cán bộ, chiến sĩ nhiều đơn vị quyết định giảm bớt khẩu phần ăn hàng ngày, dành ra hơn 14 tấn gạo giúp đỡ đồng bào các vùng đói trầm trọng ở Nghệ An, Thanh Hóa.

Thời gian này, các địa phương liên khu đang thực hiện thắng lợi cải cách ruộng đất. Hơn 200 nghìn héc-ta ruộng đất được chia cho nông dân. Chế độ bóc lột bị xóa bỏ, nông dân trở thành người chủ ở nông thôn. Tháng 5 năm 1956, sư đoàn 324 được huy động cùng chính quyền các cấp sửa sai trong cải cách ruộng đất ở Nghệ An. Ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn 269, 271 cùng với chính quyền địa phương giúp đỡ nhân lực, phương tiện cho những gia đình bị quy sai, nhanh chóng bước vào ổn định sản xuất. Qua thắng lợi của cải cách ruộng đất và sửa sai, sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ. Đến tháng 12 năm 1957, có 98 phần trăm số hộ nông dân vào tổ đổi công, tăng 30 phần trăm so với năm 1956. Cùng với thành tựu sản xuất nông nghiệp, các mặt văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến. 98 phần trăm nhân dân được xóa nạn mù chữ, hơn 30.000 học sinh phổ thông đến trường, hàng chục bệnh viện được xây dựng với 35 000 cán bộ y tế.

Đối với các tỉnh phía nam vĩ tuyến 17, các chi bộ Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Thành ủy Huế có năm đồng chí. Các huyện ủy, quận ủy có từ bốn đến năm đồng chí. Chi bộ nông thôn nhiều nhất là chín đồng chí, chi bộ ở thành phố nhiều nhất bảy đồng chí, bám sát quần chúng phát động sản xuất và đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ở Quảng Trị, ta đã tổ chức sửa chữa cho bà con nghèo mỗi xã từ 100 đến 200 nhà mới. Ở Thừa Thiên, cách mạng chia cho dân hàng nghìn mẫu ruộng và đất vườn. Nhờ có gắng khắc phục khó khăn của các địa phương, nạn đói bị đẩy lùi. Hơn hai nghìn hèc-ta ruộng đất hoang hóa được phục hồi.

Về phía địch, vừa nắm được chính quyền, Ngô Đình Diệm tiến hành gạt các phe phái đối lập như Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên... Tháng 3 năm 1955, Diệm đưa bốn tiểu đoàn lên đánh lực lượng Đại Việt ở miền tây Quảng Trị. Lính Đại Việt bỏ chạy, một thời gian sau bị các lực lượng vũ trang và nhân dân miền núi Quảng Trị tiêu diệt.

Cùng lúc Diệm hô hào “đả thực, bài phong, diệt cộng", Quảng Trị, Thừa Thiên được Mỹ - Diệm coi là "tiền đồn chống cộng”. Đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm đã bố trí ở đấy một sư đoàn chủ lực (sư đoàn "Bắc tiến") và 10 đại đội bảo an, 50 trung đội dân vệ, ba đại đội cảnh sát, hình thành hệ thống phòng thủ dọc biên giới Việt - Lào và giới tuyến quân sự tạm thời.

Tại biên giới Việt - Lào, địch chiếm đóng các vị trí quan trọng như Lao Bảo, Tà Rụt, A So, A Lưới, Nam Đông, Khe Tre và đóng 18 đồn trên đường số 14, đường số 12, ở Truồi, Cầu Hai… Mỹ - Diệm đàn áp đẫm máu nhân dân hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, hòng uy hiếp tinh thần nhân dân, dập tắt phong trào đấu tranh ở đây. Tháng 9 năm 1954, chúng xả súng vào đoàn đấu tranh của bà con Kim Đôi (Quảng Điền, Thừa Thiên) đòi cải thiện đời sáng, chống khủng bố, làm 57 người chết. Tháng 10 năm 1954, địch lại đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng ở Đồng Lộc (Thừa Thiên) làm chết ba người. Mỹ - Diệm lập ra những đội "biệt kích áo đen" ngày đêm săn lùng cộng sản. Ngày 20 tháng 7 năm 1955, địch bắt 100 cán bộ, đảng viên về Sịa để "học tập". Thực chất các lớp học này là trại tra tấn, truy bức dài ngày để phát hiện tổ chức Đảng và khủng bố tinh thần quần chúng. Phần lớn cán bộ, đảng viên bị chúng sát hại.

Diệm ban hành chính sách "tố cộng, diệt cộng", lập "khu trù mật", "khu dinh điền". Chúng lập ra bộ máy "tố cộng, diệt cộng" từ trung ương đến cơ sở. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, chúng chia huyện thãnh quận; xã cũ thành hai đến ba xã mới; lập ủy ban "tố cộng” ở quận. Mỗi quận có một đội "tố cộng”, các đội xuống từng xã để tổ chức “tố cộng". Chúng chọn Thừa Thiên - Huế là một trong những trọng điểm "tố cộng, diệt cộng" và liên tiếp mở các chiến dịch đánh phá cách mạng nơi đây. Tháng 4 năm 1955, chúng tiến hành chiến dịch "Phan Chu Trinh"1, tập trung hơn 1.000 quân cùng với các đoàn "công dân vụ”, “đội biệt kích áo đen", bọn gián điệp, ác ôn đánh phá vùng Hải Lăng, Phong Điền. Hơn hai trăm ngôi nhà của dân bị đốt phá, hàng trăm người bị bắt, trong đó có 40 cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, chúng đưa quân chiếm đóng các khu sát miền tây Quảng Trị...
______________________________________________
1. Chiến dịch này, địch đánh phá các tỉnh Trung Bộ, trọng điểm là Quảng Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:42:40 pm »


Tháng 5 năm 1955, địch mở chiến dịch "Trịnh Minh Thế". Mặc dầu trọng điểm của chiến dịch này là đánh phá các tỉnh thuộc Khu 5, song địch đã huy động bốn tiểu đoàn, năm đoàn "công dân vụ" và hàng chục đội "biệt kích áo đen" càn quét các vùng đồng bằng Thừa Thiên, nhằm củng cố và đánh chiếm các xã, ấp chưa nắm được. Với phương châm "tát cạn nước để bắt cá", "giết oan một trăm còn hơn bỏ sót một cộng sản", Mỹ - Diệm đã giết hại, tra tấn dã man những người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Tại Thừa Thiên, chúng tập trung đánh mạnh vào các trọng điểm: Sư Lỗ, Chợ Sam, Phong Bình, Phong Hòa, Quảng Thái, Khánh Mỹ... Càn quét đến đâu, chúng triệt hạ nhà cửa, bắt tra tấn những người có con em đi tập kết. Các tổ chức đảng bị tổn thất nặng.

Từ tháng 1 năm 1955, Liên khu ủy 4 chủ trương phát động toàn dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, giữ vững đấu tranh chính trị ở Quảng Trị, Thừa Thiên; các tỉnh bắc liên khu đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, dập tắt các cuộc bạo loạn và hậu thuẫn cho đồng bào nam vĩ tuyến đấu tranh.

Tháng 3 năm 1955, Thường vụ đảng ủy Vĩnh Linh họp quán triệt chủ trương của liên khu đối với khu vực giới tuyến. Hội nghị nhấn mạnh: thực hiện đấu tranh chính trị, dựa vào pháp lý hiệp định, tạo ra nhiều hình thức đấu tranh phong phú. Hội nghị cũng đề ra biện pháp phối hợp hành động với lực lượng vũ trang - tiểu đoàn 57, trung đoàn 270.

Tháng 4 năm 1955, địch tung nhiều toán gián điệp qua giới tuyến khống chế chặt chẽ sự đi lại giữa hai miền, cưỡng bức hơn 200 người chuẩn bị vượt giới tuyến di cư vào Nam. Ta cử phái đoàn phụ nữ tiếp xúc với đối phương, đấu tranh và vận động chúng thực hiện hiệp định đình chiến, thuyết phục bà con trở về quê cũ. Kết quả 180 người đã trở về quê hương, trong số này ta phát hiện và xử lý 12 tên gián điệp địch cài vào để phá hoại ta.

Tháng 6 năm 1955, do được chuẩn bị từ trước, hàng trăm đồng bào ta gặp đại diện của ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế, gửi hơn 1.200 lá đơn tố cáo Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, khủng bố đàn áp đồng bào miền Nam. Cùng thời gian này, hàng vạn bức thư, bưu thiếp tập trung từ các  tỉnh miền Bắc, được nhân dân bờ bắc sông Bến Hải chuyển qua bờ nam. Nhờ đấu tranh kiên quyết, đồng bào hai bên giới tuyến vẫn được qua lại, tình cảm Bắc - Nam không bị chia cắt. Đây là nguồn động viên lớn cho đồng bào vùng tạm chiếm tiếp tục đấu tranh.

Để công tác lãnh đạo phù hợp với điều kiện mới của cách mạng, từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 7 tháng 5 năm 1955, Liên khu ủy 4 triệu tập hai Ban tỉnh ủy Quảng Trị, Thừa Thiên về Đồng Hới để học tập Nghị quyết lần thứ 7 của Trung ương và thông báo quyết định của Trung ương sát nhập Quảng Trị, Thừa Thiên vào Liên khu 5.

Dưới sự chỉ đạo của Liên khu ủy 5, Quảng Trị, Thừa Thiên được chọn làm thí điểm cho phong trào chống Mỹ - Diệm. Mục đích đấu tranh là đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố đàn áp, thực hiện hiệp định đình chiến. Phương châm đấu tranh: "có lý, có lợi và đúng mức", kết hợp chặt chẽ hợp pháp và không hợp pháp, lấy không hợp pháp làm chính, lợi dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp mà tuyên truyền giáo dục quần chúng đẩy mạnh phong trào đấu tranh.

Ngày 1 tháng 5 năm 1955, ba mươi nghìn nhân dân Hương Điền và các xã ven Huế thuộc Quảng Điền, Hương Trà kéo vào Huế kỷ niệm ngày 1 tháng 5. Đoàn biểu tình nêu cao khẩu hiệu đòi dân sinh dân chủ, hòa bình; đòi đắp đập Thuận An ngăn nước mặn cho dân sản xuất. Nhiều binh lính, sĩ quan, công chức ngụy cũng tham gia mít tinh. Ngụy quyền Thừa Thiên - Huế phải chấp nhận các yêu sách của nhân dân.

Tháng 8 năm 1955, Đảng bộ Thừa Thiên - Huế huy động hàng chục vạn người ở Huế, Hương Thuy, Hương Trà, Phú Vang kéo vào thành đòi chính quyền Diệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Hàng chục vạn người ký vào biên bản kiến nghị; các đoàn đại biểu đến bao vây quận lỵ, tỉnh lỵ tuyên truyền, đưa kiến nghị. Ngô Đình Diệm vội vàng từ Sài Gòn ra Huế, giải quyết yêu sách, xoa dịu quần chúng.

Ngày 4 tháng 3 năm 1956, tại Quảng Trị đã nổ ra phong trào đấu tranh chống trò hề bầu cử của chính quyền Diệm. Hàng vạn nhân dân Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Lễ (Triệu Phong), Hải Thượng (Hải Lăng)... đấu tranh đòi hiệp thương thống nhất Bắc - Nam, chống bầu cử gian lận. Ở Triệu Thượng, Hải Thượng, đa số nhân dân không đi bầu cử. Nhân dân Triệu Hải ném thùng phiếu xuống sông, bí mật bỏ truyền đơn vào thùng phiếu. Khắp nơi trong vùng nhân dân đã biến cuộc bầu cử của ngụy quyền thành cuộc đấu tranh vạch trần tội ác của Diệm.

Phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của nhân dân Trị - Thiên - Huế, kết hợp với hậu phương miền Bắc được củng cố khiến cho địch nom nớp lo sợ. Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô-la để xây dựng chính quyền và hệ thống phòng thủ, tăng cường quân đội ngụy, hòng áp đặt ách thống trị của chúng ở Trị - Thiên. Chúng tăng cường phương tiện chiến tranh cho Huế, Đông Hà; bố trí hai sư đoàn chủ lực (sư đoàn 1 và sư đoàn 16 khinh chiến) cộng với hai trung đoàn địa phương (trung đoàn 164 của Quảng Trị, trung đoàn 161 của Thừa Thiên), 50 trung đội dân vệ, ba đại đội cảnh sát ở hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên. Tháng 9 năm 1957, địch triển khai cuộc diễn tập lớn giữn quân đoàn 1 phối hợp cùng quân khu 1 với tưởng định: tác chiến trì hoãn đối phó quân miền Bắc tiến công khu phi quân sự. Mục đích diễn tập là nhằm nâng cao sức chiến đấu cho quân ngụy, phô trương lực lượng, đe dọa miền Bắc và kích động đẩy mạnh "tố cộng diệt cộng" ở miền Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:43:24 pm »


Đi đôi với xây dựng quân đội, Mỹ - Diệm hết sức coi trọng củng cố chính quyền. Chúng tiến hành chia nhỏ các quận, xã, để dễ bề cai trị: Thừa Thiên chia thành bốn quận, ba tổng, gồm 93 xã, Quảng Trị gồm bẩy quận, 86 xã. Diệm bổ sung thêm những tên lưu manh ác ôn, bọn công giáo phản động di cư tham gia vào chính quyền ngụy ở các cấp. Đảng "cần lao nhân vị", Diệm đặt ra từ năm 1954, là tổ chức những tên cực kỳ phản động. Chúng bắt dần vào các tổ chức “thanh niên cộng hòa", "phụ nữ liên đới", "hiệp hội nông dân", nhất là các vùng giáo dân Hương Điền, La Vang... Chúng nhồi sọ tư tưởng chống cộng và dùng các tổ chức này làm chỗ dựa đàn áp cách mạng.

Đối với nông dân, Diệm ban hành dụ số 7, về “cải cách điền địa". Ở Quảng Trị, Thừa Thiên chúng cướp lại hơn 10.000 héc-ta ruộng đất trước đây cách mạng đã chia cho nông dân, lập các khu dinh điền ở Cùa, Ba Lòng, Hoàn Cát, Cầu Nhi, và 11 nông trường ở Nam Đông, Khe Tre, Hòa Mỹ, A Sầu, A Lưới. Hàng chục nghìn người dân bị chúng bắt vào các "nông trường" khu dinh điền để dễ cai trị.

Củng cố thêm một bước về thế lực, Mỹ - Diệm thực hiện giai đoạn 2 của "tố cộng diệt cộng" với phương châm tàn bạo "dĩ cộng diệt cộng”, "nhổ cỏ tận gốc", "lâu dài, liên tục, cẩn thận sâu sắc". Rút kinh nghiệm giai đoạn 1 nặng đi khủng bố tràn lan, sang giai đoạn 2, Diệm tập trung phá từ trong ra.

Tháng 8 năm 1957, chúng sử dụng một nghìn học viên các trường quân sự "thực tập lùng sục cộng sản" ở nam khu phi quân sự. Chúng tập trung dân, bắt xé cờ Đảng Cộng sản bắt 50 cán bộ, đảng viên.

Tháng 9 năm 1957, ba tiểu đoàn ngụy kết hợp với các đội "công dân vụ" càn quét các vùng Triệu Lương, Cam Thanh, Cam Giang, Hải Thượng, Hải Phú. Ngày 15 tháng 9 năm 1957, bốn tiểu đoàn địch càn quét các vùng Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Lễ. Chúng bắt hàng nghìn người vào các khu dinh điền, làm đường. Do sự khủng bố, vây quét khốc liệt của kẻ thù, các cơ sở Đảng bị bật khỏi dân. Nhiều cán bộ, đảng viên mặc dầu bị tra tấn dã man, vẫn giữ trọn khí tiết người cộng sản. Đồng chí Luyến ở Phú Lộc nhảy vào lửa hy sinh, quyết không ly khai Đảng. Đồng chí Nguyễn Đằng ở Phong Điền thà hy sinh, nhất quyết không xé cờ Đảng...

Đỉnh cao của hành động đàn áp cách mạng là việc Ngô Đình Diệm ban hành luật "10-59". Địch lê máy chém đi khắp nơi, lập phiên tòa xử chém tại chỗ cán bộ, đảng viên ta. Sau năm 1954, Thừa Thiên có 3.000 đảng viên, sau khi Diệm thực hiện luật “10-59” chỉ còn lại vài chục đồng chí. Quảng Trị trước đây có 8.400 đảng viên, qua đấu tranh chống địch "tố cộng" phần lớn hy sinh, ba huyện đồng bằng chỉ còn 176 đảng viên; ở Do Linh (Quảng Trị) tháng 7 năm 1954, có 920 cán bộ, đảng viên, chỉ còn 128 đồng chí. Ở Phong Điền từ 2.753 cán bộ, đảng viên, qua đấu tranh chỉ còn 52 người. Hương Trà, Quảng Điền khi đi tập kết còn ở lại 400 đảng viên, cuối năm 1956 đã bị địch bắt, giết gần hết. Huyện Cam Lộ không còn chi bộ nào.

Kẻ thù đàn áp dã man, ta lại nặng về đấu tranh chính trị, không chuyển hướng đấu tranh kịp thời nên phong trào cách mạng Quảng Trị, Thừa Thiên bị tổn thất nặng nề và tạm thời lắng xuống.

Đi đôi với “tố cộng", "diệt cộng" khốc liệt ở Trị - Thiên, kẻ thù tăng cường phá hoại các tỉnh tuyến đầu miền Bắc (chủ yếu là Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa). Để thực hiện ý đồ "không cho cộng sản rảnh tay xây dựng", đầu tháng 8 năm 1958, địch tung qua biên giới và dọc theo bờ biển chín toán gián điệp, biệt kích, Chúng còn cấu kết với bọn phản động Lào gây tranh chấp biên giới ở Hướng Lập, A Chốc, Keng Đu.

Tại xã Hướng Lập (Vĩnh Linh), tháng 7 năm 1959, ba đại đội thuộc lực lượng phái hữu Vương quốc Lào, kết hợp với một đại đội ngụy miền Nam khiêu khích gây tranh chấp biên giới. Là một vùng tiếp giáp với miền Nam và Lào, đồng bào ở đây số đông thuộc dân tộc Vân Kiều, có một số phần tử xấu ủng hộ địch. Để dập tắt ý đồ của địch, tránh xung đột gây căng thẳng biên giới, Liên khu chỉ đạo lực lượng vũ trang Vĩnh Linh (đại đội 3 tiểu đoàn 41) đấu tranh buộc địch tôn trọng chủ quyền biên giới lãnh thổ, xây dựng biên giới hữu nghị lâu dài. Quân phái hữu Lào buộc phải rút về.

Tại Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, địch móc nối với bọn phản động địa phương tổ chức phá hoại sản xuất, ám sát cán bộ...

Mọi âm mưu, hành động của địch đã bị nhân dân các địa phương Liên khu 4 làm thất bại, trật tự an ninh ngày càng được củng cố.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:46:49 pm »


*

*       *

Trên miền Bắc, sau khi cơ bản hàn gắn vết thương chiến tranh, nhằm củng cố tổ chức, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và thế trận chiến tranh nhân dân, Nhà nước ta quyết định thành lập các quân khu trên cơ sở các liên khu hình thành từ trong kháng chiến chống Pháp.

Ngày 3 tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 017/SL thành lập các quân khu: Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc, Tả Ngạn, Hữu Ngạn, Quân khu 4.

Nhiệm vụ của Quân khu 4 được xác định: phụ trách toàn bộ công cuộc phòng thủ tác chiến trong quân khu; lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng thường trực, hậu bị, dân quân tự vệ về xây dựng và tác chiến; chịu trách nhiệm mọi mặt công tác quốc phòng trong phạm vi quân khu.

Các đồng chí Nguyễn Đôn được cử giữ chức Tư lệnh, Chu Huy Mân - Chính ủy, Lê Nam Thắng - Tham mưu trưởng.

Cơ quan quân khu bước đầu gồm có: phòng tham mưu, phòng hậu cần, phòng chính trị. Lực lượng chủ lực của quân khu gồm ba trung đoàn độc lập (269, 270, 271), ba tiểu đoàn bảo vệ bờ biển (499, 500, 501), bốn tiểu đoàn biên phòng (923, 925, 927, 929)1. Thời gian này, Quân khu được bổ sung trung đoàn 120 bộ đội Tây Nguyên tập kết và tiểu đoàn 323 đặc công. Tổng quản số chủ lực toàn quân khu là 13.356 người. Lực lượng vũ trang địa phương gồm 18 đại đội, hai trung đội và 12.000 dân quân.

Sau khi thành lập, Quân khu nhanh chóng tổ chức, bố trí lực lượng phù hợp với đặc điểm, tình hình và nhiệm vụ của từng khu vực trên địa bàn. Trung đoàn 270, làm nhiệm vụ phòng thủ tại giới tuyến. Do yêu cầu nhiệm vụ phòng thủ giới tuyến, ngay từ tháng 4 năm 1956, trung đoàn được thay đổi toàn bộ vũ khí trang bị. Trung đoàn 269, đứng chân ở Hà Tĩnh, trung đoàn 271 đứng chân ở Quảng Bình làm nhiệm vụ bảo vệ nội địa. Bốn tiểu đoàn biên phòng chốt giữ vị trí cửa khẩu bốn đường giao thông qua Lào. Tiểu đoàn 923 ở đường 217, tiểu đoàn 925 ở đường số 7, tiểu đoàn 927 ở đường số 8, tiểu đoàn 929 ở đường số 12. Tháng 8 năm 1956, các tiểu đoàn bảo vệ bờ biển 500, 501, 499 đưa năm đại đội ra canh giữ các đảo: Mê, Mắt, Ngư, Cồn Cỏ.

Tỉnh đội các tỉnh nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Khu đội Vĩnh Linh được tăng cường cán bộ đảm bảo số lượng và chất lượng. Tháng 10 năm 1956, cơ quan tỉnh đội mỗi tỉnh được biên chế 40 người, mỗi huyện đội được biên chế từ 6 đến 10 người. Tháng 12 năm 1956, Quân khu thành lập thêm các đơn vị bảo vệ trực thuộc tỉnh đội. Nghệ An có tiểu đoàn 28, Quảng Bình có tiểu đoàn 26, Hà Tĩnh có tiểu đoàn 27, Thanh Hóa có tiểu đoàn 29. Lực lượng dân quân được biên chế thành tiểu đội, trung đội, có nơi tổ chức đến đại đội.
Năm 1957, Bộ Quốc phòng bổ sung cho quân khu sư đoàn 325 (đóng quân tại Quảng Bình) và sư đoàn 324 (đóng quân tại Nghệ An). Cũng thời gian này, Bộ quyết định điều tỉnh đội Thanh Hóa về Quân khu Hữu Ngạn2.

Công tác tổ chức, bố trí lực lượng các đơn vị trên địa bàn quân khu bước đầu vừa đảm bảo phòng thủ tại chỗ, vừa cơ động thuận lợi khi tác chiến xảy ra.

Tháng 3 năm 1957, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 đề ra nhiệm vụ cho quân đội trong giai đoạn mới là bảo vệ công cuộc xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ an ninh lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Nội dung, phương châm xây dựng lực lượng được Trung ương xác định: "Tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hóa và hiện đại hóa” và "không những có một lực lượng thường trực mạnh mà phải có một lực lượng hậu bị mạnh".

Thực hiện nghị quyết 12 của Trung ương, Quân khu đẩy mạnh xây dựng toàn diện lực lượng vũ trang, trong đó lấy công tác huấn luyện làm trung tâm, chú trọng các phương thức tác chiến hiện đại; vừa tranh thủ học tập tri thức khoa học quân sự tiên tiến, đồng thời bám sát phương châm huấn luyện những nội dung thực tế.

Tháng 9 năm 1958, sư đoàn 324 tổ chức diễn tập ở Nghệ An, bộ đội thực hiện hành quân mang vác nặng, luyện tập cơ động chiến đấu. Qua diễn tập, các cấp chỉ huy, các đơn vị trong sư đoàn nâng cao một bước quan trọng về năng lực tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng quy mô sư đoàn.

Tháng 10 năm 1958, sư đoàn 325 tổ chức diễn tập sư đoàn tiến công. Đây là hình thức huấn luyện tổng hợp để nâng cao trình độ hiệp đồng tác chiến giữa cơ quan chỉ huy và các đơn vị. Sư đoàn đã hoàn thành tốt đợt diễn tập. Cùng thời gian này, các trung đoàn 270, 269, tiểu đoàn 44 làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển tổ chức diễn tập chống địch đổ bộ đường biển, có phối hợp với bộ binh, pháo binh, thông tin cùng với dân quân địa phương các huyện ven biển Hà Tĩnh, Quảng Bình. Bước đầu các đơn vị đã nắm được phương thức tác chiến tổng hợp, hiệp đồng. Lữ đoàn 341, tiểu đoàn 41 bảo vệ giới tuyến huấn luyện chiến thuật phòng ngự3, tiến công từ cấp tiểu đội đến tiểu đoàn, chú trọng rèn luyện năng lực chỉ huy của các cấp.
______________________________________________
1. Ngoài ra còn có các đơn vị trực thuộc quân khu gồm: đại đội 240 bảo vệ, tiểu đoàn 541 đối không, đại đội 52 pháo 75 ly, đại đội công an vũ trang 1, đại đội công an vũ trang 2, đại đội du kích Quảng Trị.
2. Quyết định số 17, ngày 30 tháng 1 năm 1957.
3. Tiểu đoàn công an giới tuyến được gọi là tiểu đoàn 41 theo chỉ thị số 23/TC ngày 1 tháng 2 năm 1958 của Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #6 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:48:57 pm »


Song song với huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, quân khu đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ. Trong năm 1958, các trường bổ túc cán bộ, đào tạo hạ sĩ quan, trường văn hóa ra đời. Cán bộ chỉ huy tỉnh đội, huyện đội được bồi dưỡng về công tác quân sự địa phương theo định kỳ hàng năm. Tháng 6 năm 1958, Quân khu chỉ đạo các tỉnh đội Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình tổ chức đợt huấn luyện cho lực lượng dân quân tự vệ về trình độ chỉ huy, kỹ thuật bắn súng, chiến thuật tiểu đội tiến công, phòng ngự...

Cùng với huấn luyện quân sự, công tác giáo dục chính trị được coi trọng trong chương trình huấn luyện, nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho cán bộ chiến sĩ. Năm 1958, toàn quân khu thực hiện các đợt chỉnh huấn chính trị về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà, đường lối quân sự của Đảng, quan điểm chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân.

Qua học tập chính trị, cán bộ, chiến sĩ được bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân, nâng cao ý chí quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong thời điểm phong trào huấn luyện, xây dựng quân đội củng cố quốc phòng đang diễn ra mạnh mẽ toàn quân khu, kế hoạch khôi phục kinh tế của các tỉnh cơ bản hoàn thành thắng lợi, một niềm vinh dự lớn đến với nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu: ngày 15 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ về thăm quân và dân Quân khu 4. Sau 50 năm xa cách, Người lần lượt đi thăm nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; thăm cơ quan, nhà máy, trường học và thăm quê Kim Liên. Người dành nhiều thời gian đi thăm các đơn vị bộ đội miền Nam tập kết: sư đoàn 324, 325, trung đoàn 812, 120... Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ tại quân khu bộ, Nguời ân cần biểu dương những thành tích của lực lượng vũ trang quân khu trong thời gian qua là đã cố gắng bảo vệ mặt biển, biên giới của Tổ quốc, cùng nhân dân giữ gìn an ninh trật tự; cố gắng học tập chính trị, quân sự tiến bộ; giúp các địa phương sửa sai, chống đói, chống lụt, chống bão, chống hạn. Bác chỉ ra những khuyết điểm: tinh thần cảnh giác chưa đầy đủ, một số cán bộ chiến sĩ còn có tư tưởng công thần, ý thức lao động chưa cao; ý thức tổ chức kỷ luật chưa nghiêm, cần sửa chữa. Sau đó, Bác nêu những nhiệm vụ trước mắt cho lực lượng vũ trang quân khu: phải nâng cao cảnh giác, thực hiện tốt việc chỉnh huấn chính trị; cố gắng học tập kỹ thuật quân sự và nghiệp vụ; chống tham ô, lãng phí, giữ vững khối đoàn kết; đoàn kết nội bộ, toàn quân đoàn kết, đoàn kết Bắc - Nam, đoàn kết quân dân.

Ba điều khen ngợi, bốn điều phê bình và năm điều dặn dò của Bác chính là phương hướng hành động của các lực lượng vũ trang quân khu trong giai đoạn mới của cách mạng. Theo phương hướng đó, Quân khu ủy đẩy mạnh công tác lãnh đạo các đơn vị góp phần vào công cuộc cải tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt tập trung xây dựng toàn diện các mặt quân sự, chính trị, hậu cần, đưa bộ đội tiến dần lên chính quy hóa. Quân khu đẩy mạnh thực hiện phong trào "tiến nhanh vượt mức kế hoạch", phong trào thi đua nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng quân đội được thực hiện từ đầu năm 1958. Một số đơn vị của các trung đoàn 270, 271, sư đoàn 325, 324 hoàn thành kế họạch huấn luyện của năm 1959. Đặc biệt, qua phong trào thi đua "Ba nhất"1 đã xuất hiện nhiều tập thể "Ba nhất", chiến sĩ "Ba nhất" trong lực lượng vũ trang quân khu.

Tiêu biểu cho phong trào này là đại đội 3 mang tên Lê Hồng Phong thuộc trung đoàn 270 - đơn vị dẫn đầu về phong trào "Ba nhất". Chi bộ Đảng đại đội Lê Hồng Phong luôn bám sát chiến sĩ, gương mẫu rèn luyện về năng lực, phẩm chất, làm gương để giáo dục chiến sĩ. Qua mùa huấn luyện năm 1959, một trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ đạt khá giỏi. Hầu hết bộ đội trong đơn vị đạt danh hiệu "Ba nhất". Đại đội Lê Hồng Phong đã được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Khẩu hiệu "Ngày không giờ, tuần không thứ, để tất cả vì miền Nam ruột thịt" đã dấy lên sôi nổi trên các công trường, bãi tập. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Những bài thơ "Thương nhất anh nuôi", "Tôi muốn trở thành người bốn giỏi" của Lưu Trùng Dương, bài hát "Từ ngày anh đi tập kết” của Đức Đường, "Thu Bồn" của Thiện Mỹ, vè "Tò loe tùng cốc” của Huỳnh Thượng... Ở các sư đoàn 324, 325 được đông đảo cán bộ, chiến sĩ ưa thích. Đây là những hoạt động tinh thần sôi động lành mạnh của một thời rèn luyện xây dựng quân đội theo hướng chính quy hóa.

Đi đôi với công tác huấn luyện quân sự, để không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở trong quân đội, từ năm 1959, Quân khu tiến hành kiện toàn công tác chi bộ. Nhiều chi bộ điển hình ra đời trong phong trào xây dựng chi bộ vững mạnh, toàn diện, nhất là phong trào "xây dựng chi bộ gương mẫu” ở đảng bộ sư đoàn 324, phong trào xây dựng "chi bộ chiến lũy" ở sư đoàn 325.

Nguồn bổ sung cho đảng được các chi bộ đặc biệt chú trọng. Trong năm 1959, toàn quân khu phát triển được 1.300 đảng viên, đưa tổng số đảng viên toàn đảng bộ lên tới 14.893 đồng chí, so với năm 1955 tăng hơn 6.000 đảng viên. Đối với lực lượng thường trực, tỷ lệ đảng viên chiếm 19 phần trăm, riêng lực lượng dân quân tự vệ và hậu bị, tỷ lệ đảng viên chiếm 11,5 phần trăm.
Để tiến thêm một bước về chính quy hóa, từ tháng 3 năm 1958, cùng với toàn quân, Quân khu bắt đầu thực hiện các chế độ tiền lương, quân hàm, khen thưởng, điều lệnh điều lệ..., do Nhà nước ban hành.

Tháng 4 năm 1958, Nghệ An là một trong những tỉnh được chọn làm thí điểm thực hiện nghĩa vụ quân sự. Các huyện đội dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương đã hướng dẫn, giáo dục quần chúng về luật nghĩa vụ quân sự. Ban ngày, mọi người lo sản xuất, ban đêm tranh thủ học tập. Các tổ chức phụ nữ, đoàn thanh niên..., phối hợp tuyên truyền công tác nghĩa vụ quân sự. Thanh niên thấy rõ trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giải phóng miền Nam, hăng hái tình nguyện đăng ký nhập ngũ. Qua khám tuyển, đã có 5.200 thanh niên tham gia lực lượng thường trực, 9.200 quân nhân phục viên vào dự bị một, 4.200 người vào dự bị hai.

Rút kinh nghiệm ở Nghệ An, Quân khu triển khai thực hiện luật nghĩa vụ quân sự ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh. Cùng một lúc hơn hai mươi nghìn thanh niên vào quân đội. Như vậy, bên cạnh lớp cán bộ chiến sĩ tình nguyện trước đây, lực lượng vũ trang quân khu có thêm lớp trẻ kế tiếp được rèn luyện dưới chế độ mới.

Song song với xây dựng lực lượng thường trực, sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc địa bàn, Quân khu thực hiện chủ trương giảm quân số thường trực và chú trọng xây dựng lực lượng hậu bị làm nòng cốt cho nền quốc phòng toàn dân. Cuối năm 1958, quân số thường trực của quân khu từ 36.000 người giảm xuống còn 26.000 người. Mười nghìn cán bộ chiến sĩ được chuyển về các địa phương tham gia công tác sản xuất tại nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã... Trong đó gần 7.000 cán bộ, chiến sĩ (bộ đội miền Nam tập kết) tham gia xây dựng các nông trường, xí nghiệp...
_____________________________________________
1. Nhất về huấn luyện, quân sự, rèn luyện kỹ thuật, nhất về gương mẫu giữ gìn kỷ luật, nhất về lao động sản xuất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #7 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:54:32 pm »


Tháng 3 năm 1958, hai sư đoàn 324 và 325, tiến hành khảo sát địa hình các vùng miền tây Nghệ An, Quảng Bình, Vĩnh Linh. Tháng 5 năm 1958, tại Nghĩa Đàn, 1.613 đồng chí thuộc trung đoàn 93 (sư đoàn 324) xây dựng nông trường "1 tháng 5", 1.272 đồng chí của trung đoàn 803, trung đoàn 90 (sư đoàn 324) xây dựng nông trường "19 tháng 5". Cũng ở miền tây Nghệ An, Quân khu xây dựng thêm nông trường "3 tháng 2", nông trường Bãi Phủ. Cùng thời gian này, một bộ phận của sư đoàn 325 xây dựng các nông trường Việt - Trung, Quyết Thắng, Bến Quang, Bến Hải. Ngoài ra; Quân khu còn xây dựng một diêm trường làm muối, ba đội đánh cá ở Nghệ An.

Chuyển sang thực hiện nhiệm vụ mới, trong thời gian đầu, một số cán bộ, chiến sĩ chưa thông suốt nhiệm vụ, nhưng từng bước đã quen dần với môi trường mới. Đến năm 1960, các nông trường: "19 tháng 5", "1 tháng 5", "3 tháng 2", Việt - Trung, Quyết Thắng, Bến Quan, Bến Hải đã có nhiều tiến bộ về sản xuất. Lực lượng bộ đội tham gia xây dựng nông trường đã khai phá hơn 1.000 héc-ta đất, thu 1.500 tấn lúa, 25 tấn lạc, 40 tấn hạt tiêu, 220 tấn muối; trồng ươm 220 nghìn cây cà phê, hơn 200 nghìn cây cao su, 85 mẫu hồ tiêu và nuôi hơn ba nghìn trâu, bò.

Từ những nơi rừng hoang hẻo lánh dọc miền tây đã mọc lên các vùng kinh tế mới, góp phần quan trọng thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng, đặc biệt là hình thành tuyến hậu phương chiến lược trong chiến tranh1...

Cùng với những vùng kinh tế mới, việc xây dựng các công trình công nghiệp đã góp phần thắng lợi thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế của Nhà nước (1958 - 1960). Tháng 4 năm 1957, nhà máy gỗ Vinh được khánh thành và đi vào hoạt động. Tháng 6 năm 1959, nhà máy đường (Nghệ An) bắt đầu sản xuất. Cuối năm 1959, nhà máy điện Vinh, xí nghiệp gạch "22-12" hoàn thành... Hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang quân khu tham gia xây dựng đảm bảo kỹ thuật, giao các công trình cho Nhà nước trước thời hạn. Các công trình thủy nông ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh cũng lần lượt được xây dựng và đưa vào sử dụng.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, vụ mùa 1960 các tỉnh trong quân khu đạt gần 2,5 triệu tấn lương thực quy ra thóc. Hơn chín mươi phần trăm nông dân vào hợp tác xã, trong đó có ba mươi phần trăm lên hợp tác xã bậc cao2. Hợp tác xã Đại Phong (Lệ Thủy, Quảng Bình) trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua của ngành nông nghiệp toàn miền Bắc. Tháng 7 năm 1960, đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban công tác nông thôn đã về tổng kết công tác quản lý cải tiến kỹ thuật của hợp tác xã và phát động phong trào học tập Đại Phong.

Bên cạnh hợp tác hóa nông nghiệp, các hình thức hợp tác xã thủ công, hợp tác xã mua bán đã thu hút hơn 85 phần trăm số thợ thủ công và trên 50 phần trăm người buôn bán nhỏ. Từ cơ sở các hợp tác xã mà hình thành các đội tự vệ, dân quân giữ gìn an ninh quốc phòng ở các địa phương.

Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội cũng có bước phát triển quan trọng. Hệ thống giáo dục các tỉnh có hơn 4.000 trường phổ thông từ cấp một đến cấp hai, với đội ngũ giáo viên gần 40.000 người. Hơn 60 bệnh viện với hàng chục nghìn cán bộ y tế từ tuyến xã đến tỉnh đảm bảo cơ bản yêu cầu chữa bệnh cho nhân dân.

Thắng lợi của công cuộc cải tạo, phát triển kinh tế, văn hóa làm cho bộ mặt các địa phương trong quân khu thay đổi. Người lao động làm chủ nhà máy, hợp tác xã. Nhờ đó, nhiều gia đình khó khăn về tư liệu sản xuất, được tập thể giúp đỡ, thanh niên yên tâm thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc và tích cực tham gia công tác an ninh quốc phòng ở địa phương.

Những thành tựu đạt được về kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh trên địa bàn quân khu đã tạo điều kiện tốt cho việc xây dựng hệ thống phòng thủ. Quân khu khẩn trương tổ chức lại chiến trường và các khu vực hậu phương trên địa bàn từ Vĩnh Linh đến Nghệ An.

Đi đôi với công tác tổ chức chiến trường, Quân khu chú trọng xây dựng lực lượng bộ đội địa phương, nhằm nâng cao trình độ, khả năng tác chiến trên từng khu vực. Tiểu đoàn 26 tỉnh Quảng Bình, tiểu đoàn 27 tỉnh Hà Tĩnh, tiểu đoàn 28 tỉnh Nghệ An, được tăng cường trang bị vũ khí. Tại những địa bàn xung yếu dọc biên giới Việt - Lào, và ven biển, dân quân cùng phối hợp với các tiểu đoàn 26, 27, 28 tổ chức diễn tập chiến đấu bảo vệ làng bản. Các trung đoàn 269, 271 làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển bổ sung hai đại đội và tăng thêm hỏa lực cho các đảo Mắt, Ngư, Hòn La và Cồn Cỏ. Tại các điểm cao và những vị trí xung yếu ven biển, hơn một trăm công trình quốc phòng được xây dựng, bao gồm công sự, đài quan sát, hầm chứa đạn. Từ tháng 5 năm 1959 đến đầu năm 1960, cán bộ chiến sĩ lữ đoàn 341 dầm mình trong mưa nắng, chuyển hàng nghìn tấm bê tông lên các điểm cao xây dựng công sự, đào hơn 80 ki-lô-mét đường hào chiến đấu. Bộ đội các trung đoàn 269, 270 xây dựng công trình quốc phòng chủ yếu là các công sự pháo dọc bờ biển, sử dụng cải tạo nhiều lô cốt Pháp để lại ở Quảng Bình, Vĩnh Lĩnh làm công sự chiến đấu, làm kho tạm...

Song song với việc xây dựng những công trình phòng thủ, một số tuyến giao thông chiến lược cũng được triển khai trên địa bàn quân khu. Đến tháng 7 năm 1958, đường 15A đã được mở vào tới Nam Đàn3. Tiếp đó, Quân khu còn cho thi công kéo dài tuyến đường này qua Hà Tĩnh, Quảng Bình. Đến cuối năm 1959, đường 15A đã vào tới động Toàn. Trên toàn tuyến, xe cơ giới có thể hoạt động trong cả năm. Cùng với đường 15A, đường 15B cũng được mở từ Thanh Hóa vào Tân Kỳ (Nghệ An). Đây là tuyến đường vừa phục vụ cho mục đích kinh tế trước mắt vừa phục vụ nhu cầu vận tải quân sự khi chiến tranh xẩy ra.

Cùng với việc xây dựng những tuyến giao thông chiến lược theo trục Bắc - Nam, nhiều đoạn của tuyến đường ngang cũng được hoàn thiện thêm: đường 217, đoạn từ Đồng Tâm đến Na Mèo dài 80 ki-lô-mét; đường số 7, đoạn từ Diễn Châu đến Nậm Cắn dài 225 ki-lô-mét; đường số 8 từ Bãi Vọt đến Hương Sơn dài 60 ki-lô-mét.

Ngoài hệ thống đường bộ, đường sông và đường biển cũng được chú ý khai thác. Các cảng: Bến Thủy, Cửa Hội, Cửa Lò, Gianh, Nhật Lệ được xây dựng. Hệ thống cầu phà Bến Thủy, phà Gianh, phà Ghép trên quốc lộ số 1 thường xuyên được củng cố đảm bảo giao thông thông suốt.

Trong thời kỳ này, hệ thống kho bảo quản gồm những kho có sức chứa lớn cũng được khẩn trương củng cố và xây dựng mới ở miền tây quân khu.

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi được thành lập, Quân khu 4 đã có những chuyển biến mạnh về mọi mặt: chế độ xã hội chủ nghĩa đang được định hình và tỏ rõ sức sống mới, sự nghiệp quốc phòng toàn dân được đẩy mạnh. Đặc biệt, lực lượng vũ trang được củng cố về tổ chức, đang từng bước tiến lên chính quy làm nòng cốt cho công cuộc phòng thủ trên địa bàn quân khu.
______________________________________________
1. Nông trường Việt - Trung có thể sửa chữa lớn 1.000 ô-tô trong một năm, có sức chứa hai sư đoàn bộ binh. Đường số 15 đi qua các nông trường, kho tàng ở miền tây Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
2. Quảng Bình có hơn 90 phần trăm hộ nông dân vào hợp tác xã, trong đó có 48 phần trăm hộ thuộc hợp tác xã bậc cao.
3. Đường 15A xuất phát từ Hòa Bình, trong thời kháng chiến chống Pháp ta mở đến Bái Thượng (Thanh Hóa), 1956 mở đến Nghĩa Đàn (Nghệ An).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #8 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:55:37 pm »


*

*       *

Sự lớn mạnh của miền Bắc nói chung và Quân khu 4 nói riêng qua những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực sự làm hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh của nhân dân miền Nam, đặc biệt trực tiếp là nhân dân Quảng Trị, Thừa Thiên. Hướng về miền Bắc, đảng bộ, nhân dân Trị - Thiên giữ vững niềm tin tuyệt đối vào Đảng, Bác Hồ và chế độ xã hội chủ nghĩa, vững vàng vượt qua thời kỳ đen tối, phục hồi dần phong trào cách mạng.

Nhận thức đúng vai trò, vị trí quan trọng của miền núi, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên khu 5, Tỉnh ủy Quảng Trị, Thừa Thiên chủ động nhanh chóng chuyển hướng hoạt động, đưa lực lượng từ nông thôn, đồng bằng lên xây dựng căn cứ địa ở miền núi.

Tháng 4 năm 1957, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên còn lại bốn đồng chí đã tổ chức họp tại làng Ấp Bùng xã Thượng Long (Phú Lộc) quyết định đẩy mạnh phong trào cách mạng miền núi làm cơ sở thúc đẩy phong trào cách mạng toàn tỉnh. Tiếp đó, tháng 10 năm 1957, Tỉnh ủy Quảng Trị họp ra quyết định xây dựng căn cứ địa miền núi Quảng Trị, lấy miền núi làm căn cứ địa để khôi phục và phát triển phong trào. Đây là những quyết định có ý nghĩa chiến lược đối với phong trào cách mạng ở Trị - Thiên.

Trong xây dựng căn cứ địa, Tỉnh ủy Quảng Trị và Tỉnh ủy Thừa Thiên đều nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng lực lượng toàn diện, với phương châm: từ không đến có, từ yếu đến mạnh, từ ít đến nhiều, hết sức chú trọng việc giáo dục thực hiện chính sách dân tộc. Một số cán bộ, đảng viên bám chặt các bản làng, cùng đồng cam cộng khổ, cùng đóng khố, nói tiếng dân tộc, phát nương rẫy, hướng dẫn nhân dân cải tiến trồng trọt, giữ vệ sinh phòng bệnh..., qua đó vận động quần chúng tham gia cách mạng. Cuối tháng 9 năm 1958, hầu hết các bản làng vùng núi, hai tỉnh đều hình thành các tổ chức quần chúng như phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận... Các tổ chức này từng bước phát huy chức năng của mình trong sản xuất, đoàn kết các dân tộc, làm chông, bẫy, chống địch càn quét. Các tổ chức quần chúng đã bồi dưỡng nhiều cán bộ người dân tộc, trong đó có ông Cần Một được bầu làm Chủ tịch Mặt trận các dân tộc ở miền núi Thừa Thiên.

Từ các tổ chức quần chúng, các đội du kích mật dần dần được hình thành gồm những hạt nhân nòng cốt. Mỗi xã có một đội, mỗi đội có khoảng 25 đến 30 người, vũ khí trang bị chủ yếu là tên ná tự tạo và vài khẩu súng trường. Nhiều quần chúng tích cực được kết nạp vào đảng. Đội ngũ đảng viên phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đến tháng 12 năm 1058, miền núi Quảng Trị, Thừa Thiên đã có 30 chi bộ với hơn 150 đảng viên, có Ban cán sự đảng miền tây của tỉnh, xã có chi bộ đảng. Đặc biệt, số đảng viên người dân tộc chiếm hơn 50 phần trăm ở các chi bộ. Chi bộ đảng thực sự làm nòng cốt trong quần chúng nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của tỉnh ủy.

Từ tháng 9 năm 1959 trở đi, trước nguy cơ không nắm được dân, địch tập trung bắt dân vào các nông trường ở Nam Đông, Khe Tre, A So, Khe Tranh. Các chi bộ đã kịp thời tổ chức và động viên người già, trẻ em ở lại bám làng đấu tranh trực diện chống địch gom dân, thanh niên vào rừng sâu làm nương rẫy phân tán, làm chòi canh, gài chông bẫy đề phòng địch càn quét. Địch không những thất bại trước ý đồ gom dân mà phong trào đấu tranh của nhân dân ngày một nâng cao.

Qua phong trào đấu tranh của nhân dân miền núi đã xuất hiện những yêu cầu mới về xây dựng lực lượng vũ trang để làm nòng cốt cho đấu tranh chính trị. Giữa năm 1959, các đơn vị vũ trang đầu tiên của tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên ra đời.

Ở Quảng Trị, ngoài 12 đồng chí do quân khu điều vào làm nòng cốt, tỉnh lấy thêm một số đồng chí công an bảo vệ tỉnh và một số đồng chí ở Vĩnh Linh, gồm tất cả 23 người, thành lập hai đội công tác 59A và 59B. Tháng 6 năm 1959, tại xã A Bung, đội công tác 45 gồm 32 đồng chí được thành lập do đại úy Lê Cương phụ trách. Đầu năm 1960, ban quân sự tỉnh Quảng Trị ra đời, gồm ba đồng chí. Từ những tổ công tác, trong quá trình hoạt động, tỉnh đã bổ sung thêm lực lượng ở địa phương và thành lập đại đội 53, đại đội đầu tiên của tỉnh do đồng chí Cừ chỉ huy.

Lúc này ở Thừa Thiên, từ một lực lượng nhỏ bé gồm 15 cán bộ quân sự và một đội trinh sát gồm 8 đồng chí ở miền Bắc vào được phân công về các huyện làm nòng cốt trong phong trào đấu tranh, tỉnh đã chỉ đạo phát triển phong trào chiến tranh du kích và đến cuối năm 1959, đã tổ chức được hai đại đội vũ trang của tỉnh.

Nhiệm vụ của các đội vũ trang lúc này chủ yếu là bảo vệ cơ quan tỉnh, xây dựng cơ sở cách mạng, vũ trang tuyên truyền, phát động quần chúng, tổ chức lực lượng du kích và làm nòng cốt cho chiến tranh du kích ở miền núi.

 

Sự xuất hiện các đơn vị vũ trang đầu tiên của hai tỉnh Trị - Thiên là một sự kiện quan trọng. Từ chỗ miền núi là vùng địch kiểm soát, đến đầu năm 1959, ta cơ bản giành quyền làm chủ. Tổ chức đảng bước đầu được xây dựng từ tỉnh xuống đến chi bộ xã. (20 xã ở Quảng Trị và 12 xã ở Thừa Thiên có chi bộ đảng). Nhân dân tự do đi lại làm ăn, đa số tham gia vào các tổ chức quần chúng cách mạng. Hệ thống chính quyền ngụy tuy còn nhưng dần dần đã bị vô hiệu hóa.

Từ thoái trào, Quảng Trị, Thừa Thiên đã biết chọn miền núi làm căn cứ địa cách mạng để dần hồi phục và phát triển phong trào cách mạng của hai tỉnh. Cuối năm 1959, một số nơi ở miền núi Trị - Thiên đã có tiền đề trực tiếp cho những cuộc nổi dậy của nhân dân các dân tộc phá bỏ ngụy quyền, lập chính quyền cách mạng.

Căn cứ địa miền núi Trị - Thiên trở thành chỗ dựa vững chắc cho việc khôi phục lại phong trào cách mạng ở đồng bằng.

Tuy nhiên, do chưa nắm vững quan điểm, phương pháp, còn chậm chuyển hướng đấu tranh sát với thực tế tình hình, còn e ngại vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, nên phong trào cách mạng Quảng Trị, Thừa Thiên bị chững lại, chưa tận dụng hết thuận lợi của hậu phương trực tiếp. Vai trò hậu phương trực tiếp đặc biệt là khu vực Vĩnh Linh, Quảng Bình thời kỳ đầu cũng vì quan điểm này mà chưa thể hiện rõ, chưa có tác dụng mạnh đối với phong trào cách mạng ở Trị - Thiên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #9 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2024, 08:41:11 pm »


II - MIỀN NÚI TRỊ-THIÊN NỔI DẬY,
MỞ ĐƯỜNG HÀNH LANG CHIẾN LƯỢC VÀ PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIÚP BẠN LÀO

Qua cuộc đấu tranh chống địch "tố cộng, diệt cộng", mặc dầu cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, nhưng những cuộc khởi nghĩa từng phần cũng đã xuất hiện ở nhiều nơi, nhất là miền núi Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Riêng Trị - Thiên do địch tập trung đàn áp, nhiều cơ sở đảng tan vỡ, nên phong trào cách mạng phát triển không đều, quần chúng nhân dân một số còn hoang mang. Ở miền núi Trị - Thiên tuy phong trào còn rất nhiều khó khăn, nhưng lực lượng lãnh đạo được tăng cường, quần chúng được giáo dục, tin ở cách mạng, căm thù Mỹ - Diệm, đã xây dựng được một số căn cứ. Không cam chịu ách kìm kẹp của kẻ thù, lại được tổ chức đảng cơ sở giác ngộ, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân Trị - Thiên nóng lòng chờ đợi và sẵn sàng nổi dậy khi có chủ trương của trên.

Tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15. Sau khi phân tích sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam, Nghị quyết hội nghị chỉ rõ: con đường phát triển của cách mạng ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân. Hội nghị còn phân tích thêm: khi sử dụng lực lượng tự vệ và vũ trang tuyên truyền cần phải thấu suốt nguyên tắc phục vụ cho đấu tranh chính trị và phục tùng lợi ích của đấu tranh chính trị.

Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vạch ra phương hướng đúng đắn cho cách mạng miền Nam, nó có ý nghĩa quyết định làm chuyển biến phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Trị - Thiên, tiếp thu Nghị quyết 15 như hạn hán gặp mưa rào. Đường lối cách mạng miền Nam mà Nghị quyết vạch ra đáp ứng nguyện vọng bức thiết của đông đảo quần chúng, động viên mạnh mẽ tinh thần cách mạng của nhân dân cả miền núi lẫn đồng bằng, tạo nên sự nhất trí cao độ.

Tháng 5 năm 1959, Tỉnh ủy Quảng Trị quán triệt Nghị quyết 15, phổ biến đến từng chi bộ, đảng viên. Tháng 6 năm 1959, Tỉnh ủy Thừa Thiên triển khai học tập Nghị quyết 15 và phát động giáo dục quần chúng nhân dân hiểu đúng đường lối của Đảng, tiếp tục đứng lên đấu tranh chống Mỹ - Diệm. Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, những cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ ở mức độ thấp diễn ra ở nhiều nơi, nhất là miền núi. Cuộc đấu tranh của nhân dân Trị - Thiên không còn ở thế thụ động, chính trị đơn thuần như trước.

Lo sợ trước phong trào cách mạng ngày càng lan rộng ở Trị - Thiên, tháng 4 năm 1960, địch cho ba tiểu đoàn càn vào miền tây Quảng Trị, thực hiện dồn làng, tập trung dân vào các khu: Khe Sanh, Lao Bảo, Hướng Hóa, Cùa, Ba Lòng, hòng bóp nghẹt cuộc sống nhân dân, tách dân khỏi đảng. Tháng 10 năm 1960, hai tiểu đoàn địch càn vào hai xã Thượng Hùng, Thượng Quảng (Thừa Thiên) gom dân vào các khu Nam Đông, Khe Tre, Bình Điền, A Lưới, A So. Càn đến đâu, chúng đều thực hiện đốt nhà, phá hoa màu, giết hại dân thường, bắt hàng trăm người đi dinh điền. Các làng, bản A Trìa, Tam Dần, A Lưới bị địch triệt hạ hoàn toàn.

Căm thù địch dồn nén tột độ trong nhân dân đã đến lúc bùng lên ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ. Được phong trào Đồng khởi toàn miền cổ vũ, Tỉnh ủy các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên liền phát động cuộc nổi dậy của quần chúng cách mạng ở miền núi hai tỉnh.

Mở đầu phong trào đấu tranh, một tổ đặc công và du kích xã Phong Lâm trừng trị tên chánh tổng phản động thuộc đảng "cần lao nhân vị" ở Khe Tranh (Thừa Thiên). Ngày 10 tháng 12 năm 1960, dưới sự lãnh đạo của chi bộ xã Hướng Lâm, do đồng chí Lộc bí thư và đồng chí Bân phó bí thư Ban cán sự miền tây Thừa Thiên chỉ đạo, bộ đội cùng du kích bắt gọn trung đội địch và tên phản động khét tiếng trong vùng. Tiếp đó, chi bộ tổ chức cuộc mít tinh với hơn 2.000 người tham dự. Sau khi tố cáo tội ác của Mỹ - Diệm, đoàn chủ tịch tuyên bố xóa bỏ chính quyền ngụy và tiến hành xử tử một số tên có nhiều nợ máu với cách mạng.

Ngày 15 tháng 12 năm 1960, hơn 2.000 nhân dân xã Phong Lâm mít tinh tuyên bố xử tử tên phó tổng bí thư đảng "cần lao nhân vị" (tên này thường xuyên về Huế trực tiếp báo cáo và nhận chỉ thị của Ngô Đình Cẩn) và quyết định xóa bỏ chính quyền ngụy, thành lập chính quyền cách mạng. Sau cuộc mít tinh, cấp ủy đảng chỉ đạo nhân dân khẩn trương sản xuất, làm chông, bẫy, sẵn sàng chống địch phản kích.

Nhân dân các xã quanh vùng đều nổi dậy đấu tranh lật đổ chính quyền địch, xây dựng bản làng chiến đấu.

Ở Quảng Trị, mở đầu cho phong trào nổi dậy, tháng 7 năm 1960, các lực lượng vũ trang tỉnh tiêu diệt vị trí Sa Mưu. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, nhân dân trong vùng nổi dậy đấu tranh chống địch gom dân, lập ấp chiến lược.

Phong trào tiếp tục lan rộng, đến tháng 12 năm 1960, nhân dân nam Hướng Hóa nổi dậy diệt trừ ác ôn, giải tán chính quyền địch, lập chính quyền cách mạng.

Tháng 10 năm 1960, ba tiểu đoàn địch từ đồng bằng lên phản kích vào Hướng Hóa. Các đội công tác 59A và 59B cùng với dân quân, du kích Hướng Hóa tổ chức đánh địch, buộc chúng phải rút về Đông Hà. Thành quả nổi dậy của nhân dân được giữ vững.

Tháng 11 năm 1960, Mỹ - Diệm dùng hai tiểu đoàn từ Hương Trà mở cuộc phản kích lên Phong Lâm, Hương Lâm (Thừa Thiên). Quyết không để địch chiếm lại miền núi, lực lượng vũ trang tỉnh cùng với dân quân, du kích Phong Lâm, Hương Lâm phục kích đánh địch. Bị chặn đánh, địch phải rút về Huế.

Cuối năm 1960, ở Quảng Trị, địch phải rút khỏi một số đồn bốt như Sa Mùi, Tà Rụt, Trại Cá, Sa Trầm, Li Tôn, làng ông Nhiệm, dọc biên giới và phía tây đường số 9. Tại Thừa Thiên, địch phải co về các điểm A So, A Lưới, Nam Đông, Khe Tre.

Lực lượng vũ trang Quảng Trị, Thừa Thiên không ngừng lớn mạnh. Đến tháng 1 năm 1960, bộ đội địa phương miền núi đã có hơn 366 người, được trang bị đầy đủ vũ khí, các xã đều có từ một đến hai tiểu đội du kích. Ý thức đánh địch được thể hiện ở mọi người dân.

Đến cuối năm 1960, miền núi Quảng Trị, Thừa Thiên căn bản được giải phóng đã trở thành địa bàn đứng chân cho lực lượng cách mạng Trị - Thiên.

Cùng với thắng lợi của phong trào Đồng khởi toàn miền Nam, những cuộc nổi dậy của miền núi Trị - Thiên đã góp phần đẩy Mỹ - Diệm vào giai đoạn khủng hoảng triền miên.

Thắng lợi của phong trào đấu tranh ở miền Nam là niềm cổ vũ lớn lao đối với quân và dân miền Bắc, trực tiếp là các tỉnh tuyến đầu hậu phương, động viên phong trào thi đua xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện của quân, dân các tỉnh Quân khu 4.

Trong thời gian này, một số địa phương trong quân khu đã phát động phong trào kết nghĩa Bắc - Nam. Mỗi tỉnh, mỗi huyện tiến hành kết nghĩa với mỗi tỉnh, huyện ở miền Nam. Cuối năm 1957, những "vườn dừa Bình - Trị - Thiên", "thư viện Bình - Trị - Thiên", "vườn cây An - Ngãi" ra đời.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM