đã post bên ttvnol mà down mạng hoài làm lở dở hết nên post lại bên này:
Tổng quan : M1A1 Abrams nguồn : http://science.howstuffworks.com1/Giới thiệu M1A1 Abrams -Cơ chế hoạt động Hãng General Dynamics cung cấp chiếc M1A1 Abrams MBT đầu tiên cho quân đội Mỹ vào năm 1980 nhưng mãi đến chiến dịch Bão Táp Sa Mạc tại Vùng Vịnh 1991 các đặc tính kỹ thuật vượt trội của nó mới dc chứng nhận.The US Army và Marine triển khai gần 2000 M1s vào Vịnh Persian và chỉ có 18 chiếc trục trặc. Trong khi các điều kiện khắc nghiệt của sa mạc tiêu hủy phần lớn các loại tank Sô Viết thì đến cuối chiến dịch bão tố , Mỹ chưa mất một tổ lại tank M1 nào !

Các M1 là ưu việt của thế giới Tank vì nó kết hợp bốn phẩm chất rất quan trọng:
Siêu di động - để có được với các mục tiêu và thoát khỏi cuộc tấn công
Sensors siêu và kiểm soát - để xác định vị trí và nhấn vào các mục tiêu
Superior firepower - để tiêu diệt các mục tiêu
Superior Armor - để chịu đựng sự tấn công
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ xem xét các thành phần chủ yếu để tìm hiểu cách thức các M1 hoàn thành sứ mệnh của mình.
Tên gọiTên goi xe Tank xuất phát từ một chiến dịch đánh lạc hướng , quân Đồng Minh muốn giữ bí mật tránh quân Đức , nên đã đánh chữ Tank - nghĩa là xe vận chuyển nước trên chiến trường. Từ đó có tên gọi xe Tank.
Chiếc M1 Abrams đặt theo tên tướng Creighton W. Abrams, người phục vụ như là trưởng phòng quản lý nhân viên quân và không quân của 37. Armored Battalion. Các M1còn được gọi như là "The Beast", "Dracula" và "Whispering Chết," nhấn mạnh hỏa lực mạnh mẽ và khả năng vận hành yên lặng . Sơ khởi Xe tank dc Anh Quốc phát triển đầu thế kỷ 20 để chống lại sự mở rộng của chiến tranh Chiến hào trong ww1. trong các trận đánh ở ww1 các bên tham chiến thường sử dụng chiến hào phòng ngự, bố trí rào kèm gai và súng máy, gây nhiều thương vong cho binh lính xông trận. Để vượt chiến hào với súng máy và kẽm gai phải hy sinh nhiều tiểu đội để vượt qua bùn lầy dưới mưa đạn.
Quân Anh thấy cần thiết phải có một dạng tàu xuồng- vũ trang dùng trên bộ có thể vượt qua mương rào và hỏa lựa của đối phương,Cuối cùng thiết kế đã có sáu thành phần:
- bánh xích
- Động cớ đốt trong
- Thùng xe
- Tháp Pháo
- Giáp bảo vệ

Một tổ lái tank trong chiến đấu trong Chiến tranh Thế giới thứ II
Bánh xích hoạt động thoe quy tắc băng truyền, Động cơ truyền lực đẩy thông qua một bánh chính, kéo theo các bánh khác bằng băng xích , xe dc đẩy tới trước giống nhức các bánh xe hơi chạy trên đường.
ban đầu Bánh xích ko thiết thực trong chiến trận vì động cơ hơi nước cồng kềnh và ko tin cậy. Sự ra đời của động cơ đốt trong đã
khiến Bánh xích khả thi .
Xe bánh xích có khả năng vượt địa hình gồ ghề vì đặc điểm tiếp đất trên diện tích rộng.
Phần thân chứa động cơ và bánh xích , đước gắn với Tháp pháo có thể xoay dc. Tháp pháo thường chứa một súng chính và vài khẩu liên thanh

Phần thân và tháp pháo của M1
Động cơ của M1 Abrams Chiếc M1 dc trang bị động cơ tuốc bin khí 1500 mã lực để đạt dc sự cơ động cao. Động cơ tuốc bin khí có hệ số lực/ tải trọng tốt hơn động cơ pitong thường.Tức là, nó cung cấp rất nhiều năng lượng hơn mà không cần thêm nhiều trọng lượng. động cơ Turbine cũng nhỏ hơn rất nhiều so với động cơ pttiong , do đó, bạn có thể làm nhiều hơn với các không gian có sẵn trên xe tank.

Trọng lượng nhẹ, Động cơ tuocbin mạnh cho phép m1 di chuyển nhanh và cơ động hơn hầu hết các lọai tank khác. Theo General Dynamics Land Systems xe có thể đạt tốc độ từ 0 lên 20 dặm/giờ trong vòng 7,2s và có thể đi chuyển bình thường 30 dặm/giờ .
Tốc độ cao và sự cơ động cũng có giá của nó nhưng dẫu sao với Hệ thống kiểm soát nhiên liệu tự động đã giúp M1 tiết kiệm ít nhất 1 galon xăng / dặm.
M1 tăng tốc trên sa mạc Ku wat , động cơ Tuocbin mạnh mẽ mang lại sự cơ động và linh hoạt giúp M1 họat động hiệu quả trong môi trường khắc nghiệt !Để tăng tầm hoạt động trong sac mạc ,General Dynamics đã cải tiến tăng thêm nhiên liệu cho xe tank. Các mô hình gần đây nhất M1 có 490 gallon (1850 L), cho phép các xe đi về 265 dặm (426 km) mà không cần tiếp nhiên liệu. động cơ tuabin làm việc với một loạt các nhiên liệu, thông thường bao gồm cả xăng dầu, nhiên liệu diesel và nhiên liệu phản lực.
Động cơ cung cấp lực đẩy mạnh mẽ với 6 số tự động. 4 tới và 2 số lui. Bánh truyền chạy cả hai mặt kéo theo băng xích chạy dc cả 2 chiều.
Phiên bản 3.0
Các M1 đã đi qua một số cấu hình của nó trong 20-năm lịch sử. M1 ban đầu, hoạt động vào năm 1983, có súng nhỏ và giáp hạn chế. Các M1A1, được giới thiệu vào cuối ''80s, đã có súng lớn hơn và cải thiện Giáp- Armor. Qua nhiều năm, các nâng cấp đã dc thực hiện so với bản gốc M1A1. M1 mới nhất, các M1A2, là đặc trưng cải thiện hệ thống điện tử và Giáp.
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào các mô hình M1A2. Vũ khí của M1 TankSúng chính của M1 là súng nòng trơn 120mm M256 do hãng Rheinmetall Landsysteme GmbH của Đức sản xuất . Súng nòng trơn ko ổn dịnh đường đạn bằng súng có khương tuyến nhưng có thể bắn ở tốc độ cao mà ko bị thiệt hại nghiêm trọng.
Súng chính của M1 là súng nòng trơn 120mm M256Súng M256 có thể bắn dc hai loại đạn khác nhau là Sabot và đạn Heat (chuyên chống tank), trong chiến đấu hai loại đan này gây thiệt hại hoàn toàn khác nhau.
Đạn SabotĐạn sabot hoạt động về cơ bản như một mũi tên, ko dùng đầu nổ mà chỉ xuyên giáp bằng gia tốc. Lõi của đạn Sabot là một khối kim loại (thường làm từ Uranium) với đầu nhọn và các cánh ổn định ở hai bên sườn. Khi bắn khối nổ sẽ đẩy lõi đạn về phía trước, mục đích là để xuyên phá sâu vào trong lớp giáp bảo vệ của đối phương.
Hình vẽ cắt bổ một quả đạn AP. 1 kim lọai mềm nhẹ. 2 hợp kim thép cứng khoan mục tiêu. 3 liều nổ phá. 4 ngòi. 5 đai đạn (để miết vào rãnh xoắn).Khi bắn vỏ đạn sẽ nhanh chóng rời thân, lõi Sabot sẽ phóng đi với động lực mạnh, xuyên giáp, mãnh vở từ sự va chạm sẽ phá hủy các mục tiêu bên trong.
Lõi Sabot tách thân phóng đi vào thời điểm liều dẫn đường hoạt độngnĐạn HeatHE, High Explosive, đạn nổ mạnh, trái phá.
High Explosive: đạn nổ mạnh. Đạn sử dụng để bắn sập công trình, còn gọi là trái phá. Đạn có vỏ thép tốt để xuyên vào trong mục tiêu mới nổ, không vỡ khi va dập. Đạn có ngòi chọn 3 chế độ đợi nổ: chạm mặt mục tiêu nổ, xuyên vào trong bê tông chừng 1-2 mét nổ, xuyên sâu mới nổ. Ba chế độ đó dùng cho các loại công trình khác nhau. Mảnh đạn có sức sát thương lớn. Có nhiều đạn kết hợp APERS và HE, gọi là HE-FRAG
Nhờ những chất nổ mới, ổn định và mạnh như HMX, người ta hoàn thiện đạn lõm, HEAT. Đạn lõm sơ tốc thấp, đường đạn cong, phân tán mạnh nhưng khi phát nổ nó tán rộng sức sát thương ra xung quanh như trái phá và sức xuyên không phụ thuộc nhiều vào tốc độ gặp giáp. Trong thế chiến 2, đạn này chưa được sử dụng bắn từ nòng xe tăng do thuốc nổ kém và không chống được phát nổ ngoài ý muốn.
cơ cấu đạn HeatĐạn HEAT có sơ tốc thấp và tản mát mạnh so với APDSFS. Nhưng đạn không giảm sức xuyên theo tầm. Đặc biệt khi dùng chống công trình, công sự thì đạn lợi thế hơn đạn xuyên giáp
Các M1 cũng có ba súng máy. Nó có một Browning .50-caliber M2 và 7,62 mm-M240 gắn kết vào tháp pháo, và 2 khẩu M240 bên cạnh súng chính.
Súng máy Browning .50-caliber M2 Giáp bảo vệ của M1M1 dc chế tạo chủ yếu từ thép tấm cán (RHA) bọc thêm các lớp bảo vệ dầy khác. Cốt lõi của lớp giáp này phát triển từ lớp giáp Chobham của người Anh- một tổ hợp sắp xếp bao gồm các tấm kim loại, gốm và các khối rỗng.Đạn Sabot và đạn Heat có thể xuyên qua ngoài lớp giáp nhưng ko thể xuyên vào trong gây thiệt hại cho kíp lái. Các vật liệu gốm có khả năng hấp thụ nhiệt của vụ nổ và chịu dc lực tác động vật lý.Phần còn lại của khí nóng và mảnh vỡ kim loại sẽ dc hấp thu vào các túi rỗng.
Phiên bản Tank M1 mới dc gia cường thêm các lớp thêm và Uranium làm giàu giúp tăng cường khả năng của kiểu giáp Chobham. Sự phới hợp này giúp lớp giáp có khả năng chịu đựng dc hầu hết các loại đạn pháo và tên lửa (ngoại trừ loại tên lửa cực mạnh Hellfire)
Đạn dc chứa trong các ngăn bọc giáp, nếu bị nguy hiểm gây nổ thì các vách ngăn sẽ giúp bảo vệ an toàn kíp lại hoặc ngăn vụ nổ phá hủy hoàn toàn chiếc tank. Một hệ thống kiếm soát số sẽ ngăn chận bất cứ vụ gây cháy nào xảy ra bên trong chiếc tank.
Chiếc M1 cũng dc trang bị để chống lại các cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học hay sinh học. Một hệ thống lọc khí bảo vệ kíp lái khỏi các nguy cơ.
Chiếc M1 cũng có khả năng tránh dc các cuộc tấn công từ kẻ thù ẩn nấp. M1 có hai hệ thống phóng lựu đạn khói về mọi hướng. Kíp lái cũng có thể chuyển một iy1 nhiên liệu thành một đám mây khói ngụy trang dầy đặc
một chiếc M1 phun khói ngụy trang Tổ lái M1 M1 dc thiết kế với tổ lái 4 người. Lái xe ngồi phía trước thân ngay dưới súng chính , để phù hợp với không gian chật, ghế dc bố trí ngửa ra phía sau giống như ghế nha sĩ. Kíp lái nói rằng vị trí này là ko thoải mái nhất trong chiếc tank. Lái xe điều khiển bằng một cần lái kiểu mô tô và tăng tốc bằng cách xoay hộp số , tank có phanh pe đan dưới chân, hệt như ô tô.
vị trí lái xe M1lái xe điều khiển chuyển bằng cách sử dụng ba kính tiềm vọng (còn được gọi là tầm nhìn khối) Đối với các hoạt động ban đêm, anh ta có thể thay thế một tầm nhìn cảm biến đêm thay cho kính tiềm vọng thường. Người lái xe cũng có một số công cụ của bảng điều khiển, được gọi là trình điều khiển của màn hình tích hợp (DID), cung cấp dữ liệu hành trình, cũng như các thông tin về tốc độ, nhiên liệu và hiệu suất của động cơ.
Phần còn lại của kíp lái ngồi trong thân xe , dưới tháp pháo .Người nạp đạn ở phía bên trái của tháp, hướng về phía sau; tháo thủ ở bên phải, hướng về phía trước, và vị trí chỉ huy bên phải, hướng về phía sau.
Chỉ huy giám soát toàn bộ hoạt động của tank, giao tiếp và chỉ huy kíp lái. Trưởng xe có các cần lái và kính tiềm vọng độc lập, kính hồng ngoại nhìn đêm để quan sát chiến trường. Ông ta theo dõi các hệ thống của tank thể hiện trên màn hình.
Pháo thủ nhắm bắn các mục tiêu và điều khiển súng chính. Pháo thủ xác định vị trí chính xác của mục tiêu bằng kính quan sát tầm nhìn cả ngày đêm và một máy đo lazer khoảng cách chính xác đến mục tiêu. Ông cũng kiểm soát súng máy phía trước và theo dõi, giám sát tình trạng súng chính.
tháo thủ đang thao tác trên màn hình Người nạp đạn nạp từ khoan đạn và pháo thủ sẽ cho biết anh ta cần lại đan nào. nạp đạn viên và trưởng xe cũng có thể điều khiển hai súng máy bên hông tháp pháo. Họ có thể mở 2 ô bên hông và bắn bằng súng máy, tuy nhiên đó ko phải là lựa chọn hữu hiệu trong các cuộc đấu tank.
Tất cả các M1s từ chiến trường được liên kết với nhau bởi mạng thông tin cơ giới nội bộ (IVIS). Sử dụng IVIS, chỉ huy theo dõi vị trí các tank khác, truyền tải các bản đồ và chia sẻ thông tin về quân địch. Để giấu thông tin liên lạc , hệ thống sử dụng mã hóa các tín hiệu radio.
Sự kết hợp của các đồ điện tử cao cấp, lớp giáp chắc chắn kinh ngạc và hỏa lực khủng khiếp làm cho M1 gần như ko có đối thủ trong các cuộc đấu tank. Tuy nhiên sự tiến bộ về công nghệ và vũ khí sẽ đuổi kịp M1 với sự ra đời của háng tá các loại tank khác. trong khoa học quân sự sự ưu thế về công nghệ có tuổi thọ ngắn ngủi cách nhau vài gang tay mà thôi!