Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 05:31:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 316153 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #140 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2012, 09:57:11 pm »

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
CÁC PHÁI ĐOÀN TRẠI ĐA VÍT  
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ
ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Hai, 2012, 10:19:44 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #141 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 08:23:49 pm »


TẾT - GHI ĐƯỢC Ở SÀI GÒN

TRẦN DUY HÌNH                      

            Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.        

        Tôi đến Sài Gòn vào một ngày giáp Tết Quý Sửu năm 1973. Đã cuối đông mà ở đây vẫn nóng như đang còn giữa hạ. Cát bay bụi mù. Nắng như đổ lửa. Tiếng gầm rú của máy bay Mỹ đinh tai nhức óc suất 24 tiếng đồng hồ. Ngột ngạt quá.

        Tôi nhớ mãi đêm 30 Tết, giữa lúc Trung tướng Trần Văn Trà - Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đang chúc tết anh em cả hai đoàn quân sự ta trong trại Đa-vít, thì mái nhà tôn bỗng rung lên vì những chiếc trực thăng bay quá thấp. Từ trên đó nhiều pha đèn hồ quang chiếu thốc xuống. Chính quyền Sài Gòn làm cái trò gì đây? Mặc họ. Cuộc họp mặt dạt dào tình nghĩa Bắc - Nam giữa hai đoàn không hề bị ảnh hưởng. Họ có sức thì cứ việc bay. Ngày mai ta sẽ có công hàm phản đối. Còn anh em chúng tôi vẫn ung dung ngồi quây quanh chiếc máy thu thanh, nhấp trà Ba Đình, hút thuốc lá Thủ đô, ăn mứt gừng uống bia Trúc Bạch.., chuyện trò rôm rả đón gian thừa và chờ nghe Bác Tôn kính yêu chúc Tết. Tất cả hướng về Hà Nội.

         Ôi pháo nổ rồi, giao thừa đến rồi. Ngoài ấy mới tưng bừng nhộn nhịp làm sao. Qua âm thanh, chúng tôi như thấy cả Hà Nội bừng dậy đón mừng Xuân mới.

        Còn ở đây, so với Hà Nội chậm một tiếng đồng hồ. Tôi quyết định thức trọn đêm nay để xem xuân đến Sài Gòn. Không ra được phố. Chúng tôi xem vô tuyến truyền hình của Sài Gòn. Làn sóng huỳnh quang nhấp nháy. Chiếc loa phía dưới báo rằng- "Có tổng thống Việt Nam cộng hoà chúc Tết". Và chỉ trong nháy mắt ở cái khuôn vuông vuông trăng trắng của máy hiện ra một người khăn xếp, mặc áo the thâm quần trắng ống sớ... Lạ mặt quá. Tôi ngớ người: Ồ đây là Nguyễn Văn Thiệu ư? Sao giống Ngô Đình Diệm ngày xưa đến thế !

        Giao thừa đến rồi, nhưng sao ở đây im ắng quá? À, dân Sài Gòn bị cấm đốt pháo từ hàng chục năm nay. Bây giờ cũng vẫn còn bị cấm. Tôi nhớ ra điều ấy. Nhìn sang khu "gia binh" và phố Lê Văn Lộc, vắng ngắt. Vài ba ngọn đèn đường hiu hắt. Cửa mọi nhà đều đóng im ỉm dưới bóng những lá cờ vàng ba sọc ủ rũ. Trên mặt đường nhựa mấy con chó hoang đang đùa rỡn, bóng tụi lính tuần tra thấp thoáng trong màn sương. Xuân đã về rồi, sao ở đây không ai đón? Bà con ngủ cả rồi ư? Hay vẫn thức đón xuân kín đáo trong nhà? Bên phi trường Tân Sơn Nhất, đèn dù vẫn nối nhau nhấp nhoáng. Xa xa tiếng đại bác chốc chốc lại oàng oàng. Phía ấy là Củ Chi, Gò Vấp...

        Gần sáng, không gian bỗng rung lên bần bật như động đất bởi sức nặng và tiếng gào rú của chiến xa. Chúng kẻo đàn kẻo lũ đi đâu? Đi hái lộc đầu xuân? Một em bé trong ngôi nhà gần đường giật mình khóc thét lên. Tiếng khóc ấy bị nghiến ngay vào tiếng rít của xích sắt xe tăng. Anh đèn pha loang loáng quét dọc hàng rào. Những chiếc gai sắt nhọn hoắt lạnh lẽo túa ra. Nhưng nếu chúng nó dựng lên trăm tầng nghìn lớp rào thép như thế cũng không thể chia cắt nổi lòng người dân Sài Gòn đối với đoàn ta. Tôi để ý hàng ngày có biết bao ánh mắt hiền hậu từ bên kia kín đáo ngắm sang. Các cháu nhỏ cởi trần nghịch đất lấy cớ đuổi nhau băng qua mặt lính gác đến sát hàng rào để nhìn cho rõ các chú bộ đội của ta. Có cháu khe khẽ gọi sang giọng đầy xúc động: "Chú ơi!". Thương quá. Ngày Tết mà chẳng thấy các cháu hơn ngày thường tý nào. Một đồng chí ta khẽ vẫy các cháu lại, luồn kẹo bánh qua cho. Những đứa trẻ vô tội vừa đến sát hàng rào thì một tiếng quát làm chúng giật bắn người:

        - Ê con nít! Đù mẹ tụi bay, muốn chết hả? Tên quân cảnh hùng hổ xách tiểu liên ARI5 xông tới vung tay tát bốp vào giữa mặt một em bé. Bọn trẻ sợ hãi khóc thét lên hớt hải chạy về nhà. Mấy bà mẹ thấy thế cũng chỉ nghẹn ngào gạt nước mắt len lén quay đi. Tôi không hiểu những ông bố - hầu hết là lính - trong khu gia đình ấy nghĩ gì khi con mình bị người khác đánh đòn giữa ngày mồng 1 Tết

        Một bác công nhân già, đi làm trong sân bay về, dừng lại nhìn vào trụ sở ta xem anh em đấu bóng chuyền vui Tết, liền bị tên quân cảnh non choẹt chỉ vào giữa mặt quát:

        - Cút mẹ mày khỏi liền, nhìn, nhìn ông nội mày gì? Muốn đi tù hả? - Cụ già đành phải lầm lũi quay đi.

        Một điểm đặc biệt là Sài Gòn ngày Tết trẻ em rất thích chơi diều. Mỗi cháu trên tay đều có một chiếc diều. Cháu thì diều vuông, cháu thì diều gấp, cháu diều cánh cốc, cánh cung...

        Những chiếc diều no gió bay lên đem theo niềm vui của đàn trẻ nhún nhẩy cái đuôi như cùng các cháu múa giữa trời xanh. Ở đây gần biển nên lúc nào cũng lộng gió. Được gió nắng, diều càng bay cao, niềm vui của đàn trẻ cứ thế tăng lên mãi mãi. Càng ngắm các cháu chơi diều vui vẻ, hồn nhiên, tôi càng thương các cháu gấp bội. Ngày Tết mà các cháu chỉ chơi mỗi trò này ư ? Tiếng nhạc "xuynh", nhạc "gia" của Mỹ đang eo éo đây kia không hấp dẫn các cháu. ôi tuổi thơ vô tư và đầy thú vị, chúng tôi bị lôi cuốn thật sự về cái trò chơi thú vị này. Nếu không có hàng rào kẽm Mỹ tàn nhẫn dựng lên để chia mặt cắt lòng sửng sừng trước mặt này, thì chúng tôi đã ùa ra chơi diều với các cháu.

        Cả đám diều đủ màu sắc nghiêng nghé, đùa rỡn như một chùm hoa trắng khổng lồ. Đàn diều cứ nhích dần, nhích dần như vô tình bay trên bầu trời trại Đa-vít chúng tôi hớn hở ngắm nhìn. Bỗng một chiếc chao mạnh rồi đứt dây, rối léo, rớt xuống. Cháu nào bên ấy mất diều chắc là rầu lắm. Biết của ai mà mang trả bây giờ? Chúng tôi nhặt chiếc diều lên ngắm nghía. Diều bồi nửa đỏ nửa xanh. Màu sắc của lá cờ Giải phóng? Chúng tôi đều sững sờ cả người khi đọc dòng chữ viết giữa thân diều: "Năm mới, các cháu cùng bà con chúc Tết mấy chú mạnh giỏi. Nhớ các chú nhiều!". Thật là kỳ lạ, thật là thân thương! ôi chiếc diều đầy nghĩa tình. ôi, tấm lòng của bà con bên ấy! Chúng tôi xúc động chuyền nhau chiếc diều mà nước mắt lưng tròng. Thế là giữa ngày mồng 1 Tết, dù xa nhà chúng tôi vẫn được sống giữa những tấm lòng, nhân hậu, đầy tình thương mến của bà con Sài Gòn đang hướng về cách mạng. Nhìn đàn trẻ, tôi như thấy cháu nào cũng là chủ nhân chiếc diều tuyệt diệu này. Chắc chủ nhân của nó cũng xúc động không kém chúng tôi. Thế là mạch máu đã khai thông. Bức tường mà Mỹ - nguy cố dựng lên đã bị chọc thủng. Từ nay đối với chúng tôi, bà con bên ấy là người nhà, những chiếc diều đáng yêu kia chính là tín hiệu của những trái tim vàng.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #142 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 08:27:41 pm »

        Khác với lối đón xuân của con trẻ, các "ngài sĩ quan không quân quân lực Việt Nam cộng hoà" ở câu lạc bộ không quân Huỳnh Thúc Bạc đón xuân độc đáo hơn. Họ chăng xúc xích giấy đầy nhà, quân cảnh được dàn ra đầy các ngõ ngách. Họ tiếp khách bằng máy vô tuyến thông tin và chơi những tờ tranh lạ mắt. Một con quạ đứng trên cành một quả bom, dưới mang hai chữ "Hoà bình" được treo ngay giữa cửa chính. Thật là một kiệt tác của loại tranh xuân Sài Gòn. Chúng tôi đến câu lạc bộ này vào lúc chiều tà, không gian đỏ lòm, mọi vật như tắm màu. Trên xác chiếc xe tăng có lẽ từ năm 1968 đã gỉ nhoèn, một hàng chữ viết vội làm bọn quân cảnh lồng lên: "Tụi Trâu điên là đồ chó đẻ". Tụi Trâu điên chính là cái tiểu đoàn quỷ quái đang ngày đêm "bảo đảm an toàn" cho trại Đa-vít. Chúng đã được một người nào đó chúc mừng năm mới.

        Lúc trời sẫm lại, bỗng tiếng kèn trom-pét ré lên ở một ngôi nhà trong ngõ, ánh đèn màu lá chuối hắt ra nhấp nháy chập chờn. Người tài xế do hãng Pa-xi-phích thầu - giới thiệu: - Đấy là nơi tiệm cô Ba, bán hủ tiếu Mỹ Tho và nhảy đầm. Thế nào tối cũng có "xếch-xi" 100% (không mặc quần áo). Tiệm này đông khách lắm.

        - Sài Gòn có nhiều tiệm nhảy "xếch-xi" không?

        - Nhiều chớ, Tết này là họ hốt bạc. Được dịp của khách làng chơi, họ nhảy suốt ngày suốt đêm. Toàn những tay chơi cỡ "bự".

        - Tối qua nhà bác đón giao thừa có vui không.

        - Không, tôi đi làm mệt, thành thử ngủ quên mất. Ở phố tôi chỉ những nhà có ti vi là dậy coi thôi.

        - Tết này chắc Sài Gòn vui lắm bác nhỉ?

        - Đâu có Phải chi đừng Tết còn hơn. Loại như chúng tôi Tết vẫn phải lăn lưng ra mà làm kiếm miếng. Chẳng dám đến nhà ai. Tết là Tết người ta thôi.

        Nếu cứ quan sát quanh trại Đa-vít thì tưởng Sài Gòn không có Tết.

        Sáng mồng 2 Tết, chúng tôi theo Thiếu tướng Lê Quang Hoà vào trung tâm Sài Gòn để tiếp xúc lần đầu tiên với ủy ban Quốc tế. Xe chạy qua cầu Công Lý. Bọn quân cảnh đưa đường tiền hô hậu hét nhộn nhạo cả phố phường. Chúng cho xe đi rất nhanh để tránh ta tiếp xúc với dân. Nhưng chốc chốc vẫn phải dừng lại vì những tai nạn xe cộ bất ngờ. Thấy ta. đồng bào kéo nhau chạy ùa xuống mặt đường. Những ánh mắt thân thương, những nụ cười hồ hởi, những giọt nước mắt sung sướng nghẹn ngào.

        Người Sài Gòn nhận ra hai đoàn đại biểu ta rất nhanh. Người nọ truyền người kia, cả thành phố bàn tán xôn xao. Người đang đi dừng lại, ngắm, người trên gác chạy ùa ra ban công xem. Có tiếng reo to: "Ôi cha, phái đoàn quân sự Hà Nội đẹp dữ quá hè". Quân cảnh, cảnh sát đầy đường. Những tiếng còi nạt nộ thét lên- Giày đinh nện cồm cộp. Coi chừng bị bắt.

        Một đôi nam nữ cưỡi xe hon đa, cố vượt lên chạy song song với các xe ta. Anh con trai bảo người yêu:

        - Em coi cho kỹ nè, các anh giải phóng đội nón cát, vận đồ pô-li-te. Còn các anh bộ đội ngoài Bắc thì đội nón kê-pi, mang ngù vai vàng. Đó, đó em thấy rõ chưa? Họ nhìn vào xe tôi, tôi cười vẫy họ- Cả hai cùng cười: "Chúc mấy anh mạnh giỏi", rồi rú ga rẽ sang phố khác, lẫn vào dòng người đang hối hả ngược xuôi. Đoàn xe lướt đi rất nhanh rồi đỗ trước một khách sạn loại nhỏ. Xung quanh đã thấy bọn quân cảnh, cảnh sát Sài Gòn chen chúc đông đặc. Các ngả phố đều bị chặn lại. Ở một góc hành lang, trong vòng dây ni lông trắng, tôi thấy các phóng viên nước ngoài đang đứng chờ sẵn. Nhìn thấy các đại biểu ta, họ ào ra định quay phim, chụp ảnh. Lập tức bị quân cảnh Sài Gòn chặn lại.

        Chính quyền Sài Gòn rước Mỹ vào cùng với đô la, chắc dân Sài Gòn phải giàu có lắm? - Không. Viên trung tá Chí phụ trách an ninh "phủ tổng thống", đến khoe với sĩ quan liên lạc ta: "Tôi rất lấy làm vui mừng vì dân Sài Gòn được ăn cái Tết hoà bình đầy đủ. Nhà nào cũng có một hai chiếc bánh chưng trong tủ ướp lạnh". Chí khoe thế, nhưng biết bao người ăn mày nhan nhản khắp đường phố kia, họ đào đâu ra tủ ướp lạnh, họ sẽ lấy gì mà ăn trong những ngày Tết? Hỏi vì sao Sài Gòn không đốt pháo mừng xuân? Chí giải thích: "Để đảm bảo an ninh ba ngày Tết, không những chính phủ chúng tôi cấm đốt pháo mà còn cấm tụ tập đông người, cấm đi lại từ 10 giờ đêm, báo động quân đội. Nói thật, chúng tôi rất sợ cái Tết như... Mậu Thân 1968". Vậy ra đấy là nguyên nhân sự tẻ nhạt của những ngày Tết cổ truyền ở Sài Gòn.

        Nhớ hôm đoàn chúng tôi lên đường, Hà Nội nhộn nhịp khác thường. Cả thành phố rực màu cờ đỏ, ngập trong trăm sắc thắm hoa tươi. Người từ bốn phương nườm nượp đổ về Hà Nội. Những nụ cười tươi đọng mãi trên môi. Những gương mặt rạng rỡ chứa chan hạnh phúc: Hoà bình đã trở lại, súng đã ngừng nổ, quân xâm lược phải hạ cờ cuốn gói cút. Ngồi trên chiếc xe "giải phóng ngắm nhìn Hà Nội, lòng tôi bồi hồi bao xúc động. Tôi nôn nao muốn vào ngay Sài Gòn để cùng bà con ta đón xuân hoà bình. Chắc là vui vẻ lắm. Nhưng thực tế lại quá phũ phàng...

        Những sĩ quan liên lạc Sài Gòn được phép lui tới các đoàn quân sự ta phát ghen lên vì cảnh Tết của anh em chúng tôi vui vẻ, đầy đủ quá. Những cây đào Nhật Tân tươi thắm, những bộ phim hay, những chiếc bánh chưng ngon lành, những đĩa dưa hành chín tới, những câu đối đẹp, bức tranh xuân sắc màu rực rỡ... đều được chở từ Hà Nội và từ vùng giải phóng vào. Ngay cả Đoàn In-đô-nê-xi-a trong ủy ban Quốc tế cũng phải trầm trồ ngắm nghía rất lâu hai cây đào to nở đầy hoa đỏ chói trong phòng khách. Họ rất lạ về những cây đào Hà Nội đã vào tận đây nở đầy hoa giữa Sài Gòn. Cũng bên những cây đào ấy, Trung tướng Trần Văn Trà đã nhắc đến vua Quang Trung ngày trước, sau khi quét sạch lũ xâm lược Mãn Thanh, đưa quân sĩ vào Thăng Long ăn Tết, lúc trở lại Phú Xuân, nhà vua đã chọn những cành đào đẹp nhất Hà thành đem về tặng người vợ yêu quý là công chúa Ngọc Hân. Đào thắm đàng ngoài khoe sắc bên mai vàng đàng trong, tượng trưng cho sự thanh bình của đất nước. Việc đó xảy ra vào Tết Mậu Thân năm 1968.

        Lịch sử đã lặp lại vào Tết Quý Sửu năm 1973. Những cây đào Hà Nội đã cùng phái đoàn quân sự ta vào Sài Gòn nở hoa tươi thắm, mừng xuân đại thắng, chứng kiến bè lũ xâm lược Hoa Kỳ với bọn lính chư hầu hạ cờ, vác súng cuốn gói cút khỏi đất nước ta.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #143 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 09:56:48 pm »


NHỮNG CUỘC ĐẤU TRÍ
KHI ĐI TRAO TRẢ TÙ BINH

HOÀNG DUY HOÀ                      
                 
        Xuân Quý Sửu năm 1973, hai phái đoàn quân sự của ta vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ thi hành Hiệp định Pa-ri, liên tục đi các tỉnh giám sát việc Mỹ rút quân, việc trao trả tù binh của các bên. Đồng chí Trần Văn Trà Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thường nhắc nhở cán bộ của đoàn. "Chúng ta là người chiến thắng, mỗi lần đi làm việc với phía Mỹ và Sài Gòn phải giành được điểm thắng vê đấu tranh chính trị và ngoại giao. Đây cũng là cơ hội trực tiếp làm công tác địch vận...".

AI XÂM LƯỢC AI

        Ngày 3 tháng 3 năm 1973, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên bay ra Hà Nội quan sát việc trao trả giặc lái Mỹ, viên thiếu tá Sài Gòn nói:

        - Chiến tranh đã tàn, ta không nói chuyện chính trị mà nói chuyện tình cảm cho vui.
    
        Tôi cười đáp:
    
        - Chuyện gì cũng được, cũng phải có chân lý.

       - Tôi nghe ông nói vẫn lai giọng miền Bắc.

       - Vâng! Tôi người gốc Hà Nội, nên nói giọng Bắc, giọng Nam đều được.

        Một sĩ quan Mỹ rất thạo tiếng Việt hỏi luôn:

        - Thế ông là người miền Bắc, ông xâm lược Việt Nam cộng hòa từ bao giờ?

        Tôi nhìn quân hàm và tên trên ngực áo anh ta nói:

        - Thiếu tá Hi-gin là người bang Ca-li-phoóc-ni-a phải không?

        - Đúng thế"

        - Có bao giờ thiếu tá xâm lược nước Hoa Kỳ không?

        Hi-gin đáp:

        - Ông nói lạ, tôi là người Hoa Kỳ sao lại xâm lược nước Hoa Kỳ.

        - Vậy thiếu tá đã trả lời hộ tôi câu hỏi và hiểu ai xâm lược ai rồi đó. Tôi là người Việt Nam sao lại xâm lược Việt Nam.

        Hi-gin ngượng ngùng quay đi không nói gì nữa.

KHÔNG ĐI MÁY BAY SƠN CỜ SÀI GÒN

        Ngày 26 tháng 2 năm 1973, xe chở Tổ Liên hợp quân sự chúng tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất đi Bình Định quan sát việc trao trả tù binh, một máy bay Ka-ra-bu đã chờ sẵn, một thiếu tá của Việt Nam cộng hoà mời chúng tôi lên máy bay và ra lệnh nổ máy. Chúng tôi chỉ vào đuôi máy bay nói không đi máy bay có cờ của Sài Gòn mà đi máy bay của Liên hợp quân sự bốn bên có sơn bốn vạch màu da cam có con số 4. Viên thiếu tá bực tức nói:

        - Các ông ở rừng chỉ lội bộ, vào đây chúng tôi phải phục vụ, máy bay nào chả được, chỉ vê chuyện, bay tít trên bầu trời ai biết cờ quạt của ai mà không đi.

        Bên ta nói, máy bay bay qua nhiều vùng giải phóng của Chính phủ Cách mạng sơn cờ của chính quyền Sài Gòn là vi phạm hiệp định. Nếu bị cao xạ quân giải phóng bắn rơi, phía Sài Gòn phải chịu trách nhiệm, buổi trao trả hôm nay không thực thi được là do phía Sài Gòn gây trở ngại, chúng tôi sẽ công bố cho đài, báo chí trong và ngoài nước biết.

        Sĩ quan Mỹ và Sài Gòn xách cặp xuống máy bay đi vào nhà ga, ba mươi phút sau có máy bay Liên hợp quân sự lăn bánh ra phi trường. Họ mời chúng tôi lên máy bay bay ra Phù Cát - Bình Định. Anh em ta vui cười bấm nhau: "Đã giành được điểm thắng".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #144 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 10:00:22 pm »


KHÔNG CHO ĐẠI TÁ SÀI GÒN VÀO VÙNG GIẢI PHÓNG

        Trời nắng gay gắt, đường băng hầm hập nóng, mọi thành viên trong Ban Liên hợp quân sự phải đứng chờ trực thăng ở phi trường Plây Cu để bay vào vùng giải phóng thăm nơi giam giữ cuối cùng trước khi trao trả tù binh Sài Gòn. Đại tá Hiền khu vực trưởng Liên hợp quân sự vùng Tây Nguyên phía Sài Gòn bước lên máy bay mời chúng tôi lên máy bay và nhắc phi hành đoàn cất cánh.

        Bên ta nói: Trong ủy nhiệm thư phía các vị được vào vùng giải phóng có ba sĩ quan, không thể đi quá số lượng được.

        - Hắn bảo sẽ cho một đại úy xuống thay cho hắn vào vùng giải phóng.

        - Thay không được vì đại tá không phải là người của Ban Liên hợp quân sự trung ương, không có danh sách trong ủy nhiệm thư vào vùng kiểm soát của Chính phủ Cách mạng nên đại tá không được vào vùng giải phóng.

        Đại tá Hiền hằn học nói:

        - Tôi là đại tá khu vực trưởng Liên hợp quân sự khu vực III có quyền đi quan sát trong toàn khu vực.

        - Vâng! ông được quyền đi khu vực Sài Gòn kiểm soát, không được quyền vào vùng giải phóng khi ủy nhiệm thư không có danh sách. Nếu hôm nay không thực hiện được nhiệm vụ là do phía Sài Gòn gây khó khăn, các vị phải chịu trách nhiệm.

        Đại tá khu vực trưởng bực dọc nói oang oang:

        - Máy bay của chúng tôi, phi hành đoàn của chúng tôi, bay từ lãnh thổ của chúng tôi, tôi là đại tá, các ông giở nguyên tắc lấn át vừa vừa chứ.

        Nói rồi hắn ta nhảy xuống đi thẳng vào nhà ga với thái độ hằn học.

        Sau chuyến này về báo cáo, đồng chí Võ Đông Giang nói "Các cậu lại giành được điểm thắng hay".

BÊN HỌ PHẢI NHẬN LỖI

        Tổ Liên hợp quân sự bốn bên của ta đi quan sát trao trả tù binh cho phía Sài Gòn tại Đức Nghiệp, máy bay trực thăng đỗ sẵn ở phi trường Plây Cu đón chúng tôi.   Định lên máy bay, thấy có cột trụ gắn súng đại liên và 8 dây đạn, chúng tôi chụp ảnh xong, gọi sĩ quan Sài Gòn đến để phản đối việc họ đã lợi dụng máy bay sơn ký hiệu Liên hợp quân sự để oanh tạc nhân dân vùng giải phóng. Sĩ quan Liên hợp quân sự trung ương của Sài Gòn hỏi sĩ quan Liên hợp quân sự địa phương, họ lúng túng đổ lỗi cho cấp dưới làm ăn tùy tiện. Bên ta mời phái bộ quốc tế bốn nước đến chứng kiến và yêu cầu phía Sài Gòn ký vào biên bản. Về Sài Gòn phiên họp trưởng phái đoàn, ta đưa chứng cứ ảnh và biên bản ra phản đối và lên án họ. Trưởng phái đoàn Sài Gòn, tưởng Phan Hòa Hiệp đã phải nhận lỗi là cấp dưới ở địa phương họ làm sai, xin lỗi.

ĐẠI TÁ ỌUÂN ĐỘI SÀI GÒN BỊ VẠCH MẶT

        Ta trao trả 3 tù binh sĩ quan cho Sài Gòn tại Lộc Ninh là Đại tá Nguyễn Công Vĩnh chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 8 và hai trung tá là Dương và Thông. Phía Sài Gòn đi nhận có Đại tá Trần Vĩnh Đắt, bàn giao ký kết xong, tù binh vui vẻ nhận quà tặng của trại và cảm ơn. Trần Vĩnh Đắt tỏ ra bực dọc đẩy họ lên máy bay giục phi hành đoàn cất cánh. Về Sài Gòn, anh ta tổ chức họp báo vu khống là: Việt cộng không chịu trao trả sĩ quan cao cấp của Sài Gòn, tôi phải đấu tranh quyết liệt đủ chứng lý, kết hợp với biện pháp nghệ thuật nhà nghề mới cướp được 3 sĩ quan đưa về an toàn, báo chí Sài Gòn đăng tin và ảnh theo lời họp báo của hắn.

        Kỳ họp Ban Trao trả, trưởng ban tù binh của ta đưa báo cho Đắt xem và nói: ông cần nghe băng ghi âm buổi trao trả tại Lộc Ninh để đối chiếu với lời nói họp báo của ông không?

        Trần Vĩnh Đắt sa sầm mặt ngượng ngùng nói:

        - Các ông còn lạ gì báo chí Sài Gòn, họ muốn bán được nhiều thì họ tô vẽ giật gân mà thôi, tôi đâu có nói là cướp tù binh, mà cướp sao nổi tại nơi trao trả thuộc lãnh thô của Chính phủ Cách mạng.

        - Sao ông không nói với báo chí, Lộc Ninh là nơi Chiến đoàn 8 tử thủ đã thất thủ, nơi này đại tá chiến đoàn trưởng Nguyễn Công Vĩnh bị bắt làm tù binh và cũng nơi này họ đã được trao trả, đại tá đã xuyên tạc sự thật.

        Đắt đưa trả tờ báo nói:

        - Quý vị thông cảm báo chí Sài Gòn đăng tải tin tức là thế đó, rồi lảng sang chuyện khác.

        Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi gặp lại Nguyễn Công Vĩnh trong buổi trình diện học tập cải tạo: hỏi lại chuyện này, anh ta thú nhận: Trần Vĩnh Đắt muốn khoe công trạng của mình với quân đội Sài Gòn và nhận sự ban ơn của chúng tôi, nhưng nói sai sự thật khiến chúng tôi cũng phát ngượng, chắc bây giờ ông ta đã chạy trốn rồi.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #145 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 05:09:55 am »


QUÂN MỸ "GÔ-HÔM"
NGUYỄN NGÂN                      
                                    
ĐÀ NĂNG, TÁM NĂM SAU

         Đà Nẵng tháng 3 năm 1965

         Lính thuỷ đánh bộ Mỹ ồ ạt tràn lên biển Sơn Trà. Những lính cổ da kiệu binh ấy của nước Hoa Kỳ đứng đầu phe đế quốc, đầu đội mũ sắt, tay xách súng tiểu liên cực nhanh M16, tay cầm máy vô tuyến điện thoại, mặt ngửng cao, ngước nhìn bầu trời xanh nhiệt đới xa lạ tràn ngập ánh nắng.

        Tiếng kèn đồng thổi nhức óc. Chính khách, tướng lãnh "bản xứ" chen chúc nhau trong phòng khánh tiết, mặt mày rạng rỡ...

        Từ đó đến nay, tám năm đã qua rồi. Đà Năng tháng 3 năm 1973. Sự trùng hợp lịch sử sao mà oái oăm: lính Mỹ 'hồi hương".

        Những người còn lại hôm nay "khăn gói" về nước, xếp hàng thứ tự dưới sự giám sát của đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Việt Nam dân chủ cộng hoà trên sân bay Đà Năng. Họ nối đuôi nhau lên máy bay.

        Có những bộ mặt hốc hác, tái xanh, dầu tóc bù xù, mắt trắng dã lờ đờ vì ma tuý, bên những bộ mặt mỏi mệt rã rời nhưng sung sướng thoát được cái chết thảm hại trên chiến trường...

        Nhiều tên lính Mỹ cắp theo những bức tranh kiếm hiệp xanh đỏ loè loẹt hay tấm tranh thủy mặc bôi vôi, bày bán trên vỉa hè Sài Gòn.

        Từ trong cửa sổ một ngôi nhà sang t-rọng có gắn máy lạnh, mấy sĩ quan quân đội Sài Gòn có mấy cô vũ nữ ngó nhìn theo ngán ngẩm - Người Mỹ đến, người Mỹ đi rồi...

CHIẾC MŨ GIẢI PHÓNG
VÀ NHỮNG TẤM HUY CHƯƠNG MỸ

        Làm việc xong với người sĩ quan liên lạc trong phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời, viên sĩ quan trẻ tuổi của Hoa Kỳ đứng dậy ra về. Vừa ra đến cửa, anh ta bỗng nhiên dừng bước đứng tần ngần một lúc rồi quay lại, lột chiếc mũ ca lô đang đội trên đầu xuống.

        - Thưa ông... ông có thể đổi cho tôi chiếc mũ của ông.

        Viên sĩ quan Hoa Kỳ nói với sĩ quan ta. Sĩ quan liên lạc ta bảo anh ta ngồi xuống, rót mời một chén nước trà.

        Nét mặt viên sĩ quan Hoa Kỳ tươi hẳn lên, anh ta nói tiếp:

        - Nếu ông đồng ý tôi được cầm chiếc mũ này về, tôi sẽ nói với mọi người ở bên quê chúng tôi rằng đây là chiếc mũ của những người anh hùng. Ngôi sao lấp lánh này tượng trưng lý tưởng cao đẹp của họ. Việc chúng ta (Mỹ) đánh nhau với họ là sai lầm bi thảm nhất trong lịch sử nước Mỹ.

        Mấy hôm trước, một anh lính Sài Gòn trong khi lục lọi chiếc tủ rỗng trong một trại lính Mỹ vừa rút đi đã nhặt được một chiếc hộp khá đẹp. Mở hộp ra xem, anh ta thấy có đến sáu tấm huy chương sao đồng và sao bạc. Anh lính Sài Gòn tìm gặp một người lính Mỹ để trả lại. Người lính Mỹ mở chiếc hộp ra xem rồi trao lại cho anh lính Sài Gòn:

        - Anh giữ lấy thì tốt hơn, anh đã bắt được - người lính Mỹ nói.

        - Nhưng đây là những tấm huy chương, vinh dự của người được ân thưởng.

        Người lính Mỹ cười:

        - Nếu người chủ của những tấm huy chương này nghĩ lại vinh dự thì chắc chắn anh ta đã không bỏ lại. Thôi anh giữ lấy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #146 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 05:11:49 am »


ĐÓNG THÙNG GỬI VỀ NƯỚC

        Khắp miền Nam, người Mỹ không trống không kèn "dẹp tiệm". Bộ chỉ huy tập đoàn không quân số 7 hùng mạnh "dẹp tiệm" trong sân bay Tân Sơn Nhất. Tướng Mỹ đưa vợ cùng bậu sậu với hàng trăm tấn máy móc điện tử sang bên nước Thái. Cuộc ra đi ấy đúng vào hôm trên sân bay Tân Sơn Nhất có hàng trăm sĩ quan thuộc hai đoàn đại biếu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam dân chú cộng hoà đang đợi đón Trung tướng Trần Văn Trà. Một chiếc máy bay sang trọng của không quân Mỹ nổ máy chờ sẵn trên sân. Viên tướng và vài ba sĩ quan cấp tá được máy bay lên thẳng vừa chở đến. Họ mặc lễ phục, ngực loè loẹt huân chương, đeo "Coóc-đông" vàng chóe. Họ bước từ máy bay lên thẳng xuống, bắt tay một vài nhân viên sứ quán Mỹ làm việc ở đó rồi lên máy bay đi Thái Lan...

        Bến cảng Sài Gòn, những chiếc cần trục làm việc suốt ngày đêm, bốc xuống tàu "Đồ tế nhuyễn, của riêng tây". Ngay cạnh đó công binh Mỹ tháo gỡ hệ thống bến tàu nổi. Đơn vị không vận số 1 cuốn cờ; Bộ tư lệnh quân đội "Đại Hàn" cuốn cờ; phái bộ cố vấn "Trung Hoa dân quốc" cuốn cờ.

        Khách sạn T.N, một P.X cuối cùng còn lại bên đường Phạm Ngũ Lão - Sài Gòn, thường là nơi đi đêm về hôm của đủ loại tướng tá và các ông bự, bà bự chuyên buôn lậu và chứa cũng đã "dẹp tiệm" cách đây vài hôm. Một đoàn vận tải đỗ dài phía trước, lính Mỹ cởi trần trùng trục mồ hôi đầm đìa chất lên xe những chiếc thùng lớn đựng máy lạnh, "ti vi", thiết bị nhà bếp... Tiếng búa đóng đinh nện xuống thùng gỗ chan chát, chan chát.

CHỢ CHIỀU VÀ ĐỒ BỎ LẠI

        Dân Sài Gòn bây giờ quá quen với cảnh "chợ chiều ấy cũng chăng ai buồn dửng lại nhìn. Một đôi người đi qua liếc mắt tủm tỉm cười. Mấy chú bé nghịch ngợm lò dò đến. Một lính Mỹ trợn mắt, vung chiếc gậy sắt, lũ trẻ vụt chạy vào một ngõ hẻm, chốc chốc lại nhô ra nói: "Mẽo, gô- hôm".., Mẽo gô-hôm". Bên kia đường một cô gái mặc váy cũn cỡn đứng tựa cột đèn điện nhìn sang. Một viên cai cảnh sát súng sệ hông đi đi lại lại.

        Trong phòng khách trang nhã của một giáo sư đại học có tiếng ở Sài Gòn, chiều hôm ấy có cuộc nói chuyện về thời cuộc. Một ông bác sĩ chỉ lên tấm chân dung Tổng thống Thiệu và lá cờ sọc hỏi:

        - Đến bao giờ thì người Mỹ đóng thùng chở về nước mấy thứ này hả?

        Một kỹ sư trẻ tuổi tốt nghiệp ở Mỹ về nói:

        - Vậy thì anh hổng hiểu người Hoa Kỳ rồi, người ta thực dụng lắm.

        Mọi người ngước mắt nhìn chờ đợi anh kỹ sư trẻ nói tiếp. Anh gảy tàn thuốc lá vào cái gạt rồi nói chậm rãi:

        - Họ chỉ đóng thùng những cái gì còn dùng được bên nước họ thôi. Chớ những thứ này họ chở về để làm gì? Khi họ không dùng nữa thì họ liệng ra đường như liệng cái vỏ đồ hộp thôi mà.

DÙ MUỐN HAY KHÔNG MUỐN
       
        Mỹ đến. Mỹ thua. Mỹ rút.

        Thắng lợi ấy của dân tộc ai cũng vui tự hào, chỉ có một số ít cam tâm liếm gót ngoại bang mới rầu rĩ.

       Trong một cuộc họp của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, khi làm việc kiểm soát và giám sát rút quân Mỹ, người phản đối nhất lại là ông đại diện của Nguyễn Văn Thiệu.

        Ông ta nói giọng hằn học cay cú:

        - Mấy ông đâu có cần giám sát, mấy ông chỉ cần quay phim, chụp ảnh để nói với thế giới là Mỹ thua, Mỹ phải rút thôi.

        Xung phong cản trở việc giám sát của ta chẳng những vì muốn đỡ đòn cho chủ, xấu thầy hổ ai, mà còn muốn che giấu nhiều âm mưu đen tối.

        Hàng vạn người Mỹ đã cởi áo lính, khoác áo dân sự để ở lại miền Nam. Bộ chỉ huy Mỹ đội lốt các tòa lãnh sự... Nhân dân ta luôn luôn cảnh giác sẵn sàng không ai là không phấn khởi tự hào trước cảnh tượng này.

        16 giờ ngày 15 tháng 3 năm 1973, lá cờ Mỹ sao và vạch suốt bảy tám năm trời phấp phới trên nóc lầu của sở chỉ huy Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhất, nơi thường được gọi là "Lầu Năm Góc phương Đông". Hay "Tiểu ngũ giác đài" tượng trưng cho quyền lực của bộ máy chiến tranh khổng lồ hùng mạnh nhất của "thế giới tự do" đã hạ xuống. Một viên tướng Mỹ nét mặt không thể nói là tươi cười đưa hai bàn tay không nén được xúc động, run run đỡ lá cờ, xếp lại bỏ vào thùng để đưa lên máy bay chở về Mỹ.

        Dù muốn hay không muốn, việc đó tự nó nói nhiều.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #147 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 11:54:08 am »


ĐI GIÁM SÁT TRAO TRẢ TÙ BINH NGỤY
Ở ĐỨC CƠ BỊ PHÁO PHÒNG KHÔNG TA BẮN

NGUYỄN QUANG BIỂU                      

     Nguyên phiên dịch Đoàn đại biểu quân sự Chinh phó Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam                         
            
        Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết giữa bốn bên Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Việt Nam cộng hòa ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Pa-ri, Thủ đô nước Cộng hòa Pháp.

        Một trong những điều quan trọng của Hiệp định (Điều 3) là vấn đề trao trả tù binh giữa các bên. Đối với Mỹ đó là những giặc lái bị bắn rơi, bắt giam, chủ yếu ở miền Bắc. Đối với chính quyền Sài Gòn, số lượng tù binh bị bắt và giam tại các vùng giải phóng của ta rất ít. Chủ yếu là hàng trăm nghìn chiến sĩ cách mạng của ta bị địch bắt và giam cầm tại các nhà tù của Mỹ-nguv trong nhiều năm. Việc giám sát trao trả tù binh của các bên do Ủy ban Quốc tế về kiểm soát và giám sát (tiếng Anh viết tắt là ICCS, gồm Ba Lan, Hung-ga-ri, I-ran và ln-đô-nê-xi-a) đảm nhiệm.

        Câu chuyên mà tôi muốn kể sau đây liên quan đến một cuộc trao trả tù binh ngụy bị quân giải phóng bắt diễn ra tại một vùng giải phóng giáp ranh Đức Cơ, Tân Cảnh vào tháng 3 năm 1974. Lúc đó tôi là phiên dịch trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

        Tôi và Thiếu tá Phương Nam trong Tiểu ban Thông tấn - Báo chí được lãnh đạo đoàn cử làm sĩ quan liên lạc cho ủy ban Quốc tế đi giám sát buổi trao trả này.

        Phải nói thêm rằng lúc đó đi công tác lẻ tại vùng ngụy tạm thời kiểm soát, như giám sát trao trả, điều tra vi phạm ngừng bắn, được coi là một trong những nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm. Tuy Mỹ-ngụy, do không đảo ngược được tình hình, buộc phải ký Hiệp định, nhưng chúng không thi hành Hiệp định, chúng muốn việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam chỉ tồn tại trên giấy mà thôi. Trên chiến trường, chúng tung quân hàng ngày lấn chiếm vùng giải phóng nhằm thu hẹp thế "da báo", nhổ căn cứ của ta ở vùng "lõm". Trên bàn hội nghị, chúng dùng mọi thủ đoạn phá hoại các phiên họp, ngăn cản không cho các nhân viên trong phái đoàn của ta, trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương hoạt động theo tinh thần của Hiệp định. Do đó việc cử sĩ quan liên lạc đi với ủy ban Quốc tế thực thi nhiệm vụ giám sát trao trả tù binh, ngừng bắn phải gọn nhẹ, thường chỉ hai người, một sĩ quan chỉ huy cấp thiếu, trung tá am hiểu tình hình địch, địa bàn khu vực và một phiên dịch có kinh nghiệm. Một đòi hỏi nữa là phải hoàn toàn độc lập tác chiến. Tuy trao trả ở vùng giải phóng hoặc giáp ranh nhưng chúng tôi không liên lạc trực tiếp với quân giải phóng và cũng không liên lạc được với phái đoàn trung ương. Mọi việc ăn uống phải dựa vào các đồng chí Ba Lan và Hung-ga-ri trong ủy ban Quốc tế.

        Trở lại câu chuyện. Tôi và đồng chí Phương Nam được máy bay của ủy ban Quốc tế chở lên thị xã Plây Cu, nghỉ đêm ở đó. Sáng hôm sau đúng giờ quy định, chúng tôi cùng 2 sĩ quan liên lạc của ngụy, một trung tá và một thiếu úy phiên dịch và tổ sĩ quan ủy ban Quốc tế 12 người đóng tại thị xã Plây Cu, dùng 2 máy bay trực thăng UH-l do các phi công Mỹ điều khiển bay đi Đức Cơ, Tân Cảnh giám sát trao trả. Số lượng tù binh ta trao trả cho ngụy đợt này là 10 người. Giờ bay, đường bay, bãi đáp, địa điểm trao trả, nhóm sĩ quan liên lạc của ta đã thông báo kỹ càng cho Ủy ban Quốc tế, tổ lái và sĩ quan liên lạc của nguy. Do ít khi được đến vùng giải phóng hoặc giáp ranh nên các sĩ quan ủy ban Quốc tế đều háo hức, chuẩn bị máy ảnh để tranh thủ chụp ảnh làm tư liệu và kỷ niệm.

        Ngồi trên máy bay, bay được 25-30 phút, tôi ước chừng đến địa điểm trao trả, nhưng sao không thấy máy bay hạ cánh Tôi đã bắt đầu hơi lo nhưng không sao liên lạc được với đồng chí sĩ quan chỉ huy, vì anh ấy ngồi ở máy bay sau, cùng với viên sĩ quan trung tá nguy. Bay thêm khoảng 10 phút nữa, vẫn chưa thấy máy bay hạ cánh. Các thành viên ủy ban Quốc tế ngồi cùng máy bay đã tỏ ra sốt ruột và lo lắng. Bỗng nhiên tôi nghe thấy hàng loạt tiếng nổ bụp bụp, có cảm giác như đạn nổ chui vào thân máy bay. Máy bay chao đảo và lại nghe thấy một loạt tiếng nổ tiếp. Phi công cố gắng hỏi tôi điều gì đó, nhưng do tiếng ồn của động cơ máy bay và gió thổi, nên không nghe rõ anh ta nói gì. Anh ta hèn cởi mũ có tai nghe và đội vào đầu tôi. Lúc đó tôi mới hiểu anh ta hỏi bay tiếp tìm bãi đáp hay trở về Plây Cu. Tôi nghĩ chắc đã bay trật hành lang, vượt quá địa điểm trao trả, do đó nếu bay tiếp là cực kỳ nguy hiểm, dễ bị ăn đạn dưới đất bắn lên như vụ ở Ly Tôn, Quảng Trị. Tôi ra lệnh cho viên phi công Mỹ bay trở về Plây Cu. Chiếc máy bay bay sau cũng ngay lập tức quay đầu bám theo.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #148 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 11:55:07 am »


        Xuống sân bay, trên đường đi về trụ sở ủy ban Quốc tế, các đồng chí Hung-ga-ri thông báo ủy ban Quốc tế triệu tập họp khẩn cấp và mời sĩ quan liên lạc của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trình bày và đánh giá tình hình xem chiều có nên bay tiếp không. Nếu chiều không bay tiếp thì nhiệm vụ không hoàn thành. Ngụy sẽ vu cáo ta chủ tâm bắn máy bay ủy ban Quốc tế, phá hoại cuộc trao trả và như vậy là phá hoại Hiệp định.Tranh thủ thời gian đi đường anh Phương Nam và tôi hội ý, thống nhất nhận định do buổi sáng trời mù, không thấy bãi đáp, máy bay Ủy ban Quốc tế đã bay trật hành lang, đáng lẽ phải hạ cánh xuống Đức Cơ nhưng đã bay vượt quá sang vùng Tân Cảnh, nên đã bị pháo phòng không mặt đất của Quân Giải phóng bắn cảnh cáo. Chúng tôi thông báo quyết định này cho các đồng chí Hung-ga-ri và Ba Lan để phối hợp đấu tranh với phía bên kia trong buổi họp và thống nhất yêu cầu ủy ban Quốc tế chiều bay tiếp để hoàn thành nhiệm vụ trao trả, không tạo cớ cho ngụy vu cáo ta. Với lý luận sắc bén đó của sĩ quan liên lạc Chính phủ Cách mạng lâm thời và sự ủng hộ của 2 phái đoàn Ba Lan và Hung-ga-ri, tổ lái của ủy ban Quốc tế phải thừa nhận đã bay trật hành lang quy định và do đó đã bị bắn cảnh cáo. Họ cam kết chiều bay đúng hành lang và bay thấp để dễ quan sát bãi đáp.

        Buổi chiều do trời quang nên bay được khoảng 30 phút đã nhìn thấy bãi đáp quét vôi trắng hình thập ác trên đường. Máy bay hạ cánh, anh Phương Nam và tôi tranh thủ gặp đồng chí phụ trách buổi trao trả hỏi han tình hình, đề nghị đồng chí thay mặt quân giải phóng vùng Đức Cơ, Tân Cảnh cảnh cáo máy bay ủy ban Quốc tế buổi sáng nay đã bay trật hành lang quy định, dẫn đến việc quân giải phóng buộc phải bắn cảnh cáo, yêu cầu không được tái diễn.

        Sau đó ra chỗ vắng tôi và anh Phương Nam hỏi đồng chí phụ trách buổi trao trả:

        - Sáng nay pháo ta bắn cảnh cáo hay bắn thật đấy?

        Đồng chí phụ trách trả lời:

        - Cao xạ 37 ly ở Tân Cảnh bắn thật đấy nhưng không trúng vì anh em cho rằng máy bay của nguy giả danh chứ không phải máy bay của ủy ban Quốc tế.

        Thật là một phen hú vía. Vả lại Mỹ-nguy đã nhiều lần sử dụng máy bay giả danh ủy ban Quốc tế để lấn chiếm, bắn phá vùng giải phóng của ta. Tôi không khỏi thầm nghĩ quyết định của mình sáng nay bay quay trở về Plây Cu để chiều bay tiếp là hoàn toàn đúng.

        Buổi trao trả 10 tù binh ngụy diễn ra suôn sẻ, có sự chứng kiến và ký biên bản của ủy ban Quốc tế và sĩ quan liên lạc hai bên. 10 tù binh này sau khi hoàn thành thủ tục trao trả, được sĩ quan liên lạc của ngụy gọi máy bay trực thăng bốc đi. Theo yêu cầu đồng chí phụ trách trao trá, chúng tôi lợi dụng việc một máy bay trực thăng Uy ban Quốc tế bị trục trặc phải sửa chữa đế dẫn các thành viên Uy ban Quốc tế đi xem vùng giải phóng (gọi là đi xem nhưng thực ra là kéo dài thêm thời gian vì đây là vùng giáp ranh), để cho các chiến sĩ giải phóng của ta có thêm thời gian rút ra xa vùng nguy hiểm về căn cứ an toàn, vì từ địa điểm trao trả đến vùng an toàn, các chiến sĩ ta phải vận động chạy bộ khoảng 10 cây số. Khi kết thúc trao trả, ủy ban Quốc tế rút đi là Mỹ-nguy ném bom, bắn phá chặn đường rút của các chiến sĩ ta. Tôi vừa dẫn các đồng chí Ba Lan và Hung-ga-ri đi "thăm" vùng giải phóng giáp ranh vừa quan sát cây cối, đất đá bị bom đạn phạt ngang, cày xới, nhà cửa đổ nát, không một bóng người dân, lèo tèo vài lán đơn sơ, chiến sĩ ta mới dựng lên, phục vụ cho buổi trao trả, mới thấy sự ác liệt của chiến tranh, của bom đạn mà các chiến sĩ giải phóng của ta phải trải qua, giữ cho 10 tên tù binh ngụy được an toàn để trao trả theo đúng tinh thần Hiệp định. Nhìn các chiến sĩ trẻ của ta vây quanh các đồng chí Ba Lan, Hung- ga-ri chỉ trỏ, hỏi chuyện mà lòng tôi trào lên một niềm khâm phục và thương cảm vô hạn.

        Nhân dịp 30 tháng 4, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, sạch bóng quân thù, người viết bài này muốn ôn lại một kỷ niệm xưa, khó quên và cũng xin gửi lời chào thắm thiết đến các chiến sĩ giải phóng đã tham gia cuộc trao trả tù binh ngụy ở Đức Cơ, Tân Cảnh tháng 3 năm 1974.

                             Hà Nội, tháng 4 năm 2004
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #149 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2012, 07:07:39 pm »


HAI NGÀY BA CẢNH

PHẠM HÔNG                      

     Nguyên sĩ quan Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam    

        Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2 năm 1973, có một số sự việc đồng thời diễn ra trên những địa điểm khác nhau và không cần mất công so sánh, người ta thấy ngay đâu là thiện chí, đâu là phá đám. Đó là bốn cuộc đi thăm ba nơi giam giữ nhân viên quân sự bị bắt, do các tổ sĩ quan liên hợp bốn bên tiến hành.

1. PHÚ QUỐC

       Ngày 18 tháng 2, sáng sớm, trên sân bay Tân Sơn Nhất, trong khi 2 chiếc máy bay U21 (loại 2 động cơ, 8 chỗ ngồi, cánh cố định) chở Tổ Liên hợp bốn bên đi quan sát trại giam Phú Quốc thì một chiếc vận tải C.130 cũng cất cánh đưa một Tổ Liên hợp quân sự và một Tổ Quốc tế ra Hà Nội quan sát trại giam phi công và cuộc trao trả các phi công Mỹ.

        Sau một giờ bay của 2 chiếc U21, chúng tôi đã đến sân bay Phú Quốc. Các sĩ quan bốn bên vừa đặt chân xuống đường băng đã thấy gần 200 quân cảnh vũ trang và lính các loại đứng kín ba phía.

        Đường băng ở sát ngay mép biển. Nhìn ra biển, cách vài trăm mét, một số pháo hạm và tàu tuần của hải quân Sài Gòn dập dềnh trên sóng, các dàn súng nghếch cao.

        Trung tá Đức, trưởng trại giam Phú Quốc ra gặp Tổ Liên hợp. Và suốt buổi sáng hôm ấy, trên đường băng nóng bỏng, trong tiếng động cơ ầm ầm của mấy chiếc C 130, C.123, U20, các đại biểu Sài Gòn luôn mồm từ chối và lắc đầu.

        Đức nói: "Tôi chưa có lệnh cấp trên, tôi không để bất cứ ai vào nhà giam quan sát".

        Thiếu tá Tiên, đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa liền quay lại hỏi đại úy Nam, sĩ quan Sài Gòn trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên.

        - Thế các ông đã thông báo cho trại giam biết việc Tổ Liên hợp quân sự xuống đây để quan sát chỗ ăn ở trong trại giam để nói chuyện với đại biểu những người bị bắt chưa? Đó là một nghị quyết cuộc họp Tiểu ban Trao trả mà chính ông cũng có dự họp thì phải?

        Đại úy Nam ú ớ mấy câu "chạy làng" và giở ngay một trò phá đám. Đại úy Nam nói:
    
        - Trong các cuộc họp đã nói cụ thể thế nào là quan sát một trại giam đâu? Ví dụ ta đứng đây tại sân bay, đằng kia có mấy tù binh người phía các ông đang lên máy bay ra nơi trao trả ở Quảng Trị. Đứng dòm bộ dạng tù binh như vậy là chưa quan sát sao? Dòm như vậy theo tôi cũng là một cách quan sát trại giam rồi đấy, hà tất phải vào trong trại giam...

        Thấy những sĩ quan Sài Gòn cố tình cãi bậy, Tổ Liên hợp bốn bên quyết định rời sân bay Phú Quốc trở về Tân Sơn Nhất, báo cáo với cấp trên là không thể làm được nhiệm vụ như đã quy định trong Nghị định thư và trong cuộc họp của Tiểu ban Trao trả là đi thăm nơi giam giữ, thăm nơi ăn chốn ở của những người bị bắt và nói chuyện với đại biểu những người bị bắt về tình hình trao trả.

        Sáng ngày hôm sau, 19 tháng 2 năm 1973, với thiện chí của mình, các đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam dân chủ cộng hoà lại đồng ý vào Tổ liên hợp bốn bên đi xuống trại giam Phú Quốc lần nữa. Lúc này phía Sài Gòn không thấy mặt đại úy Nam đâu mà thay vào đó là Đại úy Văn.

        Cuộc trao đổi thủ tục làm việc lần này diễn ra trong một căn nhà gỗ cạnh sân bay. Với nội dung rõ ràng như ban ngày ghi trong Nghị định thư và các văn kiện ở Tiểu ban về việc đi thăm các người bị bắt và thăm nơi giam giữ cuối cùng, đại biểu Sài Gòn thấy cãi cù nhầy không được, bèn giở trò giật gân ngay.

        Một trung úy Sài Gòn ở đâu chạy vội lại cuộc họp bốn bên, đưa đến một điện khẩn.

        Bức điện ghi: "Đại tá tư lệnh Đặc khu Phú Quốc xin thông báo không được biết gì về hoạt động của Đoàn Liên hợp quân sự bốn bên trên đảo này. Đại tá hoàn toàn không chịu trách nhiệm vấn đề an toàn cho Đoàn Liên hợp trong quá trình họ xuất hiện và di chuyển trên lãnh thổ này".

        Đức, trưởng trại giam Phú Quốc, đứng ngay dậy ra điều vội vã: Thực đáng tiếc! Thực đáng lo! Quý vị nên rời ngay nơi này, kẻo có khi lại liên lụy rắc rối đến tôi". Thiếu tá Giôn-xơn, đại biểu Hoa Kỳ trong Tổ Liên hợp bốn bên, hình như xấu hổ với trò này, mặt đỏ bừng. Các đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời và Việt Nam dân chủ cộng hòa chất vấn đại úy Văn phía Sài Gòn.

        - Ông ở trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, hôm nay Tổ Liên hợp về quan sát trại giam Phú Quốc trong vùng kiểm soát của các ông. Vậy sao các ông không thông báo cho nhà cầm quyền địa phương biết? Đó là một thủ tục sơ đẳng, một trách nhiệm tối thiểu mà phía các ông cũng làm không ra cái gì. Rõ ràng phía các ông đã cố tình phá hoại cuộc thăm này và vi phạm hiệp định về phần bảo đảm an toàn cho đại biểu bốn bên khi hoạt động.

        Đại úy Văn nói lí nhí chẳng còn nghe ra cái gì nữa. Thiếu tá Mỹ Giôn-xơn phải đỡ lời: "Thôi? Đây là một thiếu sót của phía Việt Nam cộng hòa. Chúng tôi xin ghi nhận và báo cáo lên cấp trên. Bây giờ, trong điều kiện không an toàn, Tổ Liên hợp quân sự bốn bên không thể tiếp tục công việc được".

        Thế là hai cuộc đi thăm trại giam Phú Quốc đã bị phía Sài Gòn phá hoại và bãi bỏ.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2012, 08:56:29 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM