Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:46:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trại Đa-vít (Davis Camp) Sài Gòn  (Đọc 315480 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #190 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2012, 10:40:28 am »


NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI TRẠI ĐA-VÍT
[1]
   
       Từ cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, sau khi quân ta liên tiếp giải phóng từ Đà Nẵng đến Nha Trang và Đà Lạt, hai đoàn ta đã nhìn rõ triển vọng tiến về Sài Gòn, cấp trên không tiện phổ biến sớm, nhất là qua điện đài, nhưng biết rằng cán bộ ta đủ sức hiểu. Không còn liên lạc máy bay được với Lộc Ninh từ đầu năm, các chuyến bay Hà Nội vẫn còn tiếp tục tuy không đều đến cuối tháng 3 năm 1975. Hai đoàn có cử người ra xin chi viện một số vũ khí, nhất là vũ khí chống tăng, và phương tiện đào công sự. Cấp trên bày tỏ thông cảm nhưng không thể đáp ứng, vì chở trên máy bay Mỹ một đoạn đường dài trong thời điểm đó là mạo hiểm.

        Ngày 8 tháng 1 năm 1975, Đảng ủy hai đoàn họp bàn rất kỹ, dự kiến khả năng và triển vọng diễn biến tình hình, tính đến các tình huống xấu có thể xảy ra với đoàn, và hạ quyết tâm chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu: dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men, làm kế hoạch chiến đấu, vẽ sơ đồ hệ thống công sự, tổ chức và phân công lực lượng, v.v… và kế hoạch lãnh đạo tư tưởng.

      Ngày 15 tháng 4 năm 1975 có chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt của ủy ban Quốc tế vào Lộc Ninh tiếp xúc chuẩn bị cho việc đón hai sĩ quan In-đô-nê-xi-a và I-ran trong Tổ ủy ban Quốc tế bị quân ta giữ từ trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột, Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời kết hợp cử cán bộ vào Miền báo cáo tình hình, quyết tâm và kế hoạch của đoàn, và xin một ít lựu đạn thủ pháo chống tăng (là vấn đề kẹt nhất của đoàn ta nếu phải chiến đấu chống xe tăng địch, vì chỉ có mấy chục tiểu liên và súng trường). Bộ Chỉ huy Miền giao cho đồng chí cán bộ trở ra chuyển đạt ý định và kế hoạch của Bộ Chỉ huy là khi ta bắt đầu cuộc Tổng tấn công vào Sài Gòn, sẽ có một cánh đặc công vào ngay trại Đa-vít đón đoàn ra nơi an toàn, chỉ để lại lực lượng vệ binh và một số ít cán bộ. Đoàn phải chuẩn bị sẵn sàng để thời điểm đến là đi được ngay.

        Đảng ủy đoàn lại phải họp bàn ngay. Mọi người đều suy nghĩ như nhau: rút như thế này không lợi, dễ bị động và tổn thất nếu đụng địch, trong lúc ta có đủ yếu tố cần thiết để chiến đấu và bám trụ thắng lợi tại chỗ. Mặt khác còn hai đoàn bạn Hung-ga-ri và Ba Lan, họ đã và đang hết lòng tương trợ ta trong những ngày giờ căng thẳng đang trải qua, nay ta lặng lẽ rút đi một mình thì không thể được. Cuộc họp nhất trí đề nghị Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền cho phép đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ và bảo đảm sẽ đủ sức bảo toàn lực lượng.

        Ngày 17 tháng 4 năm 1975 lại có một chuyến máy bay lên thẳng đặc biệt của ủy ban Quốc tế đi Lộc Ninh đón hai sĩ quan nói trên, đồng chí Nguyễn Văn Sĩ, phó trưởng đoàn - được lệnh điều động về hẳn Bộ Tham mưu Miền - được giao nhiệm vụ vào trực tiếp báo cáo và chuyển đề nghị của đoàn. Cấp trên đồng ý, và sĩ quan liên lạc ta khi trở về Tân Sơn Nhất còn được cấp hai va li thủ pháo mà Bộ Tham mưu đã chuẩn bị sẵn. Món hàng gọn, không nặng quá và cũng giống những va li hàng được mang đi mang về trước đây, lại đi nhờ máy bay của Ủy ban Quốc tế nên giữ được bí mật. Từ nay đã có vũ khí đánh tăng rồi, tuy thuộc loại nhẹ và không nhiều, nhưng cũng tăng được khả năng chiến đấu thực tế chống xe tăng địch.

        Từ ngày 18 tháng 4 năm 1975, toàn bộ lực lượng hai đoàn ta tại trại Đa-vít bằt tay vào đào công sự và chuẩn bị chiến đấu. Khó khăn nhất là có quá ít cuốc xẻng, phải dùng thêm lưỡi lê, dao găm và những thanh sắt (có sẵn rải rác, trước không dùng) được đập dẹt ra để đào, lại phải đào về đêm và không gây tiếng động để giữ bí mật, vì hàng chục vọng gác quân Sài Gòn vẫn bao quanh doanh trại. Toàn khu doanh trại chia thành 7 khu vực chiến đấu, mỗi khu vực có hệ thống công sự chiến đấu của mình, 7 khu vực nối liền với nhau bằng hệ thống giao thông hào có nắp dày gần như địa đạo, mỗi nhà đều có hầm ẩn nấp và nghỉ ngơi dưới sàn. Như vậy trong thời gian chiến đấu có thể ăn ở luôn dưới mặt đất, và liên lạc liên hoàn với nhau bằng địa đạo. Chỉ huy toàn lực lượng có Sở chỉ huy ngầm (chính thức và dự bị), có mạng điện thoại nối Sở chỉ huy với tất cả các khu vực và đầu mối. Bảo đảm thương binh có hầm quân y tương đối sâu và rộng, có hai bác sĩ phụ trách. Lương thực, thực phẩm và thuốc men do từ lâu đã có ý thức dự trữ đề phòng địch phong tỏa nên nay chuẩn bị thuận lợi, đầy đủ, ít nhất 7 ngày, đủ thời gian cần thiết cho việc thực hiện sứ mạng bám trụ của đoàn. Đèn dầu hỏa và đèn sáp (nến) được phân phối đủ cho các bộ phận. Nước sôi để nguội cũng được chuẩn bị sẵn và thường xuyên bổ sung. Công tác chính trị tư tưởng lần này tiến hành khá dễ dàng và thuận lợi, có thể nói tất cả cán bộ, chiến sĩ và nhân viên đều thông suốt phấn khởi, tự giác tích cực tham gia công việc, chủ động tìm cách khắc phục khó khăn. Không khí đoàn kết và kỷ luật trong toàn đơn vị chưa bao giờ nổi bật lên sâu sắc và cảm động như trong thời gian này. Không đến 10 ngày mọi việc chuẩn bị được hoàn thành, đơn vị đã sẵn sàng chiến đấu trước ngày quân ta bắt đầu nổ súng đánh vào Sài Gòn, địch không hay biết gì cả.

        Sau này có người kể rằng đoàn có gửi điện ra Quân ủy Trung ương hứa sẵn sàng "hy sinh vì đại cuộc". Điều này không đúng.

        Trong cuộc họp Đảng ủy ngày 8 tháng 4 đã nêu trên, đúng là có đôi ý kiến nêu ra như thế. Đoàn ta đơn độc, có quá ít vũ khí, khả năng tự vệ hạn chế, nhưng vì thắng lợi cuối cùng ta sẵn sàng hy sinh. Ý kiến đó về bản chất thì tốt, thể hiện tinh thần cách mạng và lòng dũng cảm đáng quý, nhưng nó thụ động và không phù hợp với tình thế. Phần lớn các đồng chí trong Đảng ủy đã lần lượt phân tích, dự kiến tất cả các tình huống, cân nhắc tất cả các khía cạnh, cuối cùng đã kết luận: bây giờ không phải như năm 1973 nữa. Quân ta thắng lợi như chẻ tre, chẳng mấy chốc sẽ dồn về tràn ngập Sài Gòn từ bốn phía. Mỹ không phản ứng. Nguyễn Văn Thiệu bị cô lập cao độ, nội bộ đối phương lục đục, quân Sài Gòn bị làn sóng tan rã từ Tây Nguyên và từ dọc ven biển miền Trung tràn về làm cho mất tinh thần. Đã bị đánh thì đứa nào lo mạng đứa nấy, vào gây sự tại trại Đa-vít sẽ đạt được cái gì? Nếu có đơn vị nào được lệnh quay vào đánh ta thl chúng cũng không còn tinh thần đâu mà chấp hành triệt để. Ta ít vũ khí nhưng ta chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng. Điều quan trọng nhất là ta ở thế thắng và ý chí chiến đấu kiên định. Đồng chí Thượng tá Nguyễn Văn Hoàn (tức đồng chí Hai An, Đảng ủy viên của đoàn, sau này là Thành ủy viên thành phố HỔ Chí Minh, nay đã mất), người thường xuyên ốm yếư nhưng lập trường luôn kiên định, hôm nay lại nhắc lại câu mà đồng chí thường nói: "thế ta là thế đứng trên đầu thù". Vì vậy cho dù quân địch có quay vào đánh ta, cho dù cả xe tăng, ta cũng đủ sức cầm cự một số ngày, đủ để cho đại quân kịp tiến vào tiếp ứng. Nếu có thương vong thì cũng là điều bình thường như trong các trường hợp chiến đấu khác không thể có chuyện phải hy sinh cả đơn vị. Kết luận này được toàn thể Đảng ủy nhất trí, và được tất cả anh chị em thông suốt và quán triệt. Khẩu hiệu động viên chung là: "Chiến đấu và chiến thắng".

       Trước ngày nổ súng, đoàn ta có nhận được một bức điện ngắn từ Hà Nội của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, đại ý: Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh rất thông cảm hoàn cảnh của các đồng chí. Hãy động viên anh chị em vững vàng ý chí chìến đấu, đứng vững trên vị trí của mình. Ngày thắng lợi không còn xa nữa. Trưởng đoàn đã điện trả lời ngay, với tinh thần: "Tất cả anh chị em đã sẵn sàng chiến đấu cả tinh thần và vật chất và xin hứa sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình".
------------------------
[1] Trích trong cuốn: “Ban Liên hợp quân sự và trại Đa'vít - những tháng ngày... “. Nxb Quân đội nhân dân, H. 1997.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #191 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2012, 10:55:38 am »


*

*            *

        Tối 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện trên vô tuyến truyền hình, hằn học chửi rủa người Mỹ và tuyên bố từ chức. Mấy hôm sau hắn lên máy bay chuồn ra nước ngoài, định cuỗm theo cả mười bảy tấn vàng (nghe báo chí kể lại) nhưng bị ngay tay chân cũ giữ lại. Nguyễn Văn Hương, Phó tổng thống lên thay, cố chịu trận được một tuần rồi cũng rút. ông Dương Văn Minh, người cầm đầu cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963, nay được Mỹ khuyến khích hòng có cơ may thương lượng với phía cách mạng, lại được sự góp ý và thúc đấy của một số nhân vật mong muốn cuộc chiến tranh kết thúc mà không gây đổ máu nhiều và tàn phá lớn cho Sài Gòn, nhận đứng ra làm tổng thống, mong vớt vát được chút gì cho cái chế độ "Việt Nam cộng hòa" trước vực thẳm, hoặc nếu không thì cũng thực hiện việc "chuyển giao chính quyền" một cách êm ả.

        Muộn quá rồi, tội ác chồng chất tày trời của chế độ nguy quyền tay sai Mỹ đối với nhân dân và Tổ quốc, tội lỗi của Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp định Pa-ri đã đến lúc phải được thanh toán. Tuy nhiên như ta đã thấy, cuộc Tổng tiến công giải phóng Sài Gòn đã được thực hiện nhanh gọn, không có sự đổ máu nào của nhân dân và cũng chẳng có sự tàn phá nào về tài sản.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #192 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2012, 12:21:57 pm »


*

*           *

        Ngày 26 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được mở màn đánh vào vành đai phòng thủ ngoại vi Sài gòn, Chính phủ Cách mạng lâm thời ra tuyên bố kêu gọi quân đội Sài Gòn hạ vũ khí để bớt đổ máu và bớt thiệt hại cho nhân dân.

        Vào khoảng 17 giờ 15 chiều thứ hai 28 tháng 4 năm 1975, một toán máy bay A37 (loại máy bay oanh tạc mới của quân Sài Gòn) đột nhiên đến ném bom đồng loạt khu vực quân sự của sân bay Tân Sơn Nhất. Mảnh bom bay rào rào sang khu vực trại Đa-vít, vì trại này chỉ cách khu để máy bay quân sự có một bức tường, một dãy hàng rào kẽm gai và một dãy hầm cất máy bay. Bị bất ngờ, tất cả anh chị em ta nhảy xuống hầm. Sau một lúc định thần lại, cùng nhau nhận định đây chỉ có thể là phi công Sài Gòn phản chiến hoặc chính là trận tấn công của ta. Và mọi người hiểu rằng đã đến lúc bắt đầu đại sự rồi. Đêm đó tất cả các bộ phận được lệnh của chỉ huy đoàn xuống ngủ dưới hầm theo đội hình chiến đấu đã được chuẩn bị, triển khai canh gác tuần tiễu theo kế hoạch tác chiến, vận hành ngay mạng điện thoại bảo đảm thông suốt từ Sở chỉ huy đến tất cả các đầu mối, trạm quân y dã chiến được bố trí sẵn sàng nhận thương binh, điện đài cơ yếu canh trực liên tục đón mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên.

        Phần lớn đêm 28 tháng 4 yên tĩnh. Mọi người đang ngủ ngon, bỗng nhiên vào khoảng 3 giờ sáng tiếng đạn pháo lớn và hỏa tiễn nổ vang, bay tới tấp vào khu vực Tân Sơn Nhất. Hai đoàn ta đã chuẩn bị kỹ công sự từ trước nên yên tâm, mặc dù tiếng đạn rít trên trời, cả tiếng đạn nổ vang ngay trong khu doanh trại nghe thật khủng khiếp. Một lát sau Sở chỉ huy được báo cáo: một đồng chí đại úy bảo vệ và một trung sĩ cảnh vệ đang làm nhiệm vụ canh gác trên hầm nổi bị trúng đạn pháo hy sinh. Còn bốn đồng chí nữa, do đứng ở miệng hầm để nhìn, bị mảnh pháo và hỏa tiễn bay trúng bị thương, trong đó có một đồng chí sau phải cưa một chân.

        Từ lúc đó đến suốt ngày 29 tháng 4 đạn hỏa tiễn và đạn pháo 130 ly của ta lúc dày lúc thưa vẫn tỉếp tục được bắn vào Tân Sơn Nhất. Sau này xong việc rồi, ta cho đi đếm lại, có đúng 25 viên đã rơi vào trại Đa-vít. Từ cự ly 18 đến 24km bắn hàng ngàn viên vào đường băng sân bay, việc một số ít viên tản mát sang là điều tất yếu không tránh khỏi.

        Trong buổi sáng 29 tháng 4, đại sứ Mỹ Ma-tin mấy lần qua Đoàn Hung-ga-ri bắn tin muốn gặp trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương, nhưng lúc này còn gì để bàn bạc? Ta không trả lời.

        Trưa 29 tháng 4 có một đoàn khách khá đặc biệt đến xin gặp trưởng đoàn ta, tự giới thiệu là "phái viên của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền" đến "bàn việc bàn giao chính quyền". Đoàn gồm các ông:

        - Nguyễn Văn Diệp, Tổng trưởng tiếp thương, Trưởng đoàn;

        - Nguyễn Đình Đầu, phụ tá Phó tổng thống đặc trách hòa đàm;

        - Tô Văn Cang, chuyên viên của Văn phòng Phó tổng thống;

        - Nguyễn Văn Hạnh, chuyên viên của Văn phòng Phó tổng thống.

        Trong tình huống lúc này lãnh đạo đoàn ta không thể tiếp nên cử cán bộ ra chuyển lời Trưởng đoàn là đoàn không được ủy quyền bàn bạc vấn đề gì, mọi điều cần thiết đã được nêu rõ trong Tuyên bố ngày 26 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Cách mạng lâm thời.

        Khoảng 14 giò 30 phút, một đoàn thứ hai tự giới thiệu là giáo sư Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín xin gặp. Trung tá Bùi Thiệp, Trưởng ban Thông tấn báo chí được cử ra, trao cho họ bản Tuyên bố ngày 26 tháng 4 của Chính phủ Cách mạng lâm thời và cũng trả lời như với đoàn buổi sáng. ông Châu Tâm Luân cho biết được ông Dương Văn Minh cử làm Bộ trưởng.

        Đến khoảng 17 giờ 30 có thêm luật sư Trần Ngọc Liễn cùng với ông Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín lại đến thiết tha xin gặp để bàn làm sao cho việc ta đánh chiếm Sài Gòn đỡ đổ máu, bớt tổn hại về vật chất.

        Ta cũng không thể làm gì khác hơn hai lần trước. Tuy nhiên, xét đây là những người thuộc lực lượng thứ ba lâu nay đối lập với chế độ độc tài của Nguyễn Văn Thiệu, không nề nguy hiểm đến lại lần thứ hai, nên ta nể tình báo cho biết có thể tiếp ba vị với tư cách cá nhân của họ chứ không với tính chất đại diện nào. Họ đồng ý, và ta cho đón vào phía trong, phân công đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn tiếp tại hầm Sở chỉ huy dự bị. Họ vừa vào đến hầm thì đợt pháo cấp tập của trận đánh trực tiếp vào Tân Sơn Nhất bắt đầu, và chắc chắn suốt đêm nay sẽ không ngơi tiếng súng. Để bảo đảm an toàn tính mạng, ta khuyên họ ở lại cho đến lúc xong trận. Tuy nhiên để tránh bị hiểu lầm là ta cố tình giữ họ lại, ta nói sẽ cho lực lượng yểm trợ nếu họ muốn về. Sau mấy phút suy nghĩ và trao đổi ý kiến với nhau, họ xin ở lại, vì cũng thấy trở về lúc này là quá mạo hiểm. Như vậy là trong cái đêm 29 tháng 4 năm 1975 lịch sử trong một Sở chỉ huy quân cách mạng ở ngay tại Tân Sơn Nhất, có ba vị khách không phải là quân giải phóng, một giáo sư, một luật sư và một linh mục Thiên chúa giáo, cùng với một sĩ quan cộng sản thức trắng để trò chuyện và theo dõi nhịp độ thần tốc của cuộc Tổng tiến công giải phóng Sài Gòn. Đồng chí Võ Đông Giang đã tranh thủ cơ hội tâm tình và giải thích cho họ cặn kẽ mọi vấn đề về cách mạng mà họ còn băn khoăn nghi ngại.

        Ngày hôm sau 30 tháng 4, khi tiếng súng phía Tân Sơn Nhất đã im và ta đã gặp được lực lượng bên ngoài vào, ta mời họ dự một bừa liên hoan trước khi chia tay và theo yêu cầu của khách tặng mỗi người hai chai rượu lúa mới và một gói lương khô mà họ nói rất quý vì "chỉ quân giải phóng mới có". Sau đó ta cấp giấy cho họ ra về, và được biết họ không gặp trở ngại gì dọc đường.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #193 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2012, 12:23:16 pm »


*

*          *

        Trong khi vạch kế hoạch đánh vào Tân Sơn Nhất, cấp trên rất quan tâm đến vấn đề an toàn của hai đoàn ta.

        Mặc dù đã đồng ý cho đoàn tự tổ chức chiến đấu tại chỗ, Bộ Chỉ huy chiến dịch vẫn cho chỉ định (và đã kiếm cách thông báo trước được cho đoàn) một cánh đặc công và một cánh xe tăng có nhiệm vụ đặc biệt phải tìm cách sớm nhất tới được trại Đa-vít để tùy tình hình mà xử trí, tăng cường bảo vệ cho đoàn hoặc đưa bớt lực lượng đi ra khu vực an toàn. Có lẽ vì trận đánh vào Sài Gòn diễn ra nhanh và thuận quá, mọi dự kìến tình huống đã đảo lộn, mọi kế hoạch xử trí cũng thay đổi, nên suốt đêm đến khi thắng lợi không thấy cánh đặc công nào cả. Còn đơn vị xe tăng đoàn đã được phổ biến tần số liên lạc từ trước) thi khoảng 2 giờ sáng có lên tiếng, đại úy: "Xin chào các đồng chí, đúng là lúc đầu chúng tôi có được giao nhiệm vụ vào tiếp cứu, nhưng bây giờ tình hình khác rồi, chúng tôi được lệnh chuyển đên mục tiêu khác. Xin chúc an toàn khỏe mạnh".

        Sau khì nghe cán bộ điện đài báo cáo, mọi người không ai tỏ chút buồn phiền mà trái lại hân hoan phấn khởi vì thấy trận quyết chiến cuối cùng diễn biến thật là thuận lợi.  Anh em thông tin điện đài thuộc bộ phận "kỹ thuật" còn có sáng kiến dò sóng để theo dõi liên lạc chiến đấu của các đơn vị của ta tiến gần. Vào khoảng hơn nửa đêm 29 tháng 4, có một đơn vị tiểu đoàn từ hướng Bà Quẹo đã tiến đến ngã tư Bảy Hiền. Anh em điện đài đưa máy dến gần cho Trưởng đoàn và mấy đồng chí gần đó cùng nghe. Từ trong cái đài nhỏ bé vọng ra những câu đàm thoại thật thú vị và cảm động đại ý: "Báo cáo đạỉ đội tôi đã đến ngã tư Bảy Hiền, đúng, đồng bào nói đây là ngã tư Bảy Hiền. Chưa đụng địch, còn đồng bào cho quà nhiều lắm". Một giọng khác vẳng lạỉ, có lẽ là của chính trị viên tiểu đoàn: "Hoan nghênh các đồng chí. Phải tìm cho trúng địch đánh, không được làm cho nhân dân hoảng sợ. Đồng bào cho thì lấy nhưng chỉ lấy một ít thứ ăn được lót lòng thôi, không được tham. Đặc biệt nhắc lại anh em không được đụng đến cây kim sợi chỉ của dân...". Ôi cái câu cuối cùng, cái mệnh lệnh và là điều đầu tiên trong 12 điều kỷ luật của quân đội nhân dân, cái khẩu hiệu thiêng liêng đã đi theo các chặng đường chiến đấu gian khổ và chiến thắng nhờ được nhân dân đùm bọc, nay trong đợt vũ bão tiến vào sào huyệt cuối cùng của quân thù nó vẫn vang lên nghiêm khắc, trong trẻo và đầm ấm xiết bao.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #194 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2012, 12:24:32 pm »


*

*           *

        Sau này được biết, trước rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975, đại sứ Ma-tin cùng tốp người Mỹ cuối cùng tại Sài Gòn và  miền Nam Việt Nam đã lên chiếc máy bay lên thẳng cuối cùng từ nóc Đại sứ quán Mỹ bay ra biển. Như vậy là quân và dân ta đã thực hiện trọn vẹn quyết tâm sắt đá được Bác Hồ long trọng tuyên bố năm 1966: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi".

        Khoảng sáu giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975, anh em ở vọng gác phía cổng chính báo cáo là đơn vị bổ sung quân dù trước cổng đang hô nhau tháo chạy, vừa chạy vừa cởi áo quần rằn ri vứt đầy đường. Đại đội xe tăng thì biến từ lúc nào không rõ. Nhìn quanh bốn mặt, tất cả các vọng gác và tháp canh đều trống, không còn bóng dáng một tên lính gác và một họng súng nào. Như vậy rõ là phía này đã xong, nhưng tiếng súng còn rền vang các hướng khác. Tất cả các bộ phận đều được lệnh vẫn ở yên tại vị trí và vẫn phải sẵn sàng chiến đấu không được lơ là mất cảnh giác.

        9 giờ 30 phút sáng 30 tháng 4 năm 1975, ông Dương Văn Minh tuyên bố trên Đài phát thanh Sài Gòn sẵn sàng chuyển giao chính quyền cho đại diện của cách mạng, ra lệnh cho quân Sài Gòn ở nguyên tại chỗ.

        Ban chính trị của đoàn có sáng kiến đưa ngay lá cờ nửa đỏ nửa xanh to nhất của Chính phủ Cách mạng lâm thời mà ta có lên treo ở đỉnh tháp nước là chỗ cao nhất của trại Đa-vít và cũng là chỗ cao đối với một khu vực rộng lớn xung quanh. Có lẽ đây là lá cờ hoặc một trong số lá cờ được kéo lên sớm nhất trên thành phố Sài Gòn giải phóng.

        Khoảng hơn 10 giờ anh em báo cáo đã thấy bộ đội ta tiến đến gần trại Đa-vít. Và Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 9, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, do đồng chí Sơn tiểu đoàn trưởng dẫn đầu đã vào với anh chị em ta. Có lời nào diễn tả được những giây phút xúc động đến nghẹn ngào và khắc eốt suốt đời này? Đúng là "mừng ra nước mắt....". Sau đó đồng chí trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, sư trưởng và chính ủy Sư đoàn 10 ghé vào thăm trên đường vào chỉ huy việc chiếm lĩnh Tân Sơn Nhất.

        11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng và bộ binh quân ta chiếm lĩnh "Dinh Độc Lập", lúc đó là Phủ tổng thống của phía Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vinh quang mà Bác Hồ đã đề ra trong lời thơ chúc Tết năm xưa: "Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngưy nhào", để rồi:

"Tiến lên chiên sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn ! "

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #195 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2012, 12:25:11 pm »


*

*          *

        Với thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai đoàn ta tại trại Đa-vít chấm dứt nhiệm vụ.

        Ngày 2 tháng 5, Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng Bộ Tham mưu tiền phương chiến dịch đã đến đây, tổ chức cuộc họp với một số cán bộ cấp cao các quân đoàn, sư đoàn trước khi chuyển đến Sở chỉ huy mới.

        Ngày 3 tháng 5, Trung tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh quân giải phóng Miền (B2), Phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, đã từng là trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời trong những ngày tháng đầu tiên, vào thăm lại anh chị em và tuyên bố Quân ủy Miền công nhận đơn vị trại Đa-vít "là một tiền tiêu của chiến dịch Hồ Chí Minh".

        Ngày 4 tháng 5 năm 1975, Bộ Chỉ huy Miền điều động phần lớn cán bộ, chiến sĩ Đoàn B chuyển sang tham gia lực lượng thuộc ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, số còn lại sau đó trở về đơn vị cũ hoặc nhận nhiệm vụ mới. Đoàn A trở về thủ đô Hà Nội.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #196 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2012, 06:41:56 pm »



MỘT KỶ NIỆM KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

HOÀNG DUY HÒA       
         
        Cuối năm 1972, tôi được biệt phái về Sư đoàn 5 tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ.

        Tôi nhận được điện của Cục Chính trị Miền gọi về nhận nhiệm vụ mới. Tôi được giao nhiệm vụ vào công tác ở phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - công tác cụ thể ở trong Tiểu ban Trao trả.

        Ngày 12 tháng 2 năm 1973, tôi được tham gia vào tổ trong phái đoàn quân sự ra Hà Nội giám sát về việc trao trả tù binh Mỹ tại sân bay Gia Lâm.

        Buổi tối, trước hôm ra Hà Nội, thủ trưởng chính trị gọi tôi lên và báo cho biết là tôi vào B2 đã lâu rồi, mai ra Hà Nội sẽ được gặp gia đình. Tổng cục Chính trị cho xe về đón gia đình lên Hà Nội, nhưng do điều kiện đặc biệt của công việc nên toàn bộ cuộc làm việc trao trả và sau đó gặp gia đình, tính cả đi về chỉ trong ngày. Tôi hoàn toàn hiểu rõ về điều này nên đã dự tính sẽ gặp được gia đình khoảng 15-20 phút 1à cùng.

        Vui mừng quá, suốt đêm không tài nào ngủ được nghĩ miên man nhiều chuyện. Nghĩ mình vào Nam Bộ bằng đi bộ trên đường Trường Sơn, nay có phi công Mỹ lái máy bay đưa ra Hà Nội làm việc và gặp vợ con thì thật là hiếm có. Cùng đi trong tổ công tác có anh Nam Bình, anh Hùng Trí cả hai anh cũng có gia đình ở miền Bắc và hôm nay chắc các chị và các cháu cũng sẽ lên Hà Nội và cũng sẽ thật sung sướng khi được gặp các anh.

        Vừa xuống đến sân bay Gia Lâm, tôi nhìn thấy ngay một người đàn bà từ phía xa xa đang chỉ trỏ và đẩy đứa con gái chạy ra phía chúng tôi. Khi cháu đang chạy ra thì có anh bộ đội lôi cháu lại, tôi nhận ra đó là vợ và con mình. Để tránh sự xúc động trước mặt sĩ quan đối phương, tôi đi lùi lại một chút và giơ tay ra hiệu là đã nhận biết được rồi.

        Vào nơi làm việc trao trả, khi ban tổ chức vừa tuyên bố lý do xong, có cán bộ bấm vào vai tôi nói nhỏ: "ra phía nhà căng tin gặp gia đình".

        Vừa trông thấy tôi, nhà tôi òa lên khóc kể lể rằng bao nhiêu năm không nhận được thư từ nào. Năm Mậu Thân làng ta có nhiều giấy báo tử, ai cũng bảo anh đã hy sinh, mẹ thương con dâu còn trẻ, mẹ bảo nó không còn sống thì tùy con tìm nơi xây dựng bước nữa. Em chỉ biết khóc và biết chờ đợi. Nay anh còn sống, còn đủ chân tay... Tôi chỉ vội hỏi hai bên bố mẹ anh em ai còn, ai mất, gia đình có bị bom Mỹ bắn phá hay không? Và biết mẹ tôi ốm, muốn lên thăm con mà không đi được và gia đình tôi lại sợ như trường hợp anh Vinh nên bảo chú em cùng đi.

        Nhà tôi kể rằng: "Cách đây 20 hôm, đơn vị bộ đội có xe con về làng đón chị Vinh và các cháu. Anh bộ đội nói rằng nghe đâu anh Vinh bị thương ở chiến trường ra điều dưỡng nên đón chị lên thăm. Khi tới nơi thì được biết là anh bị thương rất nặng và đã chết nên đưa thi hài về quê chôn cất. Tối hôm qua lại có xe con và anh bộ đội về nói là anh ở chiến trường ra, trên cho về đón gia đình lên thăm, yêu cầu phải đi gấp, 4 giờ sáng đi thì mới kịp. Thế là cả nhà ai cũng đoán chắc lại như trường hợp anh Vinh, rồi khóc lóc ầm ĩ.

        Đêm đã khuya mà dân làng đến hỏi thăm đông lắm. Em hỏi riêng anh bộ đội, anh nói là chỉ được nhận nhiệm vụ đón gia đình lên Hà Nội gấp chứ anh ấy cũng không biết gì thêm. Ngồi trên xe với con, em nghĩ thầm nếu chẳng may anh có làm sao thì ở vậy nuôi con khôn lớn, sau này chọn đứa con rể tết khuyên nó ở rể cũng được. Xe ô tô khóng vào Hà Nội mà rẽ vào sân bay Gia Lâm. Em thấy rất đông người mà không thấy người già, trẻ con, thấy nhiều người nước ngoài vác máy quay phim, máy ảnh. Nhìn khắp không thấy anh, bảo con tìm xem có thấy bố không, nó bảo con không biết mặt bố. Chú em hỏi anh cán bộ thì được biết là chờ Sài Gòn ra trao trả tù binh.

        Đến đây nhà tôi lại nghĩ rằng tôi bị bắt làm tù binh nên được trao trả. Thôi như thế còn hơn là đã hy sinh.

        Rồi anh bộ đội đưa đi lại bảo, máy bay sắp hạ cánh, chị và cháu đừng có chạy ra đường băng khóc lóc, bọn sĩ quan Mỹ - nguy nó hỏi Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời sao lại có vợ con ngoài Bắc thì phiền. Nhà tôi lại càng không hiểu câu nói của anh.

         Khi thấy tôi xuống máy bay đeo băng màu da cam (màu của Liên hợp quân sự) và nhìn kỹ xác định đúng là chồng mình rồi thì rất vui mừng không hỏi han gì nữa. còn con tôi, khi tôi vào chiến trường cháu một tuổi, nay đã học lớp 5. Mẹ cháu bảo bố của con đấy, cháu cũng chẳng hỏi han gì mà chỉ chạy đi xem tù binh Mỹ được trao trá.

        Xem đồng hồ, đã được 15 phút, tôi phải vào vì còn để các anh khác ra gặp gia đình.

        Vợ tôi vội vàng nhét vào túi du lịch cho tôi 2 tút thuốc lá Tam Đảo và mấy gọi kẹo. Tôi rút cái lược I-nốc tự làm bằng xác máy bay Mỹ cài vào tóc vợ tôi rút cái khăn rằn quấn vào cổ con rồi chia tay, quên cả cám ơn các đồng chí ở nhà căng tin.

        Trao trả xong, chúng tôi lên máy bay về trại Đa-vít, vợ con tôi được xe đưa về gia đình.

        Sau nhận được thư nhà tôi viết: "Xe về đến đầu làng họ hàng bà con chạy đến xúm quanh hỏi hết chuyện nọ đến chuyện kia. Người chê trách đã ra đến Hà Nộl mà không về thăm nhà hẳn có vấn đề gì đây. Người bảo đi gần chục năm gặp có 15 phút thì ăn thua gì? người khen anh còn khỏe, không cụt chân cụt tay là hạnh phúc lắm đây...".

        Thật là một cuộc gặp mặt hiếm có, một kỷ niệm rất sâu sắc
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #197 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 07:00:38 pm »


Phạm Văn Lãi

LÁ CỜ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN
Ở SÀI GÒN TREO TRONG TRẠI ĐA-VÍT

VŨ BÃO      
         
      Sống giữa sào huyệt của Mỹ - nguy lại bị căn cứ lính dù thiên thần mũ đỏ", căn cứ thiết giáp "mũ nồi đen", căn cứ lính biệt kích vây quanh, sĩ quan và chiến sĩ trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngày đêm phải sống và làm việc dưới các nòng súng trọng liên của 13 trạm gác. Sau này khi đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, quân báo của ta còn bắt được mật lệnh của tên cầm đầu quân đội Sài Gòn chỉ thị cho các đơn vị đóng ở sân bay Tân Sơn Nhất nếu phát hiện dấu hiệu cộng sản chuẩn bị tiến công thì phải chủ động tràn vào trại Đa-vít tiêu diệt cộng sản. Lưỡi hái của thần chết ngày đêm treo trên đầu, trong trại Đa-vít anh em ta vẫn biểu diễn văn nghệ, vẫn thi đấu bóng chuyền, bóng rổ, quần vợt.., và hàng tuần vẫn tổ chức chiếu phim. Binh lính Sài Gòn thường leo lên nóc dãy công sự bằng bao cát xem phim xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

        Sang tháng 4 năm 1975, đại quân ta tiến sâu xuống miền Trung Trung Bộ, phía Mỹ viện cớ vì lý do kỹ thuật đã cắt đứt các chuyến bay hàng tuần Tân Sơn Nhất - Hà Nội - Tân Sơn Nhất. Phạm Văn Lãi, phụ trách tổ chiếu phim không nhận được phim mới của Điện ảnh quân đội Hà Nội gửi vào nữa, anh đành chiếu bộ phim Trần Quôc Toản ra quân và Vợ chồng anh Lực để duy trì chương trình sinh hoạt văn hóa hàng tuần trong trại Đa-vít.

        Trong những ngày bị cắt đứt liên lạc bằng đường hàng không với Hà Nội, Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhận được điện của Đại tưởng Võ Nguyên Giáp gửi vào: Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh rất thông cảm với hoàn cảnh của các đồng chí. Hãy động viên anh em vững vàng ý chí chiến đấu, đứng vững trên vị trí của mình. Ngày thắng lợi không còn xa nữa!

         Mãi đến ngày 25 tháng 4 năm 1975, theo yêu cầu của đoàn ta, phe Mỹ phải bố trí một chuyến bay C130 ra Hà Nội. Điện ảnh quân đội gửi vào cho Lãi cả 5 tập phim Giải phóng châu Âu. Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Phạm Văn Lãi chiếu cả 5 tập Giải phóng châu Âu Ở ngoài bãi chiếu phim của đoàn. Chương trình chiếu phim quá dài, anh em vẫn hào hứng theo dõi những cảnh phim Hồng quân Liên Xô tiến quân giải phóng thủ đô các nước Đông âu. Riêng với Lãi, hình ảnh gây ấn tượng mạnh với anh nhất là ba chiến binh Liên Xô leo lên treo cờ trên nóc nhà Quốc hội Đức Anh nghĩ ngày các đồng đội của anh treo cờ lên nóc cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn chắc cũng "không còn xa nữa".

        Ngay đêm hôm ấy nằm nghe tiếng pháo 130 ly từ xa vọng về và cả về sau này Lãi càng ngẫm nghĩ càng thấy bộ phim Giải phóng châu Âu vận vào đúng câu cuối cùng trong bức điện của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp. Có lẽ lúc ấy Đại tướng chỉ có thể nói với anh chị em trong trại Đa-vít ngắn gọn như thế.

        Tiếng pháo lớn vọng đến trại Đa-vít mỗi ngày một gần hơn và đúng 3 giờ sáng 29 tháng 4 năm 1975, đạn pháo 130 1y và đạn hỏa tiễn của ta bắn tới tấp vào sân bay Tân Sơn Nhất. Nằm dưới công sự có nắp nghe được cả tiếng nổ đầu nòng, Lãi ước tính từ trận địa pháo chiến dịch đến trại Đa-vít chỉ còn cách ngót nghét 15, 16 ki-lô-mét là cùng "ngày thắng lợi không còn xa nữa".

        Gần sáng 30 tháng 4 năm 1975, tiếng đạn pháo nổ thưa dẩn rồi ngừng hẳn. Tổ điện đài dò sóng, bắt được sóng của một tiểu đoàn Quân giải phóng đang tiến vào nội thành Sài Gòn. Mẩu chuyện ngắn gọn trên làn sóng điện ấy đã được truyền xuống anh em đang chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trong công sự ở trại Đa-vít, Lãi và các đồng chí trong công sự cũng có cảm giác như ngày trước ngong ngóng giữa tiếng pháo nổ trong giờ phút giao thừa đón chờ Xuân mới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #198 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 07:03:53 pm »

        Giữa lúc ấy, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam điện xuống Ban chính trị triệu tập Phạm Văn Lãi lên nhận nhiệm vụ mới. Còn gì vui sướng bằng giừa lúc các sư đoàn chủ lực đang tiến đánh nội thành Sài Gòn lại được đi nhận nhiệm vụ mới. Phạm Văn Lãi khom người luồn theo các ngách trong giao thông hào lên Sở chỉ huy. Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn với giọng bốc lửa chỉ thị cho Lãi: chủ lực của ta đang tiến vào nội thành Sài Gòn, đồng chí vào kho lấy cờ đem xuống đội vệ binh truyền đạt mệnh lệnh của tôi cắm cờ lên đỉnh tháp nước để quân ta biết hướng tiến công và quân địch đóng trong sân bay nhìn thấy lá cờ sẽ hoang mang, buông súng, không còn khả năng chiến đấu. Phạm Văn Lãi "rõ" một tiếng thật to rồi chạy như bay về nhà kho của Ban chính trị.

        Lá cờ sao vàng nằm trên nền nửa xanh nửa đỏ này được may bằng 4 khổ vải 80cm, nếu nối liền cả 4 khổ vải ấy lại với nhau thì chiều dài cũng gần 20 mét nên Lãi phải ôm chặt lá cờ vào ngưc, chạy băng qua sân trại Đa-vít ra tận cổng trại, trận địa của đội vệ binh đang dàn đội hình sẵn sàng chiến đấu, truyền lệnh treo cờ. Đội trưởng vệ binh bảo Lãi đứng chờ mình rồi chạy đi tìm người. Vừa lúc ấy Cẩn, vệ binh cũng vừa chạy đến. Biết chuyện, Cẩn nói ngay: Tôi đi. Cẩn là Việt kiều ở Cam-pu-chia gia nhập Quân giải phóng. Các buổi chiều, lúc Cẩn chơi bóng chuyền với Lãi, lúc Cẩn chơi bóng rổ với Lãi nên hai người cũng thân nhau.

        Lãi ôm cờ chạy trước, Cẩn chạy theo sau, cả hai nhằm hướng chân tháp nước lao tới. Hôm nay không biết trời phật run rủi thế nào mà khi chạy qua hội trường Lãi thấy hai đoạn dây thép không biết ai đi treo băng-rôn bỏ lại và khi đến chân tháp nước, Lãi lại thấy một ống dẫn nước do anh thợ Sài Gòn vào chữa hệ thống dẫn nước bỏ lại, Lãi bảo Cẩn xách theo ống nước làm "cán cờ".

        Hai anh em chui vào vòng bảo hiểm, Lãi ôm cờ leo lên trước, Cẩn xách ống dẫn nước leo theo sau. Leo lên tới đỉnh tháp nước. Lãi cúi xuống với tay ra hiệu cho Cẩn chuyển ống dẫn nước lên cho anh. Sẵn đoạn dây thép mang theo, Lãi xuyên một đầu dây thép vào cuối cạp cờ, quấn mấy vòng rồi buộc hai đầu dây thép vào cán cờ rồi Lãi chuyển sợi dây thép khác cho Cẩn buộc ghì cán cờ vào thanh sắt dọc ốp bên ngoài thành tháp nước.

        Lay lay cán cờ thấy căng chắc, Lãi mới buông hai mép cờ ra khỏi lòng bàn tay. Theo đà gió, lá cờ bung thật mạnh nghe đánh phật một tiếng. Từng nếp cờ no gió, uốn sóng, phần phật bay, vui mừng chờ đón giờ toàn thắng.

        Đứng trên đỉnh tháp nước, Lãi nhìn sang căn cứ xe tăng của quân đội Sài Gòn. Chỉ còn những chiếc xe tăng tháp pháo xoay ngang, nòng trọng liên gục xuống. Lãi nhìn sang căn cứ lính dù. Bọn chúng đang cởi bộ đồ trận, quẳng "bốt-đờ-xô", vứt súng, đứa nào đứa ấy chỉ mặc quần đùi và áo may ô trắng trông cứ như đàn vịt gặp gió lớn.

        Vừa lúc đó, Vinh, chiến sĩ nhiếp ảnh và Bất Diệt, chiến sĩ quay phim Quân giải phóng đã chạy đến chân tháp nước ngửa cổ hét thật to: Đứng yên, cho chúng tôi làm một "pô". Chính nhờ hai nghệ sĩ - chiến sĩ ấy mà đến hôm nay chúng ta mới biết lá cờ sao và trên nền nửa đỏ nửa xanh to nhất, phấp phới bay sớm nhất trên bầu trời Sài Gòn chính là lá cờ trên tháp nước trại Đa-vít.

        Lúc bấy giờ là 9 giờ 30 phút. Một giờ sau, xe tăng 390 mới húc đổ cánh cổng chính dinh Độc Lập. Ngày hôm sau, ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn quyết định treo lá cờ sao vàng trên nền nửa đỏ nửa xanh to hơn lá cờ đã treo ngày 30 tháng 4. Người được phân công leo lên cột cờ dinh Độc Lập treo lá cờ mới chính là: Phạm Văn Lãi, cán bộ Ban chính trị ủy ban quân quản Sài Gòn.


Ngọn cờ đầu tiên trong trại Đa-vít. Anh Lãi đứng phía trên, anh Cẩn đứng phía dưới
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 07:14:47 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #199 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2012, 08:00:18 pm »


KỶ NIỆM SÂU SẮC SÁNG 30-4-1975
Ở TRẠI ĐA-VÍT
TRẦN VĂN KHÁNH      

     Nguyên sĩ quan phiên dịch tiếng Anh của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lăm thởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam.      
 
       Đoàn cán bộ phiên dịch tiếng Anh trong Ban Liên hợp quân sự được tập trung trước khi Hiệp định Pa-ri ký khoảng hai tháng.

        Lớp bổ túc tiếng Anh có trên 30 người, anh Huyền và 11 chuyên gia khác giảng dạy. Giáo trình là nguyên bản Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam và những đoạn văn ngắn do chuyên gia biên soạn. Chúng tôi tranh thủ mọi thời gian học tập, phấn khởi, háo hức, mong sớm được mang kiến thức của mình phục vụ nhân dân trong mặt trận đấu tranh mới.

        Ngày vào Nam đã đến. Để chủ động và kịp thời triển khai các tổ Liên hợp khi hiệp định được ký, chúng tôi được lệnh hành quân bằng đường bộ theo đường Trường Sơn vào Nam. Gần 100 xe con được điều động. Mỗi xe chỉ có 1 lái và 1 người đi cùng, mang đầy đủ tư trang, quần áo, va li như những cán bộ ngoại giao.

        Dọc đường từ Hà Nội đến Thanh Hóa, chúng tôi không bao giờ quên hình ảnh và tình cảm của nhân dân hai bên đường và trong những đoàn tàu hỏa. Họ hoan hô, reo mừng, không nói thành lời. Nhiều thanh niên nhoài ra khỏi các toa tàu hô to: Hoan hô, hoan hô đã có giải pháp. Ý là đã có giải pháp để chấm dứt chiến tranh sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn khốc. Đoàn xe cứ nối đuôi nhau đi mãi. Gió từ biển, từ những cánh đồng vùng Nam Định, Hà Nam thổi mát rượi. Từng bầy cò trắng vỗ cánh bay cao. Lòng chúng tôí xốn xang, tự hào, sung sướng, nghĩ tới quãng đường mình sắp qua, nơi mình sắp tới, công việc mình sắp làm.

        Trước ngày lên đường, bác Tố Hữu tặng mỗi người một bản bài thơ: "Việt Nam máu và hoa" dưới đề dòng chữ: "Thân tặng các đồng chí lên đường vào cuộc chiến đấu mới". Chúng tôi hiểu nhiệm vụ sắp tới, không kém phần gay go gian khổ.

        Xe tới Thanh Hóa vào bốn giờ chiều. Dán tỉnh Thanh cũng như ở nhiều miền quê khác, phải thắt lưng buộc bụng, chi viện cho tiền tuyến, gánh chịu những trận bom đạn của đế quốc Mỹ. Họ mừng vui, nhìn chúng tôi và đoán những diễn biến mới của cuộc kháng chiến. Ở Thanh Hóa đến tám giờ tối thì nhận được điện của Hà Nội: "Tất cả các trưởng, phó đoàn của các khu vực cùng tất cả anh em phiên dịch quay về Hà Nội ngay trong đêm để đi Sài Gòn bằng máy bay. Khả năng Hiệp định Pa-ri sẽ được ký nay mai. Anh em còn lại tiếp tục đi bằng ô tô".

        Thời gian này, Đài tiếng nói Việt Nam chốc chốc lại hát bài "Việt Nam trên đường chúng ta đi" làm rung động lòng người và mở ra trước mắt chúng ta một chân trời mới. Vài ngày sau, chúng tôi vào Sài Gòn bằng hai chiếc máy bay C130 của Mỹ. Tôi còn nhớ một thủ trưởng đoàn nói: "Các đồng chí vào Sài Gòn lần này, giống như Nguyễn Huệ đưa quân vào thành Thăng Long năm xưa".

        Từ tháng 3 năm 1973 đến 30 tháng 4 năm 1975, nhừng năm tháng ấy, để lại trong lòng mỗi thành viên của đoàn những kỷ niệm tốt đẹp và sâu sắc. Tôi xin ghi lại những gì đã diễn ra, ghi sâu vào tâm trí tôi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

        Độc lập và tự do đến với trại Đa-vít sớm hơn bên ngoài khoảng mấy tiếng đồng hồ. Khoảng trên 9 giờ sáng, lá cờ của Mặt trận giải phóng được kéo lên đỉnh tháp nước mà không có phản kháng nào từ phía đối phương. Ngước lên, thấy cờ, nước mắt tôi cứ ứa ra, không sao ngăn nổi. Tôi nghĩ tới sự hy sinh, mất mát của toàn Đảng, toàn đân và toàn quân ta gần hai chục năm qua trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt này. Thậm chí trước giờ toàn thắng, một khoảnh khắc thời gian, cũng có bao nhiêu người phải ngã xuống.

    
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM