Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:19:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bay đến Hà Nội và thoát về  (Đọc 93279 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #30 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2010, 10:08:31 pm »

Trước khi Momyer làm tư lệnh Tập đoàn Tập đoàn không quân số 7, nhiều phi công cho rằng nước Mỹ rơi vào cuộc chiến tranh sẽ kéo dài và có thể thua ở Đông Nam Á. Ông cố sức giúp không quân Mỹ vượt qua theo hướng có lợi nhất có thể được. Theo ông có nghĩa là một không quân vớihầu hết các kỹ thuật hiện có. Ông cực kỳ thờ ơ trong việc sử dụng rộng rãi máy bay cánh quạt kiểu cũ ở Nam Việt nam và Lào; bất kể chúng phù hợp trong chống nổi loạn thế nào, chúng không thể tồn tại ở châu Âu trước lực lượng phòng không Liên Xô. Mặt khác, ông phản đối sự phát triển thiết kế kỹ thuật để đáp ứng với những chiến trường cụ thể. Bởi vì Mỹ chưa bao giờ dự đoán chính xác được tình huống mà quân đội Mỹ phải đối diện, ông ủng hộ máy bay phản lực đa năng. Với những máy bay có sẵn trong trang bị, F-4 rõ ràng là loại máy bay ông ưa thích, vì nó có thể không chiến hoặc tấn công những mục tiêu dưới đất.
Momyer là người ủng hộ đặc biệt cho thống nhất chỉ huy không quân. Nhưng sự thống nhất chỉ huy chưa thấy bất cứ chỗ nơi nào ở Đông Nam Á. Những cố gắng của ông không thành công. Ông nghi ngờ rằng sự nhạy cảm kiểu Thái ẩn đằng sau việc từ chối để ông làm tư lệnh các phi đoàn không quân ở Thái Lan và chỉ cho ông làm điều hành tác chiến. Những cuộc thẩm vấn lặp đi lặp lại đại sứ Martin với ông trong điểm này gây cho Momyer ấn tượng rằng đô đốc Ulysses S. Grant Sharp, tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương và tướng Hunter Harris, tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương không muốn Momyer chỉ huy các không đoàn ở Thái Lan vì phó phụ trách không quân của Westmoreland, bằng việc từ chối chỉ huy của Momyer, thực ra họ đã từ chối Westmoreland và đặt các chiến dịch không kích chống lại Bắc Việt Nam dưới sự kiểm soát của họ.
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #31 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2010, 10:45:23 pm »

Trên quan điểm của Momyer, phải tách riêng chiến trường Đông Nam Á dưới quyền chỉ huy của Westmoreland và tất cả những chiến dịch không kích (bao gồm hải quân và thuỷ quân lục chiến) dưới quyền Momyer. Nếu như vậy quyền lực của Momyer không được mở rộng đến Bộ tư lệnh không quân chiến lược B-52 mà đã ném hơn 1/3 lượng bom tại Nam Việt nam. Bởi vì cùng một máy bay vừa có nhiệm vụ ném bom hạt nhân trong trường hợp chiến tranh lan rộng, Bộ tư lệnh không quân chiến lược từ chối cung cấp chúng cho Momyer. Westmoreland không thể có ý kiến với Tập đoàn không quân số 7 về những mục tiêu cho B-52 và Momyer cũng không được xoa dịu bởi sự hiện diện của một đại tá không quân trong văn phòng Westmoreland. Westmoreland xác định mục tiêu ông ta muốn B-52 tấn công và gửi danh sách gửi tới Bộ tư lệnh không quân chiến lược. Momyer sửng sốt vì nhiều tấn bom dội xuống rừng rậm Nam Việt nam với chút ít bằng chứng về hiệu quả cụ thể đối với quân địch, tuy thế cũng làm. Chủ nhân những chiếc máy bay tiếp dầu của Bộ tư lệnh không quân chiến lược ít nặng nề hơn Momyer, kể từ khi Westmoreland không nhúng tay vào. Phàn nàn chủ yếu của Momyer về máy bay tiếp dầu là Bộ tư lệnh không quân chiến lược không đồng ý cho chúng bay xa hơn về phía Bắc Lào để cứu các máy bay chiến đấu sắp hết dầu. Thực tế  những phi công máy bay tiếp dầu thường phá quy tắc của Bộ tư lệnh không quân chiến lược để cứu máy bay chiến đấu.
 Sự thật Tập đoàn không quân số 7 phục vụ tướng Westmoreland ở Saigon trong những chiến dịch ở Nam Việt nam và tướng Harris ở Hawaii trong những chiến dịch ở Bắc Việt Nam qua các chiến dịch riêng rẽ bằng việc thành lập các trung tâm kiểm soát “trong nước” và “ngoài nước”. Cách chia công việc này thực hiện trước khi Momyer và xảy ra thậm chí đối với cả Westmoreland định kiểm soát toàn bộ cuộc chiến, vì hai vùng có hai yêu cầu khác nhau. Trên thực tế, Westmoreland kiểm soát chiến dịch không quân qua một phần lãnh thổ Bắc Việt Nam nối với Nam Việt Nam (không tính đến chung quyền kiểm soát các chiến dịch tại Lào của đại sứ Mỹ ở đó), nhưng những chiến dịch này được đảm nhiệm bởi trung tâm kiểm soát ngoài nước. Trung tâm kiểm soát chiến thuật trong nước đáp ứng yêu cầu của các đơn vị mặt đất về hỗ trợ không quân tại Nam Việt Nam. Trung tâm kiểm soát chiến thuật bao gồm nhân viên Nam Việt Nam và (chỉ nhằm duy trì hình thức chính trị) giám đốc của nó là một đại tá Nam Việt Nam; giám đốc thực là một chuẩn tướng Mỹ, người có trách nhiệm báo cáo với đại diện của Momyer về các chiến dịch. (Các phi vụ B-52, trong nước và ngoài nước, được kiểm soát bởi Bộ tư lệnh không quân chiến lược và do SAC Phân cấp tiền phương (SACADVON) lên kế hoạch tại SCH không quân Mỹ số 7)
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Hai, 2010, 10:50:30 pm gửi bởi t2ncdn » Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #32 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:37:52 am »

Trung tân chỉ huy ngoài nước duy nhất của Mỹ (có mật danh liên lạc là “Blue Chip” phát hành lệnh hàng ngày điều một số đội hình lớn đi tấn công mục tiêu ở Bắc Việt Nam và nhiều đội hình nhỏ, kể là phi vụ tuần tiễu hai máy bay trinh sát vũ trang các tuyến đường vận tải tại đó và Lào. Các nhật lệnh được gọi là lệnh lẻ hoặc “mảnh” vì mỗi phi đoàn chỉ nhận 1 lệnh lẻ và bởi vì thông tin không thay đổi theo ngày (như nguyên tắc tham chiến) nên không được gửi theo ngày. Lệnh lẻ cho phép Không đoàn 7 gửi thông tin cần thiết qua thư điện tử mà không làm tắc nghẽn mạng lưới thông tin. Trung tâm kiểm soát chiến thuật trong nước cũng phát hành lệnh lẻ nhưng họ cung cấp theo cơ sở thường xuyên hơn thông qua trung tâm nhằm đáp ứng với thay đổi của tình hình chiến trường ở Nam Việt Nam. Lệnh lẻ được chuẩn bị và thực hiện theo chu trình 3 ngày; trong khi một bộ phận nhân viên lên kế hoạch hoạt động cho ngày tiếp theo, nhóm khác dự thảo lệnh cho hôm sau và nhóm thứ 3 giám sat hoạt động trong ngày. Các nhóm hoạt động và nhân viên tình báo chuyên vào lệnh lẻ cho các hoạt động ngày và đêm

Trụ sở của Momyer nằm gần trụ sở Westmoreland tại sân bay Tân Sơn Nhất ngay bắc Saigon. Phía nam thành phố là những cánh đồng lúa mầu mỡ của đồng bằng Cửu Long. Bảy trăm dặm về phía bắc, gần với hướng Trung Quốc, trải dài các đồng bằng duyên hải bị ép vào biển bởi những dãy núi lởm chởm cho đến tận nơi sông Hồng tạo ra vùng châu thổ khác, nhỏ hơn và ít màu mỡ hơn. Ở đó có thủ đô Hà nội, cảng Hải Phòng - cảng lớn nhất Bắc Việt nam, và nhiều mục tiêu mà Momyer quan tâm nhất. Khi ông ta đưa máy bay tới sông Hồng, chúng quá xa để liên lạc với trung tâm chỉ huy tại Tân Sơn Nhất. Mùa hè năm 1966, một trung tâm kiểm soát những chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam bắt đầu đưa vào vận hành tại núi Con Khỉ (mật danh liên lạc là “Motel”) nằm trên bán đảo đâm ra biển Nam Trung Hoa tại Đà Nẵng, nằm khoảng giữa Saigon và Hanoi.
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #33 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2010, 01:42:31 am »

Quá trình không kích tại Bắc Việt Nam cũng được theo dõi ở trung tâm kiểm soát đóng tại sân bay Udorn, Thái Lan. Nếu Sơn Trà tắt máy, thì Udorn hoạt động. Cả hai trạm đều có radar tầm xa, nhưng họ không thể nhìn thấy đồng bằng sông Hồng. Ở Bắc Việt nam chỉ có tàu ra-đa hải quân và máy bay ra-đa Lockheed EC-121 có thể quan sát một số vùng trong khi vẫn đuợc giữ khoảng với máy bay và tên lửa Bắc Việt. Không như những máy bay Boeing E-3 có Hệ thống kiểm soát và cảnh báo trên không (AWACS) được sản xuất sau cuộc chiến tranh Việt nam, radar của máy bay EC-121 không thể “nhìn xuống đất” và máy bay có thể bị mất vì địa hình trên màn hình radar EC-121. Thật ra cả EC-121 và trạm radar mặt đất tại Sơn Trà và Udorn cũng chẳng kiểm soát trên không được nhiều trong những chiến dịch ở vùng sông Hồng.
Tại vùng ít phòng không cán xoong ở Lào, thậm chí một chiếc máy bay vận tải cũng có thể sống sót. Chiếc Lockheed EC-130 mang Sở chỉ huy trên không và Trung tâm kiểm soát (ABCCC) không có radar, nhưng có thiết bị thông tin và nhân viên kỹ thuật có thể điều khiển hoạt động đánh chặn xe tải tại vùng cán xoong ở Lào và Bắc Việt Nam. Một máy bay ABCCC thường phối hợp với không kích qua hệ thống FAC (kiểm soát tiền phương trên không) quan sát vùng cán xoong bằng máy bay cánh quạt hạng nhẹ hoặc máy bay phản lực (từ 1967 phòng không Bắc Việt nam đã trị được những máy bay cánh quạt bay chậm - đó là nhược điểm của nó). Mỗi FAC tuần tra cùng một cung đường và cánh rừng hàng ngày, để ban ngày nó có cơ hội tốt nhất nhìn thấy những xe tải và chỉ điểm qua ABCCC cho máy bay công kích
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #34 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2010, 02:09:04 am »

Trong khi máy bay ABCCC và Motel gần với các trận ném bom, thì Blue Chip gần với các vị chỉ huy. Tại tham mưu ngoài nước cũng như tham mưu trong nước, Momyer thấy kế hoạch tác chiến và nghiên cứu tình báo phối hợp nhịp nhàng hơn là riêng rẽ. Việc hình thành những nhóm kết hợp các nhân viên tình báo và chiến dịch vào mùa xuân 1966 đã phá vỡ bức rào cản quan liêu, nhưng vẫn còn một rào cản giữa tình báo không ảnh và tình báo tín hiệu điện tử, đặc biệt là trinh sát điện tử. Những thủ tục an ninh để bảo vệ tình báo điện tử cũng gây khó khăn trong việc kết hợp với các nguồn tình báo khác. Trong bất kỳ trường hợp nào, tình báo không ảnh không đáp ứng yêu cầu cập nhật hình ảnh mục tiêu. Thời tiết thường làm nhiễu trinh sát không ảnh, và trong số hàng trăm những mục tiêu, nhiều cái là mới hoặc bị báo động. Thậm chí khi có được bộ ảnh tốt, in và đưa lên bảng mục tiêu ở tại mỗi phi đoàn lại là vấn đề khác. Giống như những chỉ huy tiền nhiệm và sau này, Momyer ít khi hoàn toàn hài lòng với tốc độ hoặc mức độ toàn diện trong đánh giá kết quả ném bom. Giống như các tư lệnh khác, ông muốn tránh tấn công lại không cần thiết vào mục tiêu vì kẻ địch phản ứng bằng việc tăng cường phòng không( ).
Thậm chí Tập đoàn không quân số 7 còn phụ thuộc vào không ảnh tình báo nhiều hơn vì những cố gắng đưa biệt kích Nam Việt xuống Bắc Việt Nam của Mỹ bị thất bại. Mặc dù Nhóm nghiên cứu chỉ huy hỗ trợ quân sự và quan sát tiếp tục đưa và hỗ trợ các đội, những người vẫn gửi báo cáo qua điện đài, bị nghi là đánh lạc hướng theo điều khiển của kẻ thù. Không có gì minh hoạ sâu sắc tình thế tuyệt vọng của  Nam Việt nam bằng sự bất lực trong việc duy trì điệp viên tại Bắc Việt Nam trong khi những điệp cộng sản năm giữ vị trí quan trọng trong chính phủ Sài gòn( ).
***
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #35 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2010, 02:28:48 am »

 Là tư lệnh mới Tập đoàn không quân số 7, năng lực của Momyer trong xây dựng chiến dịch Sấm Rền ném bom Bắc Việt nam bị hạn chế bởi những người ở trong chuỗi cấp trên phức tạp từ Sài gòn tới Hawaii tới Washington. Tại trụ sở Bộ chỉ huy Thái Bình Dương ở Hawaii, đô đốc Sharp đơn giản hoá vấn đề xác định mục tiêu bằng cách chia Bắc Việt Nam thành 7 vùng địa lý hoặc “tuyến”. Hạm đội Thái Bình Dương tiến hành phần lớn các cuộc ném bom tại 4 tuyến dọc theo bờ biển (từ nam đến bắc, gói mục tiêu 2, 3, 4, và 6B) mà máy bay cất cánh từ các tàu sân bay ở Vịnh Bắc Bộ có thể đến mục tiêu mà không cần tiếp dầu. Không quân Mỹ ở Thái Bình Dương đảm nhận ném bom tây bắc Việt nam (tuyến 5 và 6A), còn tướng Westmoreland dành trách nhiệm tuyến 1 chạy qua “Đường ranh giới quân sự tạm thời” từ Nam Việt nam; đường ranh giới này chạy xuống phía nam giữa sông Bến Hải chảy vào Biển Đông, và “khu phi quân sự” rộng sáu dặm làm vùng đệm kéo dài 40 dặm từ bờ biển đên biên giới Lào. Mùa hè năm 1966, sau nhiều tháng chứng kiến Bắc Việt dùng khu phi quân sự làm nơi ẩn náu cho lính của họ, cuối cùng Hoa Kỳ bắt đầu ném bom. Tướng Momyer nhận lệnh từ Westmoreland ném bom tuyến 1 (và khu phi quân sự) và từ tướng Harris tại Đại bản doanh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương ở Hawaii ném bom tuyến 5 và 6A.
Những mệnh lệnh cứng nhắc và vụn vặt dựa trên các tuyến làm điên đầu cả Momyer lẫn Harris, hai người này đang ra sức bàn với Sharp để vứt bỏ nó. Nhưng cả Harris lẫn Tham mưu trưởng không quân, tướng McConnell, không thể thuyết phục hải quân kết hợp những chiến dịch không kích Bắc Việt Nam dưới sự chỉ huy của không quân. Sharp cho phép tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 chủ trì Uỷ ban điều phối cùng với các đại diện của lực lượng đặc nhiệm 77 thuộc hạm đội 7 – tàu sân bay của nó đảm nhận ném bom Bắc Việt nam. Nhưng mọi bất đồng phải trình Sharp, và đa số hai nhóm này tiến hành những chiến dịch riêng rẽ theo các gói mục tiêu của chính họ( ).
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #36 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2010, 02:48:42 am »

Quan điểm của Sharp về các tuyến không làm Harris ngạc nhiên, hoặc bực bội. Hai người đối xử tốt với nhau và cùng tin rằng không lực Mỹ được sử dụng quá ư dè dặt đối với Bắc Việt nam. Giống như Momyer, Harris lo lắng về cái mà cuộc chiến tranh Việt nam đang làm với danh tiếng của không lực Mỹ. Không kích hạn chế Bắc Việt nam đã được miêu tả trên báo chí như một cố gắng yếu ớt. “Điều này dày vò tôi và nhiều người khác, tất nhiên”, Harris viết cho McConnell tháng 3-1966, “Ưu thế quân sự đã bị vận hành bởi một thế lực thứ ba. Tôi không thể giúp đỡ nhưng   tin rằng… thất bại sẽ theo hướng chuyển thiết bị quân sự vào vai trò phòng vệ thuần tuý cơ bản nhằm để ngăn chặn cuộc tấn công trực tiếp vào Mỹ với tất cả điều đó có nghĩa rằng khả năng quân sự trong tương lai của chúng ta đối lập với quyền lợi của chúng ta trên thế giới ”( ).
Trao cho Đô đốc Sharp quyết định xác định mục tiêu theo tuyến Washington dành lấy quyền lựa chọn mục tiêu, vai trò chính của Bộ chỉ huy Thái Bình Dương trong chiến dịch Sấm Rền trở thành “vận động hành lang” cho những mục tiêu tốt hơn. Sharp không nói “không” cho câu trả lời cuối cùng và lặp lại đòi hỏi những mục tiêu từng bị từ chối lần này qua lần khác. Sự kiên trì này mở ra danh sách mục tiêu dài hơn, nhưng không làm cho các ông chủ dân sự yêu mến ông.
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #37 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2010, 03:04:49 am »

Chưa có tổng thống nào từng lưu tâm đến sự lựa chọn mục tiêu như Lyndon Johnson. Qua nhiều năm Sấm Rền, ông tự thân xem xét kỹ lưỡng danh sách những mục tiêu được đề nghị và cân nhắc đến thương vong dân sự, báo chí lên án, hoặc sự lien quan của Liên Xô và Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ thượng nghị sĩ đâu tiên, Trung Quốc đã tham gia chiến tranh Triều Tiên khi lính Mỹ tiến vào Bắc Triều Tiên. Johnson đã ủng hộ quyết định phê bình Tướng Douglas MacArthur của tổng thống Harry Truman, người chia sẻ đánh quá thấp của chính quyền về hiểm họa Trung Quốc can thiệp và sau đó công khai phản đối quyết định của Truman không ném bom Trung Quốc. Tại Việt nam, tổng thống Johnson không cho các tướng lĩnh có cơ hội. Không những ông cấm xâm lược Bắc Việt Nam, mà thậm chí còn không cho phép ném bom thành phố theo kiểu Truman cho phép tiến hành ở Bắc Triều Tiên trong những tuần lễ đầu tiên chiến tranh Triều Tiên.
Nỗi lo ngại của Johnson về sự can thiệp ồ ạt của Trung Quốc bị che phủ trong những phân tích “tín hiệu” phức tạp của các cố vấn của ông. Theo lối nghĩ này, de dọa phá hoại có ảnh hưởng lớn hơn đến quyết tâm của Mỹ hơn bản than sự phá hoại – tốet hơn là giữ những mục tiêu quan trọng làm “con tin” bằng cách ném bom những mục tiêu tầm thường( ).
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
t2ncdn
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #38 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2010, 03:13:33 am »

Chưa có tổng thống nào từng lưu tâm đến sự lựa chọn mục tiêu như Lyndon Johnson. Qua nhiều năm Sấm Rền, ông tự thân xem xét kỹ lưỡng danh sách những mục tiêu được đề nghị và cân nhắc đến thương vong dân sự, báo chí lên án, hoặc sự lien quan của Liên Xô và Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ thượng nghị sĩ đâu tiên, Trung Quốc đã tham gia chiến tranh Triều Tiên khi lính Mỹ tiến vào Bắc Triều Tiên. Johnson đã ủng hộ quyết định phê bình Tướng Douglas MacArthur của tổng thống Harry Truman, người chia sẻ đánh quá thấp của chính quyền về hiểm họa Trung Quốc can thiệp và sau đó công khai phản đối quyết định của Truman không ném bom Trung Quốc. Tại Việt nam, tổng thống Johnson không cho các tướng lĩnh có cơ hội. Không những ông cấm xâm lược Bắc Việt Nam, mà thậm chí còn không cho phép ném bom thành phố theo kiểu Truman cho phép tiến hành ở Bắc Triều Tiên trong những tuần lễ đầu tiên chiến tranh Triều Tiên.
Nỗi lo ngại của Johnson về sự can thiệp ồ ạt của Trung Quốc bị che phủ trong những phân tích “tín hiệu” phức tạp của các cố vấn của ông. Theo lối nghĩ này, de dọa phá hoại có ảnh hưởng lớn hơn đến quyết tâm của Mỹ hơn bản than sự phá hoại – tốet hơn là giữ những mục tiêu quan trọng làm “con tin” bằng cách ném bom những mục tiêu thông thường( ).
Ngày 4-8-1964, sau khi các tàu phóng lôi Bắc Việt nam tấn công một khu trục hạm Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ một lần nếu không phải là hai(*), tổng thống Johnson cho phép ném bom lần đầu tiên xuống Bắc Việt Nam; ngày 5-8, các máy bay hải quân Mỹ bắn phá các căn cứ, tàu, và kho dầu của hải quân Bắc Việt nam. Cuộc ném bom “trả đũa” này dường như thích hợp với Quốc hội, nơi đang thông qua một quyết định cho phép Johnson to “áp dụng tất cả những biện pháp cần thiết” để ngăn chặn sự hiếu chiến của cộng sản ở Đông Nam Á. Thay vì tận dụng ngay quyết nghị này, Johnson chiến thắng lớn trong cuộc bầu cử tháng 11-1964 khi cam đoan trước công chúng Mỹ rằng thanh niên Mỹ sẽ không chiến đấu thay cho thanh niên châu Á. Ông đã thành công khi đối lập với quan điểm diều hâu của đối thủ đảng Cộng hoà - thượng nghị sỹ Barry Goldwater (Arizona), thiếu tướng không quân dự bị Mỹ. Johnson không trả đũa quân sự khi mà một vài ngày trước bầu cử, lực lượng cộng sản tấn công sân bay Biên Hoà gần Saigon, giết 5 người Mỹ và phá huỷ sáu máy bay B-57.
Logged

Đời lính năm hào, không có em nào thương
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #39 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2010, 01:09:31 pm »

(Có nhiều sự tranh cãi việc các tàu Bắc Việt nam có cuộc tấn công lần thứ hai vào hai khu trục hạm Mỹ vào ban đêm trong thời tiết xấu. Về bằng chứng thiên về cuộc tấn công thứ hai, đọc Edward Marolda và Oscar P. Fitzgerald, Xung đột hải quân Hoa Kỳ và Việt nam Conflict, tập 2: Từ m giúp đỡ quân sự đến chiến đấu, 1959-1965 (Washington, 1986). Về quan điểm, một phi công - người không tìm thấy kẻ địch đêm đó, đọc Jim và Sybil Stockdale, Tình yêu và chiến tranh (New York, 1984). Quan điểm của Stockdale được sự ủng hộ của Edwin E. Moise, Vịnh Bắc bộ và sự leo thang trong cuộc chiến tranh Việt nam (Chapel Hill, NC, 1996). Năm 1997, cựu bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara hỏi tướng Nguyễn Đình Ước ở Hà nội có cuộc tấn công thứ hai không và được trả lời rằng theo tướng Võ Nguyên Giáp, nó không xảy ra. Nhưng McNamara cũng nghe nói rằng thậm chí cuộc tấn công đầu tiên được tiến hành theo lệnh của một tư lệnh địa phương. Xem Robert S. McNamara, James G. Blight, và Robert K. Brigham, with Thomas J. Biersteker và đại tá Herbert Y. Schandler, Luận cứ Without End: In Search of Answers to the Vietnam Tragedy (New York, 1999), trang 202-205. Một thời gian trước sự kiện này, sự đáp lại của Mỹ đối với nổi dậy của cộng sản ở Nam Việt nam bao gồm ném các toán biệt kích vào Bắc Việt Nam để nổ mìn những mục tiêu, và cuối tháng 7-1964, tàu chiến (do Mỹ cung cấp, lính Nam Việt nam lái) bắt đầu bắn phá các kho tàng quân sự Bắc Việt Nam).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM